CÁC BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẮNG NGHE, KỸ NĂNG PHẢN BIỆN CHO HỌC SINH LỚP 11 QUA DẠY HỌC NÓI VÀ NGHE “THẢO LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ TRONG... Thông qua phần này, HS được rèn luyện kỹ năng
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
Lĩnh vực: Ngữ văn Tác giả:
Nguyễn Thị Phương Liên - Trường THPT Diễn Châu 4 Điện thoại: 0369826648
Nghệ An, tháng 4 năm 2024
Trang 2QUY ƯỚC VIẾT TẮT
1 Giáo dục và đào tạo GD&ĐT
Trang 3CHƯƠNG II CÁC BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẮNG
NGHE, KỸ NĂNG PHẢN BIỆN CHO HỌC SINH LỚP 11 QUA DẠY
HỌC NÓI VÀ NGHE “THẢO LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ TRONG
Trang 42.1.3 Hướng dẫn HS sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi phản biện 16
2.1.4 Rèn luyện cho HS kỹ năng kiểm soát giọng nói, cảm xúc và ngôn
ngữ hình thể khi lắng nghe và thuyết phục người khác
19
2.1.5 Xây dựng hệ thống bài tập vận dụng có tính tranh biện 22
2.1.6 Tổ chức diễn đàn trực tuyến về về một vấn đề có nhiều ý kiến khác
nhau trên ứng dụng Zoom
26
2.1.7 Hướng dẫn học sinh sử dụng công cụ để đánh giá và tự đánh giá về
kỹ năng lắng nghe, kỹ năng phản biện trong quá trình học nói và nghe
28
2.2 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài
Kỹ năng lắng nghe và kỹ năng phản biện là hai kỹ năng quan trọng và cần thiết, góp phần quyết định thành công của giới trẻ trong thế kỉ 21 Trong bối cảnh này, học sinh thường xuyên phải đặt mình giữa nhiều lựa chọn, giữa nhiều ý kiến tranh luận trái chiều, cho nên rất cần lắng nghe và phản biện tích cực để cuối cùng đi đến quyết định đúng đắn, đi đến hiểu rõ tận cùng, cảm thông tận cùng với những người xung quanh, gắn kết và hợp tác thành công, xoa dịu mâu thuẫn, hoà giải xung đột Năng lực giao tiếp được xem là một trong những năng lực quan trọng của con người trong xã hội hiện đại Tương tác với người khác sẽ tạo cơ hội trao đổi và phản ánh về ý tưởng Hành động xây dựng ý tưởng để chia sẻ thông tin hoặc lập luận để thuyết phục người khác là một phần quan trọng trong học tập HS ngày nay nghe rất nhiều nhưng lắng nghe lại rất ít, tranh cãi thì nhiều mà phản biện lại thiếu Do đó rèn luyện kỹ năng lắng nghe và phản biện cho học sinh THPT nói chung và HS lớp 11 nói riêng là vô cùng quan trọng
Cùng với đọc và viết, nói và nghe là những kỹ năng giao tiếp quan trọng cần hình thành và rèn luyện cho HS nhằm phát triển cho HS những năng lực đặc thù trong môn Ngữ văn cũng như những năng lực chung và phẩm chất cần đạt theo yêu cầu của Chương trình môn Ngữ văn 2018 Đến bậc THPT, việc dạy học nói và nghe hướng tới yêu cầu cao, HS độc lập thực hiện và bộc lộ khả năng của bản thân trước những vấn
đề phức tạp Để đạt được yêu cầu đó, HS cần có hứng thú trong học tập, GV cần có định hướng nội dung và lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp nhất
Mục tiêu của chương trình Ngữ văn 2018 là đào tạo con người theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực Quan điểm của chương trình được ở mục II.2 trang 4
nêu rõ: Chương trình lấy việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình theo định hướng năng lực và bảo đảm tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục trong tất
cả các cấp học, lớp học Các kiến thức phổ thông cơ bản, nền tảng về tiếng Việt và văn học được hình thành qua hoạt động dạy học tiếp nhận và tạo lập văn bản; phục
vụ trực tiếp cho yêu cầu rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe Rèn luyện kỹ
năng lắng nghe và kỹ năng phản biện là một trong những biện pháp thể hiện rõ quan điểm của chương trình và thực hiện mục tiêu của chương trình
Thảo luận về một vấn đề trong đời sống (hình thành lối sống tích cực trong xã hội hiện đại) là một bài học ứng dụng nói và nghe rất thú vị Thông qua phần này, HS
được rèn luyện kỹ năng lắng nghe và kỹ năng phản biện tích cực, phát triển các năng
lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề… Biện pháp rèn luyện kỹ năng lắng nghe, kỹ năng phản biện cho học sinh lớp 11 qua dạy học nói và nghe bám sát yêu cầu cần đạt phần nói và nghe ở bài 4, hướng tời đào tạo con người đáp ứng
nhu cầu về nhân lực của xã hội hiện đại
Trang 6Trong nhiều năm qua, trường THPT Diễn Châu 4 đã thực hiện nhiều hoạt động đổi mới phương pháp dạy học và đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên, việc rèn luyện kỹ năng lắng nghe và kỹ năng phản biện vẫn chưa được chú trọng Trong nhiều bài học, HS thường nặng tâm lí thi cử là thực hiện đọc hiểu và viết, cho nên các em tập trung nhất phần đọc, viết, ít quan tâm đến phần nói – nghe Trong thực tiễn giao tiếp, HS còn rụt rè trước đám đông, chưa dám bày tỏ quan điểm, chính kiến, khi người khác trình bày, các em chưa biết cách lắng nghe, còn để cảm xúc, thái độ chi phối đến quá trình nghe mà không kiểm soát Do chưa có nhiều kinh nghiệm dạy học nói và nghe, GV cũng chưa nhuần nhuyễn phương pháp dạy phần này, nhất là với chương trình Ngữ văn 11 mới
Tôi chọn bộ SGK Ngữ văn 11, Kết nối tri thức với cuộc sống làm phạm vi
nghiên cứu và thực nghiệm, vì đây là bộ SGK mà Sở GD&ĐT Nghệ An chọn làm tài liệu giảng dạy trong nhà trường THPT năm học 2023 – 2024 Trong giới hạn của đề
tài, tôi tập trung nghiên cứu vấn đề rèn luyện kỹ năng lắng nghe và kỹ năng phản biện cho HS lớp 11 qua dạy học phần nói và nghe ở bài 4
Nhằm đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong bối cảnh thay đổi
chương trình và SGK, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học nói và
nghe trong chương trình Ngữ văn 11 ở trường THPT, tôi lựa chon đề tài: “Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng lắng nghe, kỹ năng phản biện cho học sinh lớp 11 qua dạy học nói và nghe “Thảo luận về một vấn đề trong đời sống” (Bài 4, Ngữ văn 11, Kết nối tri thức với cuộc sống)
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm ra biện pháp rèn luyện kỹ năng lắng nghe và kỹ năng phản biện cho học
sinh lớp 11 qua dạy học “Thảo luận về một vấn đề trong đời sống” (Bài 4, Ngữ văn
11, Kết nối tri thức với cuộc sống)
Phát huy tính ứng dụng của phần nói và nghe
Tạo hứng thú cho GV và HS và góp phần phát triển các phẩm chất năng lực người học, nhất là các năng lực thực tiễn, năng lực xã hội
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng hợp một số nội dung, quan điểm của các nhà nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn; đề ra các biện pháp rèn luyện kỹ năng lắng
nghe và phản biện cho học sinh lớp 11 qua dạy học “Thảo luận về một vấn đề trong đời sống”
Tiến hành thực nghiệm, tổng hợp kết quả đạt được để đánh giá tính khả thi của
đề tài
4 Đối tượng, phạm vi, thời gian và địa bàn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng lắng nghe và kỹ
Trang 7năng phản biện trong dạy học Thảo luận về một vấn đề trong đời sống (Bài 4, Ngữ
văn 11, Kết nối tri thức với cuộc sống)
Phạm vi nghiên cứu: Phần nói nghe Thảo luận về một vấn đề trong đời sống (hình thành lối sống tích cực trong xã hội hiện đại), Bài 4, Ngữ văn 11, Kết nối tri
thức với cuộc sống
Thời gian nghiên cứu, thực nghiệm: Từ tháng 9/2023 đến tháng 4/2024
Địa bàn khảo sát, thực nghiệm: Trường THPT Diễn Châu 4 (lớp 11A8, lớp
11A13)
5 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân
loại và hệ thống hoá lý thuyết
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, phỏng vấn, hỏi chuyên gia,
quan sát, xử lý toán thống kê, thực nghiệm sư phạm
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
6.1 Tính mới của đề tài
Là đề tài đầu tiên nghiên cứu biện pháp rèn luyện kỹ năng lắng nghe và kỹ năng phản biện gắn với một bài học cụ thể của chương trình Ngữ văn 11 mới Cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu ở phạm vi này
Đề tài đã xây dựng được các biện pháp cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả dạy
học nói và nghe Thảo luận một vấn đề trong đời sống (Bài 4, Ngữ văn 11, Kết nối tri
Trang 8PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Các khái niệm
a Kỹ năng là gì?
Kỹ năng (tiếng Anh: skill) là khả năng thực hiện một hành động với kết quả
được xác định thường trong một khoảng thời gian cùng năng lượng nhất định hoặc cả hai Các kỹ năng thường có thể được chia thành các kỹ năng chung và chuyên biệt
Kỹ năng thường đòi hỏi các kích thích và tình huống môi trường nhất định để đánh giá mức độ kỹ năng được thể hiện và sử dụng
b Lắng nghe là gì?
Lắng nghe là một hành động tinh thần, một trạng thái tập trung và thấu hiểu những gì đang diễn ra xung quanh Mặc dù việc ngồi im có thể giúp chúng ta tập trung hơn vào người nói, nhưng phải trong một trạng thái tư duy mở để nhận thông tin một cách chân thành, sẵn lòng thấu hiểu và đáp ứng Lắng nghe tích cực là cách mà chúng ta lắng nghe để thấu hiểu những gì mà người khác đang nói Khi lắng nghe chủ động, bạn sẽ hoàn toàn tập trung vào những gì đối phương đang nói thay vì lên kế hoạch trong đầu về những gì cần đáp lại như khi tranh luận hoặc trò chuyện
c Phản biện là gì?
Tư duy phản biện là quá trình tư duy phân tích đưa ra những đánh giá hợp lý, lập luận logic và được cân nhắc kỹ lưỡng thông qua khả năng đặt những câu hỏi như tại sao, làm thế nào, bằng cách gì, như thế nào, về những gì được đọc, nghe, nói hoặc viết Tư duy phản biện được xây dựng dựa trên những lý tưởng trí tuệ phổ quát, bao gồm: sự rõ ràng, đúng đắn, chính xác, nhất quán, phù hợp, bằng chứng vững chắc, lập luận xuất sắc, sâu sắc và công bằng Điều này đòi hỏi phải xem xét lại những yếu
tố tư duy tiềm ẩn trong mọi lập luận: vấn đề, mục đích, giả định, hậu quả và ý nghĩa,
hệ quy chiếu…
d Phân biệt nghe và lắng nghe, tranh cãi và phản biện
*Nghe và lắng nghe: Merriam-Webster định nghĩa “nghe” là “quá trình, chức năng hoặc sức mạnh của việc cảm nhận âm thanh; cụ thể là: cảm giác đặc biệt mà tiếng ồn và âm sắc được tiếp nhận như là tác nhân kích thích " Nghe là một hành động thể chất thụ động đòi hỏi một giác quan và liên quan đến nhận thức âm thanh Còn lắng nghe nghĩa là chúng ta phải tiếp nhận từ phía người nói không chỉ phần ngôn ngữ mà còn cả phần cảm xúc của họ, chúng ta không chỉ nghe bằng giác quan thính giác, mà chúng ta còn nghe bằng cả trái tim chân thành, bằng sự cầu thị, cầu tiến, bằng sự đồng cảm, thấu hiểu
*Tranh cãi và phản biện: phản biện là hình thức sử dụng lý luận để diễn giải ý
Trang 9nói của mình và khi phản biện thì dù lý luận của mình kém hơn những người khác thì bản thân có thể hiểu và chấp nhận lý luận được cho là tốt hơn của người đó Hình thức này sẽ luôn có sự hiểu sâu hơn và lựa chọn theo cái đúng tạo nên mục đích chung để cùng hướng tới không tồn tại về thắng thua Mà tại đây chỉ đẩy mạnh về điểm mạnh
và giảm bớt về các điểm yếu tạo nên tập thể vững mạnh nhất Tranh cãi có thể hiểu
đơn giản là sử dụng lý luận chỉ để bảo vệ cho cái tôi của bản thân, đề cao hơn về cái gọi là “bản ngã” luôn nhắm tới sự hơn thua Tranh cãi là nhắm tới những điểm yếu, kém của người khác để tạo sự phản biện và không hề có sự để ý tới điểm tốt, điểm có thể cải thiện của người tranh cãi với mình Qua đó chúng ta có thể thấy một điều rất
dễ dàng: tranh biện sẽ giúp chúng ta tiến bộ hơn, có tư duy mới, tạo nên sự gắn kết còn tranh cãi sẽ dẫn tới sự yếu kém, tụi lùi và xa lánh hơn với tập thể
1.1.2 Vai trò của lắng nghe và phản biện trong đời sống
Trong học tập và làm việc, lắng nghe giúp chúng ta học hỏi được những kinh
nghiệm hữu ích từ bạn bè, đồng nghiệp, đối tác,… từ đó tạo sự hiệu quả, chất lượng công việc một cách tốt nhất Trong cuộc sống, lắng nghe giúp con người thêm gần gũi, thân thiết, gắn bó, tin tưởng nhau hơn Lắng nghe cũng là cách hóa giải các xung đột, mâu thuẫn lớn nhỏ trong đời sống, xã hội Nếu chúng ta biết lắng nghe, mọi khúc mắc, khó khăn ắt sẽ được tháo gỡ, giải quyết một cách nhẹ nhàng, thông suốt Không chỉ biết lắng nghe người khác nói, chúng ta còn phải biết lắng nghe những điều nhỏ bé quanh mình Lắng nghe cũng là cách để hiểu mình, biết mình, từ đó biết yêu thương, trân trọng chính mình, không ngừng hoàn thiện bản thân Shakespeare từng nói: “Cái đáng sợ nhất là căn bệnh không chịu lắng nghe, đó là một tệ nạn hết sức phổ biến”
Tư duy phản biện có vai trò to lớn trong đời sống xã hội: giúp con người vượt
ra khỏi cách suy nghĩ theo khuôn mẫu, thói quen có sẵn; hướng đến cái mới, thoát ra khỏi những rào cản của định kiến; tìm hiểu, phát hiện những ý tưởng, giá trị mới của vấn đề; tạo tâm thế sẵn sàng tiếp nhận cái mới, cái tiến bộ trong suy nghĩ và hành động; có ý thức nhìn nhận mọi vấn đề dưới góc nhìn mới, đưa lại kết quả mới, kích thích khả năng sáng tạo Tư duy phản biện giúp con người suy nghĩ một vấn đề theo nhiều hướng khác nhau với những cách giải quyết khác nhau; khắc phục tình trạng nhìn nhận vấn đề một chiều, phiến diện, chủ quan, duy ý chí, tư duy phản biện giúp con người có phương pháp tư duy độc lập, nhìn ra những hạn chế, sai lầm dễ mắc phải trong quá trình tư duy của mình, từ đó đưa ra những nhận định, phán đoán tối ưu, có suy nghĩ tích cực, tư duy phản biện, hơn nữa, còn trở thành một động lực phát triển xã hội, có giá trị rất lớn quyết định tới sự thành bại của tổ chức xã hội và sự tiến bộ của loài người Tư duy phản biện giúp con người cải biến nhận thức và hành động trong thực tiễn, rèn luyện phương pháp tư duy biện chứng
1.1.3 Nguyên tắc rèn luyện kỹ năng lắng nghe và kỹ năng phản biện
*5 nguyên tắc rèn luyện kỹ năng lắng nghe:
Tập trung và chủ động: Tập trung trong cuộc trò chuyện sẽ giúp bạn hiểu nhanh và rõ ràng nhất đối phương đang nói gì Lúc này, bạn sẽ dễ dàng hơn trong việc
Trang 10trả lời hay đưa ra lời khuyên đúng nhất
Tuyệt đối không ngắt lời: Chủ động hỏi chuyện hay tiếp lời khác hoàn toàn với
việc ngắt lời Đây là hành động khá mất lịch sự trong giao tiếp, thậm chí là vô duyên
mà bạn tuyệt đối không được mắc phải
Hạn chế thể hiện cái tôi: Là không áp đặt suy nghĩ của mình cho người khác,
chỉ biết nói chứ không quan tâm đối phương đang nói cái gì hoặc có nghe mình hay không
Đặt câu hỏi đúng lúc và đúng cách: Người thông minh trong giao tiếp là người
biết cách đặt câu hỏi và đặt câu hỏi đúng lúc Đây là yếu tố quan trọng trong kỹ năng lắng nghe giúp cuộc giao tiếp thành công
Đưa ra ý kiến cá nhân và diễn giải đúng cách: Một chìa khóa vàng để thể hiện
bạn là một người có kỹ năng lắng nghe đó là đưa ra các quan điểm cá nhân hay nói cách khác là có sự tương tác qua lại
*7 nguyên tắc rèn luyện kỹ năng phản biện:
Đánh giá sự việc theo chiều hướng khách quan nhất: Điều đó có nghĩa là bạn
đánh giá sự việc không chỉ bằng góc nhìn của mình Mà còn thông qua nhiều góc nhìn khác Khi đó, bạn sẽ thấy vấn đề một cách toàn diện hơn Từ đó mở ra nhiều hướng giải quyết hơn
Hệ thống hóa cụ thể các vấn đề: Hệ thống này giúp chúng ta tự sáng tạo, lựa
chọn Việc phân tích, hệ thống hóa vấn đề sẽ giúp ta không bỏ sót bất cứ chi tiết nào của vấn đề
Đặt câu hỏi 5W1H cho vấn đề: Được sử dụng hầu hết trong các trường hợp cần
phân tích một sự việc Những câu hỏi đó là: What, why, when, where, who và how (cái gì? tại sao? bao giờ? ở đâu? ai? thế nào?) Khi bạn đặt được 6 câu hỏi này cho một vấn đề, bạn sẽ không bị bỏ sót bất cứ khía cạnh nào tác động đến vấn đề
Đưa ra các câu hỏi giả định ở khía cạnh khác cho một vấn đề: Để rèn luyện
theo cách này, bạn có thể tập đưa ra những câu hỏi giả định cho một vấn đề Có rất nhiều vấn đề sẽ được khai phá khi bạn đặt câu hỏi giả định Đồng thời, việc đặt câu hỏi giả định cũng kích thích khả năng phân tích và lập luận của bạn
Suy nghĩ về vấn đề ở chiều hướng ngược lại: Khi đối diện với một vấn đề, để
mở rộng khả năng nhìn nhận và đánh giá vấn đề thì đặt câu hỏi, suy nghĩ theo hướng đối lập cũng là một cách hiệu quả, sau đó đánh giá sự đảo ngược đó có đúng hay không, có ưu điểm, nhược điểm gì không, từ đó mở rộng góc nhìn của mình
Tập phân tích kết quả do người khác đưa ra trước khi công nhận: Một trong
những “kẻ thù” của tư duy phản biện là chấp nhận kết quả của người khác ngay lập tức Dù với kết quả trái chiều hay ngược chiều, bạn cũng nên kiểm chứng lại
Sử dụng số liệu dẫn chứng: Nếu không có bằng chứng thực tế, cụ thể thì mọi
Trang 11lập luận của bạn đều không đáng tin Nhất là khi bạn cố khai thác vấn đề ở khía cạnh khác
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kết quả khảo sát
Để xác định cơ sở thực tiễn của đề tài tôi đã tiến hành thiết kế phiếu điều tra đối với GV và HS về các vấn đề liên quan đến dạy học phần nói - nghe trong trong môn Ngữ văn trên địa bàn huyện Diễn Châu Trong đó tôi đã sử dụng Google Forms
và phiếu khảo sát để khảo sát 10 GV Ngữ văn và 80 HS (lớp 11A8, 11A13) của
trường THPT Diễn Châu 4
*Về phía GV:
Hình thức khảo sát: Google Forms (bảng hỏi 2, phụ lục 1)
Đối tượng khảo sát: 10 GV Ngữ văn; Link khảo sát:
https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLScIE4UTerW57hZU3qOkD3TXknHrR3Lp rH3VoNPsE8DT_BkQ/viewform?usp=sf_link
Kết quả như sau:
SL TL (%)
SL TL (%)
1, Nhu cầu đổi mới phương pháp
dạy học nói và nghe
2, Nhận thức ý nghĩa của việc
rèn luyện kỹ năng lắng nghe và
4, Hiệu quả các biện pháp dạy
học rèn luyện kỹ năng nói và
nghe đã từng thực hiện
Trang 12Kết quả khảo sát trên được biểu diễn bằng biểu đồ sau đây:
Biểu đồ 1.2.1.1
*Về phía HS:
Hình thức: Phát phiếu ( phiếu 1, phụ lục 1); Đối tượng khảo sát: 80 HS hai lớp (11A8,
11A13), kết quả thể hiện trong bảng sau:
SL TL
(%)
SL TL
(%)
1, Phân biệt nghe và lắng
nghe, tranh cãi và phản biện
30 37,5 40 50 10 12,5 0 0
2, Ý nghĩa của việc lắng nghe
và phản biện trong cuộc sống
3, Hứng thú đối với việc thực hiện các biện pháp
4, Mức độ sử dụng các biện pháp nhằm rèn luyện kỹ năng lắng nghe và phản biện.
5, Hiệu quả các biện pháp dạy học rèn luyện kỹ năng nói
và nghe đã từng thực hiện.
Đánh giá mức độ quan tâm, hiểu biết, hứng thú, thực hiện các
biện pháp dạy học rèn luyện kỹ năng lắng nghe, phản biện của
GV
Trang 131, Phân biệt nghe và lắng
nghe, tranh cãi và phản
biện
2, Ý nghĩa của việc lắng nghe và phản biện trong cuộc sống.
3, Hứng thú đối với giờ học nói và nghe pháp rèn luyện kỹ năng 4, Thực hiện các biện
lắng nghe và phản biện
Đánh giá mức độ hứng thú quan tâm, hiểu biết, thực hiện của
HS về rèn luyện kỹ năng lắng nghe và phản biện
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4
Biểu đồ 1.2.1.2
1.2.2 Nhận xét số liệu
a Thực trạng nhận thức của giáo viên và học sinh về việc rèn luyện kỹ năng lắng nghe và phản biện dạy học nói và nghe
*Về phía GV: Năm học 2023 – 2024 chương trình GDPT 2018 đã được áp
dụng thực hiện ở lớp 11 Bộ SGK Ngữ văn 11 mới đã thay thế bộ SGK Ngữ văn 11
cũ Cấu trúc chương trình Ngữ văn 11 mới có 3 phần: Đọc, Viết, Nói và Nghe, hướng tới rèn luyện cho HS 4 kỹ năng đọc, viết, nói và nghe, hướng tới phát triển năng lực
và phẩm chất người học, mục tiêu cuối cùng là đào tạo con người phát triển toàn diện, đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội trong thời đại mới
Tuy nhiên GDPT đã trải qua một thời gian rất dài với chương trình, quan điểm, phương pháp dạy học cũ, nên việc thay đổi quan niệm, tư tưởng, cách thức trong phương pháp dạy học của đội ngũ GV Ngữ văn là không hề dễ dàng Mặc dù quan điểm thi cử đã thay đổi, phương pháp dạy học cũng theo đó mà thay đổi, từ việc dạy kiến thức, GV đã hướng hoàn toàn sang dạy kỹ năng, dạy phương pháp Tuy nhiên tâm lí thi cử nặng về đọc viết đã ảnh hưởng đến mục tiêu và phương pháp dạy học, ngay cả khi đã đổi mới chương trình và SGK Nội dung nói và nghe thường bị xem nhẹ, các giờ học nói nghe chưa phát huy được năng lực HS, chưa chú ý đến tính ứng dụng thực tiễn của bài học Hầu như GV chỉ hướng các em tới nói và nghe thông thường, chưa chú trọng tới nói và nghe sâu sắc, chưa hướng HS tới rèn luyện kỹ năng lắng nghe và tranh biện trước một vấn đề đưa ra
Qua số liệu khảo sát, chúng ta có thể nhận thấy rất rõ: sự quan tâm và hiểu biết
về kỹ năng lắng nghe, kỹ năng phản biện của GV chưa đầy đủ Trong các giờ nói và nghe còn ít vận dụng các biện pháp dạy học hướng tới rèn luyện kỹ năng lắng nghe và
kỹ năng phản biện Vì thế giờ học nói và nghe kém hiệu quả
*Về phía HS: Đa số HS khi được khảo sát đều cho biết các em ít quan tâm đến
vấn đề lắng nghe và phản biện, các em thực hiện giờ nói nghe một cách hời hợt, không hiểu rõ bản chất của nói và nghe một cách đầy đủ và sâu sắc Các em cho rằng
Trang 14việc rèn luyện kỹ năng lắng nghe và phản biện là không cần thiết vì nội dung đề thi năm 2025 chỉ có đọc hiểu và viết chứ không có phần nói và nghe Các em chưa nhận thức được rằng, ngoài thi cử ra, con người có nhiều mục tiêu đời sống phải thực hiện nữa, nhất là các kỹ năng cần có khi chung sống và làm việc trong cộng đồng Giờ học nói nghe chưa đem lại hứng thú cho các em, còn miễn cưỡng, nhạt nhẽo, thiếu hiệu quả thực tiễn
b Thực trạng dạy học rèn luyện kỹ năng lắng nghe và kỹ năng phản biện trong dạy học nói và nghe ở trường THPT Diễn Châu 4
*Về nhược điểm:
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực song GV Ngữ văn trường THPT Diễn Châu 4 còn
gặp rất nhiều khó khăn trong thực hiện dạy học nói và nghe Chương trình và SGK
mới ra đời, GV chưa kịp thẫm nhuần, chưa thể có kinh nghiệm trong dạy học theo cấu trúc chương trình mới, nhất là phần nói và nghe Các giờ dạy học nói nghe còn nhiều
bỡ ngỡ, GV chưa tìm ra được nhiều biện pháp để tổ chức hiệu quả giờ học này Vì vậy HS cũng chưa hứng thú khi học, giờ nói và nghe chưa phát huy được năng lực và phẩm chất người học
1.2.3 Đánh giá nguyên nhân thực trạng
Những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân khác nhau Chương trình 2018 mới được áp dụng ở hai khối 10 và 11 trong nhà trường THPT, GV chưa có nhiều thời gian để thấm nhuần bài dạy, nhất là với phần nói và nghe ở môn Ngữ văn 11 Nhận thức của GV và HS còn hạn chế, vẫn duy trì lối tư duy kiểu cũ, lối mòn Do tâm lí thi
cử chỉ thực hiện phần đọc và viết, nên nói và nghe chưa thật sự được chú trọng đúng mức HS ở trường nông thôn kỹ năng giao tiếp còn hạn chế, đa số HS e ngại khi đứng lên bày tỏ quan điểm của mình, cho nên giờ học nói và nghe còn khiên cưỡng, gò bó,
GV chưa dám đổi mới, HS không hợp tác
Trang 15CHƯƠNG II CÁC BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẮNG NGHE,
KỸ NĂNG PHẢN BIỆN CHO HỌC SINH LỚP 11 QUA DẠY HỌC NÓI VÀ NGHE “THẢO LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ TRONG ĐỜI SỐNG”
Tranh biện dạng nhóm là biện pháp dạy nói và nghe giúp HS rèn luyện kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ khi phản biện và đưa ra quyết định đúng đắn về vấn đề Với sự hỗ trợ của nhóm, các thành viên vững vàng hơn, tự tin hơn khi bảo vệ ý kiến của mình
Tranh biện dạng nhóm rèn luyện kỹ năng hợp tác, kỹ năng giải quyết vấn đề,
HS được phát triển các phẩm chất như trung thực, chăm chỉ, phát triển các năng lực như năng giao tiếp, năng lực hợp tác và gải quyết vấn đề
b Cách thức tổ chức
Hoạt động 1: GV đưa ra vấn đề cần tranh biện và chia lớp thành các nhóm nhỏ
Hoạt động 2: HS thảo luận theo nhóm Một người đại diện của mỗi đội sẽ đứng phát biểu trong thời gian không quá một phút Sau đó phải chọn một thành viên khác trong nhóm để bắt đầu tranh biện khi chuẩn bị kết thúc bài phát biểu hoặc tối thiểu là những giây cuối cùng trước khi thời gian cho phép kết thúc Thành viên nào trong nhóm có tinh thần muốn phát biểu có thể giơ tay để được lựa chọn
Hoạt động 3: GV điều khiển, theo dõi hoạt động nêu ý kiến và tranh biện của
các nhóm
Hoạt động 4: GV cung cấp bảng kiểm để các nhóm đánh giá lẫn nhau
Hoạt động 5: GV nhận xét và rút kinh nghiệm về việc lắng nghe và phản biện
của các nhóm
*Áp dụng tại lớp 11A8 và 11A13 (áp dụng phần thực hành luyện tập):
Tranh biện về vấn đề “Trong bối cảnh hiện nay, nên lựa chọn nghề theo sở thích, đam mê hay chọn nghề kiếm nhiều tiền?”
Hoạt động 1: GV nêu vấn đề cần tranh biện: việc lựa chọn nghề theo quan điểm sở thích đam mê hay lựa chọn nghề với mục tiêu kiếm nhiều tiền?; GV chia lớp
thành 2 nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm thảo luận để đưa ra quan điểm, cách nhìn
Trang 16Hoạt động 2: Các nhóm thảo luận trong thời gian 5 phút, cử đại diện trình bày
quan điểm của nhóm, và cử 2 người chuẩn bị tranh luận với nhóm bạn để bảo vệ và thuyết phục nhóm bạn đồng ý với quan điểm của nhóm mình
Hoạt động 3: GV theo dõi quá trình phát biểu ý kiến và tranh biện của hai
nhóm về vấn đề lựa chọn nghề theo sở thích đam mê hay vì kiếm nhiều tiền?
Hoạt động 4: GV cung cấp bảng kiểm, hai nhóm thực hành đánh giá lẫn nhau Hoạt động 5: GV nhận xét các nhóm về kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng lắng
nghe và tranh biện
*Công cụ đánh giá: bảng kiểm (bảng công cụ 3, phụ lục 2)
Hình 2.1.1.1 HS lớp 11A13 thực hiện thảo luận và tranh biện
c Hiệu quả biện pháp
Tổ chức tranh biện dạng nhóm đã tạo được không khí tranh biện sôi nổi, chủ động, tích cực cho HS Khi tham gia nhóm để thảo luận về vấn đề tranh luận HS tìm kiếm được sự hỗ trợ của các thành viên trong nhóm, tận dụng được trí tuệ của nhiều người, tạo nên sức mạnh trí tuệ tập thể
Biện pháp này đã rèn luyện cho HS một cách hiệu quả nhiều kỹ năng cho HS nhất là kỹ năng hợp tác nhóm, kỹ năng lắng nghe và kỹ năng tranh biện Từ đó giúp
HS phát triển, hoàn thiện phẩm chất và năng lực
Nhờ tranh biện dạng nhóm, hoạt động tranh biện diễn ra tuần tự, trật tự, các nhóm thảo luận thống nhất trước khi cử người trình bày, các nhóm lựa chọn người hoạt ngôn, có khả năng thuyết phục người khác để thực hiện tranh biện Vì thế hoạt động tranh biện diễn ra hiệu quả, tránh việc tranh cãi lộn xộn, ầm ĩ
Hiệu quả của biện pháp được thể hiện qua bảng đánh giá hoạt động tranh biện dạng nhóm của hai lớp (8 nhóm) như sau:
Trang 171, Sôi nổi, tích cực chủ động trong thảo luận 8 100 0 0
2, Biết hợp tác với nhau, phân công nhiệm vụ một
cách nhịp nhàng
3, Lắng nghe ý kiến của nhau, không tranh cãi ầm ĩ 8 100 0 0
4, Hoạt động phát biểu và tranh biện hiệu quả 7 87,5 1 12,5
Kết quả trên được thể hiện trong biểu đồ sau:
Làm thay đổi hình thức học tập, tạo không khí thoải mái, hấp dẫn, HS tiếp nhận
3, Lắng nghe ý kiến của nhau, không tranh cãi
ầm ĩ
4, Hoạt động phát biểu
và tranh biện hiệu quả.
Đánh giá hoạt động tranh biện dạng nhóm của HS
Đạt Chưa đạt
Trang 18được kiến thức một cách tích cực và hiệu quả, tạo điều kiện nảy sinh sáng tạo Khích
lệ sự thay đổi về thái độ, hành vi của HS phù hợp với chuẩn mực đạo đức và chính trị
xã hội Phương pháp đóng vai trong học tập nói và nghe cũng tạo điều kiện cho HS loại bỏ sự nhút nhát, rèn luyện ý chí, bản lĩnh, sự tự tin, mạnh dạn trước tập thể
Hoạt động 2: HS biểu diễn đóng vai
Hoạt động 3: GV cho các nhóm thảo luận nhận xét về tiểu phẩm theo tiêu chí bảng kiểm: về kỹ năng lắng nghe, kỹ năng lập luận phản biện, kỹ năng diễn xuất, kỹ năng (xem phụ lục 2)
Hoạt động 4: GV đánh giá quá trình thực hiện tiểu phẩm và hoạt động tranh
biện của HS
*Áp dụng tại lớp 11A8, 11A13 (áp dụng phần khởi động)
Hướng dẫn học sinh đóng vai tranh biện với tiểu phẩm: “Đừng lạm dụng facebook!”
Hoạt động 1: GV chủ đề, chia lớp thành 3 nhóm, giao dự án cho các nhóm
chuẩn bị tiết mục tiểu phẩm biểu diễn ở phần khởi động tiết học nói và nghe
Hoạt động 2: Các nhóm phân công nhiệm vụ: Nhóm viết kịch bản và đạo diễn,
nhóm diễn viên, nhóm chuẩn bị trang phục, sân khấu, hậu cần thực hiện tập dượt tiểu phẩm ở nhà trươc tiết học nói và nghe bài 4
Hoạt động 3: Các nhóm thực hiện biểu diễn tiểu phẩm Nội dung tiểu phẩm
(Xem phụ lục 3)
Hoạt động 4: GV tổ chức hướng dẫn HS thảo luận: nhóm 1: nhận xét nội dung vấn đề tranh biện, nhận xét về thái độ, cử chỉ, lời nói giọng điệu của nhân vật Hưng; nhóm 2: nhận xét nội dung vấn đề tranh biện, nhận xét về thái độ, cử chỉ, lời nói giọng điệu của nhân vật Hằng, Tâm, Nam; nhóm 3: phân biệt tranh cãi và tranh biện?
Hoạt động 4: GV đánh giá quá trình thực hiện tiểu phẩm và hoạt động tranh
biện trong tiểu phẩm bằng bảng kiểm
*Công cụ: Bảng kiểm (bảng công cụ 4, phụ lục 2)
Trang 19Hình 2.1.2.1 Hình 2.1.2.2 Tiểu phẩm “Đừng lạm dụng facebook!”, phần khởi động tại lớp 11A8 và 11A13
c Hiệu quả giải pháp
Biện pháp đóng vai tranh biện đã tạo được sự thành công cho hoạt động khởi động của tiết học nói và nghe, Không khí lớp học vui vẻ, tâm trạng HS hưng phấn, sẵn sàng đón nhận bài học một cách thoải mái, chủ động
HS được trải nghiệm hình thức sân khấu hoá, được trải nghiệm nhập vai làm diễn viên, biên tập, đạo diễn, trang trí sân khấu và chuẩn bị trang phục đạo cụ Những trải nghiệm này giúp ích cho các em phát triển các kỹ năng sống, kích thích sự sáng tạo
Đóng vai tranh biện đã tạo cơ hội cho HS được rèn luyện các kỹ năng khi tranh biện như: kỹ năng kiểm soát bản thân, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thuyết phục… Từ
đó phát triển ở các em các phẩm chất và năng lực cần thiết
Quá trình thực hiện dự án và trình bày tiểu phẩm được GV đánh giá thông qua bảng kiểm, kết quả như sau:
1, Tích cực, chủ động sáng tạo trong thực hiện dự án x
2, Hoàn thành nhiệm vụ phân công đúng thời gian x
4, Tiết mục tiểu phẩm thể hiện được bản chất của tranh biện x
Trang 202.1.3 Hướng dẫn học sinh sử dụng kỹ thuật đặt câu hỏi phản biện
a Mục tiêu biện pháp
Biện pháp Hướng dẫn học sinh sử dụng kỹ thuật đặt câu hỏi phản biện cho HS
lớp 11 qua dạy học nói và nghe “Thảo luận về một vấn đề trong đời sống” nhằm kích thích hứng thú tranh biện cho các em Thông qua câu hỏi phản biện GV giúp các em đánh thức tư duy sâu, khám phá các góc nhìn mới về sự việc, hiện tượng
Biện pháp Hướng dẫn học sinh sử dụng kỹ thuật đặt câu hỏi phản biện cho HS
lớp 11 qua dạy học nói và nghe “Thảo luận về một vấn đề trong đời sống” tạo cho HS
khả năng nhìn nhận vấn đề sâu sắc, biết cách lật lại sự việc để đặt ra một cách nhìn mới, toàn diện hơn
Biện pháp này giúp HS luôn chủ động khi tham gia tranh biện, có cái nhìn đa chiều, đánh giá sự việc, hiện tượng ở nhiều góc độ khác nhau, các em có thể thông qua câu hỏi bày tỏ quan điểm, cách nhìn của mình, đồng thời thông qua câu hỏi giúp người khác nâng cao nhận thức về sự việc, sự vật, hiện tượng Từ đó, các em có thể
mở rộng hiểu biết về vấn đề đang xem xét, đưa ra những quan điểm có tính độc lập, khách quan và có ý nghĩa tích cực nhằm tiến tới nắm bắt chân lý tri thức, đồng thời phát triển các năng lực và phẩm chất cần thiết
b Cách thức tổ chức
Hoạt động 1: Ở hoạt động này, GV thực hiện các bước: Nêu chủ đề, chia nhóm
và giao dự án cho các nhóm HS (nội dung cần tranh biện là là những vấn đề đời sống được mọi người quan tâm, những vấn đề có thể dẫn tới nhiều cách nhìn, nhiều cách hiểu, tức là những nội dung “có vấn đề”); hướng dẫn HS xác định được vấn đề cần tranh biện để không đi lạc hướng, lệch hướng nội dung
Hoạt động 2: Cung cấp tiêu chí cần đạt về hình thức và nội dung của câu hỏi cho HS
*Tiêu chí hình thức: Câu hỏi phải đa dạng, cô đọng, sáng rõ, dễ hiểu, phù hợp
đối tượng, tránh câu hỏi ghép gây nhiễu, đảm bảo tính trung lập không để người trả lời ảnh hưởng ý tưởng của người hỏi, câu hỏi phải kích thích được tư duy phản biện của đối phương, câu hỏi phải kích thích được hứng thú của đối phương, có thể dùng các hình thức câu hỏi như: câu hỏi ứng dụng, phân tích, tổng hợp, diễn giải, đánh giá, câu hỏi đóng, câu hỏi mở, câu hỏi phễu, câu hỏi thăm dò, câu hỏi định hướng, câu hỏi tiếp nối, câu hỏi tu từ… Các dạng câu hỏi gợi ý cho HS dùng trong hoạt động tranh biện bao gồm: câu hỏi về chứng cứ, câu hỏi về logic và mâu thuẫn, câu hỏi về nguồn gốc và đáng tin, câu hỏi về mục đích, câu hỏi về hậu quả và kết quả , câu hỏi về giả định và giới hạn, câu hỏi về khách quan và quan điểm cá nhân
*Tiêu chí về nội dung: sử dụng thang Blom để định hướng nội dung cho câu
hỏi phản biện: Khi quan sát thang nhận thức Bloom, người đọc sẽ thấy cấp độ nhận thức tăng lên dần từ việc ghi nhớ/nhận biết thông tin cho tới các cấp độ cao hơn đó là phân tích, tổng hợp và đánh giá thông tin Quá trình này cũng tương tự với quá trình
Trang 21diễn ra của tư duy phản biện Do vậy, việc đặt ra câu hỏi ở mỗi cấp độ nhận thức theo thang Bloom sẽ giúp người học dần hình thành tư duy phản biện
Hoạt động 3: Các nhóm HS thực hiện dự án theo các bước: phân tích các tiêu chí về nội dung và hình thức cần đạt; dựa vào tiêu chí để thiết kế câu hỏi phản biện; dự kiến
sử dụng câu hỏi phản biện (tình huống nào? đối tượng nào? thời gian phản biện bao lâu?)
Hoạt động 4: GV nhận xét và đánh giá về kỹ thuật thiết kế phản biện của HS bằng thang đo (bảng công cụ 5, phụ lục 2)
*Áp dụng tại lớp 11A8 và 11A13:
Hướng dẫn HS sử dụng kỹ thuật đặt câu hỏi phản biện về chủ đề: “Lựa chọn nghề theo sở thích, đam mê hay chọn nghề kiếm nhiều tiền?”
Áp dụng phần “Tìm hiểu yêu cầu của kiểu bài” và phần luyện tập (thực hành)
Hoạt động 1: GV nêu chủ đề: Lựa chọn nghề theo sở thích, đam mê hay chọn nghề kiếm nhiều tiền?; chia lớp thành 4 nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm thực hiện
dự án tranh biện để khẳng định quan điểm, cách nhìn của mỗi cá nhân đối với việc lựa chọn nghề nghiệp
Hoạt động 2: GV cung cấp cho HS bộ tiêu chí câu hỏi phản biện bao gồm tiêu chí về nội dung và tiêu chí về hình thức
Hoạt động 3: HS thực hiện dự án theo nhóm: thảo luận, phân tích các tiêu chí
để lựa chọn câu hỏi phù hợp với đối tượng, chủ đề, mục đích phản biện; thiết kế hệ
thống câu hỏi phản biện chuẩn bị cho tiết học nói và nghe “Thảo luận về một vấn đề trong đời sống”; kiểm tra lại hệ thống câu hỏi kỹ càng trước khi đưa ra sử dụng, dự
kiến thời điểm, tình huống sử dụng
Hoạt động 4: GV thu sản phẩm câu hỏi của HS, đánh giá dựa trên tiêu chí
trong công cụ thang đo (bảng công cụ 5, phụ lục 2)
c Hiệu quả biện pháp
Với biện pháp “Hướng dẫn học sinh sử dụng kỹ thuật đặt câu hỏi phản biện”
GV đã giúp HS rèn luyện kỹ năng đặt câu hỏi phản biện một cách khoa học, đúng trọng tâm, kích thích hứng thú cho hoạt động tranh luận Biện pháp này cũng giúp HS
Trang 22ý thức được tác dụng tích cực của câu hỏi tranh biện là nhằm sáng tỏ vấn đề, mở rộng được tri thức, kết nối với nhau trong cộng đồng,
Hướng dẫn HS đặt câu hỏi khi tranh biện về một vấn đề đời sống giúp HS luôn đặt sự việc, sự vật, hiện tượng trong cái nhìn tư duy đa chiều, không áp đặt cách hiểu, cách nghĩ của mình cho người khác
Với biện pháp này, tôi nhận thấy, tiết học “Thảo luận về một vấn đề trong đời sống” được chuẩn bị kỹ lưỡng, HS chủ động khi tham gia tranh biện, vì thế tiết học sôi nổi hơn, HS hứng thú hơn, không khí giờ học thoải mái vui vẻ Đặc biệt, vì các em
đã có được kỹ năng thiết kế và sử dụng câu hỏi trong quá trình phản biện nên hoạt động này diễn ra đảm bảo không bị mất phương hướng, không lạc chủ đề, và người lắng nghe cũng hài lòng Nhìn chung, nhờ vậy mà hoạt động thảo luận có hiệu quả
Sử dụng thang đo để đánh giá kỹ thuật đặt câu hỏi phản biện, kết quả sau:
Bảng 2.1.3.1
(Giải thích các mức độ xem bảng công cụ 5 ở phụ lục 2)
Mức độ Tiêu chí
SL TL (%)
S
L
TL (%)
S
L
TL (%)
SL TL (%)
5, Câu hỏi mang tính giáo dục 6 75 2 12,5 1 12,5 0 0
6, Câu hỏi mang tính thực tiễn 7 87,5 1 12,5 0 0 0 0
Trang 23
Hình 2.1.3.1 Hình 2.1.3.2
Một số câu hỏi trong hồ sơ chuẩn bị phản biện của các nhóm lớp 11A8 và 11A13
Kết quả trên được thể hiện bằng biểu đồ sau đây:
3, Thái độ chủ động, tích cực, tự tin
4, Câu hỏi mang tính khám phá từ nhiều góc nhìn khác nhau
5, Câu hỏi mang tính giáo dục
6, Câu hỏi mang tính thực tiễnĐánh giá hoạt động thiết kế câu hỏi phản biện của HS
Trang 24cũng rất cần thiết, mục tiêu của việc soát này là để giữ không khí dân chủ, ôn hoà, thân thiện khi tranh biện Mặt khác, kiểm soát cảm xúc và thái độ giúp các em hạ bớt cái tôi của mình xuống để lắng nghe quan điểm của người khác, đặt mình trong vị trí của người khác để cảm thông và thấu hiểu
Mục tiêu của việc kiểm soát các cử chỉ, nét mặt khi lắng nghe và phản biện là giúp HS làm chủ được hành vi, thái độ của mình bởi vì các biểu hiện hành vi và thái
độ của bản thân ảnh hưởng rất lớn đến không khí tranh biện, ảnh hưởng đến nhu cầu vàv hứng thú của những người tham gia
Hoạt động 3: HS thực hiện hai quá trình: quá trình lắng nghe và quá trình phản biện; HS chú ý đến phần trình bày ý kiến của nhóm bạn và ghi chép nội dung ý kiến đó; Trong quá trình phản biện HS kiểm soát và điều chỉnh các yếu tố: giọng nói, lời nói, cảm xúc và ngôn ngữ hình thể
Hoạt động 4: GV quan sát, nhận xét và đánh giá bằng bảng kiểm (bảng công cụ
6, phụ lục 2)
* Áp dụng tại lớp 11A8, 11A13:
Rèn luyện cho HS kỹ năng kiểm soát giọng nói, cảm xúc, ngôn ngữ hình thể khi tranh biện về vấn đề “Trong bối cảnh hiện nay, nên lựa chọn nghề theo sở thích, đam mê hay chọn nghề kiếm nhiều tiền?
Thời điểm áp dụng: Phần luyện tập (thực hành)
Hoạt động 1: GV nêu vấn đề cần tranh biện: việc lựa chọn nghề theo quan điểm sở thích đam mê hay lựa chọn nghề với mục tiêu kiếm nhiều tiền?; GV chia lớp
thành 4 nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm thảo luận để đưa ra quan điểm, cách nhìn của mình
Hoạt động 2: GV cung cấp tiêu chí về các phương tiện giao tiếp khi tham gia
tranh biện (tiêu chí trên bảng công cụ 6, phụ lục 2)
Hoạt động 3: HS thực hiện hai quá trình lắng nghe và phản biện; Quá trình lắng nghe: HS yên lặng, nghe, ghi chép ý kiến của nhóm bạn; HS kiểm soát được thái
độ, cảm xúc, nét mặt, phải kiên nhẫn khi tiếp nhận quan điểm của người khác kể cả
quan điểm đó trái ngược với quan điểm của mình về chọn nghề Quá trình phản biện:
HS dùng câu hỏi phản biện đã chuẩn bị trên hồ sơ nhóm, dùng diễn đạt, lập luận để lật lại vấn đề, đưa ra cách nhìn khác HS dùng lí lẽ, dẫn chứng để lập luận bảo vệ quan
Trang 25điểm của mình về vấn đề chọn nghề Trong quá trình tranh biện, HS cần ý thức được phản biện không phải là để tranh cãi hơn thua, mà là đưa ra cách nhìn quan điểm của mình, từ đó tìm được hướng đi đúng đắn trong lựa chọn nghề nghiệp HS kiểm soát cử chỉ, lời nói, tránh cắt ngang, tránh những hành động cử chỉ thiếu thiện chí
Hoạt động 4: GV đánh giá quá trình lắng nghe và phản biện của HS bằng bảng
kiểm (xem bảng kiểm phụ lục 2)
Hình 2.1.4.1 Tranh biện “Lựa chọn nghề nghiệp trong bối cảnh hiện nay” tại lớp
11A13 trong tiết học “Thảo luận về một vấn đề trong đời sống”
c Hiệu quả biện pháp
Trong quá trình tranh biện, HS đã ý thức được phản biện không phải là để tranh cãi hơn thua, mà là đưa ra cách nhìn của mình, quan điểm của nhóm mình về việc chọn nghề HS kiểm soát tương đối thành công cử chỉ, lời nói, không xảy ra việc cắt ngang ý kiến người khác và hành động cử chỉ thiếu thiện chí
Rèn luyện cho HS kỹ năng kiểm soát giọng nói, cảm xúc và ngôn ngữ hình thể khi lắng nghe và thuyết phục người khác đã giúp HS có kỹ năng điều chỉnh các phương tiện giao tiếp khi tham gia tranh luận Sau khi áp dụng biện pháp này, tôi thu được kết quả đáng ghi nhận: giờ học nói và nghe “thảo luận về một vấn đề đời sống” sôi nổi, tranh luận trên tinh thần xây dựng bài học, tranh luận một cách văn minh đi đến thống nhất về nội dung vấn đề Trong quá trình phản biện HS thể hiện được quan điểm của cá nhân, của nhóm, đồng thời lập luận bảo vệ quan điểm một cách từ tốn và thuyết phục
Cuối cùng với biện pháp này, HS được đặt trong thế giới quan sát đa chiều, biện chứng, HS có được nhiều nguồn tri thức khác nhau về nghề nghiệp để từ đó đưa
ra quyết định chọn nghề đúng đắn phù hợp với bản thân mình trong bối cảnh hiện đại
Kết quả đánh giá các phương tiện giọng nói, lời nói, cảm xúc, cử chỉ, nét mặt của
người tham gia tranh biện các nhóm:
Trang 26Bảng 2.1.4.1 Mức độ Tiêu chí
Đạt Chưa đạt
SL TL(%) SL TL(%)
1, Số lượng HS tham gia đầy đủ, nghiêm túc 8 100 0 0
2, Tích cực, chủ động, sáng tạo trong thực hiện lắng
nghe và tranh biện
3, Giọng nói: nhẹ nhàng, truyền cảm, phù hợp 7 87,5 1 12,5
4, Lời nói: văn minh, diễn đạt trong sáng, rõ rang,
không cướp lời, cắt lời người khác
7 87,5 1 12,5
5, Thái độ: hoà nhã, nhẫn nại, không nóng vội, tôn
trọng ý kiến qian điểm của người khác
7 87,5 1 12,5
6, Cử chỉ phù hợp, nét mặt ôn hoà, phản ứng phù hợp 7 87,5 1 12,5 Kết quả bảng trên được thể hiện bằng biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.1.4.1
2.1.5 Xây dựng hệ thống bài tập vận dụng có tính tranh biện
a Mục tiêu biện pháp
Bài tập có tính tranh biện áp dụng ở phần vận dụng sau tiết học nhằm rèn luyện
kỹ năng lắng nghe và phản biện tích cực về một vấn đề đời sống Bài tập này giúp HS ứng dụng vào đời sống hoạt động lắng nghe và phản biện một cách có hiệu quả, nhằm phát huy tác dụng của hai hoạt động này trong đời sống xã hội, xây dựng con người dân chủ, trí tuệ văn minh, kiên trì nhẫn nại trong giao tiếp cộng đồng
3, Giọng nói: nhẹ nhàng, truyền cảm, cung bậc phù hợp
4, Lời nói: văn minh, diễn đạt trong sáng, rõ rang, không cướp lời, cắt lời người khác
5, Thái độ: hoà nhã, nhẫn nại, không nóng vội, tôn trọng ý kiến qian điểm của người khác.
6, Cử chỉ phù hợp, nét mặt ôn hoà, phản ứng phù hợp
Đánh giá kỹ năng kiểm soát các phương tiện giao tiếp khi
lắng nghe và phản biện
Trang 27Hệ thống bài tập có tính tranh biện nhằm giúp HS kích thích tư duy khám phá,
tư duy phản biện khi đứng một vấn đề trong đời sống Các mức độ trong bài tập là thước đo các kỹ năng, phẩm chất và năng lực HS
Hệ thống bài tập này cũng nhằm giúp HS biết cách lắng nghe và đón nhận ý kiến trái chiều, biết cách phân tích ý kiến, tiếp thu ý kiến của người khác và phản hồi tích cực, hạn chế tính bảo thủ hoặc thiếu chính kiến khi đối diện một vấn đề, nhằm hình thành lối sống tích cực cho HS trong xã hội hiện đại
b Cách thức tổ chức (Phần vận dụng, thực hiện ngoài giờ lên lớp)
Hoạt động 1: GV thiết kế hệ thống bài tập đa dạng Bài tập chứa đựng vấn đề
có nhiều cách hiểu, nhiều cách giải quyết khác nhau, bài tập có tính phân tích, bài tập
có tính suy luận, bài tập có tính hướng HS giải quyết vấn đề và đưa ra quyết định…
Hệ thống bài tập đảm bảo tính khả thi, tính hiệu quả, tính thực tiễn, bài tập phải đa dạng, bài tập chứa đựng tính huống có vấn đề, bài tập phải chứa đựng tiềm năng
Hoạt động 2: GV chia lớp thành các nhóm, giao bài tập dự án cho các nhóm Hoạt động 3: HS thực hiện dự án theo nhóm, thảo luận lựa chọn trong các bài tập GV cung cấp
Hoạt động 3: HS thực hiện dự án ở nhà theo nhóm, các nhóm tự khởi tạo padlet (hoặc blog, ebook ), các thành viên của nhóm chia sẻ bài tranh biện lên các công cụ
số theo lựa chọn của nhóm, nộp link công cụ cho GV
Hoạt động 4: GV đánh giá hoạt động tranh biện của HS và hướng dẫn các nhóm HS đánh giá chéo nhóm nhau
* Áp dụng tại lớp 11A8, 11A13 (áp dụng phần vận dụng (ngoài giờ lên lớp)
Xây dựng hệ thống bài tập vận dụng có tính tranh biện về một số chủ đề trong đời sống
Hoạt động 1: GV cung cấp cho HS các bài tập có tính tranh biện, chia
lớp thành 4 nhóm, các nhóm tự chọn bài tập cho nhóm mình thực hiện tranh biện Dưới đây là hệ thống bài tập cho phần vận dụng:
Bài tập 1: Suy nghĩ của em về việc HS sử dụng điện thoại thông minh trong trường học phổ thông
Bài tập 2: Suy nghĩ của em về tác động của mạng xã hội đến thanh niên, học sinh? Bài tập 3: Bày tỏ quan điểm của bản thân về vấn đề “học trò có nên yêu hay không? Bài tâp 4: Việc đề cao lối sống truyền thống cản trở hay thúc đẩy sự phát triển của thanh niên trong xã hội hiện đại?
Hoạt động 2: Các nhóm HS thảo luận lựa chọn chủ đề (bài tập), khởi tạo
padlet riêng của mỗi nhóm
Hoạt động 3: HS thực hiện đăng bài tranh biện về chủ đề (bài tập) trên tường
padlet mà nhóm mình lựa chọn Padlet là một trang web giúp HS tạo trang cá nhân
Trang 28để tải lên các văn bản, file âm thanh, hình ảnh, video để chia sẻ dễ dàng cho thầy
cô hoặc nhóm học tập Đây cũng là ứng dụng học tập dễ sử dụng để GV và HS tương tác với nhau
Dưới đây là một số trang padlet của một số nhóm lớp:
Đường link Padlet của nhóm 3, lớp 11A8:
https://padlet.com/phuonglienbinhdc4/11a8-nh-m-3-ch-t-nh-y-u-tu-i-h-c-tr-yl6z6zyvbryaoyjh
Hình 2.1.5.1 Padlet tranh luận về vấn đề “Tình yêu tuổi học trò?”(nhóm 3, lớp 11A8)
Đường link Padlet của nhóm 1, lớp 11A13:
trong-tr-ng-h-c-ad3cqg719ut1xom8
https://padlet.com/phuonglienbinhdc4/11a13-nh-m-1-v-n-s-d-ng-i-n-tho-i-th-ng-minh-Hình 2.1.5.2 Padlet thảo luận chủ đề “Vấn đề sử dụng điện thoại thông minh của HS trong trường học” (nhóm 1, lớp 11A13)
Hoạt động 4: GV đánh giá hoạt động tranh biện của các nhóm trên tường
padlet bằng công cụ thang đo và hướng dẫn HS đánh giá chéo các nhóm với nhau (bảng công cụ 7, phụ lục 2)
c Hiệu quả biện pháp
Hệ thống bài tập có tính tranh biện đã giúp HS kích thích tư duy, khơi dậy hứng thú cho các em khi tham gia giải quyết bài tập liên quan tới vấn đề đời sống, nhằm hướng tới một lối sống tích cực trong đời sống xã hội hiện đại Hệ thống bài tập
có tính tranh biện phát huy được tính tích cực chủ động của HS, phát huy được phẩm
Trang 29chất trung thực và trách nhiệm, phát huy được năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực ngôn ngữ và năng lực tạo lập văn bản nghị luận
Nhờ bài tập có tính tranh biện, hoạt động vận dụng đạt được hiệu quả tích cực trong việc rèn luyện kỹ năng phản biện và kỹ năng lắng nghe cho HS
Kết quả bài tập tranh biện trên tường padlet được thể hiện trong bảng sau:
1, Tham gia đầy đủ,
5, Quan điểm có ý nghĩa thực tiễn và
có tính giáo dục
Đánh giá mức độ bài tập tranh biện của học sinh
Trang 302.1.6 Tổ chức diễn đàn trực tuyến về về một vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau trên ứng dụng Zoom
a Mục tiêu biện pháp
Diễn đàn trực tuyến là hình thức tổ chức thảo luận, tranh luận dân chủ xung quanh một chủ đề nào đó trên các ứng ụng số Hình thức này được áp dụng trong hoạt động dạy học nói và nghe khi cần thảo luận về một chủ đề có tính xã hội, một vấn đề
có nhiều cách hiểu, cách nhìn nhận và đánh giá nhằm định hướng tư tưởng cho HS
Một trong các mục đích của diễn đàn trên ứng dụng zoom là giúp HS giải quyết vấn đề khi mà thời gian thực hiện trên lớp hạn chế, phát huy tác dụng của công nghệ vào quá trình học tập Bài tập này được đưa vào phần vận dụng tiết học, HS thực hiện sau khi kết thúc tiết học nói và nghe của bài 4
Tổ chức diễn đàn tạo cơ hội cho HS được tham gia một cách sôi nổi, hào hứng, được bày tỏ quan điểm, cách nhìn của bản thân một cách dân chủ, được tranh luận với nhau để tìm ra cách giải quyết vấn đề phù hợp với bản thân
Nhờ biện pháp này, HS được rèn luyện các kỹ năng giao tiếp như kỹ năng lắng nghe, kỹ năng phản biện trước một vấn đề có nhiều ý kiến trái chiều Từ đó thống nhất và đưa ra quyết định đúng đắn; đồng thời, HS được phát triển năng lực tự chủ, năng lực sáng tạo và năng lực số
b Cách thức tổ chức (thực hiện phần vận dụng của bài học, ngoài giờ lên lớp)
Hoạt động 1: GV khởi tạo ứng dụng zoom, cung cấp đường link cho HS vào tham gia tranh biện; thông báo thời gian bắt đầu diễn đàn, thời gian kết thúc diễn đàn (tổng lượng thời gian 45 phút)
Hoạt động 2: GV đưa ra vấn đề cần tranh biện, chia nhóm, hướng dẫn các nhóm thảo luận đưa ra ý kiến về vấn đề, tổ chức điều khiển HS tranh biện
Hoạt động 3: HS nhận nhiệm vụ, thực hiện chia các nhóm riêng để thảo luận, thời gian thảo luận nhóm riêng 10 phút, sau khi thảo luận nhóm riêng, đại diện các nhóm trình bày quan điểm của cả nhóm, lắng nghe, ghi chép, phản biện quan điểm của nhóm bạn
Hoạt động 4: GV đánh giá kỹ năng lắng nghe và phản biện của HS trong quá trình tranh biện bằng bảng kiểm
* Áp dụng tại lớp 11A8 và 11A13:
Tổ chức diễn đàn trực tuyến “Giới trẻ và vấn đề sống chậm hay sống nhanh trong
xã hội hiện đại?” trên ứng dụng Zoom
Thời điểm áp dụng: phần vận dụng, thực hiện ngoài giờ lên lớp
Hoạt động 1: GV thực hiện: khởi tạo ứng dụng zoom, cung cấp link zoom cho HS; nêu chủ đề tranh biện: Giới trẻ và vấn đề sống chậm hay sống nhanh trong
Trang 31xã hội hiện đại?; nêu mục tiêu, giới hạn thời gian và nội quy của diễn đàn; cử một
HS có năng lực dẫn dắt, điều khiển diễn đàn, cho phép người phát biểu, yêu câu kết
thức phát biểu khi hết thời gian cho phép; GV quan sát, giám sát, điều khiển, xử lí
Hoạt động 2: HS đăng nhập vào link, tham gia phòng zoom, thực hiện tranh
biện về vấn đề “Sống chậm hay sống nhanh trong xã hội hiện đại?” theo các bước: Bước 1: xác định vấn đề tranh biện, bước 2: thảo luận nhóm riêng (dùng cách chia nhóm trên zoom), bước 3: tổng hợp ý kiến của nhóm, tham gia trở lại phòng học chung, đại diện đứng ra thuyết trình, các nhóm khác lắng nghe, ghi chép và đặt câu hỏi phản biện
Hoạt động 3: GV chốt lại vấn đề: trong guồng quay hối hả của xã hội hiện đại,
tuổi trẻ cần phải bắt nhịp với nó, hoà nhập với nó, để không bị lạc hậu và bị đào thải, giới trẻ phải nhạy bén, năng động và nỗ lực không ngừng để tiến kịp với thời đại Nhưng con người hoà nhập với xu thế chứ không được hoà tan trong xu thế, phải biết cân bằng đời sống, thỉnh thoảng phải đứng yên, lùi lại, sống sâu sắc, chậm một chút
để bồi dưỡng năng lượng cho tâm hồn, như vậy chất lượng cuộc sống, chất lượng công việc càng được nâng cao…Vậy nên, chúng ta phải cân bằng, hài hoà cả hai phương thức sống nhanh và sống chậm
Hoạt động 4: Kết thúc diễn đàn, GV nhận xét chung về quá trình tranh luận của
HS (dựa trên yêu cầu lắng nghe và phản biện), đánh giá các nhóm bằng bảng kiểm (bảng công cụ 8, phụ lục 2)
c Hiệu quả biện pháp
Tổ chức diễn đàn về về một vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau trên các ứng dụng công nghệ số đã giải phóng được áp lực về thời gian bài học trên lớp, HS có thể tham gia ở nhà Giờ học nói nghe không còn nhàm chán, đơn điệu và kém hiểu quả như trước đây Nhờ tác dụng của các phầm mềm công nghệ, giờ học nói và nghe trở nên đa dạng, phong phú, sinh động, nhờ đó tạo được hứng thú cho HS khi tham gia học và thực hành rèn luyện các kỹ năng phần nói và nghe
Diễn đàn trên ứng dụng zoom về vấn đề đời sống tạo cơ hội cho HS có cái nhìn
đa chiều về cuộc sống, HS có được sự đánh giá sâu sắc về sự việc, hiện tượng, từ đó rút ra bài học cho bản thân về nhận thức, điều chỉnh tư tưởng, định hướng cho tương lai một cách tốt nhât, góp phần định hướng nghề nghiệp cho HS
Nhờ biện pháp này, HS được vận dụng các ứng dụng công nghệ để hỗ trợ cho quá trình thực hiện bài tập, nhờ vậy mà HS được mở rộng nhiều kiến thức, rèn luyện
Trang 32thêm nhiều kỹ năng như kỹ năng số, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tư duy phản biện, kỹ
SL TL(%) SL TL(%)
2, Kỹ năng thao tác trên zoom thành thạo 7 87,5 1 12,5
Kết quả trên được thể hiện trong biểu đồ sau đây:
Biểu đồ 2.1.6.1
2.1.7 Hướng dẫn học sinh sử dụng công cụ để đánh giá và tự đánh giá
về kỹ năng lắng nghe, kỹ năng phản biện khi thực hiện tranh luận
a Mục tiêu giải pháp
Công cụ đánh giá là phương tiện quan trọng và hữu hiệu để HS đánh giá và tự đánh giá quá trình lắng nghe và phản biện trong các hoạt động tranh biện Đổi mới phương pháp đánh giá và tự đánh giá là nội dung không thể thiếu trong dạy học Ngữ
1, Tham gia đầy
đủ, đúng giờ 2, Kỹ năng thao tác trên zoom
thành thạo
2, Tích cực, chủ động khi thảo luận
3, Kỹ năng hợp tác giải quyết vấn đề
4, Kỹ năng thuyết phục 5, Kỹ năng lắng ngheĐánh giá kỹ năng tranh biện của HS tại diễn đàn trên zoom
Đạt Chưa đạt
Trang 33văn theo chương trình 2018 So với cách đánh giá định tính trước đây, hoạt động đánh giá và tự đánh giá theo chương trình 2018 không chỉ theo định tính mà còn theo định lượng Đánh giá và tự đánh giá dựa trên các công cụ đem lại kết quả chính xác hơn, chi tiết và cụ thể hơn
Biện pháp này đã giúp HS rèn luyện được kỹ năng sử dụng các công cụ đánh giá một cách chủ động, khách quan, hiệu quả, rèn luyện cho các em kỹ năng định giá sản phẩm hoạt động nói và nghe, chất lượng công việc của bản thân và của người khác trong quá trình tham gia thảo luận, lắng nghe và phản biện
Hướng dẫn HS sử dụng công cụ đánh giá đối với kỹ năng lắng nghe và phản biện giúp các em nâng cao năng lực tự chủ, năng lực tư duy sáng tạo, đồng thời phát triển ở các em phẩm chất trung thực khi tham gia tranh biện, đào tạo con người tự tin,
có ý thức phê và tự phê trong cuộc sống
b Cách thức tổ chức (thực hiện trước giờ học và trong giờ học ở phần đánh
giá kết quả thảo luận)
Hoạt động 1: GV hướng dẫn HS sử dụng các loại công cụ đánh giá bao gồm một số công cụ như: rubric, thang đo, bảng kiểm…Mỗi công cụ có một đặc thù riêng, công hiệu riêng, phù hợp với từng hoạt động khác nhau:
*Bảng kiểm: Bảng kiểm được sử dụng để đánh giá các hành vi hoặc các sản
phẩm mà HS thực hiện Với một danh sách các tiêu chí đã xây dựng sẵn, HS sẽ sử dụng bảng kiểm để quyết định xem những hành vi hoặc những đặc điểm của sản phẩm
mà cá nhân, nhóm thực hiện có khớp với từng tiêu chí có trong bảng kiểm không Bảng kiểm được sử dụng trong quá trình HS quan sát các thao tác tiến hành một hoạt động cụ thể của HS trong quá trình họ thực hiện những nhiệm vụ cụ thể Bảng kiểm còn dùng trong đánh giá sản phẩm do HS làm ra theo yêu cầu, nhiệm vụ của GV Bảng kiểm cũng được dùng để đánh giá các thái độ, hành vi về một phẩm chất nào đó
*Thang đo: HS quan sát bộ tiêu chí cung cấp trong thang đo, đánh dấu vào mức
độ mà cá nhân, nhóm đạt được theo từng tiêu chí về kỹ năng, phẩm chất, năng lực Đánh giá bằng thang đo cần tuân theo những yêu cầu/ nguyên tắc sau: Những tiêu chí của thang đo cần phải là những nội dung giảng dạy và giáo dục quan trọng; Những
mô tả trong thang đo phải là những bằng chứng có thể trực tiếp quan sát được; các mức độ và mô tả mức độ của thang đo phải được định nghĩa rõ ràng; nên đưa ra từ 3 đến 5 mức độ trong thang đo; nên cho phép người sử dụng thang đo bỏ qua những câu
mà họ cảm thấy không có đủ bằng chứng để đánh giá; nếu có thể, nên kết hợp kết quả đánh giá của nhiều người quan sát trên cùng một đối tượng
*Rubric: HS sử dụng các tiêu chí trong rubric để tự đánh giá hoặc đánh giá HS
nghiên cứu tiêu chí đánh giá, nghiên cứu bảng mô tả tiêu chí, mức điểm cụ thể cho từng tiêu chí, tiến hành thực hành đánh giá, tự đánh giá
Hoạt đông 2: Tổ chức cho HS thực hành đánh giá và tự đánh giá kỹ năng lắng nghe và phản biện: GV tổ chức hoạt động tranh biện, cung cấp công cụ đánh giá,
Trang 34hướng dẫn các nhóm thảo luận cách đánh giá, tự đánh giá hoạt động nói và nghe của nhóm bạn, của nhóm mình dựa trên tiêu chí ghi rõ trong công cụ
Hoạt đông 3: GV đánh giá kỹ năng sử dụng công cụ đánh giá, tính khách quan
và chính xác của kết quả đánh giá; GV kết luận và rút kinh nghiệm cho HS
* Áp dụng tại lớp 11A8 và 11A13
Hướng dẫn HS sử dụng bảng kiểm khi đánh giá và tự đánh giá quá trình tham gia tranh luận trên zoom về vấn đề “Giới trẻ và vấn đề sống chậm hay sống nhanh trong xã hội hiện đại”?
Thời điểm áp dụng: phần vận dụng
Hoạt động 1: GV hướng dẫn HS phân tích đặc điểm và cách sử dụng công cụ
bảng kiểm (hoạt động này diễn ra trước khi thực hiện hoạt động vận dụng tranh luận trên phần mềm zoom về vấn đề “Giới trẻ và vấn đề sống chậm hay sống nhanh trong
xã hội hiện đại”); GV nêu yêu cầu đánh giá: phải dựa trên sự khách quan, trung thực, công bằng, chính xác
Hoạt động 2: Tổ chức cho HS sử dụng bảng kiểm thực hành đánh giá và tự
đánh giá hoạt động tranh biện về vấn đề “Giới trẻ và vấn đề sống chậm hay sống
nhanh trong xã hội hiện đại”? (bảng công cụ 9, phụ lục 2)
Thực hành tự đánh giá hoạt động tranh biện của nhóm mình bằng bảng kiểm;
GV hướng dẫn HS bám vào từng tiêu chí, nhóm mình đạt được tiêu chí nào thì đánh dấu vào tiêu chí đó
Thực hành đánh giá chéo giữa các nhóm về kỹ năng lắng nghe và kỹ năng phản biện bằng bảng kiểm, GV hướng dẫn HS bám vào từng tiêu chí, nhóm bạn đạt được mức nào thì đánh dấu vào tiêu chí đó
Hình ảnh phiếu tự đánh giá của các nhóm lớp 11A13 và 11A12 về kỹ năng tranh biện trên zoom “Giới trẻ và vấn đề sống chậm hay sống nhanh trong xã hội hiện đại”?
Trang 35*Hoạt động 3: GV dùng thang đo để đánh giá nhận thức và kỹ năng sử dụng
công cụ bảng kiểm trong hoạt động học tập của HS (xem phục lục 2) đồng thời nhận xét rút kinh nghiệm cho HS
c Hiệu quả giải pháp
Hướng dẫn HS sử dụng các công cụ đánh giá trong hoạt động nói và nghe nhằm giúp các em ý thức được vai trò của mỗi cá nhân trong việc đánh giá hoạt động chính mình và của tập thể HS nhận thức được ý nghĩa của đánh giá và tự đánh giá là giúp cho các cá nhân, các nhóm định lượng được sản phẩm học tập của mình và của người khác một cách chính xác và khách quan, từ đó khuyến khích được sự sáng tạo,
nỗ lực trong học tập của
Hướng dẫn HS sử dụng các công cụ đánh giá giúp các em tự tin, làm chủ được hoạt động nói nghe, nhìn nhận được những ưu thế và tồn tại trong lắng nghe và phản biện, rút kinh nghiệm để tiến bộ
Kết quả đánh giá kỹ năng sử dụng các công cụ bảng kiểm của 8 nhóm (lớp 11A13, 11A8) được thể hiện trong bảng sau:
Trang 36Việc khảo sát nhằm kiểm chứng giá trị thực tiễn của các giải pháp được đề xuất trong đề tài Những kết quả khảo sát sẽ giúp chúng tôi xác định được khả năng áp dụng thực tế giáo dục của các giải pháp mà chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu Từ đó chúng tôi tiến hành hoàn thiện, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn dạy học nói
và nghe trong chương trình Ngữ văn 11 thông qua khảo nghiệm nhằm khẳng định sự
cần thiết và tính khả thi của Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng lắng nghe, kỹ năng phản biện cho học sinh lớp 11 qua dạy học nói và nghe “Thảo luận về một vấn đề trong đời sống” (Bài 4, Ngữ văn 11, Kết nối tri thức với cuộc sống) đã đề xuất, từ đó
hoàn thiện các biện pháp dạy học cho phù hợp với thực tiễn
2.2.2 Nội dung khảo sát
Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp được đề xuất trong đề tài gồm 7 biện pháp sau đây:
Biện pháp 1: Tổ chức tranh biện dạng nhóm
Biện pháp 2: Sử dụng phương pháp đóng vai tranh biện
Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh sử dụng kỹ thuật đặt câu hỏi khi tham gia tranh biện Biện pháp 4: Rèn luyện cho HS kỹ năng kiểm soát giọng nói, cảm xúc và ngôn ngữ hình thể khi lắng nghe và thuyết phục người khác
Biện pháp 5: Xây dựng hệ thống bài tập vận dụng có tính tranh biện
Biện pháp 6: Tổ chức diễn đàn về vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau trên ứng dụng Zoom
Biện pháp 7: Hướng dẫn học sinh sử dụng công cụ để đánh giá và tự đánh giá về kỹ năng lắng nghe, kỹ năng phản biện khi thực hiện tranh luận
2.2.3 Phương pháp khảo sát và thang đánh giá
Phương pháp: trao đổi bằng bảng hỏi trên Google Forms để khảo sát GV, dùng phiếu
3, Kỹ năng sử dụng bảng kiểm
4, Kết quả đánh giá khách quan và chính xác.
Đánh giá hiểu biết và kỹ năng sử dụng bảng kiểm trong hoạt
động đánh giá
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4
Trang 37hỏi để khảo sát HS bảng hỏi của Google Forms, và bảng hỏi xem phục lục 2)
Thang đánh giá: sử dụng thang đo với 4 mức (không cấp thiết/không khả thi, ít cấp thiết/ít khả thi, cấp thiết/khả thi, rất cấp thiết/rất khả thi)
2.2.4 Đối tượng khảo sát
1 Học sinh lớp 11A8, 11A13 (trường THPT Diễn Châu 4) 80
2 Giáo viên Ngữ văn trường (THPT Diễn Châu 4) 10
Các biện pháp
Mức 1 (không cấp thiết)
Mức 2 (Ít cấp thiết)
Mức 3 (Cấp thiết)
Mức 4 (Rất cấp thiết)
Điểm
TB
Mức đạt