Chương cấu tạo nguyên tử là chương đầu tiên của môn Hoá học 10, nặng về kiến thức lí thuyết hàn lâm, HS phải hình dung tưởng tượng nhiều dễ gây sự nhàm chán nhưng nếu GV sử dụng PHT hiệu
CƠ SỞ KHOA HỌC
Cơ sở lý luận
1.1 Tổng quan về phiếu học tập
PHT là một công cụ hỗ trợ dạy học quan trọng, được giáo viên chuẩn bị trước nhằm phục vụ cho tiết học Học sinh có thể sử dụng thông tin từ sách giáo khoa, hình vẽ, thí nghiệm, mô hình, hoặc tài liệu được giao để hoàn thành PHT Nội dung phiếu gồm các yêu cầu, hướng dẫn của giáo viên cho từng hoạt động dạy học cụ thể, cũng như các câu hỏi thảo luận và ý kiến của học sinh, giúp giáo viên tổng hợp nhanh chóng ý kiến phản hồi Phiếu có thể được sử dụng linh hoạt, cho phép học sinh làm tại nhà hoặc trong lớp.
1.1.2 Cấu trúc phiếu học tập
Thường gồm các phần sau:
- Tiêu đề: PHT số… bài… thời gian…
Hoạt động (cá nhân/nhóm)
Phần thông tin và hướng dẫn dành cho học sinh cung cấp những thông tin ban đầu cần thiết, bao gồm nguồn tài liệu và chỉ dẫn từ giáo viên về các hoạt động cần thực hiện Đây là bước quan trọng giúp học sinh hiểu rõ cách thức hoạt động và các thao tác cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ học tập.
VD 1: Đọc thông tin mục… SGK trang… Hoàn thành sơ đồ phản ứng sau:
VD 2: Sử dụng những kiến thức đã học trong bài… Hãy tìm mối liên hệ giữa các chất trong sơ đồ phản ứng
- Phần đáp án: Phần này có thể đƣợc GV thông báo bằng lời hoặc chiếu lên màn hình
1.1.3 Phân loại phiếu học tập
1.1.3.1 Căn cứ vào mục đích lý luận dạy học
- PHT dùng để hình thành kiến thức mới
- PHT dùng để củng cố, hoàn thiện, hệ thống hoá kiến thức
- PHT dùng để luyện tập mờ rộng và nâng cao
1.1.3.2 Căn cứ vào mục đích và cách thức sử dụng
- PHT chỉ có các bài tập, câu hỏi… không có khoảng trống Loại này nhằm cung cấp yêu cầu của GV với HS
- PHT có các bài tập, câu hỏi… kèm theo khoảng trống để HS điền câu trả lời
PHT trong bài học bao gồm các khoảng trống để học sinh điền thông tin, thường được sử dụng trong các giờ dạy với giáo án điện tử, còn được gọi là "phiếu ghi bài" Hình thức này giúp tăng cường sự tương tác và ghi nhớ của học sinh trong quá trình học tập.
PHT có thể được in trên giấy phát cho học sinh hoặc nhóm học sinh, và có thể ép plastic để bảo vệ Bằng cách sử dụng bút viết bảng trắng, tài liệu này có thể được tái sử dụng cho các lớp học khác và cho những năm học tiếp theo.
- PHT viết trên bảng phụ hoặc các tờ giấy khổ lớn được GV chuẩn bị trước tiết học
- PHT trên màn hình của các phương tiện trình chiếu
1.1.4 Tác dụng của phiếu học tập
PHT là một phương tiện đơn giản, có hiệu quả cao để duy trì sự hưng phấn tích cực của HS trong giờ học
PHT hỗ trợ giảng dạy hiệu quả qua giáo án điện tử, giúp học sinh dễ dàng theo dõi và nắm bắt nội dung bài giảng, đặc biệt là với những bài có nhiều câu hỏi cần giải quyết.
Sử dụng PHT giúp đổi mới phương pháp dạy học, chuyển đổi vai trò của giáo viên từ việc trình bày và giảng giải sang hướng dẫn và chỉ đạo, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh.
Thông qua phương pháp học tập PHT, học sinh có khả năng tự đánh giá kết quả hoạt động trong giờ học, trong khi giáo viên có thể đánh giá một cách khách quan và thường xuyên quá trình học tập cũng như trình độ của hầu hết học sinh trong lớp Điều này giúp giáo viên có những điều chỉnh kịp thời để phù hợp với từng đối tượng, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học.
PHT là công cụ quan trọng giúp học sinh (HS) tổ chức hoạt động học tập độc lập, từ đó củng cố và nâng cao kiến thức Qua việc giải quyết các vấn đề trong PHT, HS phát triển những năng lực và phẩm chất thiết yếu như khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề, tự học, tư duy linh hoạt, và thói quen làm việc độc lập cũng như hợp tác hiệu quả trong nhóm, góp phần nâng cao hiệu quả học tập và kỹ năng sống.
PHT thể hiện sự sáng tạo và tài năng thiết kế hoạt động giảng dạy của giáo viên trong lớp học Để đạt được điều này, giáo viên cần khéo léo vận dụng và kết hợp các phương pháp dạy học phù hợp cùng với các phương pháp dạy học linh hoạt, nhằm khai thác tối đa ưu điểm của PHT.
- Bám sát mục tiêu bài học, không xa rời nội dung chính của bài
- Nội dung trên phiếu phải đảm bảo tính chính xác, khoa học, phù hợp với trình độ nhận thức của HS
- Nên phân chia ra từ dễ đến khó để HS trong lớp với khả năng học khác nhau đều có thể tham gia vào hoạt động
Hình thức trình bày trên PHT cần phải rõ ràng, dễ đọc và hấp dẫn để thu hút sự chú ý của học sinh Cỡ chữ nên đủ lớn, và có thể sử dụng sơ đồ, hình ảnh cùng bảng số liệu nhằm kích thích hứng thú học tập của các em.
- Thiết kế PHT kết hợp kênh chữ và kênh hình, mã QR-code để HS có thể tương tác bằng điện thoại, xem video
- Số lƣợng PHT trong một tiết học vừa phải, không nhiều gây tốn thời gian và không cần thiết nhƣng cũng không nên quá ít
- Yêu cầu mà GV đƣa ra cần phù hợp với thời gian thực hiện
1.2 Thực trạng của việc thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học môn Hóa học ở một số trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Vinh
1.2.1 Mục đích điều tra, khảo sát
Trong quá trình điều tra và khảo sát ý kiến của giáo viên giảng dạy môn Hóa học tại các trường trung học phổ thông ở thành phố Vinh thông qua công cụ Google Form, chúng tôi đã xác định những mục tiêu chính rõ ràng.
- Tìm hiểu tình hình sử dụng PHT trong dạy học môn Hóa học: tác dụng, mức độ sử dụng, hình thức, kinh nghiệm sử dụng, phần mềm thiết kế
- Tìm hiểu những khó khăn trong việc thiết kế và sử dụng PHT
- Tìm ra các biện pháp nâng cao chất lƣợng thiết kế và sử dụng PHT
Sau khi tiến hành khảo sát và xử lý số liệu, chúng tôi thu đƣợc kết quả nhƣ sau:
- Số GV tham gia khảo sát: 32
Khảo sát được thực hiện tại 6 trường học ở TP Vinh, bao gồm: THPT Huỳnh Thúc Kháng, THPT Chuyên Phan Bội Châu, THPT Hà Huy Tập, THPT Lê Viết Thuật, THPT Nguyễn Trường Tộ và THPT Herman.
Thầy/ cô đánh giá nhƣ thế nào về mức độ cần thiết của việc sử dụng PHT trong giảng dạy hóa học?
(Chỉ chọn một phương án)
2 Mức độ sử dụng PHT của thầy/cô trong dạy học
(Chỉ chọn một phương án) 32 100
3 Thầy/cô đã sử dụng PHT dưới các hình thức nào?
(Có thể chọn nhiều phương án) 32 100
Chỉ có câu hỏi, bài tập 25 78,1
4 Thầy/cô thường sử dụng PHT vào lúc nào?
(Có thể chọn nhiều phương án) 32 100
Khi kiểm tra bài cũ 2 6,3
Khi hình thành kiến thức mới 29 90,6
Khi ôn tập, củng cố kiến thức 27 84,4
Khi giao bài về nhà 10 31,3 Ý kiến khác 1 3,1
5 Những khó khăn khi thầy cô thiết kế và sử dụng PHT?
(Có thể chọn nhiều phương án) 32 100
Mất nhiều thời gian chuẩn bị 26 81,3
Tốn kém kinh phí in ấn, photo, sao chép 16 50 Ý kiến khác 5 15,6
6 Thầy/cô đã biết đến phần mềm Canva chƣa?
(Chỉ chọn một phương án) 32 100
Có biết đến nhƣng chƣa sử dụng 6 18,8
Có biết đến và đã sử dụng nhưng chưa thường xuyên 19 59,4
Sử dụng thường xuyên và thành thạo 5 15,6
Việc thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học hóa học là cần thiết và hữu ích, giúp giáo viên phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh, từ đó nâng cao kết quả học tập Tuy nhiên, hiện nay, việc này chưa được quan tâm đúng mức; nội dung và hình thức sử dụng PHT còn hạn chế, không phát huy được tính tích cực của học sinh Điều này là một trong những nguyên nhân khiến học sinh chưa thực sự hứng thú với công cụ hỗ trợ này, dẫn đến hiệu quả dạy học chưa cao.
Cơ sở thực tiễn
Trong những năm qua, trường THPT Huỳnh Thúc Kháng đã tích cực tổ chức các hoạt động tuyên truyền, tập huấn và chia sẻ kinh nghiệm nhằm đổi mới phương pháp giáo dục Nhà trường đặc biệt chú trọng đến việc chuẩn bị nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện cho học sinh.
- Đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, nhiệt huyết
Ý thức học tập của học sinh trong môn hóa học đang ngày càng được nâng cao, với việc hình thành thói quen tự học và tự nghiên cứu Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập độc lập và thực hiện các nhiệm vụ theo hướng dẫn của Phó Hiệu trưởng.
- Công nghệ thông tin phát triển giúp cho việc soạn thảo và thiết kế PHT nhanh và đẹp hơn
Giáo viên gặp nhiều khó khăn khi sử dụng phương pháp học tập (PHT) do vấn đề thời gian và kinh phí Họ thường phải lo toan cuộc sống và đảm nhận nhiều công việc khác nhau Để chuẩn bị các PHT chất lượng, giáo viên cần dành nhiều thời gian cho việc thiết kế và biên soạn, đảm bảo tính phù hợp và hiệu quả Ngoài ra, họ cũng phải chi phí cho việc in ấn, photocopy và sao chép tài liệu.
Một số giáo viên vẫn giữ thói quen an phận, chưa chủ động tìm tòi học hỏi và ngại đổi mới phương pháp giảng dạy Họ chưa biết cách lựa chọn và sử dụng các phương pháp học tập một cách hợp lý, dẫn đến việc chưa đa dạng hóa các loại phương pháp và kết hợp với các biện pháp tổ chức hoạt động dạy học Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả giảng dạy và hạn chế tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Năng lực học sinh không đồng đều trong lớp học là một rào cản lớn khiến giáo viên ngần ngại áp dụng phương pháp học tập tích cực (PHT) Nhiều học sinh cảm thấy lo lắng khi học môn Hóa do thiếu kiến thức nền tảng, chương trình đổi mới liên tục và kỹ năng vận dụng kiến thức còn hạn chế.
TỔNG QUAN CHUNG VỀ THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP
Một số nguyên tắc khi thiết kế phiếu học tập
Để thiết kế đƣợc một PHT tốt, phát huy đƣợc tính tích cực nhận thức của
HS, cần tuân theo các nguyên tắc sau: a Nội dung của PHT phải phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học
Sử dụng PHT là biện pháp quan trọng giúp học sinh đạt được mục tiêu bài học Để có giá trị và hiệu quả, PHT cần hỗ trợ học sinh khai thác và nắm bắt kiến thức cơ bản, trọng tâm PHT có thể truyền tải một phần hoặc toàn bộ nội dung bài học, và nội dung này phải phù hợp với trình độ của học sinh.
Nội dung phiếu học tập (PHT) cần phải phù hợp với trình độ và khả năng của học sinh, đảm bảo tính vừa sức để các em có thể tự lực hoàn thành mà vẫn phát triển tư duy Giáo viên nên tìm hiểu tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh để thiết kế PHT theo nguyên tắc này Bên cạnh việc nêu rõ nhiệm vụ học tập, PHT cũng cần cung cấp hướng dẫn và gợi ý cụ thể về cách thực hiện.
Nội dung trong PHT chính là nhiệm vụ học tập mà người GV giao cho
HS được yêu cầu thực hiện và giải quyết các nhiệm vụ thông qua câu hỏi, bài tập hoặc tình huống cụ thể, xuất phát từ nội dung bài học GV thường đưa ra những câu hỏi và bài tập kèm theo gợi ý, hướng dẫn để HS hiểu rõ cách thức thực hiện và căn cứ để giải quyết Ví dụ, HS có thể quét mã QR-Code để xem video mô phỏng thí nghiệm của J.J Thomson.
Phóng điện qua không khí loãng đã phát hiện ra tia âm cực, và thông tin này cần được điền vào bảng dưới đây Để thực hiện điều này, phương pháp hoạt động và giao tiếp của học sinh (HS) phải được thể hiện rõ ràng.
Các gợi ý trong PHT cung cấp phương pháp hoạt động và thao tác tư duy cho học sinh trong quá trình học tập Chẳng hạn, khi dựa vào hình vẽ, sách giáo khoa, đồ thị hoặc thí nghiệm, học sinh cần áp dụng các phương pháp khai thác kiến thức từ những nguồn tài liệu này để hoàn thành nhiệm vụ học tập hiệu quả.
Những câu hỏi, bài tập yêu cầu phân tích, chứng minh, so sánh cũng buộc
Học sinh cần áp dụng các thao tác tư duy như phân tích, đối chiếu, so sánh và tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ học tập Bên cạnh đó, PHT (Phương pháp học tập) cần đảm bảo tính khoa học, độ tin cậy và tính thẩm mỹ trong quá trình giáo dục.
Tính khoa học và độ tin cậy của phiếu học tập (PHT) được thể hiện qua việc đảm bảo thông tin khách quan, chính xác và có hệ thống, cùng với nguồn gốc đáng tin cậy Bên cạnh đó, tính thẩm mỹ của PHT còn được thể hiện qua cách trình bày đẹp và ngôn ngữ ngắn gọn, súc tích Một PHT có tính thẩm mỹ cao sẽ tăng cường sự hấp dẫn và tạo hứng thú học tập cho học sinh.
Quy trình thiết kế phiếu học tập
Bước đầu tiên trong việc phát triển PHT là xác định mục tiêu bài học và mục tiêu cho từng phần Điều này rất quan trọng để đảm bảo rằng PHT phù hợp với nội dung và mục tiêu chung của bài học, giúp người dạy nắm bắt được đích đến cần đạt được.
HS cần phải đạt tới sau khi học từng phần, từng bài Tránh trường hợp PHT đi quá xa mục tiêu của bài học
VD: Bài “Thành phần nguyên tử”
- Mục tiêu của toàn bài:
Nguyên tử là đơn vị cơ bản của vật chất, có kích thước vô cùng nhỏ và được cấu tạo từ hai phần chính: hạt nhân và lớp vỏ nguyên tử Hạt nhân của nguyên tử bao gồm các hạt proton mang điện tích dương và neutron không mang điện Lớp vỏ nguyên tử bao quanh hạt nhân được hình thành từ các electron mang điện tích âm Mỗi loại hạt trong nguyên tử có điện tích và khối lượng riêng biệt, tạo nên cấu trúc và tính chất đặc trưng của nguyên tử.
+ So sánh được khối lượng của electron với proton và neutron, kích thước của hạt nhân với kích thước nguyên tử
- Mục tiêu của từng phần:
+ Phần 1: - Sự tìm ra electron, hạt nhân nguyên tử, cấu tạo của hạt nhân nguyên tử
- Xác định được kích thước và khối lượng của nguyên tử
+ Phần 2: - Trình bày đƣợc điện tích hạt nhân và số khối
Bước 2: Xác định nhiệm vụ học tập cho HS ở từng phần của bài học
Dựa trên mục tiêu của từng phần bài học, giáo viên cần xác định nhiệm vụ học tập cụ thể cho học sinh, bao gồm những việc cần làm và các vấn đề cần giải quyết Qua đó, giáo viên có thể xây dựng các yêu cầu và nhiệm vụ trong quá trình học tập.
VD: Xác định nhiệm vụ học tập cho HS ở từng phần trong bài 1 – Thành phần nguyên tử
+ Phần 1: - Yêu cầu HS xem video thí nghiệm và điền thông tin còn thiếu vào bảng Hoàn thành sơ đồ tƣ duy khuyết
- Quan sát hình ảnh kết hợp SGK trang 15 điền thông tin vào bảng
+ Phần 2: - Dựa vào SGK trang 16, em hãy hoàn thành bảng
- Quan sát mô hình nguyên tử Nitrogen em hãy cho biết số e lớp vỏ, số p, n trong hạt nhân, số khối của nguyên tử
Bước 3: Xác định những nội dung cụ thể trong bài cần thiết kế PHT
Sau khi xác định mục tiêu chung và mục tiêu từng phần của bài học, giáo viên cần phân tích nội dung để tìm ra kiến thức trọng tâm và kỹ năng cơ bản Từ đó, giáo viên sẽ xác định các nội dung cụ thể cần sử dụng phiếu học tập (PHT) Nội dung của phiếu học tập bao gồm những kiến thức và kỹ năng cơ bản mà học sinh cần khám phá, lĩnh hội và rèn luyện.
Tùy nội dung từng bài mà có thể 1 hoặc 2 đơn vị kiến thức đƣợc sử dụng PHT hoặc nội dung toàn bài đƣợc sử dụng PHT
Bước 4: Xác định loại phiếu và cách trình bày phiếu
Để thể hiện nội dung PHT một cách hiệu quả, có thể sử dụng các câu hỏi, bài tập thực hành, bài tập xử lý tình huống và yêu cầu giải quyết vấn đề Những nội dung này cần được sắp xếp theo thứ tự logic của quá trình nhận thức Hình thức trình bày PHT có thể đa dạng, bao gồm văn bản, bảng điền kiến thức, sơ đồ hoặc biểu mẫu.
Bước 5: Diễn đạt nội dung trên PHT
Dựa vào mục tiêu và nhiệm vụ học tập của từng phần, giáo viên cần diễn đạt nội dung trên phiếu học tập (PHT) một cách rõ ràng và ngắn gọn Thông tin và nhiệm vụ học tập phải được trình bày tường minh để mọi học sinh đều hiểu rõ yêu cầu Các câu hỏi và nhiệm vụ cần chỉ rõ căn cứ, nguồn gốc để học sinh dễ dàng hoàn thành.
Câu hỏi trong bài tập như “Căn cứ vào hãy cho biết ”, “Dựa vào hãy chứng minh ”, hay “Từ thí nghiệm hãy nhận xét ” cần có khoảng trống để học sinh trình bày kết quả Khối lượng công việc phải phù hợp với thời gian suy nghĩ và thời gian trình bày Mỗi phiếu có thể thể hiện một hoặc nhiều đơn vị kiến thức.
Khi trình bày phiếu học tập (PHT), cần chỉ rõ mục đích sử dụng cho từng phần của bài học, như củng cố kiến thức hoặc áp dụng trong phần nào đó để học sinh dễ dàng sắp xếp và lưu giữ Nếu có nhiều PHT trong một bài học, nên đánh số thứ tự như PHT số 1, PHT số 2 để tạo sự rõ ràng Để tăng hứng thú học tập cho học sinh, giáo viên cần chú trọng vào tính thẩm mỹ và đa dạng hóa hình thức trình bày PHT, như thiết kế truyện tranh kết hợp câu hỏi, tạo mã QR-Code để lồng ghép video, hoặc thiết kế phiếu học tập dưới dạng trò chơi.
Nguyên tắc, hình thức và quy trình sử dụng phiếu học tập
2.2.1 Nguyên tắc sử dụng phiếu học tập
Khi sử dụng PHT GV cần tuân thủ một số nguyên tắc sau: a Sử dụng đúng mục đích, đúng nội dung, đúng đối tượng
Các loại PHT đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành kiến thức và rèn luyện kỹ năng khác nhau Đối với bài lý thuyết, PHT cần khai thác kiến thức lý thuyết một cách hiệu quả Trong khi đó, đối với bài thực hành, PHT phải tập trung vào việc rèn luyện các kỹ năng thí nghiệm, bao gồm việc sử dụng dụng cụ thí nghiệm và lắp đặt các thí nghiệm một cách chính xác.
Khi sử dụng PHT, cần chú ý đến đối tượng học sinh Ví dụ, phiếu thiết kế cho học sinh có mức độ nhận thức cao như lớp chọn không thể áp dụng cho học sinh lớp thường Bên cạnh đó, cần sử dụng số lượng PHT vừa đủ trong một tiết học để đảm bảo hiệu quả giảng dạy.
Không nên sử dụng quá nhiều phiếu trong một tiết học, vì điều này sẽ làm mất thời gian phát phiếu và tốn kém chi phí in ấn, đồng thời không đủ thời gian để xử lý các tình huống bất ngờ Tốt nhất chỉ nên sử dụng từ 1-2 phiếu trong mỗi tiết học Khi dạy bài mới, nên kết hợp các phiếu cho từng mục nội dung kiến thức thành một phiếu duy nhất Hơn nữa, việc sử dụng phiếu học tập cần kết hợp với các tài liệu và phương tiện dạy học khác để đạt hiệu quả tốt nhất.
Trong giảng dạy môn hóa học, việc sử dụng các đồ dùng dạy học như sách giáo khoa, dụng cụ thí nghiệm, tranh ảnh, mô hình máy móc và video mô phỏng thí nghiệm là rất cần thiết Các phương tiện dạy học như projector và máy chiếu không chỉ giúp giáo viên giảng dạy hiệu quả hơn mà còn tiết kiệm thời gian Để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, giáo viên cần kết hợp phương pháp dạy học tích cực với các tài liệu học tập và phương tiện dạy học khác Sau khi học sinh hoàn thành bài tập, giáo viên cần công bố đáp án để giúp các em tự đánh giá kết quả học tập của mình.
Khi áp dụng phương pháp PHT, giáo viên cần nhận xét và bổ sung ý kiến sau khi học sinh thảo luận và trình bày quan điểm của mình Việc công bố đáp án là rất quan trọng, giúp học sinh đối chiếu và so sánh với kết quả của mình, từ đó tự đánh giá thành quả học tập Điều này cũng giúp học sinh nhận diện những điểm còn yếu để có thể nỗ lực cải thiện trong quá trình học.
2.2.2 Các hình thức sử dụng PHT a Sử dụng PHT để hình thành kiến thức mới
Việc soạn giáo án và giảng dạy khi áp dụng Phương pháp học tập tích cực (PHT) có sự khác biệt rõ rệt so với giáo án truyền thống Giáo án có thể được chia thành hai cột, một bên dành cho hoạt động của giáo viên và bên còn lại cho hoạt động của học sinh, giúp tạo sự tương tác và phát huy tính chủ động trong học tập.
Giáo án này tập trung vào chuỗi hoạt động giữa thầy và trò, với mỗi phần học tập (PHT) tương ứng với một hoạt động cụ thể Nội dung giáo án bao gồm các PHT đi kèm, nhằm hướng dẫn và hỗ trợ quá trình dạy và học hiệu quả hơn.
GV đã chuẩn bị tài liệu để hỗ trợ các hoạt động giữa thầy và trò Bên cạnh đó, PHT còn bao gồm phần trả lời cho các câu hỏi và bài tập, được gọi là tờ nguồn.
PHT nên được sử dụng một cách có hệ thống Trong từng trường hợp có thể sử dụng cho từng nhóm HS hoặc từng cá nhân
Khi sử dụng PHT trong tiết học, giáo viên có thể phát trực tiếp hoặc phát phiếu cho học sinh để hoàn thành ở nhà Quan trọng là giáo viên cần phát PHT cho các nhóm và thường xuyên kiểm tra hoạt động của họ, kịp thời uốn nắn và hỗ trợ để tránh các hoạt động mang tính hình thức Ngoài ra, PHT cũng có thể được sử dụng để củng cố và hoàn thiện kiến thức cho học sinh.
GV có thể sử dụng PHT để củng cố và hoàn thiện kiến thức, kỹ năng cho HS, đây là một biện pháp hiệu quả trong việc củng cố bài học Việc sử dụng PHT khuyến khích HS hoạt động, giúp khắc phục tình trạng mất tập trung vào cuối tiết học Hơn nữa, PHT cho phép GV củng cố nhiều nội dung cùng lúc và đánh giá nhanh chóng, chính xác mức độ tiếp thu bài học của HS Sử dụng PHT cũng rất hữu ích khi kiểm tra bài cũ.
Nội dung của phiếu là một đề kiểm tra ngắn đƣợc in hoặc ghi sẵn vào phiếu có chỗ trống để HS làm ngay vào đó
Dùng phiếu để kiểm tra bài cũ giúp GV có thể kiểm tra đƣợc cùng lúc nhiều
HS, khắc phục đƣợc tình trạng GV chỉ gọi một hoặc một vài HS kiểm tra còn các
HS thường chỉ ngồi nghe hoặc làm việc riêng khi sử dụng phiếu này Tuy nhiên, nhược điểm của nó là không phát huy được khả năng trình bày và diễn đạt bằng lời nói trực tiếp của HS Do đó, cần tránh lạm dụng loại phiếu này và kết hợp một cách hợp lý với kiểm tra bài cũ truyền thống, hay còn gọi là kiểm tra miệng Bên cạnh đó, việc sử dụng PHT kết hợp với giáo án điện tử cũng là một phương pháp hiệu quả.
Xu hướng hiện nay trong giáo dục là chuyển đổi từ việc thiết kế giáo án tập trung vào hoạt động của giáo viên sang việc khuyến khích học sinh tham gia tích cực hơn, thông qua các hoạt động cá nhân và nhóm nhỏ sử dụng phương pháp học tập tích cực (PHT) Việc kết hợp PHT với giáo án điện tử không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn nâng cao hiệu quả dạy và học Bên cạnh đó, PHT cũng rất hữu ích trong việc tổ chức thuyết trình và thảo luận nhóm, tạo điều kiện cho học sinh phát triển kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm.
Khi áp dụng phương pháp học tập PHT, giáo viên cần kết hợp với phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ để rèn luyện kỹ năng hợp tác, thảo luận và tìm kiếm kiến thức Điều này không chỉ giúp học sinh phát triển ý thức tập thể và trách nhiệm cộng đồng mà còn xây dựng niềm tin vào bản thân Để đạt được hiệu quả trong việc sử dụng PHT kết hợp với tổ chức thuyết trình và thảo luận nhóm, giáo viên cần có những chiến lược phù hợp.
- Số lƣợng mẫu phiếu cho các nhóm
- Điều khiển hoạt động của HS linh hoạt, đúng yêu cầu về thời gian hoàn thành phiếu, trình bày nội dung PHT của HS
Để giúp học sinh tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn, cần sử dụng các tranh ảnh, sơ đồ và bảng biểu liên quan đến nội dung trong PHT Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc hướng dẫn các tiết thực hành.
Phiếu thực hành (PHT) được sử dụng trong các tiết thực hành, chứa đựng những câu hỏi ngắn liên quan đến quy trình tiến hành thí nghiệm Giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi về thiết bị, dụng cụ, nguyên tắc và thao tác trong phòng thí nghiệm nhằm nâng cao kỹ năng thực hành cho học sinh Đồng thời, điều này cũng giúp kiểm tra sự chuẩn bị bài của các em trước khi bước vào thực hành.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG CẤU TẠO NGUYÊN TỬ MÔN HOÁ HỌC 10
Hình thức của phiếu học tập
3.1.1 Sử dụng công nghệ thông tin trong thiết kế phiếu học tập a Sử dụng phần mềm Canva trong thiết kế phiếu học tập
Canva là một công cụ thiết kế đồ họa dạng mô hình trang web trực tuyến
Phần mềm Canva khác biệt so với các ứng dụng thiết kế đồ họa chuyên dụng vì không cần cài đặt trên máy tính; giáo viên và học sinh chỉ cần đăng ký tài khoản và truy cập trực tiếp trên web Canva là công cụ miễn phí, giúp đơn giản hóa quy trình thiết kế, cho phép giáo viên và học sinh sáng tạo ra những sản phẩm hấp dẫn Giao diện thân thiện và trực quan của Canva kích thích sự hứng khởi trong việc dạy và học.
Giáo viên và học sinh có thể sử dụng Canva để thiết kế đa dạng các sản phẩm như bản thuyết trình, áp phích, thư mời, logo, infographic, tờ rơi, biểu đồ và bài đăng trên mạng xã hội Chỉ cần chọn từ các mẫu có sẵn hoặc tạo kích thước tùy chỉnh theo nhu cầu cá nhân.
Canva là công cụ thiết kế hữu ích cho giáo viên và học sinh, cho phép tạo ra thiết kế mới hoặc sử dụng các mẫu có sẵn từ kho 60.000 mẫu miễn phí của các nhà thiết kế chuyên nghiệp Với giao diện kéo và thả dễ sử dụng, người dùng có thể thêm, xóa và chỉnh sửa mà không cần kỹ năng phức tạp Ngoài ra, Canva còn hỗ trợ thêm video vào thiết kế, giúp tạo ra các video chuyên nghiệp và đa dạng như video cho Facebook, Youtube, video trình chiếu và tin nhắn video.
Canva cung cấp hơn 500 loại phông chữ đa dạng, giúp giáo viên và học sinh dễ dàng chèn mô tả hình ảnh hoặc đoạn văn bản Đặc biệt, nền tảng này còn hỗ trợ hiệu ứng chữ và các mẫu kết hợp phông chữ ấn tượng, tạo ra những thiết kế bắt mắt.
Canva có hàng triệu miễn phí và ảnh cao cấp có chất lƣợng cao để giáo viên và học sinh thỏa sức tạo ra những thiết kế tuyệt đẹp
Giáo viên và học sinh có thể dễ dàng chia sẻ thiết kế của mình qua các mạng xã hội như Instagram, Facebook và Twitter Bên cạnh đó, Canva cho phép họ cùng xem và chỉnh sửa thiết kế một cách thuận tiện Các thiết kế cũng có thể được tải xuống với độ phân giải cao và nhiều định dạng khác nhau như JPG, PDF, PNG, giúp đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dùng.
Các bước cơ bản sử dụng phần mềm Canva
Bước 1: Truy cập vào website https://www.canva.com/ Xuất hiện giao diện chính nhƣ sau:
Bước 2: Đăng kí tài khoản, đăng nhập
Bước 3: Tạo thiết kế Có thể thiết kế mới hoàn toàn hoặc tạo thiết kế theo mẫu có sẵn
Bước 4: Lưu và tải thiết kế về máy tính
Với phần mềm Canva, giáo viên có thể dễ dàng tạo ra các phiếu học tập hấp dẫn và sinh động, sử dụng các mẫu có sẵn hoặc chỉnh sửa chúng với những thao tác đơn giản Những phiếu học tập này không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn nhờ vào hình ảnh thực tế mà còn làm cho môn Hóa học trở nên thú vị hơn Đặc biệt, giáo viên có thể tạo mã QR-Code cho video thí nghiệm để tích hợp vào phiếu học tập, giúp học sinh liên hệ lý thuyết với thực tiễn đời sống.
Mã QR tương tác cho phép giáo viên dễ dàng chia sẻ video với học sinh, giúp học sinh truy cập nội dung video trên bất kỳ thiết bị nào Điều này tạo thuận lợi cho việc thiết kế các hoạt động khi học sinh làm bài trên PHT Để tạo mã QR cho video, bạn cần thực hiện các bước đơn giản sau đây.
Bước 1: Mở trình tạo mã Qr ME-QR và nhấp vào “ Tạo QR”
Bước 2: Chọn mã Qr “Liên kết”
Bước 3: Sao chép liên kết video bạn muốn thêm vào mã (ví dụ trong TikTok, YouTube…) và dán vào tường thích hợp
Bước 4: Nhấp vào “ Tùy chỉnh và tải xuống QR” để thay đổi thiết kế mã
Bước 5: Tùy chỉnh thiết kế mã Qr, ví dụ: thêm lời kêu gọi hành động, thay đổi nền…
Bước 6: Tải xuống mã Qr ở định dạng phù hợp ( PNG hoặc SVG)
Ví dụ: Dùng phần mềm Canva thiết kế phiếu học tập khi hình thành kiến thức mới
Bài 1: Thành phần nguyên tử (tiết 1)
3.1.2 Kết hợp phiếu học tập với truyện tranh để tạo hứng thú cho HS
Phiếu học tập được thiết kế phù hợp với tiêu chuẩn tổ chức môi trường sư phạm sẽ tạo sự hứng thú cho giáo viên và học sinh, từ đó nâng cao tình yêu nghề và cảm thụ chân, thiện, mỹ của học sinh Do đó, khi thiết kế phiếu học tập, giáo viên cần chú trọng đến hình thức bên cạnh nội dung Để khởi động hiệu quả và hình thành kiến thức mới, giáo viên nên đa dạng hóa các hình thức dạy học, trong đó sử dụng truyện tranh là một phương pháp hiệu quả Để đơn giản hóa việc thiết kế truyện tranh cho bài dạy, giáo viên có thể tận dụng phần mềm Canva.com, với các tính năng ưu việt giúp tiết kiệm thời gian và tạo ra những mẩu truyện tranh đẹp mắt và hấp dẫn.
Sử dụng phần mềm Canva để thiết kế phiếu học tập kết hợp với truyện tranh là một phương pháp hiệu quả trong việc hình thành kiến thức mới Bài 3 tập trung vào cấu trúc lớp vỏ electron, giúp học sinh dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ hơn về chủ đề này trong tiết 1.
3.1.3 Thiết kế phiếu học tập dưới dạng trò chơi
Sử dụng phiếu học tập kết hợp với trò chơi không chỉ tạo sự vui vẻ và hứng khởi cho học sinh mà còn giúp củng cố kiến thức hiệu quả Phương pháp này giúp học sinh tái hiện lại những kiến thức đã học một cách dễ dàng, đồng thời giảm bớt căng thẳng sau mỗi tiết học Đặc biệt, học sinh sẽ cảm thấy phấn khích và mong chờ các tiết học Hóa học hơn.
Ví dụ : Thiết kế phiếu học tập theo nhóm kết hợp trò chơi ― Giải mật thư‖ — hoạt động luyện tập - Bài Ôn tập chương cấu tạo nguyên tử (tiết 2)
Để chuẩn bị cho trò chơi "Giải mật thư", giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm, số lượng nhóm tùy thuộc vào sĩ số lớp học Mỗi nhóm bao gồm 4 thành viên, tương ứng với 4 mật thư Các thành viên sẽ được đánh số thứ tự và mỗi người sẽ viết đáp án cho một mật thư Sau thời gian quy định, nếu nhóm giải đúng mật thư, họ sẽ nhận được các chữ cái Đội nào giải đúng tất cả các mật thư sẽ có cơ hội nhận từ khóa của trò chơi bằng cách sắp xếp các chữ cái theo thứ tự đúng.
Ví dụ: Thiết kế phiếu học tập theo nhóm kết hợp trò chơi ―Hoa trí tuệ‖ — hoạt động luyện tập - Bài 2: Nguyên tố hóa học (tiết 1)
Để chuẩn bị và thực hiện trò chơi "Hoa trí tuệ", giáo viên chia lớp thành 4 nhóm Trong vòng 3 phút, mỗi nhóm phải ghép các mảnh ghép thành 5 bông hoa, mỗi bông hoa đại diện cho thông tin của một nguyên tố hóa học Mỗi bông hoa có 5 cánh, trong đó nhụy hoa màu vàng chứa tên hoặc ký hiệu hóa học, được đánh dấu bằng các chữ cái a, b, c, d, e ở mặt sau Các cánh hoa màu đỏ sẽ là thông tin của nguyên tố hóa học, được đánh dấu bằng các số từ 1 đến 25 ở mặt trước, giúp giáo viên dễ dàng kiểm tra đáp án của từng đội.
Thiết kế phiếu học tập theo nhóm kết hợp trò chơi "Ai nhanh hơn" giúp hình thành kiến thức mới về đặc điểm của electron lớp ngoài cùng trong bài học về cấu trúc lớp vỏ electron nguyên tử (tiết 3).
GV sử dụng các thẻ và nam châm để dán lên bảng, tổ chức cuộc thi giữa các nhóm Học sinh được yêu cầu tự đọc sách giáo khoa để tìm hiểu kiến thức và thảo luận nhóm trong vòng 3 phút.
GV chia nhóm nhƣ sau:
3.1.4 Khả năng áp dụng đại trà và tái sử dụng
Một trong những lý do khiến giáo viên ít sử dụng phiếu học tập (PHT) là chi phí in ấn và sao chép cao Để tiết kiệm, chúng ta có thể ép plastic phiếu học tập, cho phép học sinh sử dụng vở ghi hoặc vở nháp để viết đáp án Ngoài ra, PHT có thể in trên giấy trơn, giúp học sinh viết bằng bút và xóa bằng khăn Đặc biệt, việc kết hợp phiếu học tập với truyện tranh hoặc trò chơi giúp chúng ta áp dụng cho nhiều lớp khác nhau với cùng nội dung bài học, đồng thời có thể tái sử dụng nhiều lần.
Nội dung phiếu học tập
3.2.1 Nội dung phiếu học tập cần phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường
Tại trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, hầu hết học sinh đều sở hữu điện thoại di động, và lớp học được trang bị ti vi hoặc máy chiếu cùng với internet đầy đủ Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên phát huy tối đa tiềm năng và tính năng của phiếu học tập trong quá trình giảng dạy.
Nhiều giáo viên vẫn chưa tự tin áp dụng phương pháp học tập (PHT) trong giảng dạy do sự không đồng đều về trình độ học sinh trong lớp và giữa các lớp khác nhau Điều này đòi hỏi giáo viên phải khéo léo thiết kế các câu hỏi phù hợp với từng đối tượng học sinh để đảm bảo hiệu quả trong quá trình học tập.
Trước hết cần phải hiểu rõ đối tượng HS của mình Trên cơ sở đó lựa chọn nội dung kiến thức đƣa vào PHT sao cho phù hợp
Nội dung PHT cần phù hợp với trình độ của học sinh, đảm bảo tính vừa sức để các em có thể tự lực hoàn thành và phát triển tư duy Giáo viên nên tìm hiểu tâm lý và trình độ nhận thức của học sinh nhằm thiết kế PHT theo nguyên tắc này, tránh việc đưa ra các nhiệm vụ học tập quá dễ hoặc quá khó.
3.2.2 Nội dung phiếu học tập cần có tính thực tiễn, khơi dậy trí tò mò, ham hiểu biết của HS
PHT kích thích tư duy là những phương pháp giúp học sinh sử dụng kiến thức hóa học để nâng cao khả năng nhận thức và phát hiện quy luật của sự vật Việc tạo hứng thú bằng PHT kích thích tư duy không chỉ thu hút sự chú ý của học sinh mà còn khuyến khích họ tìm hiểu sâu hơn, từ đó tự bổ sung kiến thức và nâng cao trình độ học tập.
Sử dụng PHT kích thích tư duy không chỉ tạo hứng thú cho học sinh mà còn rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức và khám phá kiến thức mới Những PHT này không nhất thiết phải liên quan trực tiếp đến nội dung bài giảng, miễn là chúng có thể kích thích sự quan tâm của học sinh, giúp các em sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới Để tạo hứng thú hiệu quả, giáo viên cần kết hợp những lời dẫn khơi dậy trí tò mò và ham hiểu biết của học sinh.
Trong bài 2 về nguyên tố hóa học (tiết 2), tôi đã đưa ra câu hỏi liên quan đến nội dung trong sách giáo khoa Hóa học 10 - Chân trời sáng tạo, trang 24, nhằm hỗ trợ hoạt động luyện tập cho học sinh.
Trong thể dục thể thao, một số vận động viên sử dụng doping, như testosterone tổng hợp, để cải thiện thành tích, dẫn đến việc kết quả thi đấu không phản ánh đúng năng lực thực sự của họ.
Tỉ lệ giữa hai đồng vị 12 6 𝐶 (98,98%) và 13 6 𝐶
Tỷ lệ đồng vị carbon (CIR) được sử dụng để xác định liệu vận động viên có sử dụng doping hay không, dựa trên sự khác biệt giữa testosterone tự nhiên và testosterone tổng hợp Testosterone tự nhiên có tỷ lệ đồng vị carbon là 1,11%, trong khi testosterone tổng hợp lại có tỷ lệ cao hơn Điều này tạo nên cơ sở cho việc phát hiện việc sử dụng chất cấm trong thể thao.
Phân tích CIR cho một vận động viên cho kết quả phần trăm đồng vị carbon là x cho 12^C và y cho 13^C, từ đó tính được nguyên tử khối trung bình của carbon trong mẫu là 12,0098 Dựa vào kết quả này, có thể đặt ra nghi vấn về việc vận động viên có sử dụng doping hay không, vì sự thay đổi tỷ lệ đồng vị carbon có thể chỉ ra việc sử dụng các chất cấm.
Cách thức sử dụng phiếu học tập
3.3.1 Kết hợp phiếu học tập với các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực khác
Phương pháp thảo luận nhóm là một trong những phương pháp phổ biến mà giáo viên (GV) thường áp dụng khi sử dụng PHT Trong phương pháp này, GV tổ chức cho học sinh (HS) trao đổi về các nội dung học tập hoặc các vấn đề nhận thức cần giải quyết HS đóng vai trò chủ động, tích cực tham gia thảo luận, trong khi GV giữ vai trò nêu vấn đề, hướng dẫn và tổng kết nội dung thảo luận.
Tùy thuộc vào yêu cầu và mục đích sử dụng PHT, giáo viên có thể tổ chức thảo luận theo lớp hoặc theo nhóm cho học sinh Nếu PHT nhằm củng cố và kiểm tra kiến thức vào cuối tiết học, thảo luận theo lớp là lựa chọn phù hợp Ngược lại, nếu PHT được sử dụng để hình thành kiến thức mới, thảo luận nhóm sẽ hiệu quả hơn Để nâng cao hiệu quả thảo luận nhóm, giáo viên nên kết hợp các kỹ thuật dạy học tích cực như khăn trải bàn, mảnh ghép, sơ đồ tư duy và trạm.
Kết hợp phiếu học tập với phương pháp hoạt động nhóm thông qua sơ đồ tư duy giúp hình thành kiến thức mới hiệu quả Ví dụ, trong bài 4 ôn tập chương cấu tạo nguyên tử (tiết 1), việc này không chỉ nâng cao khả năng tư duy mà còn khuyến khích sự hợp tác giữa học sinh.
Giáo viên tổ chức chia nhóm cho học sinh, mỗi nhóm gồm 4-5 em, để hoàn thành phiếu học tập nhằm hệ thống hóa kiến thức Sau khi hoàn tất, các nhóm sẽ thực hiện chấm chéo bài làm của nhau, tạo cơ hội cho việc trao đổi và học hỏi lẫn nhau.
Kết hợp phiếu học tập với phương pháp hoạt động nhóm thông qua kỹ thuật trạm giúp hình thành kiến thức mới hiệu quả Ví dụ, trong bài học về thành phần nguyên tử (tiết 2), học sinh sẽ tham gia vào các hoạt động nhóm, từ đó nâng cao khả năng hiểu biết và ứng dụng kiến thức.
Các nhóm lần lƣợt hoạt động qua các trạm theo sơ đồ Thời gian: 8 phút/trạm
Trạm 1: Ai tính nhanh hơn
Trạm 2: Mình cùng tái hiện
3.3.2 Sử dụng phiếu học tập cần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
Tính tích cực và chủ động trong học tập của học sinh đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp học tập (PHT) trong giảng dạy Giáo viên cần khuyến khích sự chủ động và tích cực này ở học sinh trong mọi giai đoạn của tiết học cũng như trong quá trình áp dụng PHT.
Sau khi phát PHT, GV phải giao nhiệm vụ cho HS một cách đầy đủ, rõ ràng với yêu cầu từ dễ đến khó
Tăng cường công tác kiểm tra việc hoàn thành PHT của HS một cách thường xuyên để có thể nhận đƣợc thông tin phản hồi từ phía HS
Khi sử dụng phiếu học tập, giáo viên có thể quan sát và ghi chép thái độ cũng như hành vi của học sinh trong quá trình hoạt động Việc này giúp giáo viên đánh giá quá trình hoàn thành sản phẩm và hỗ trợ học sinh vượt qua những khó khăn trong học tập Để thu thập thông tin hiệu quả, giáo viên có thể sử dụng các công cụ như sổ ghi chép sự kiện, thang đo, bảng kiểm và phiếu đánh giá theo tiêu chí.
Sau khi học sinh thảo luận và trình bày ý kiến, giáo viên cần nhận xét, bổ sung và công bố đáp án Việc này giúp học sinh đối chiếu, so sánh và tự đánh giá kết quả học tập của mình, từ đó nhận diện những điểm còn thiếu sót để nỗ lực hơn trong quá trình học.
Sau khi hoàn thành hoạt động hình thành kiến thức mới về thành phần nguyên tử trong bài 1, tôi đã hướng dẫn học sinh tự đánh giá kết quả học tập của mình dựa trên các tiêu chí đã đề ra.
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
Mục đích thực nghiệm sƣ phạm
- Khẳng định hướng đi đúng, cần thiết của đề tài trên cơ sở lý luận và thực tiễn
Đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các phương pháp học tập (PHT) đã được thiết kế là cần thiết nhằm nâng cao kết quả giảng dạy môn hóa học Các biện pháp đề xuất cần được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo chúng có thể cải thiện hiệu quả dạy học và đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.
Nhiệm vụ thực nghiệm sƣ phạm
4.2.1 Đối tƣợng thực nghiệm sƣ phạm
- Lớp TNSP: 10A3 (45 HS), lớp đối chứng ( ĐC): 10A4 (42 HS), 10A5 (44 HS) trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, thành phố Vinh, Nghệ An năm học 2023-2024.
- Đối với lớp ĐC: GV tiến hành kế hoạch bài dạy (KHBD) theo phương pháp truyền thống
- Đối với lớp TNSP: GV tiến hành bài dạy theo KHBD đã xây dựng có sử dụng PHT
- Các lớp HS tương đương nhau về số lượng, trình độ và khả năng học tập
- Giáo viên dạy: GV có kinh nghiệm chuyên môn tốt, có kinh nghiệm dạy học, nhiệt tình, trách nhiệm GV dạy đồng thời cả 2 lớp TN và ĐC
- Sau tiết dạy, thu phiếu học tập của HS để đánh giá thái độ học tập của các em
4.2.2 Xây dựng kế hoạch dạy học
PPCT tiết 2 - Bài 1: THÀNH PHẦN CỦA NGUYÊN TỬ
Nguyên tử là đơn vị cơ bản của vật chất, có kích thước vô cùng nhỏ, bao gồm hai phần chính: hạt nhân và lớp vỏ nguyên tử Hạt nhân được cấu tạo từ các proton (p) và neutron (n), trong khi lớp vỏ nguyên tử chứa các electron (e) Mỗi loại hạt này có điện tích và khối lượng riêng biệt, đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc và tính chất của nguyên tử.
- So sánh được khối lượng của electron với proton và neutron, kích thước của hạt nhân với kích thước nguyên tử
- Tự chủ và tự học: Chủ động và tích cực tìm hiểu về thành phần của nguyên tử
Giao tiếp hợp tác là việc sử dụng ngôn ngữ khoa học để mô tả thành phần của nguyên tử, bao gồm các loại hạt cơ bản cấu thành hạt nhân và lớp vỏ nguyên tử, cùng với điện tích và khối lượng của từng loại hạt Để đạt hiệu quả trong hoạt động nhóm, các thành viên cần tuân thủ yêu cầu của giáo viên, đảm bảo rằng mọi người đều được tham gia tích cực và có cơ hội trình bày báo cáo của mình.
- Giải quyết vấn đề sáng tạo: Thảo luận với các thành viên trong nhóm nhằm giải quyết các vấn đề để hoàn thành nhiệm vụ học tập
Nhận thức hóa học là hiểu biết về cấu trúc của nguyên tử, bao gồm các loại hạt cơ bản tạo nên hạt nhân và lớp vỏ nguyên tử Điều này bao gồm việc nêu rõ các hạt như proton, neutron và electron, cùng với điện tích và khối lượng của từng loại hạt.
- Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học: Nêu và giải thích được các thí nghiệm tìm ra thành phần nguyên tử
Khối lượng của electron so với proton và neutron là rất nhỏ, với proton và neutron có khối lượng tương đương nhau và lớn hơn nhiều so với electron Kích thước của hạt nhân nguyên tử cũng nhỏ hơn nhiều so với kích thước của toàn bộ nguyên tử, cho thấy hạt nhân chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong không gian của nguyên tử.
- Tham gia tích cực hoạt động nhóm phù hợp với khả năng của bản thân
- Cẩn thận, trung thực và thực hiện an toàn trong quá trình làm thực hành
- Có niềm say mê, hứng thú với việc khám phá và học tập hóa học
B THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
- Chuẩn bị video mô phỏng thí nghiệm của J.J Thomson: Phóng điện qua không khí loãng phát hiện ra tia âm cực
- Phiếu học tập in sẵn nội dung
- Thẻ trả lời câu hỏi trắc nghiệm
Nghiên cứu trước nội dung bài học Điện thoại di động (khi GV yêu cầu)
C PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT DẠY HỌC
- Đàm thoại, gợi mở, hoạt động nhóm, hoạt động cá nhân
- Dạy học theo trạm, hợp tác theo nhóm, sử dụng kỹ thuật sơ đồ tƣ duy
I HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG a Mục tiêu:
- Huy động các kiến thức đã được học ở lớp dưới, tạo nhu cầu tiếp tục tìm hiểu kiến thức mới
- Tìm hiểu một số chất và thành phần của nguyên tử thông qua trò chơi
Trò chơi "Đuổi hình bắt chữ" bao gồm 5 hình ảnh tương ứng với 5 từ khóa, có thể là tên hoặc công thức của các chất hóa học, hoặc các khái niệm hóa học Mỗi nhóm sẽ lần lượt trả lời, nếu trả lời đúng sẽ nhận được 10 điểm cho mỗi từ khóa Hình ảnh cuối cùng yêu cầu nhóm xung phong nhanh nhất để trả lời Nhóm có cơ hội giành điểm nếu nhóm khác trả lời sai khi hết thời gian.
Giáo viên giới thiệu về lịch sử phát hiện các hạt trong nguyên tử, giúp học sinh hiểu rõ hơn về các khái niệm như Clo (chlorine), H2SO4, thạch cao, hạt nhân và nguyên tử Qua đó, học sinh sẽ nắm bắt được những từ khóa quan trọng liên quan đến nguyên tử và cấu trúc của nó.
Chia lớp làm 4 nhóm GV phổ biến luật chơi Lần lƣợt từng nhóm trả lời
II HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Các hạt cấu tạo nên nguyên tử Kích thước và khối lượng nguyên tử a Mục tiêu:
- Sự tìm ra electron, hạt nhân nguyên tử, cấu tạo của hạt nhân nguyên tử
Để xác định kích thước và khối lượng của nguyên tử, cả lớp sẽ tham gia vào các hoạt động như làm việc với tài liệu, sách giáo khoa, và phiếu học tập Học sinh sẽ được chia thành nhóm để thảo luận và nghiên cứu, đồng thời cũng có thể thực hiện các bài tập cá nhân nhằm củng cố kiến thức Tổ chức thực hiện các hoạt động này sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về cấu trúc và tính chất của nguyên tử.
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ
- Tìm hiểu thành phần nguyên tử gồm
+ Electron: Sự tìm ra electron, khối lƣợng và điện tích của electron
+ Hạt nhân nguyên tử: sự tìm ra hạt nhân nguyên tử,câu tạo của hạt nhân nguyên tử gồm hạt proton và hạt notron
- Tìm hiểu kích thước và khối lượng nguyên tử
+ Khối lƣợng nguyên tử tính theo kg và tính theo u
Các nhóm lần lƣợt hoạt động qua các trạm theo sơ đồ Thời gian: 8 phút/trạm
Trạm 1: Mình cùng nghiên cứu: Xem video TN; Trả lời câu hỏi về thành phần nguyên tử trong PHT
Trạm 2: Mình là nhà thông thái: Dựa vào tài liệu trả lời câu hỏi về kích thước và khối lượng nguyên tử trong PHT
- Hoạt động cả lớp: Mời bất kì 1 bạn trình bày, sau đó nhận xét và GV chốt kiến thức
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
HS: Hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm hoàn thành các phiếu học ở các trạm 1,2
Bước 3: Báo cáo, thảo luận
- GV gọi bất kì 1 bạn ở các nhóm trả lời câu hỏi trong phiếu học tập
Bước 4: Kết luận, nhận định
- Học sinh nhận xét, bổ sung, đánh giá
- Giáo viên nhận xét, đánh giá d Sản phẩm: HS tóm lƣợc kiến thức ghi vào vở, hoàn thành nội dung học tập
III HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP – VẬN DỤNG – MỞ RỘNG a Mục tiêu
- Củng cố, khắc sâu các kiến thức đã học về thành phần của nguyên tử; kích thước và khối lượng của nguyên tử
- Tiếp tục phát triển các năng lực: tự học, sử dụng ngôn ngữ hóa học, phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học
Mở rộng kiến thức cho học sinh là một cách hiệu quả để tăng cường niềm đam mê với khoa học và nghiên cứu khoa học Việc dạy học trên lớp kết hợp với các hoạt động cá nhân sẽ giúp học sinh hiểu sâu hơn về các khái niệm khoa học Để đạt được điều này, cần tổ chức thực hiện các phương pháp giảng dạy sáng tạo và khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập.
- Cho HS xây dựng sơ đồ tƣ duy về “Thành phần của nguyên tử”
- GV sử dụng phần mềm Plickers kiểm tra, đánh giá trắc nghiệm
- HS dùng thẻ in sẵn mà GV phát để trả lời câu hỏi
Câu 1: Nguyên tử chứa những hạt mang điện là
A Proton và hạt 𝛼 B Proton và neutron
C Neutron và electron D Proton và electron
Câu 2: Thông tin nào sau đây không đúng?
A Proton mang điện tích dương, nằm trong hạt nhân, khối lượng gần bằng 1 amu
B Electron mang điện âm, nằm trong hạt nhân, khối lƣợng gần bằng 0 amu
C Neutron không mang điện, khối lƣợng gần bằng 1 amu
D Nguyên tử trung hòa về điện, có kích thước lớn hơn nhiều so với hạt nhân, nhƣng có khối lƣợng gần bằng khối lƣợng hạt nhân
Câu 3: Nếu đường kính của nguyên tử khoảng 10 2 pm thì đường kính của hạt nhân khoảng
Câu 4: Phát biểu nào sau đây là đúng?
A Khối lƣợng nguyên tử bằng khối lƣợng của lớp vỏ electron
B Khối lƣợng nguyên tử chủ yếu tập trung ở hạt nhân nguyên tử
C Khối lƣợng nguyên tử bằng khối lƣợng hạt nhân nguyên tử
D Khối lƣợng nguyên tử bằng tổng khối lƣợng các hạt proton
Câu 5: Nguyên tử helium có 2 proton, 2 neutron, 2 electron Khối lƣợng của các electron chiếm bao nhiêu % khối lƣợng nguyên tử helium?
Giáo viên mời một số học sinh lên trình bày kết quả, trong khi các học sinh khác góp ý và bổ sung ý kiến Giáo viên hỗ trợ học sinh nhận diện những sai sót cần chỉnh sửa, đồng thời chuẩn hóa kiến thức và phương pháp giải bài tập.
+ HS xây dựng đƣợc sơ đồ tƣ duy về chuyên đề “Thành phần của nguyên tử”
+ Kết quả trả lời các câu hỏi trắc nghiệm e Đánh giá hoạt động của học sinh
Phiếu 1: GV phát cho nhóm trưởng chấm điểm chéo kết quả làm việc của các nhóm PHIẾU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ LÀM VIỆC CỦA CÁC NHÓM
Mức độ đánh giá được phân chia theo thang điểm như sau: Đúng, chính xác và giải thích đầy đủ; Đúng, giải thích được một phần; Đúng nhưng không giải thích được; và Đúng một phần, không giải thích được.
Nêu đƣợc thành phần nguyên tử
So sánh đƣợc khối lƣợng của electron với proton và neutron
So sánh được kích thước của hạt nhân với kích thước của nguyên tử
Phiếu 2: GV phát phiếu cho cá nhân tự đánh giá và đánh giá chéo lẫn nhau trong nhóm
PHIẾU ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC CÁ NHÂN TRONG NHÓM
( Dùng để cá nhân tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau trong nhóm)
TT Tiêu chí Mức độ ( theo thang điểm )
1 Nghiên cứu và thu thập thông tin (2 điểm)
Tìm kiếm đƣợc nhiều thông tin có ích cho nhiệm vụ đƣợc giao
Tìm kiếm đƣợc một số thông tin có liên quan đến nhiệm vụ đƣợc giao nhƣng không phải tất cả
Tìm kiếm đƣợc một vài thông tin nhƣng chỉ một lƣợng nhỏ là có ích cho nhiệm vụ đƣợc giao
Không tìm kiếm đƣợc thông tin có liên quan đến nhiệm vụ đƣợc giao
Tham gia đóng góp ý kiến
Tích cực Khá tích cực Thỉnh thoảng
Không tham gia đóng góp ý kiến
Hoàn thành công việc đƣợc giao (2 điểm)
Xuất sắc Nhiều hơn 1 nửa Ít hơn 1 nửa
Không hoàn thành công việc
Lắng nghe ý kiến và phản hồi ý kiến các thành viên khác (2 điểm)
Khá thường xuyên Thỉnh thoảng
Không lắng nghe và phản hồi
Khả năng hợp tác nhóm
Tốt Khá tốt Hạn chế hợp tác
DANH SÁCH THÀNH VIÊN - NHÓM:…….- LỚP……
TT Họ và tên Tiêu chí 1
Sau đó, thƣ kí lớp tổng hợp điểm của nhóm và điểm cá nhân (tính trung bình chung) g, Nhận xét, đánh giá, dặn dò:
Dựa vào sản phẩm, kết quả báo cáo thảo luận và điểm chấm trung bình của các nhóm và cá nhân, giáo viên sẽ nhận xét và đánh giá để xác định kiến thức cần ghi nhận Điều này giúp học sinh làm rõ vấn đề cần giải quyết và rút ra kinh nghiệm cho những buổi học tiếp theo.
Học sinh được khuyến khích tìm hiểu thêm về bom nguyên tử bằng cách đọc tài liệu và xem video về vụ ném bom nguyên tử mà Mỹ đã thực hiện tại hai thành phố của Nhật Bản.
GV hướng dẫn HS tìm nguồn tài liệu tham khảo
Giáo dục về biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường cần được lồng ghép nhằm nâng cao nhận thức về những hiểm họa từ rò rỉ hạt nhân tại các nhà máy điện nguyên tử Việc này không chỉ giúp phòng ngừa các sự cố nghiêm trọng mà còn đề xuất các phương pháp xử lý chất thải dựa trên tính chất vật lý và hóa học của chúng, từ đó bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường.
Kết quả kiểm tra đánh giá
Chúng tôi đã thực hiện một thí nghiệm sư phạm trong năm học 2023-2024 tại trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, thành phố Vinh, Nghệ An, nhằm giảng dạy chương "Cấu tạo nguyên tử" Phương pháp giảng dạy được áp dụng là KHBD kết hợp với việc sử dụng phiếu học tập cho lớp 10A3, trong khi lớp 10A4 và 10A5 được giảng dạy theo phương pháp truyền thống mà không sử dụng phiếu học tập.
Sau khi hoàn thành khóa học, chúng tôi đã thực hiện một cuộc kiểm tra nhằm đánh giá và so sánh hiệu quả của việc áp dụng PHT trong các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Kết quả thu được như sau:
Bảng tổng hợp kết quả khảo sát, phân loại kết quả học tập
Phân loại kết quả học tập của HS
Biểu đồ phân loại kết quả học tập của HS ( bài kiểm tra 15 phút)
% yếu kém % trung bình % khá % giỏi
Biểu đồ phân loại kết quả học tập của HS ( bài kiểm tra 45 phút)
Việc áp dụng biện pháp giảng dạy mới đã mang lại hiệu quả rõ rệt trong quá trình học tập của học sinh Qua quan sát và phân tích kết quả khảo sát sau giờ học, tôi nhận thấy học sinh không chỉ đạt kết quả học tập tốt hơn mà còn có sự thay đổi tích cực về thái độ và hành vi trong quá trình học.
Trong giờ học, học sinh (HS) chủ động tham gia vào các hoạt động theo nhiệm vụ mà giáo viên (GV) phân chia, trong khi GV chỉ đóng vai trò nhận xét và tổng kết Điều này thực sự phát huy vai trò chủ thể của HS trong việc tìm kiếm tri thức Việc sử dụng phương pháp học tập (PHT) giúp HS nắm rõ các hoạt động và nội dung cần thực hiện theo yêu cầu của GV Hầu hết HS biết cách chọn lọc ý trả lời phù hợp với các yêu cầu và câu hỏi trong PHT Các tiết học theo giáo án thực nghiệm đã tạo ra sự hứng thú không chỉ cho HS mà còn cho cả GV.
Qua quan sát giờ thực nghiệm, chúng tôi nhận thấy rằng hầu hết học sinh thích giáo viên sử dụng phiếu học tập (PHT) kết hợp với các nội dung như video thí nghiệm, truyện tranh, trò chơi và câu hỏi thực tế Việc làm việc với PHT giúp giờ học trở nên sôi động, cho phép học sinh bày tỏ ý kiến và tiếp thu bài nhanh hơn PHT đưa ra những câu hỏi trọng tâm, giúp học sinh nhớ bài lâu hơn và tiết kiệm thời gian ghi chép Học sinh nhận thấy rằng làm việc với PHT không chỉ giúp hình thành phẩm chất và năng lực như phát hiện, giải quyết vấn đề và tinh thần hợp tác, mà còn khuyến khích tư duy mềm dẻo, thói quen tự học và khả năng nghiên cứu độc lập, đồng thời bổ sung thông tin ngoài sách giáo khoa liên quan đến bài học.
% yếu kém % trung bình % khá % giỏi
PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ