1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Skkn cấp tỉnh sử dụng kỹ thuật mảnh ghép kết hợp kỹ thuật sơ Đồ tư duy vào chủ Đề vectơ trong mặt phẳng toạ Độ lớp 10 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh

63 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử Dụng Kỹ Thuật Mảnh Ghép Kết Hợp Kỹ Thuật Sơ Đồ Tư Duy Vào Chủ Đề Vectơ Trong Mặt Phẳng Toạ Độ Lớp 10 Nhằm Phát Triển Năng Lực Tự Học Cho Học Sinh
Tác giả Nguyễn Thị Phương Thu, Trần Thị Nga
Trường học THPT Diễn Châu 4
Chuyên ngành Toán học
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2024
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 2,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua đề tài nghiên cứu giúp học sinh lĩnh hội được nội dung của chủ đề, hình thành những kiến thức cơ bản về vectơ trong mặt phẳng toạ độ và các bài toán liên quan, mặt khác phát tr

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

Lĩnh Vực: Toán học

Nghệ An, tháng 4 năm 2024

Trang 2

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

Lĩnh Vực: Toán học Tác giả: Nguyễn Thị Phương Thu – Trần Thị Nga Trường: THPT Diễn Châu 4

Nghệ An, tháng 4 năm 2024

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

2 Mục tiêu phương pháp nghiên cứu của đề tài 1

3 Tính mới và những đóng góp của đề tài 2

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC SỬ

DỤNG KỸ THUẬT MẢNH GHÉP KẾT HỢP KỸ THUẬT

SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO CHỦ ĐỀ VECTƠ TRONG MẶT

PHẲNG TOẠ ĐỘ LỚP 10 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG

2.1 Thực trạng của việc dạy học môn Toán 10 theo định hướng

phát triển năng lực cho học sinh hiện nay 13 2.2 Đánh giá về thực trạng thiết kế hoạt động học tập định hướng

phát triển năng lực tự học của giáo viên THPT thuộc huyện Diễn

Châu nói chung và Trường THPT Diễn Châu 4 nói riêng

15

Chương 2 CÁC BIỆN PHÁP ÁP DỤNG KẾT HỢP KỸ

THUẬT MẢNH GHÉP KẾT HỢP KỸ THUẬT SƠ ĐỒ TƯ

DUY VÀO CHỦ ĐỀ VECTƠ TRONG MẶT PHẲNG TOẠ

ĐỘ LỚP 10 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC

CHO HỌC SINH

16

Trang 4

2.2 Thiết kế một số hoạt động học tập theo định hướng phát

triển năng lực tự học trong dạy học chủ đề “vectơ trong mặt

phẳng toạ độ”

19

2.2.1 Một số biện pháp thiết kế hoạt động học tập định hướng

phát triển năng lực tự học sáng tạo trong dạy học chủ đề “Vectơ

trong mặt phẳng toạ độ”

19

2.2.1.1 Biện pháp 1: Tích cực hóa năng lực tự học của học sinh

thông qua bài toán mở đầu xuyên suốt nội dung dạy học

19

2.2.1.2 Biện pháp 2: Sử dụng công nghệ thông tin thông qua các

trò chơi, mô hình để thiết kế các hoạt động học tập, tăng tính trực

quan sinh động, phát triển năng lực tự học

22

2.2.1.3 Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động trải nghiệm thông qua

bài toán thực tiễn để giúp học sinh tự học, tự kết nối kiến thức bài

học

24

2.2.2 Thiết kế các hoạt động có sử dụng kỹ thuật mảnh ghép và

kỹ thuật sơ đồ tư duy trong chủ đề “Vectơ trong mặt phẳng toạ

độ” theo định hướng phát triển năng lực tự học

26

2.3 Khảo sát sự cấp thiết và tính khả thi của đề tài 35

2.4 Đánh giá việc phát triển năng lực tự học của học sinh

Trang 6

đề phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh được đặt lên hàng đầu Trong số những phẩm chất, năng lực cần hình thành cho học sinh thì năng lực đầu tiên và quan trọng nhất là năng lực tự học Nếu học sinh được bồi dưỡng phương pháp tự học đúng đắn thì sẽ tạo động lực giúp các em học tập chăm chỉ, tiến bộ, phát huy được tính sáng tạo và khả năng tự học hiệu quả, góp phần phát triển phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội

Nội dung môn toán thường mang tính trừu tượng, khái quát Do đó, để hiểu

và học được toán cần đảm bảo sự cân đối giữa học kiến thức và áp dụng kiến thức vào giải quyết các bài toán cụ thể Vì vậy, việc thiết kế nội dung, chương trình và các phương pháp tổ chức hoạt động dạy và học nhằm phát huy tính tính cực, chủ động và sáng tạo trong hoạt động học cho học sinh là vấn đề đầu tiên quyết định đến

sự thành công của bài dạy Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy

sử dụng kỹ thuật mảnh ghép và kỹ thuật sơ đồ tư duy vào trong dạy học có nhiều ưu điểm đáp ứng được các yêu cầu đó

Vì vậy với mong muốn hướng tới phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh, giúp đỡ học sinh về phương pháp tự học môn toán là cần thiết đối với mọi cấp học và nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các em lớp 10 mới bắt đầu tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới Tuy nhiên, thực tế cho thấy vấn đề tự học toán của học sinh hiện nay còn nhiều bất cập Một bộ phận học sinh chưa ý thức được việc tự học, lười học, học một cách thụ động, chỉ cố gắng hoàn thành bài tập mà giáo viên giao mà chưa biết cách hệ thống kiến thức và tìm hiểu, khám phá những điều liên quan Từ những kinh nghiệm của bản thân cùng với sự nghiên cứu tài liệu và

học hỏi đồng nghiệp, chúng tôi lựa chọn đề tài “Sử dụng kỹ thuật mảnh ghép kết

hợp kỹ thuật sơ đồ tư duy vào chủ đề vectơ trong mặt phẳng toạ độ lớp 10 nhằm

phát triển năng lực tự học cho học sinh” nhằm phát triển năng lực cho học sinh,

đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới

4 Mục tiêu phương pháp nghiên cứu của đề tài

Tìm cách áp dụng kỹ thuật mảnh ghép và kỹ thuật sơ đồ tư duy vào bài học một cách hiệu quả nhất phù hợp với nhận thức của học sinh Thông qua đề tài nghiên cứu giúp học sinh lĩnh hội được nội dung của chủ đề, hình thành những kiến thức cơ bản về vectơ trong mặt phẳng toạ độ và các bài toán liên quan, mặt khác phát triển một số phẩm chất và năng lực nói chung; Đặc biệt phát triển năng lực tự học cho học sinh, tích cực hoá nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình GDPT năm 2018

Trang 7

2

5 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Góp phần làm rõ thực trạng và ý nghĩa của năng lực tự học trong đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực của giáo dục hiện nay

Đề xuất biện pháp, thiết kế được một số hoạt động học tập tích cực, sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực tự học trong dạy học chủ đề “Vectơ trong mặt phẳng toạ độ” - Toán 10 nhằm góp phần phát huy nội lực nhiều mặt ở học sinh, đem đến cho các em cũng như mọi người niềm yêu thích bộ môn Toán học

Là tài liệu tham khảo cho học sinh khối 10 theo chương trình GDPT mới

Là tài liệu tham khảo cho GV khi dạy học theo định hướng phát triển năng lực tự học trong dạy học chủ đề “Vectơ trong mặt phẳng toạ độ”- môn Toán 10 Ngoài việc làm tài liệu dạy học cho nội dung chủ đề “Vectơ trong mặt phẳng toạ độ” còn vận dụng được phương pháp này vào dạy học một số các nội dung khác nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Học sinh lớp 10

- Phạm vi: Chương trình SGK Toán 10 theo chương trình mới 2018 - Bộ sách kết nối tri thức với cuộc sống

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn về dạy học theo định hướng phát triển năng lực tự học; cách xây dựng hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực tự học

- Phương pháp tìm hiểu thực trạng học sinh khi học các nội dung Toán học, việc tự học, tự nghiên cứu, thái độ học tập của học sinh

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, kiểm tra đánh giá kết quả, đánh giá năng lực học sinh

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Đề tài vận dụng phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực tự học

của học sinh thông qua thiết kế hoạt động học tập, giúp học sinh phát huy được năng lực, kỹ năng, nhận thức từ đó sáng tạo và áp dụng vào thực tiễn

- Đề tài là cơ sở để đổi mới phương pháp và hình thức dạy học, phù hợp mục tiêu

của chương trình GDPT 2018

Trang 8

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH

2 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1 Một số vấn đề về phát triển năng lực tự học

1.1.1 Năng lực

Một quan niệm chung về năng lực mà hiện nay được nhiều người thừa nhận:

“Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức,

kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, …thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”

Năng lực toán học (mathematical competence) là một loại hình năng lực đặc thù, gắn liền với môn học Có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực toán học Hiệp hội GV Toán Mĩ (NCTM) mô tả “Năng lực toán học là cách thức nắm bắt và

sử dụng nội dung kiến thức toán” Theo Blomhoj & Jensen (2007): “Năng lực toán học là khả năng sẵn sàng hành động để đáp ứng với thách thức toán học của các tình huống nhất định” Theo Niss (1999): “Năng lực toán học như khả năng của cá nhân

để sử dụng các khái niệm toán học trong một loạt các tình huống có liên quan đến toán học, kể cả những lĩnh vực bên trong hay bên ngoài của toán học (để hiểu, quyết định và giải thích)”

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu thường nhắc tới quan niệm của các nhà giáo dục toán học Đan mạch và đề xuất của tác giả Trần Kiều (Viện khoa học giáo dục Việt Nam) Theo Trần Kiều (2014): “Các năng lực cần hình thành và phát triển cho người học qua dạy học môn toán trong trường phổ thông Việt Nam là: Năng lực tư duy; Năng lực giải quyết vấn đề; Năng lực mô hình hoá toán học; Năng lực giao tiếp; Năng lực sử dụng các công cụ, phương tiện toán học; Năng lực học tập độc lập và hợp tác hay còn gọi là năng lực tự học

2.1.2 Năng lực tự học

Năng lực tự học nói chung là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời góp ý của giáo viên, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập

Năng lực tự học của học sinh phổ thông là khả năng học sinh lập được kế

Trang 9

4

hoạch tự học một cách khoa học, thực hiện có hiệu quả kế hoạch tự học đã lập, tự đánh giá kết quả đạt được và điều chỉnh quá trình tự học có sự hỗ trợ của giáo viên 2.1.3 Vai trò của năng lực tự học

Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn Khi học sinh biết cách tự học, họ sẽ có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lí thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Vì vậy, tự học chính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông

Theo phương châm học suốt đời “Học, học nữa, học mãi” thì việc “tự học” lại càng có ý nghĩa đặc biệt đối với học sinh trung học phổ thông Vì nếu không có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như cao đẳng, đại học, sau đại học, học sinh sẽ khó thích ứng do đó khó có thể thu được một kết quả học tập và nghiên cứu tốt Hơn thế nữa, nếu không có khả năng tự học thì chúng ta không thể đáp ứng được phương châm “Học suốt đời” mà Hội đồng quốc tế về giáo dục đã đề ra vào tháng 4 năm 1996

2.1.4 Những biểu hiện của năng lực tự học

Tác giả Taylor [99] khi nghiên cứu về vấn đề tự học của học sinh trong trường phổ thông đã xác định năng lực tự học có những biểu hiện sau:

- Chịu trách nhiệm với việc học tập của bản thân

- Dám đối mặt với những thách thức

- Mong muốn được thay đổi, mong muốn được học

- Có kỹ năng thực hiện các hoạt động học tập

- Lập kế hoạch và có kĩ năng quản lí thời gian học tập

- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp có nhiều chủ đề

- Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh

- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác không chỉ hoàn thành nhiệm

vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở

Trang 10

- Hoạt động theo nhóm 3 đến 8 người

- Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ [Ví dụ: Nhóm 1: Nhiệm vụ A; nhóm 2: Nhiệm

vụ B, nhóm 3: Nhiệm vụ C, có thể có nhóm cùng nhiệm vụ]

- Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ đề

và ghi lại những ý kiến của mình

- Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực

đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2

VÒNG 2: Nhóm các mảnh ghép

- Hình thành nhóm 3 đến 6 người mới 1 - 2 người từ nhóm 1, 1 - 2 người từ nhóm

2, 1 - 2 người từ nhóm 3

- Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia

sẻ đầy đủ với nhau

- Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới được giao cho các nhóm để giải quyết

- Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả

1.2.2 Nguyên tắc thiết kế các hoạt động có sử dụng kỹ thuật mảnh ghép

Để định hướng cho việc thiết kế và vận dụng các hoạt động có sử dụng kĩ thuật mảnh ghép, chúng tôi đã xây dựng một số hoạt động dựa trên các nguyên tắc sau:

- Về nội dung: Các nhiệm vụ giao cho học sinh tìm hiểu phải đảm bảo tính vừa sức

và cụ thể

- Thành lập nhóm “mảnh ghép” phải có đủ thành viên của các nhóm “chuyên gia”

- Các học sinh “chuyên gia” có thể có trình độ khác nhau, nhưng cần đảm bảo sự cân bằng ở mức độ nào đó để có thể dạy lẫn nhau khi thực hiện nhiệm vụ ở nhóm

“mảnh ghép”

- Các hoạt động cần hướng đến việc phát huy năng lực giải quyết vấn đề, kích thích được hứng thú học tập của học sinh

Trang 11

6

- Số lượng mảnh ghép không quá lớn để đảm bảo các thành viên có thể dạy lại kiến thức cho nhau

1.2.3 Quy trình thiết kế các hoạt động có sử dụng kỹ thuật mảnh ghép

Quy trình thiết kế gồm 6 bước sau đây:

Bước 1: Xác định nội dung có thể sử dụng kĩ thuật mảnh ghép

Bước 2: Xác định các nội dung của nhóm “chuyên gia”: các nội dung chủ đạo, bổ trợ, các nội dung nội môn và liên môn

Bước 3: Xác định và chuẩn bị các thiết bị, dụng cụ, phương tiện trực quan cần thiết

để hỗ trợ cho việc thực hiện nhiệm vụ của các nhóm

Bước 4: Thiết kế các nhiệm vụ cho các nhóm “chuyên gia”

Bước 5: Thiết kế các nhiệm vụ cho nhóm “mảnh ghép”

Bước 6: Tổ chức thực hiện

Một vài ý kiến cá nhân với kĩ thuật mảnh ghép

- Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với nhiều chủ đề nhỏ trong tiết học, học sinh được chia nhóm ở vòng 1 chuyên gia cùng nghiên cứu một chủ đề

- Phiếu học tập mỗi chủ đề nên sử dụng trên giấy cùng màu có đánh số 1, 2, … n nếu không có giấy màu có thể đánh thêm kí tự A, B, C, Ví dụ A1, A2, A3, An, B1, B2, B3, , Bn, C1, C2, C3, , Cn)

- Sau khi các nhóm ở vòng 1 hoàn tất công việc giáo viên hình thành nhóm mới mảnh ghép theo số đã đánh, có thể có nhiều số trong 1 nhóm mới Bước này phải tiến hành một cách cẩn thận tránh làm cho học sinh ghép nhầm nhóm

- Trong điều kiện phòng học hiện nay việc ghép nhóm vòng 2 gây mất trật tự

1.3 Kỹ thuật sơ đồ tư duy

1.3.1 Tổng quan về kỹ thuật sơ đồ tư duy

Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng,

hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với tư duy tích cực Đặc biệt đây

là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết giống như bản đồ địa lý, do đó cùng một chủ đề mỗi người có cách thể hiện khác nhau, vậy nên việc lập sơ đồ tư duy phát huy được tối đa sức sáng tạo của mỗi người

Sơ đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng

Có thể sử dụng sơ đồ tư duy vào việc dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chủ đề, mỗi chương…và trong quá trình giải bài tập toán

Mỗi sơ đồ tư duy được coi là một tác phẩm nghệ thuật, thông qua đó giáo viên biết được năng lực tư duy, khả năng hội họa, sự hiểu biết của học sinh về các lĩnh vực khác có liên quan, đồng thời có thể nắm bắt phần nào tâm lý của các em

Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy, quy nạp tất cả những ý tưởng của người học, được xây dựng bằng một lược đồ phân nhánh, các ý tưởng này được xâu chuỗi hoặc loại bỏ theo một quy luật để nội dung đã được xây dựng sẽ được ghi nhớ

Trang 12

7

chi tiết, dễ dàng và nhanh chóng

1.3.2 Nguyên tắc thiết kế các hoạt động có sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy

- Viết tên chủ để ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề

- Viết các nhánh chính từ chủ đề trung tâm Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề Nên sử dụng từ khoá và viết bằng chữ

in hoa Có thể dùng các biểu tượng để mô tả thuật ngữ, từ khoá để gây hiệu ứng chú

ý và ghi nhớ

- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ, viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường

- Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo cho đến hết

1.3.3 Quy trình thiết kế các hoạt động có sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy

- Nghiên cứu chuẩn kiến thức và kỹ năng do Bộ giáo dục quy định Xây dựng đúng

đủ, chính xác kế hoạch bộ môn và mục tiêu từng bài dạy

- Nghiên cứu kỹ trước nội dung từng bài, từng chương từ đó xác định nội dung trọng tâm của bài

- Dựa trên những nội dung đã chuẩn bị thầy cô giáo tiến hành xây dựng SĐTD cho từng bài học

- Thiết kế các hoạt động dạy học thích hợp khi có sử dụng SĐTD

- Để thực hiện tốt việc soạn - giảng theo các yêu cầu trên chúng ta nên thực hiện đầy

- Hệ thống kiến thức của bài và phân loại bài tập theo từng dạng để vận dụng (chuẩn

và trên chuẩn), mối quan hệ giữa kiến thức – kỹ năng từng bài

- Bảng phụ, giấy khổ A0, phấn màu để vẽ SĐTD và các đồ dùng dạy học có liên quan

- Giáo án điện tử có vẽ SĐTD dùng làm tài liệu tham khảo cho HS (nếu dạy có ứng dụng công nghệ thông tin vào tiết dạy nên soạn trên Power Point có hiệu ứng từng nhánh để tăng tính trực quan, sinh động)

- Chia HS thành các nhóm (thường chia thành 6 nhóm)

+ Chuẩn bị của HS:

- Đọc, nghiên cứu trước nội dung bài học và tiếp cận bài tập của bài học đó Tự xây dựng SĐTD theo cách hiểu của cá nhân

- Tìm hiểu các dạng bài tập đã giải trong chương và ghi nhớ cách giải

- Bảng nhóm, giấy khổ A4, phấn màu, bút tô để vẽ SĐTD

- Chia nhóm, chọn nhóm trưởng đại diện cho nhóm

b Về nội dung và phương pháp dạy học:

Trang 13

8

- Hệ thống kiến thức, xác định kiến thức trọng tâm

- Các dạng bài tập theo từng đơn vị kiến thức được hệ thống ở SĐTD

- SĐTD được vẽ trên giấy khổ A0, hoặc bảng phụ, hoặc trên máy vi tính để trình chiếu khi dạy có ứng dụng công nghệ thông tin

- Kết hợp các phương pháp dạy học tích cực: Nêu và giải quyết vấn đề, hoạt động nhóm, … và các kỹ thuật dạy học bổ trợ khác Để hướng dẫn HS hoạt động nhóm hình thành SĐTD củng cố bài học hoặc tổ chức cho HS hoạt động nhóm tự hình thành SĐTD

Trong quá trình soạn - giảng tiết lý thuyết thầy cô giáo thường thực hiện phương pháp này theo ba phương án sau:

Hình thành SĐTD ngay từ đầu tiết học

- Đây là phương án thực hiện mang lại hiệu quả tương đối cao, đáp ứng tốt nhu cầu học tập của học sinh theo phương pháp dạy học tích cực, được giáo viên trong trường hết sức chú trọng Xây dựng SĐTD ngay từ đầu và hoàn thiện xuyên suốt trong cả tiết dạy đã lôi cuốn học sinh vào trạng thái tự học, tự tìm ra kiến thức thông qua cách xây dựng các nhánh của SĐTD Trong qua trình soạn - giảng giáo viên thường thực hiện theo quy trình sau:

- Kiểm tra bài cũ xong, GV tạo tình huống có vần đề để xây dựng kiến thức trọng tâm của SĐTD, từ đó hướng HS tự tìm kiến thức để xây dựng tuần tự các nhánh của SĐTD GV hình thành hình ảnh của SĐTD trên bảng hoặc bảng phụ (Lưu ý GV không nhất thiết phải trình bày hệ thống nội dung kiến thức dưới dạng SĐTD có các nhánh phải cong trái, quẹo phải; mà nên ghi sao cho ngay thẳng rõ ràng dễ đọc và đảm bảo cách ghi bảng khoa học, hợp lý) dưới lớp học HS cũng xây dựng SĐTD theo hướng của HS trên khổ giấy A4 (mẫu ngang), quá trình hình thành và bổ sung cho SĐTD trong suốt tiết dạy Đến phần củng cố GV tổ chức hoạt nhóm để HS hệ thống lại kiến thức bằng SĐTD (thực hiện từ 2 đến 3 phút), thống nhất ý kiến các bạn trong nhóm và hình thành SĐTD trên bảng phụ GV thu kết quả các nhóm và gọi một vài nhóm lên thuyết trình, đai diện các nhóm góp ý, bổ sung GV giới thiệu

về SĐTD đã chuẩn bị trước của mình cho HS tham khảo

- Kiểu bài vận dụng: Đối với phương án này ta thường vận dụng cho các bài có cấu trúc tương tự như các bài đã được học, các bài mà khi GV đặt vấn đề HS đã nhận ra được các nhánh của SĐTD hay những bài mang tính chất nhắc lại kiến thức mà học sinh đã được học qua

- Ví dụ minh họa:

Khi dạy bài “Vectơ trong mặt phẳng toạ độ” – sách kết nối tri thức với cuộc sống

toán 10 Khi giảng dạy bài này giáo viên tổ chức các hoạt động sau:

Kiểm tra bài cũ:

- Nhắc lại các kết quả đã biết về các phép toán véctơ

- Gọi HS nhận xét bổ sung hoàn chỉnh các câu trả lời bằng cách: Giáo viên chuẩn

bị cỡ giấy A0, và các mảnh ghép, học sinh lên ghép hệ thống kiến thức bằng sơ đồ

tư duy hệ về các phép toán, tính chất về vectơ đã học ở bài trước

Trang 14

9

Giảng bài mới:

Trang 15

- Kiểm tra bài cũ

- Giảng bài mới

Dặn dò HS chuẩn bị cho tiết học sau

- Kiểu bài vận dụng: Đối với phương án này thường vận dụng cho kiểu bài nhiều

Trang 16

- Tổ chức các hoạt động xây dựng kiến thức

- Tổ chức cho HS hoạt động nhóm khoảng 4 phút (1 phút giành cho cá nhân, 3 phút giành cho hoạt động nhóm) để hệ thống kiến thức bằng SĐTD

Học sinh hệ thống lại kiến thức sau khi thực hiện xong nhiệm vụ nhóm chuyên gia

Thu kết quả và gọi đại diện nhóm lên thuyết trình kết quả của nhóm mình GV nhận xét kết quả hoạt động của các nhóm và đưa ra SĐTD mà mình đã chuẩn bị để HS tham khảo (lưu ý không bác bỏ các cách thể hiện khác của HS mà chỉ chỉnh sửa những sai sót về mặt nội dung)

Sử dụng SĐTD để củng cố toàn bài

- Khi thực hiện dạy học tiết lí thuyết GV thường vận dụng SĐTD để củng cố toàn bài theo quy trình sau:

Sau khi học xong bài (cả lí thuyết và bài tập vận dụng) GV tiến hành tổ chức cho

HS hoạt động nhóm trong vòng khoảng 2 đến 3 phút để hệ thống kiến thức bài học bằng SĐTD và được vẽ trên bảng phụ hoặc giấy khổ A0, sau đó GV thu kết quả, tiến hành gọi HS lên thuyết trình SĐTD của nhóm mình GV xử lí kết quả, cuối cùng đưa ra và giới thiệu SĐTD mà GV đã chuẩn bị sẵn trước trên bảng phụ hoặc giấy khổ A0 hoặc trên màn hình

- Kiểu bài vận dụng: Đối với phương án này ta thường áp dụng cho những bài có một, hai hoặc ba đơn vị kiến thức hoặc những bài có từ hai tiết trở lên ta áp dụng vào những tiết cuối của bài

Trang 17

12

- Ví dụ minh họa:

Ví dụ 1: Xây dựng sơ đồ tư duy khi củng cố kiến thức “Hệ trục tọa độ”

Hoạt động 1: GV yêu cầu HS chuẩn bị trước sơ đồ tư duy đã vẽ trên máy tính

HS nhận xét, bổ sung chéo để hoàn thiện sơ đồ tư duy

Hoạt động 3: Giáo viên nhận xét, đánh giá và là người cố vấn để học sinh thảo luận,

bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ đồ tư duy, từ đó dẫn dắt học sinh tiếp thu trọn vẹn kiến thức của bài học

Hoạt động 4: Giáo viên củng cố kiến thức bằng một sơ đồ tư duy mà mình đã chuẩn

bị sẵn, hoặc một sơ đồ tư duy đã được chỉnh sửa hoàn chỉnh

Sơ đồ lí thuyết: Hệ trục tọa độ

Nhận xét:

Với hoạt động chia nhóm, chuẩn bị và báo cáo thuyết minh về SĐTD đã giúp HS rèn luyện kĩ năng hoạt động nhóm, kĩ năng nói và trình bày trước tập thể Hoạt động này giúp HS tự tin hơn, thích thú hơn khi bản thân các em tự làm ra sản phẩm SĐTD

và trình bày sản phẩm để tập thể nhận xét, đánh giá Thông qua vẽ SĐTD, khả năng

tư duy, khái quát của HS phát triển hơn rất nhiều Đặc biệt với một SĐTD được trình

Trang 18

13

bày khoa học, chính xác, sáng tạo thực sự hấp dẫn, cuốn hút và kích thích đối với

HS Từ đó kiến thức được HS tiếp thu một cách trọn vẹn hơn, tự nhiên hơn

2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.1 Thực trạng của việc dạy học môn Toán 10 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh hiện nay

Trong các giờ học toán ở trường THPT các thầy cô giáo đã tích cực hướng dẫn, tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu, tìm tòi các kiến thức mới qua các phương pháp hoạt động nhóm cùng với sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực là kĩ thuật mảnh ghép và kĩ thuật sơ đồ tư duy Tuy nhiên việc kết hợp các phương pháp dạy học với các kĩ thuật dạy học thường chưa được nhuần nhuyễn và hiệu quả chưa đạt ở mức cao nhất, dẫn tới thời gian để củng cố lý thuyết cho học sinh qua việc làm bài tập còn ít do mất nhiều thời gian cho phần lý thuyết Vì vậy để xác định rõ việc vận dụng các kĩ thuật dạy học trong tổ chức dạy học hợp tác theo nhóm ở trường THPT hiện nay nhằm bồi dưỡng phẩm chất và năng lực học sinh nói chung, bồi dưỡng và phát triển năng lực tự học cho học sinh nói riêng, tôi đã tiến hành sử dụng phiếu hỏi để thăm dò ý kiến giáo viên và học sinh trong việc tổ chức các hoạt động học tập hợp tác theo nhóm Tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra đối với 40 giáo viên giảng dạy

bộ môn Toán học và 300 học sinh khối 10 thuộc một số trường công lập tại huyện Diễn Châu cho kết quả như sau:

Bảng Kết quả thăm dò ý kiến giáo viên về việc sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học để bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh

Không sử dụng

Trang 19

Thầy (Cô) có thường xuyên tổ chức

cho các bạn tham gia các hoạt động

nhóm trong quá trình học môn toán

không?

Thường xuyên 123 41% Thỉnh thoảng 177 59%

Trong quá trình tham gia hoạt động

nhóm trong các giờ học toán, thầy

cô có tổ chức cho các bạn, di

chuyển, đổi vị trí các thành viên,

trao đổi giữa các nhóm với nhau

Thường xuyên 50 16,67% Thỉnh thoảng 244 81,33%

Bạn đánh giá như thế nào về khả

năng hợp tác trong hoạt động nhóm

Khả năng đánh giá và tiếp nhận ý

kiến góp ý từ các bạn trong hoạt

động nhóm khi tham gia học tập của

bản thân?

Trung bình 122 40.66%

Thông qua kết quả điều tra chúng tôi nhận thấy:

- Về thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Toán học THPT, sau khi thống kê kết quả phiếu hỏi để thăm dò ý kiến giáo viên, kết quả như sau: Thông qua khảo sát thực tiễn tình hình học tập của HS và sự trao đổi trực tiếp với các thầy cô giàu kinh nghiệm giảng dạy môn Toán THPT, chúng tôi nhận thấy trong việc dạy, học nội dung vectơ trong mặt phẳng toạ độ - Toán lớp 10 sách kết nối tri thức với cuộc sống có một số vấn đề sau:

* Về phía GV:

- Đa số GV nhận thức được vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), đã rất quan tâm sử dụng các kĩ thuật dạy học vào dạy học để bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho học sinh nhằm tạo ra sự hứng thú trong học tập cho HS Các GV đã có nhiều cố gắng xây dựng và tổ chức các tiết học theo nhiều phương pháp dạy học để tạo ra sự hứng thú cho HS nhưng hiệu quả chưa cao

- Một số GV chưa phát huy hết khả năng trong việc ứng dụng các PPDH mới, ngại đổi mới học hỏi nhất là khả năng sử dụng CNTT còn hạn chế

- Một số kĩ thuật yêu cầu học sinh hợp tác nhóm, hoạt động và di chuyển trong hoạt động nhóm tốn nhiều thời gian như kĩ thuật các mảnh ghép chưa được giáo viên quan tâm sử dụng Đặc biệt hơn là hầu hết các giáo viên mới chỉ vận dụng các kĩ thuật dạy học một cách đơn lẻ mà chưa quan tâm đến việc phối hợp các kĩ thuật dạy

Trang 20

- Một số học sinh hiểu được ý nghĩa của việc học Toán vectơ từ đó tích cực, chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức và chủ động tìm hiểu kiến thức cao hơn Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một bộ phận không nhỏ các em học sinh có thói quen học tập thụ động, lười tư duy, ý thức học tập chưa cao, không có kiến thức căn bản, không theo kịp kiến thức mới dẫn đến chán nản lười học, ham chơi hơn ham học, chưa có mục tiêu học tập cụ thể Một số em có ý thức học tập nhưng lại không biết phải học như thế nào cho hiệu quả Mặt khác giáo viên dạy toán thường truyền thụ kiến thức một cách khô cứng, ép buộc các em học một cách máy móc, các em phải học môn toán vì sợ thầy cô phạt, sợ thầy cô cho điểm kém, vì sợ cái bộ mặt hình sự hay nghiêm nghị của thầy cô Do đó các em rất vất vả khi phải tiếp cận một nội dung mới như vectơ

Nguyên nhân tồn tại, hạn chế

- Vấn đề lấy HS làm trung tâm, cho HS tự tìm hiểu kiến thức là xu hướng của chương trình hiện nay Tuy nhiên, HS chưa đủ khả năng để tự mình phát hiện ra vấn đề

- Chưa có sự đồng bộ về trình độ và năng lực sư phạm của GV; Khi nghiên cứu sáng tạo nội dung và cách tiếp cận các PPDH mới, nhiều GV lớn tuổi thường lúng túng

và gặp nhiều khó khăn

- Dù đã nhận thức được vai trò của việc tạo ra sự hứng thú cho HS nhưng nhiều GV trong tiết dạy chưa thực sự tìm ra được biện pháp dạy học tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn, vui nhộn đối với HS

- Nhiều GV còn mang nặng hình thức, thiếu năng động, sáng tạo khi đổi mới PPDH

- Một bộ phận GV ý thức tự học, tự bồi dưỡng và việc cập nhật vấn đề đổi mới còn hạn chế

- Sử dụng kết hợp các kĩ thuật dạy học tốn rất nhiều thời gian, sỹ số học sinh đông

và việc kết hợp các kỹ thuật dạy học chưa nhuần nhuyễn trong các hoạt động tương ứng

2.2 Đánh giá về thực trạng thiết kế hoạt động học tập định hướng phát triển năng lực tự học của giáo viên THPT thuộc huyện Diễn Châu nói chung và Trường THPT Diễn Châu 4 nói riêng

2.2.1 Thuận lợi

Trong các giờ thao giảng, dự giờ, sinh hoạt chuyên môn ở trường các thầy cô giáo đã tích cực hướng dẫn, tổ chức cho học sinh tự nghiên cứu, tìm tòi các kiến thức mới qua các phương pháp hoạt động nhóm Các phương pháp dạy học, các kĩ thuật dạy học được áp dụng khá rộng rãi nên chúng tôi có cơ hội để học tập từ các đồng nghiệp

Trang 21

16

Phần lớn học sinh tích cực và năng động hơn trong giờ học, các em chủ động phát hiện và tìm cách giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình tìm tòi kiến thức mới hoặc củng cố, ôn tập lại kiến thức đã học

2.2.2 Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi như trên thì việc tổ chức dạy học theo các phương pháp, kỹ thuật dạy học chưa được các thầy cô giáo thường xuyên sử dụng do gặp khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất, về mức độ nhận thức của học sinh, đặc biệt kĩ thuật mảnh ghép Một số kĩ thuật yêu cầu học sinh hợp tác nhóm, hoạt động và di chuyển trong hoạt động nhóm tốn nhiều thời gian như kĩ thuật mảnh ghép chưa được giáo viên quan tâm sử dụng thường xuyên trong các giờ dạy Việc kết hợp các phương pháp dạy học với các kĩ thuật dạy học thường chưa được nhuần nhuyễn và hiệu quả chưa đạt ở mức cao nhất, dẫn tới thời gian để củng cố lý thuyết cho học sinh qua việc làm bài tập còn ít do mất nhiều thời gian cho phần lý thuyết Đặc biệt hơn là hầu hết các giáo viên mới chỉ vận dụng các kĩ thuật dạy học một cách đơn lẻ

mà chưa quan tâm đến việc phối hợp các kĩ thuật dạy học với nhau trong tổ chức hoạt động nhóm

2.2.3 Đề xuất phương án

- Cần có thêm nhiều các đợt tập huấn chuyên đề, trao đổi chuyên môn, tăng cường các đợt sinh hoạt chuyên môn liên trường, tạo cơ hội cho giáo viên giao lưu học hỏi

và đúc rút kinh nghiệm để ngày càng tiến bộ

- Các giờ học tổ chức theo phương pháp mới học sinh trao đổi, di chuyển có thể ảnh hưởng đến các lớp bên cạnh, nên nhà trường tạo điều kiện cho giáo viên có thể linh hoạt vào các buổi chiều để các em có cơ hội học tập, trải nghiệm không bị gò bó về mặt không gian và thời gian

Chương 2 CÁC BIỆN PHÁP ÁP DỤNG KẾT HỢP KỸ THUẬT MẢNH GHÉP KẾT HỢP KỸ THUẬT SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO CHỦ ĐỀ VECTƠ TRONG MẶT PHẲNG TOẠ ĐỘ LỚP 10 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

TỰ HỌC CHO HỌC SINH

2.1 Một số giải pháp

2.1.1 Đối với nhà trường

- Về phương tiện vật chất kĩ thuật phục vụ dạy và học:

+ Không gian lớp học phải thoáng rộng; đủ bàn ghế cho giáo viên dạy, học sinh thảo luận nhóm và bàn ghế dễ sắp xếp

+ Các phương tiện trình chiếu, dụng cụ dạy học được trang bị đầy đủ

+ Đủ sách giáo khoa, tài liệu tham khảo để học sinh tự nghiên cứu

+ Lớp học không nên quá đông tốt nhất là từ 25 đến 30 học sinh

- Ban giám hiệu nhà trường có kế hoạch kiểm tra:

+ Sự lên lớp dạy học của giáo viên, học tập của học sinh

+ Sự đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên nhằm phát huy tính tích cực, chủ

Trang 22

17

động, sáng tạo của học sinh trong giờ học

+ Việc thực hiện chương trình của giáo viên Sổ đầu bài, sổ điểm, vào điểm trong hệ thống vnedu )

+ Kết quả học tập của học sinh Điểm số của học sinh qua các bài đánh giá thường xuyên, đánh giá giữa kì và đánh giá cuối kì, để từ đó thấy được chất lượng học tập của học sinh

2.1.2 Đối với giáo viên

- Giáo viên cần chuẩn bị bài dạy đầy đủ, chu đáo trước khi lên lớp

- Giáo viên lựa chọn mạch kiến thức, thiết kế bài tập phải phù hợp với nội dung bài học và phù hợp với đối tượng học sinh; hệ thống bài tập có tính logic với nội dung của tiết học

- Phải nêu ra được nhiệm vụ và mục đích của cả nhóm một cách rõ ràng

- Giáo viên chia nhóm hoạt động nhóm hợp lý

- Cần có kế hoạch tổ chức hoạt động nhóm cho các nội dung cụ thể

- Phân công công việc cụ thể cho từng nhóm từng học sinh

- Các yêu cầu đặt ra cần phù hợp với khả năng của nhóm học sinh

- Lựa chọn những bài giảng có tính hợp tác, có nội dung cần thảo luận, nhiều giả thuyết để đi đến kết luận chính xác

- Mỗi tiết học chỉ nên hoạt động nhóm từ 1 đến 3 lần

- Có đủ thời gian để học sinh chuẩn bị và suy nghĩ từ 5 đến 15 phút

- Khi cần tiết kiệm thời gian nên chia nhóm theo vị trí ngồi có sẵn

- Để tránh sự nhàm chán sau một thời gian, nên thay đổi nhóm học tập

- Nên tổ chức hoạt động nhóm thường xuyên để học sinh quen dần với hoạt động này

- Khuyến khích sự hợp tác giữa các học sinh, các nhóm

- Nên đi đến các nhóm để theo dõi hoạt động, quan tâm hơn đến các nhóm có khó khăn Phát hiện kịp thời những bế tắc, những lỗ hổng kiến thức, những điều học sinh còn băn khoăn để làm rõ

- Dự đoán những vấn đề mà một số học sinh có thể gặp phải trong quá trình hoạt động cùng nhau và can thiệp để tăng thêm hiệu quả của hoạt động nhóm

- Chuẩn bị sẵn các câu hỏi gợi mở, động viên khuyến khích kịp thời các tiến bộ dù nhỏ

- Tóm tắt, tổng hợp, liên kết các ý kiến của từng nhóm thảo luận theo thứ tự để nêu bật được nội dung bài học; kiến thức, phương pháp vận dụng để giải quyết vấn đề

mà giáo viên đưa ra

- Tạo không khí thi đua giữa các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm qua báo cáo, trình bày sản phẩm, kết quả bài toán kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của cá nhân học sinh, của các nhóm

- Giáo viên kết hợp một cách linh hoạt với các phương pháp dạy học khác

- Giáo viên sử dụng triệt để những phương tiện dạy học hiện đại

- Đánh giá kết quả học tập không phải chỉ sau khi thực hiện mà còn trong quá trình kết hợp và sự tự đánh giá

Trang 23

18

2.1.3 Đối với học sinh

- Cần phải biết chuẩn bị bài theo hướng thảo luận nhóm, chuẩn bị các dụng cụ học tập cá nhân, nhóm cách thức bảo quản đồ dùng, mẫu vật tranh ảnh

- Phải xác định được mục tiêu, nỗ lực vận dụng kinh nghiệm và lắng nghe ý kiến của bạn bè

- Phải tự làm quen với cách thức tự học kỹ năng xã hội và hợp tác làm việc trong nhóm

- Phải nỗ lực tự giải quyết nhiệm vụ học tập, độc lập, tự chủ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tránh thói dựa dẫm chây lười

- Sau mỗi buổi thảo luận, học sinh biết tự nhận xét về ưu và nhược điểm của bản thân, từ đó có định hướng nghề nghiệp sau này

- Vai trò của các thành viên trong hoạt động nhóm

+ Cá nhân: Đọc, suy nghĩ, giải quyết nhiệm vụ; có thể trao đổi với các bạn trong nhóm về những vấn đề chưa rõ hoặc đề nghị sự trợ giúp của giáo viên; ghi chép được những kết quả trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập

- Nhóm trưởng: Thực hiện các nhiệm vụ của cá nhân, phân công các bạn giúp đỡ nhau; tổ chức cho cả nhóm thảo luận thực hiện nhiệm vụ học tập; liên hệ với giáo viên và xin trợ giúp

- Thư kí nhóm: Thực hiện các nhiệm cá nhân, ghi chép lại những nội dung trao đổi hoặc kết quả công việc của nhóm để trao đổi với các nhóm khác hoặc chia sẻ trước lớp Năng lực của mỗi học sinh là khác nhau Một số học sinh khá, giỏi rất năng động, sáng tạo, tích cực học tập, tiếp thu bài tốt, tham gia nhiệt tình vào tất cả các hình thức học tập Ngược lại, học sinh yếu kém lại rất lười học, tiếp thu bài học một cách thụ động, chưa có khả năng tham gia vào một số hoạt động học tập Có những hình thức học tập, bài tập tạo điều kiện hứng thú cho học sinh khá giỏi, nhưng số học sinh yếu kém lại không đủ khả năng tham gia tích cực Ngược lại, có nhiều hình thức học tập, bài tập được sự hưởng ứng nhiệt tình của những học sinh yếu kém nhưng lại gây nhàm chán cho một số học sinh khá giỏi Như vậy để lựa chọn hình thức phương pháp học tập, lựa chọn bài tập một cách phù hợp với các đối tượng học sinh trong lớp là việc làm cần thiết và còn nhiều sự trăn trở của mỗi giáo viên trước khi lên lớp

2.1.4 Tổ chức giờ học

- Khi sử dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy và kĩ thuật các mảnh ghép vào dạy học ta thường

tổ chức hoạt động học tập theo nhóm Vậy quy trình trong dạy học tổ chức hoạt động nhóm có thể chia thành 3 bước cơ bản sau:

Bước 1: Chia nhóm ngẫu nhiên hoặc chia theo chủ định phụ thuộc vào mục đích của

việc hoạt động nhóm Có nhiều cách chia nhóm khác nhau, tùy vào hoàn cảnh cụ thể

mà giáo viên áp dụng như:

- Nhóm theo trình độ năng lực của học sinh

- Nhóm theo sở thích bạn bè

- Nhóm theo cấu trúc tổ chức của lớp như tổ, nhóm

Trang 24

19

- Nhóm theo chỗ ngồi hay chọn một nhóm hỗn hợp có đủ thành phần học sinh giỏi, khá, trung bình yếu

- Nhóm được chia theo ngẫu nhiên

Lưu ý đến kích cỡ nhóm, tùy thuộc vào nhiệm vụ và yêu cầu đạt mà giáo viên quyết định số người tham gia trong một nhóm Thời gian hoạt động nhóm cũng ảnh hưởng đến việc chia nhóm, nếu thời gian cần cho hoạt động nhóm ngắn thì nhóm nhỏ ít học sinh có hiệu quả hơn nhóm lớn Một nhóm có khoảng từ 2 đến 6 học sinh là đạt hiệu quả nhất

Sau khi chia nhóm, học sinh phải chủ động hình thành nhóm và bầu ra một trưởng nhóm có vai trò điều hành nhóm trong suốt thời gian hoạt động nhóm và một thư kí

để ghi chép lại những hoạt động của nhóm

Bước 2: Giao nhiệm vụ

- Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng Giáo viên có thể sử dụng câu hỏi mở hay đóng tùy vào nội dung yêu cầu và thường được sử dụng theo hình thức phiếu học tập để học sinh hiểu và nắm rõ nhiệm vụ Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách thực hiện, cung cấp tài liệu cho học sinh nếu cần thiết

- Giáo viên cần quy định rõ thời gian hoàn thành nhiệm vụ đủ để học sinh di chuyển

và thảo luận, đồng thời học sinh chủ động phân bố thời gian phù hợp với công việc

- Giáo viên cần phổ biến cách đánh giá, chấm điểm cá nhân và nhóm cho học sinh nắm rõ, việc làm này sẽ tránh được sự ỉ lại của một số thành viên lười biếng

Bước 3: Làm việc trong nhóm

Tùy theo cấu trúc hoạt động nhóm mà giáo viên hay nhóm trưởng phân việc cụ thể cho mỗi thành viên Nếu nhiệm vụ của nhóm được chia thành các mảng nhỏ thì mỗi thành viên phải nỗ lực hoàn thành phần việc của mình, sau thời gian làm việc cá nhân kết thúc và chuyển nhanh sang phần làm việc trong nhóm là thảo luận, chia sẻ thông tin, kiến thức để giải quyết nhiệm vụ được giao Nếu nhiệm vụ nhóm là một vấn đề không cần chia nhỏ, không có thời gian cho cá nhân làm việc riêng thì việc thảo luận, lấy ý kiến được tiến hành trực tiếp và khi đó nhóm trưởng có vai trò đôn đốc, hướng dẫn cũng như tạo môi trường làm việc cởi mở thân thiện cho cả nhóm, thư kí có trách nhiệm ghi chép tất cả các ý kiến, ý tưởng của các thành viên

Tóm lại, hoạt động làm việc nhóm diễn ra dưới hình thức và thứ tự như thế nào thì công việc của các thành viên là tìm kiếm thông tin, tài liệu cố gắng hiểu được vấn

đề, sau đó là sự chia sẻ hiểu biết với các thành viên còn lại và cuối cùng nhóm phải tổng hợp, phân tích các ý kiến, phù hợp hay không để giải quyết nhiệm vụ được giao

2.2 Thiết kế một số hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực tự học trong dạy học chủ đề “vectơ trong mặt phẳng toạ độ”

2.2.1 Một số biện pháp thiết kế hoạt động học tập định hướng phát triển năng lực tự học sáng tạo trong dạy học chủ đề “Vectơ trong mặt phẳng toạ độ”

2.2.1.1 Biện pháp 1: Tích cực hóa năng lực tự học của học sinh thông qua bài toán

mở đầu xuyên suốt nội dung dạy học

Trang 25

mô hình liên quan đến bài học Việc huy động kiến thức các môn học khác hay sử dụng các mô hình thực tế hoặc trình chiếu các tranh ảnh có liên quan đến bài học sẽ giúp học sinh chủ động tìm hiểu kiến thức bài học mới từ đó các em sẽ thấy hứng thú hơn, hiểu hơn và chủ động nắm bắt kiến thức hơn Đồng thời sẽ giúp học sinh thấy được Toán học có ứng dụng rộng rãi của các kiến thức Toán học trong các môn học khác cũng như trong thực tiễn và thấy được Toán học có vai trò quan trọng trong mối quan hệ mật thiết với các môn học như Vật lý, Hoá học, Sinh học, Địa lý,…Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh đọc bài trước ở nhà và tìm hiểu các kiến thức của các môn học khác có liên quan đến bài học, tìm hiểu các tranh, ảnh, video trên Interrnet hay chuẩn bị những nguyên vật liệu hay mô hình, tranh ảnh, trước khi học bài mới

Trong bài học này giáo viên trình chiếu một số hình ảnh ứng dụng của hệ trục toạ độ trong đời sống để khơi gợi động cơ từ học sinh muốn tìm tòi, khám phá các vấn đề trong đời sống liên quan đến hệ trục toạ độ

Xác định vị trí vật thể trong không gian

Định vị trong vận tải hàng không

Trang 26

21

Kinh độ và vĩ độ trong bản đồ địa lí

Đặc biệt ta thường nghe các bản tin dự báo thời tiết về các cơn bão Vậy làm thế nào để thông qua các thông tin về đường đi của một của một cơn bão Trong một khoảng thời gian nào đó ta có thể xác định được vị trí của tâm bão?

Trang 27

22

https://www.youtube.com/watch?v=kpnD6Hn8BhU Một bản tin dự báo thời tiết thể hiện đường đi trong 12 giờ của một cơn bão trên mặt phẳng tọa độ Trong khoảng thời gian đó tâm bão di chuyển thẳng đều từ vị trí có tọa độ (13,8; 108,3) đến vị trí có tọa độ (14,1; 106,3) Dựa vào thông tin trên, em có thể dự đoán được vị trí của tâm bão tại thời điểm bất kì trong khoảng thời gian 12 giờ đó hay không?

Từ đó các e hiểu thêm về học toán để làm gì? Toán học có ý nghĩa lớn lao trong cuộc sống của chúng ta như thế nào?

2.2.1.2 Biện pháp 2: Sử dụng công nghệ thông tin thông qua các trò chơi, mô hình

để thiết kế các hoạt động học tập, tăng tính trực quan sinh động, phát triển năng lực

tự học

Tổ chức trò chơi hộp quà may mắn qua HĐ1 SGK: Trên trục số Ox, gọi A là điểm

biểu diễn số 1 và đặt OA = i Gọi M là điểm biểu diễn số 4, N là điểm biểu diễn số

3

- , P

2 là điểm biểu diễn số 2, Q là điểm biểu diễn số x0 tuỳ ý

GV chuẩn bị các hộp quà cùng các slide để trình chiếu Với mỗi slide chứa các câu hỏi, đáp án; cài đặt thời gian, hiệu ứng… trình chiếu

Trang 28

23

Hộp 1: Số thứ tự của các thành viên trong lớp, Gv bốc thăm được số nào thì học sinh

đó sẽ được chọn một hộp quà bất kỳ trong 3 hộp quà còn lại: Hộp 2, Hộp 3, Hộp 4

Hộp 2 Xác định một số thực điền vào ba chấm OM = i

Hộp 3 Xác định một số thực điền vào ba chấm ON = i

Hộp 4 Xác định một số thực điền vào ba chấm OP = i

Hộp 5 Với điểm Q tùy ý trên trục số, có biểu diễn được véctơ OQ theo véctơ i

không?

Riêng hộp 5 giáo viên sẽ đưa ra cuối cùng

Học sinh trả lời đúng tương ứng với mỗi hộp quà sẽ nhận một phần thưởng là điểm

số 8, 9, 10, một tràng pháo tay, một lời khen, …

Thông qua hoạt động 1 Chốt kiến thức: Khái niệm trục tọa độ

Tiết 3: Bài tập 4.19 Chuyển đổi bài toán Vật lí về bài toán Hình học cơ bản bằng hình vẽ trực quan bằng cách dùng phần mềm GeoGebra

- Gợi ý: Gọi vị trí của tàu tại thời điểm sau khi khởi hành 1,5 giờ là B

- Sử dụng hai vectơ bằng nhau khi chúng có cùng toạ độ để tìm toạ độ điểm B

Trang 29

24

2.2.1.3 Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động trải nghiệm thông qua bài toán thực tiễn

để giúp học sinh tự học, tự kết nối kiến thức bài học

Tổ chức trò chơi Ai nhanh hơn qua HĐ2 SGK: Trong mặt phẳng với một đơn vị đo

độ dài cho trước, xét hai trục Ox và Oy có chung gốc O và vuông góc với nhau Kí hiệu vectơ đơn vị của trục Ox là i , vectơ đơn vị của trục Oy là j

a Hãy biểu thị mỗi véctơ OM ON theo các véctơ , ij

b Hãy biểu thị véctơ MN theo các véctơ OM ON Từ đó biểu thị véctơ, MN theo các véctơ ij

Quy luật trò chơi: Học sinh sử dụng các mảnh ghép giáo viên đã chuẩn bị sẵn, sắp xếp các nội dung phù hợp để có kết quả đúng

Trang 30

25

Thông qua hoạt động 2 Chốt kiến thức: Khái niệm hệ trục tọa độ

- Tổ chức cho học sinh trải nghiệm thực tế thông qua bài 4.20 sách toán 10 kết nối tri thức với cuộc sống: Trong Hình vẽ bên dưới, quân mã đang ở vị trí có tọa độ (1;2) Hỏi sau một nước đi, quân mã có thể đến những vị trí nào?

- Chuẩn bị bàn cờ vua thực tế cho học sinh

Trang 31

26

2.2.2 Thiết kế các hoạt động có sử dụng kỹ thuật mảnh ghép và kỹ thuật sơ đồ tư duy trong chủ đề “Vectơ trong mặt phẳng toạ độ” theo định hướng phát triển năng

lực tự học

Bài học có thời lượng 3 tiết, có thể phân bổ thời lượng như sau:

Tiết 1: Toạ độ của vectơ và biểu thức toạ độ của các phép toán (Khung kiến thức khoảng cách giữa hai điểm)

Tiết 2: Ví dụ và luyện tập (Bắt đầu từ ví dụ 1 đến ví dụ 4)

Tiết 3: Vận dụng và bài tập

I Mục tiêu

1 Kiến thức, kĩ năng

- Nhận biết được toạ độ của véctơ và biết thể hiện các phép toán vectơ theo toạ độ

- Biết thể hiện các mối quan hệ bằng nhau, cùng phương giữa các vectơ thông qua toạ độ của chúng

- Vận dụng được kiến thức về véctơ trong các bài toán xác định vị trí của vật trên mặt phẳng toạ độ

2 Về Năng lực, phẩm chất

- Năng lực tư duy và lập luận toán học (xuyên suốt bài học)

Ngày đăng: 09/03/2025, 21:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO CHỦ ĐỀ VECTƠ TRONG MẶT - Skkn cấp tỉnh sử dụng kỹ thuật mảnh ghép kết hợp kỹ thuật sơ Đồ tư duy vào chủ Đề vectơ trong mặt phẳng toạ Độ lớp 10 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO CHỦ ĐỀ VECTƠ TRONG MẶT (Trang 3)
Sơ đồ lí thuyết: Hệ trục tọa độ - Skkn cấp tỉnh sử dụng kỹ thuật mảnh ghép kết hợp kỹ thuật sơ Đồ tư duy vào chủ Đề vectơ trong mặt phẳng toạ Độ lớp 10 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Sơ đồ l í thuyết: Hệ trục tọa độ (Trang 17)
Bảng Kết quả điều tra về tình trạng học tập hợp tác theo nhóm của học sinh  nhằm phát triển năng lực tự học - Skkn cấp tỉnh sử dụng kỹ thuật mảnh ghép kết hợp kỹ thuật sơ Đồ tư duy vào chủ Đề vectơ trong mặt phẳng toạ Độ lớp 10 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
ng Kết quả điều tra về tình trạng học tập hợp tác theo nhóm của học sinh nhằm phát triển năng lực tự học (Trang 19)
Bảng thống kê kết quả học tập của HS nhóm TN và ĐC trước khi TNSP - Skkn cấp tỉnh sử dụng kỹ thuật mảnh ghép kết hợp kỹ thuật sơ Đồ tư duy vào chủ Đề vectơ trong mặt phẳng toạ Độ lớp 10 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Bảng th ống kê kết quả học tập của HS nhóm TN và ĐC trước khi TNSP (Trang 45)
Bảng thống kê kết quả học tập của HS nhóm TN và ĐC sau khi TNSP - Skkn cấp tỉnh sử dụng kỹ thuật mảnh ghép kết hợp kỹ thuật sơ Đồ tư duy vào chủ Đề vectơ trong mặt phẳng toạ Độ lớp 10 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh
Bảng th ống kê kết quả học tập của HS nhóm TN và ĐC sau khi TNSP (Trang 47)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w