Vai trò của bài tập trắc nghiệm khách quan Để hình thành một bài trắc nghiệm, chúng ta cần có các câu hỏi, từ đơn giản đến phức tạp, nhằm thu thập thông tin chi tiết về từng kiến thức,
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT HUỲNH THÚC KHÁNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP VẬT LÍ LỚP 11 ĐÁP ỨNG CÁC KÌ THI THEO CHƯƠNG TRÌNH
Trang 2MỤC LỤC
1 Bài tập trắc nghiệm khách quan trong dạy học vật lí 3
1.1 Vai trò của bài tập trong dạy học vật lí 3
1.2 Vai trò của bài tập trắc nghiệm khách quan 3
1.3 Phân tích cấu trúc đề minh họa thi TNTHPT từ năm 2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
8
1.1 Việc đánh giá năng lực của người học được thực hiện qua việc đánh giá hành vi của người học trong một tình huống cụ thể
11
1.2 Trong dạy học, ôn tập để chuẩn bị cho kì thi tốt nghiệp THPT năm
2025 cần thực hiện dạy học thực chất
11
1.3 Để đảm bảo chất lượng giáo dục, trong dạy học ở nhà trường, cần
chú ý một số điểm sau đây
Trang 34 Xây dựng ma trận đề và đề kiểm tra định kì, đề thi khảo sát chất
lượng, đề học sinh giỏi cấp trường theo chương trình GDPT 2018
Trang 51
PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ
Mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 là căn cứ vào
“chuẩn đầu ra” để bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhằm đáp ứng yêu cầu của công đổi mới, hội nhập và phát triển Dạy học chú trọng hình thành phẩm chất và năng lực người học là yêu cầu tất yếu của nền giáo dục trong giai đoạn hiện nay Đổi mới kiểm tra đánh giá, đổi mới thi tốt nghiệp THPT cũng nhằm hiện thực hóa mục tiêu đó Các trường đại học cũng đang từng bước thay đổi hình thức xét tuyển, đặc biệt là xu thế tuyển sinh dựa trên kết quả các bài thi đánh giá năng lực của học sinh, để tuyển chọn các sinh viên có phẩm chất và năng lực nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Theo phương án tổ chức Kỳ thi và xét công nhận tốt nghiệp THPT từ năm
2025 (Quyết định số 4068/QĐ-BGDĐT ngày 28/11/2023 của Bộ GD&ĐT), môn Vật lí thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan, trong đó sử dụng tối đa 3 dạng thức câu hỏi trắc nghiệm: Câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn, câu hỏi trắc nghiệm dạng Đúng/Sai, câu hỏi trắc nghiệm dạng trả lời ngắn
Ngày 29/12/2023, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố đề thi minh họa Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, cấu trúc định dạng đề thi theo định hướng đánh giá năng lực, phù hợp với Chương trình giáo dục phổ thông 2018 Các câu hỏi trong
đề thi gắn với các bối cảnh có ý nghĩa (bối cảnh có tác dụng/có giá trị nhất định đến đời sống, thực tiễn, khoa học)
Trên cơ sở đề minh họa của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh ở một số địa phương cũng đã chuyển đổi hình thức ra đề thi để phù hợp với các yêu cầu đổi mới của CT GDPT 2018 Tại tỉnh Nghệ An đã công bố dự thảo đề thi học sinh giỏi năm học 2024 – 2025 trong đó, ngoài phần phần thi tự luận thì thí sinh phải thực hiện thêm phần thi trắc nghiệm theo đúng cấu trúc như
đề minh họa thi TN THPT 2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Để đánh giá được phẩm chất và năng lực của học sinh theo yêu cầu của Chương trình trình giáo dục phổ thông 2018 thì giáo viên cần có bộ câu hỏi phù hợp với yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay Thông qua đó học sinh được
Trang 6từ đó làm phong phú nguồn học liệu phục vụ cho quá trình dạy học đạt hiệu quả
Từ những lí do trên và từ kinh nghiệm thực tế dạy học của bản thân, trong
phạm vi đề tài này tôi đề xuất sáng kiến kinh nghiệm: “Thiết kế hệ thống bài tập
vật lí lớp 11 đáp ứng các kì thi theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018”
Trang 73
PHẦN B: NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 Bài tập trắc nghiệm khách quan trong dạy học vật lí
1.1 Vai trò của bài tập trong dạy học vật lí
Bài tập vật lí có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học đặc biệt là trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học, cụ thể nó thể hiện trên các phương diện sau đây:
- BTVL là một phương tiện rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn
- BTVL là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc rèn luyện
tư duy, năng lực giải quyết vấn đề, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho HS
- Thông qua giải BTVL có thể hình thành cho HS những đức tính tốt và tác phong làm việc khoa học: như tính tự lực cao, tính kiên trì vượt khó, tính cẩn thận, tính hợp tác, tính khiêm tốn học hỏi, …
- BTVL là một phương tiện củng cố, ôn tập kiến thức một cách sinh động có hiệu quả Khi giải các bài tập đòi hỏi HS phải vận dụng các công thức Vật lí, các định luật
Vật lí, từ đó giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn các kiến thức đã học
- BTVL là phương tiện để để phát hiện, đánh giá năng lực của HS
Như vậy, BTVL là phương tiện có vai trò và chức năng để thực hiện các mục đích nêu trên Ta có thể sử dụng BTVL cho bất cứ giai đoạn nào của quá trình dạy học Mục đích cơ bản đặt ra khi giải bài tập vật lí là làm sao cho HS hiểu sâu sắc hơn các quy luật vật lí, biết phân tích và vận dụng chúng vào những vấn đề thực tiễn, vào
kỹ thuật, từ đó hình thành và phát triển được các năng lực, phẩm chất đáp ứng được yêu cầu của CTGD PT 2018 Giải BTVL có giá trị rất lớn về mặt phát triển tính tích cực, tự học của HS Qua hoạt động giải bài tập giáo dục cho HS ý chí, tinh thần vượt khó, rèn luyện phong cách nghiên cứu khoa học, yêu thích môn học Vật lí
1.2 Vai trò của bài tập trắc nghiệm khách quan
Để hình thành một bài trắc nghiệm, chúng ta cần có các câu hỏi, từ đơn giản đến phức tạp, nhằm thu thập thông tin chi tiết về từng kiến thức, kỹ năng, hay từng khía cạnh năng lực cụ thể mà người học làm chủ Người ta chia các loại hình câu hỏi trắc nghiệm thành hai nhóm: khách quan và chủ quan
Trang 84
Câu trắc nghiệm khách quan là những câu hỏi mà việc chấm điểm hoàn toàn không phụ thuộc chủ quan của người đánh giá, cho điểm Một số dạng thức điển hình và hay gặp của câu trắc nghiệm khách quan như: câu nhiều lựa chọn, câu trả lời Đúng/Sai, câu trả lời ngắn, câu ghép đôi, câu điền khuyết
Ngược lại, chúng ta có một số loại hình câu hỏi mà kết quả đánh giá có thể
bị ảnh hưởng bởi tính chủ quan của người chấm điểm Điển hình cho nhóm này
là các loại câu hỏi tự luận: câu hỏi mà người học phải tự mình viết ra phần trả lời, thay vì chọn câu trả lời từ các phương án cho sẵn
Mặc dù có sự khác biệt như vậy về mức độ khách quan của đánh giá, nhưng không vì thế mà nhóm câu hỏi này được xem là tốt và sử dụng rộng rãi và phổ biến hơn nhóm câu hỏi kia Cả hai nhóm câu trắc nghiệm khách quan và tự luận đều có những điểm mạnh và điểm yếu riêng, chúng ta cần hiểu về mỗi loại hình câu hỏi đó để có thể khai thác sử dụng chúng một cách phù hợp và hiệu quả nhất Trong CT GDPT 2006 dạng thức câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn được sử dụng chủ yếu trong dạy học ở nước ta và đây cũng là dạng thức được sử dụng trong đề thi TN THPT Quốc Gia cho đến thời điểm hiện tại (năm 2024) CT GDPT 2018 đã đổi mới căn bản, toàn diện chương trình giáo dục hiện tại, theo định hướng phát triển NL và PC người học, chính vì vậy hệ thống bài tập cũng cần đổi mới phù hợp về nội dung và hình thức để có thể đánh giá đúng được
NL và PC của người học Trên cơ sở đó, từ năm 2025 trở đi Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo 3 dạng thức: câu hỏi nhiều lựa chọn; câu hỏi Đúng/Sai; câu hỏi trả lời ngắn nhằm mục đích đánh giá chính xác, khách quan hơn NL và PC của người học Để đáp ứng tính thời sự cũng như nhu cầu cấp thiết trong giảng dạy của GV và học tập của HS, trong giưới hạn đề tài này chúng tôi chỉ để cập đến hình thức câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo 3 dạng thức nói trên
Trắc nghiệm khách quan trong giảng dạy được xem như một công cụ để giúp thực hiện các phép đo lường, đánh giá trình độ, năng lực, phẩm chất cũng như kết quả học tập của người học Mặc dù không phải là một phương pháp đánh giá trực tiếp nhưng trắc nghiệm được sử dụng từ rất lâu và rộng rãi trong lịch sử giáo dục
và dạy học, nhờ sự thuận tiện và tính kinh tế, cũng như việc dễ dàng can thiệp bằng các kỹ thuật phù hợp nhằm tăng cường tính chính xác và độ tin cậy của thông tin về người học
a) Dạng thức câu hỏi nhiều lựa chọn
Câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn có thể dùng thẩm định trí nhớ, mức hiểu biết, năng lực áp dụng, phân tích, tổng hợp, giải quyết vấn đề hay cả năng lực tư duy cao hơn Dạng câu hỏi này đã được sử dụng theo CT GDPT 2006 từ
Trang 95
năm 2005 trong đề thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, sau này tiếp tục được sử dụng trong nhiều năm qua để kiểm tra, đánh giá và trong kì thi TN THPT Quốc Gia Đây là dạng thức quen thuộc với GV và HS trong nhiều năm qua, nguồn học liệu cho dạng câu hỏi này rất đa dạng và phong phú nên chúng tôi không đề cập đến nhiều ở đây
b) Dạng thức câu hỏi Đúng/Sai
Dạng thức này đòi hỏi thí sinh phải có năng lực, kiến thức kỹ năng toàn diện mới đạt được điểm tối đa, hạn chế được việc dùng “mẹo mực” chọn đáp án từ các phương án nhiễu như của dạng trắc nghiệm nhiều lựa chọn Xác suất đánh ngẫu nhiên đạt điểm tối đa là 1/16, nhỏ hơn 4 lần so với dạng thức trắc nghiệm nhiều lựa chọn hiện nay
Cấu trúc của dạng thức câu hỏi Đúng/Sai gồm:
- Phần dẫn: đưa ra tình huống trong thực tiễn, khám phá thế giói tự nhiên dưới góc độ vật lí, thí nghiệm …
- Phần thí sinh lựa chọn Đúng/Sai gồm 4 ý a), b), c), d): trong mỗi ý các lập luận được đưa ra để dẫn dắt vấn đề và cuối cùng đưa ra kết luận về vấn đề đó Thí sinh lựa chọn Đúng hoặc Sai trong mỗi ý
Đặc biệt là cách cho điểm ở dạng thức này: Điểm tối đa của 01 câu hỏi là 1 điểm
- Thí sinh chỉ lựa chọn chính xác 01 ý trong 1 câu hỏi được 0,1 điểm
- Thí sinh chỉ lựa chọn chính xác 02 ý trong 1 câu hỏi được 0, 25 điểm
- Thí sinh chỉ lựa chọn chính xác 03 ý trong 1 câu hỏi được 0,50 điểm
- Thí sinh lựa chọn chính xác cả 04 ý trong 1 câu hỏi được 1 điểm
Như vậy, ở dạng thức này đòi hỏi HS phải có kiến thức sâu, rộng và bao quát được vấn đề, xâu chuỗi được nội dung kiến thức mới có thể đạt điểm tối đa Chỉ cần trả lời sai một ý là sẽ mất 0,5 điểm/ 1 điểm của toàn câu hỏi
Đây là dạng thức câu hỏi mới mẻ, phù hợp với CT GDPT 2018, là thước đo hiệu quả trong kiểm tra, đánh giá sự phát triển NL và PC của người học, đang được GV và HS hết sức quan tâm
c) Dạng thức câu hỏi trả lời ngắn
Câu hỏi trắc nghiệm dạng trả lời ngắn gần với dạng câu hỏi tự luận, được đánh giá thông qua kết quả cuối cùng mà thí sinh phải tự điền vào phiếu trả lời Dạng thức này đòi hỏi thí sinh phải có năng lực, kiến thức kĩ năng chắc chắn, hạn chế được việc dùng “mẹo mực” chọn đáp án từ các phương án nhiễu như của dạng trắc nghiệm nhiều lựa chọn
Trang 10Đề thi gồm 40 lệnh hỏi (28 câu hỏi) thực hiện trong thời gian 50 phút, trong
đó có 18 câu hỏi trắc nghiệm 4 đáp án; 4 câu Đúng/sai với 16 ý hỏi tương đương
với 16 lệnh hỏi; 6 câu dạng trả lời ngắn Các câu hỏi thuộc 3 cấp độ tư duy Biết - Hiểu - Vận dụng theo tỉ lệ 40% - 30% - 30%, tập trung đánh giá 3 thành phần của
năng lực Vật lí: Nhận thức vật lí; Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí; Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học theo tỉ lệ 42,5% - 12,5% - 45%
Theo đó, đề thi sẽ bao gồm 3 dạng thức câu hỏi thi trắc nghiệm chi tiết như sau:
- Dạng thức 1: Trắc nghiệm nhiều lựa chọn, (4 lựa chọn, 1 phương án đúng), là dạng câu hỏi phổ biến được áp dụng nhiều năm tại Việt Nam Đề thi gồm 18 câu hỏi (chiếm 45% số lệnh hỏi trong đề thi), thuộc 3 cấp độ Biết, Hiểu, Vận dụng với tỉ lệ 23% - 15% - 8% Mỗi câu trả lời đúng thí sinh được 0,25 điểm
- Dạng thức 2: Câu hỏi trắc nghiệm dạng Đúng/Sai, mỗi câu hỏi có 4 ý, thí sinh phải trả lời Đúng/Sai đối với từng ý của câu hỏi
Đề thi gồm 4 câu hỏi dạng thức 2, mỗi câu hỏi gồm 4 lệnh hỏi, tổng đề thi
có 16 lệnh (chiếm 40% số lệnh hỏi trong đề thi), thuộc 3 cấp độ Biết, Hiểu, Vận
dụng với tỉ lệ 15% - 10% - 15%
- Dạng thức 3: Câu hỏi trắc nghiệm dạng trả lời ngắn Dạng thức này gần với dạng câu hỏi tự luận, được đánh giá thông qua kết quả cuối cùng mà thí sinh phải tự điền vào phiếu trả lời Thí sinh có thể đã gặp dạng câu hỏi này trong các
đề thi ĐGNL của ĐHQG Hà Nội hay đề thi ĐGTD của ĐHBK Hà Nội
Trang 117
Đề thi gồm 6 câu hỏi dạng trả lời ngắn (chiếm 15% số lệnh hỏi trong đề
thi), thuộc 3 cấp độ Biết, Hiểu, Vận dụng với tỉ lệ 3% - 5% - 8% Mỗi câu trả lời đúng thí sinh được 0,25 điểm
Tổng thể cho thấy nội dung câu hỏi gắn với các bối cảnh có ý nghĩa liên
quan đến thực tiễn, ứng dụng của vật lí trong đời sống, khoa học và công nghệ
Các dạng thức trắc nghiệm mới phù hợp với việc thiết kế đề thi theo định hướng đánh giá năng lực, đồng thời nâng cao khả năng phân loại thí sinh
2 Thực trạng nguồn câu hỏi trắc nghiệm khách quan đáp ứng yêu cầu của Chương trình giáo dục trung học phổ thông 2018
2.1 Thực trạng chung về nguồn bài tập trắc nghiệm khách quan theo 3 dạng thức sẽ sử dụng trong đề thi TN THPT Quốc Gia từ năm 2025
- Dạng thức câu hỏi nhiều lựa chọn đã rất quen thộc với GV và HS từ nhiều năm nay nên việc thiết kế loại bài tập này phục vụ cho công tác dạy học hoặc kiểm tra, đánh giá thì GV ít gặp khó khăn, nguồn học liệu cũng rất phong phú Để các câu hỏi ở dạng thức này đáp ứng được các yêu cầu đổi mới của CT GDPT 2018 thì GV chỉ cần quan tâm thêm các câu hỏi có tính thực tiễn, thực nghiệm và các câu hỏi mang tính chất tìm hiểu Thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí
- Dạng thức câu hỏi Đúng/Sai là một dạng thức hoàn toàn mới đối với GV
và HS vì vậy, đa số các GV còn đang lúng túng gặp nhiều khó trong xây dựng, thết kế bài tập ở dạng thức này Nguồn học liệu câu hỏi Đúng/Sai đáp ứng đúng yêu cầu đổi mới để phục vụ cho dạy học của GV và HS đang rất khan hiếm Qua phân tích đề minh họa của Bộ Giáo dục và Đào tạo chúng tôi thấy đây là một dạng thức rất phù hợp với chương trình GD THPT 2018, tình huống đưa ra trong câu hỏi là những tình huống mà HS gặp trong đời sống: Ứng dụng vật lí; Thể thao; Trò chơi; Thí nghiệm vật lí; Các hiện tượng tự nhiên liên quan đến kiên thức vật
lí Tuy nhiên, nguồn học liệu phục vụ cho dạng thức câu hỏi này đang thực sự thiếu hụt, đa số GV tự tìm tòi để ra đề hoặc chia sẻ lẫn nhau thông qua mạng xã hội, nội dung và chất lượng câu hỏi được sử dụng nhìn chung chưa đảm bảo được yêu cầu mà dạng thức câu hỏi này muốn hướng đến
- Dạng thức câu trả lời ngắn có thể xem gần đúng như là câu hỏi tự luận, bắt buộc HS phải vận dụng kiến thức kỹ năng để đưa ra được đáp án Đây cũng là một dạng thức mới nên GV và HS cũng đang thiếu hụt về nguồn câu hỏi sử dụng trong dạy học Để có thể thiết kế loại câu hỏi này GV phải nắm rõ kĩ thuật đặt câu hỏi để HS đưa ra đáp án theo câu hình mong muốn thì mới có thể ứng dụng công nghệ chấm bằng máy Ngoài ra, cũng như dạng thức Đúng/Sai, các câu hỏi ở dạng này cũng cần phải đưa ra các câu hỏi gắn với tự nhiên và thực tiễn cuộc sống
Trang 128
2.2 Khảo sát nhu cầu về nguồn câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo 3 dạng thức sẽ sử dụng trong đề thi TN THPT Quốc Gia từ năm 2025 trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Để nắm bắt thực trạng về nguồn câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo chương trình GD THPT 2018 cũng như nhu cầu của GV trên địa bàn đối với loại học liệu này, chúng tôi đã thiết kế mẫu phiếu khảo sát để tiến hành khảo sát từ đó thống
kê và phân tích số liệu để đánh giá mức độ cấp thiết của vấn đề, lấy cơ sở để định hướng cho các vấn đề nghiên cứu trong đề tài này
Phiếu khảo sát được xây dựng theo 4 cấp độ tăng dần tương ứng với mức điểm từ 1 đến 4
- Không cần thiết: 1 điểm
☐ Không cần thiết ☐ Ít cần thiết
(2) Thầy (Cô) đánh giá như thế nào về sự phù hợp của các dạng thức trắc nghiệm mới trong đề minh họa thi TN THPT từ 2025 trở đi với nội dung CT GDPT 2018?
☐ Không phù hợp ☐ Ít phù hợp
(3) Thầy (Cô) đánh giá như thế nào về khả năng khai thác các nguồn câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo dạng thức mới thông qua Internet, tài liệu, chia sẻ của đồng nghiệp?
☐ Có đủ sử dụng ☐ Có rất nhiều
Trang 13☐ Không cần thiết ☐ Ít cần thiết
(1) Thầy (Cô) hãy cho biết mức độ cần thiết phải
có nguồn đề trắc nghiệm khách quan đáp ứng các kì thi
theo CT GDPT 2018?
3,89 2
2 của các dạng thức trắc nghiệm mới trong đề minh họa (2) Thầy (Cô) đánh giá như thế nào về sự phù hợp
thi TN THPT từ 2025 trở đi với nội dung CT GDPT
2018?
3,75 3
3 thác các nguồn câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo dạng (3) Thầy (Cô) đánh giá như thế nào về khả năng khai
thức mới thông qua Internet, tài liệu, chia sẻ của đồng
nghiệp?
2,34 5
4
(4) Thầy (Cô) đánh giá như thế nào về chất lượng
câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo dạng thức mới
được chia sẻ trên Internet?
1,92 6
Trang 14(6) Thầy (Cô) nhận xét như thế nào về mức độ cần
thiết phải có tài liệu định hướng cách thức xây dựng ma
trận kiểm tra định kì, thiết kế câu hỏi trắc nghiệm khách
quan theo dạng thức mới?
3,92 1
Kết quả khảo sát cho thấy đa số GV đều cho rằng việc xây dựng cơ sở lý thuyết, phương pháp định hướng cho việc thiết kế các câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo dạng thức mới và tạo ra ngân hàng câu hỏi phong phú phục vụ cho dạy học, kiểm tra đánh giá là hết sức cần thiết trong giai đoạn chuyển đổi hiện nay Hầu hết các GV cũng đánh giá cao việc sử dụng dạng thức câu hỏi trắc nghiệm khách quan mới mà Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai thực hiện trong đề thi TN THPT từ năm 2025 trở đi Điều này thể hiện ở mức độ điểm số của các câu hỏi khảo sát (6); (1); (2)
Qua các mức độ điểm số ở các câu hỏi (3); (4); (5) cho chúng ta thấy rằng nguồn học liệu về câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo dạng thức mới đang rất khan hiếm, khai thác khó khăn, chất lượng cũng chưa thực sự được đảm bảo Bên cạnh đó, việc GV tự thiết kế câu hỏi phục vụ giảng dạy cũng gặp nhiều khó khăn Như vậy, chúng tôi thấy rằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo dạng thức mới được đánh giá cao trong chương trình GD THPT 2018, tuy nhiên để có nguồn câu hỏi phong phú, phục vụ tốt cho dạy học, kiểm tra, đánh giá cũng như đáp ứng được các kì thi theo chương trình mới thì cần thiết phải đưa ra được định hướng thiết kế câu hỏi đạt yêu cầu và sáng tạo ra được những câu hỏi mới phù hợp với nội dung chương trình, đánh giá được NL, PC người học
Dựa trên kinh nghiệm và thực tiễn giảng dạy cũng như những tâm huyết trong nghiên cứu nội dung chương trình để đáp ứng nhu cầu đổi mới trong giáo dục, ở
đề tài này chúng tôi đưa ra các định hướng, cách thiết kế, sáng tạo câu hỏi mới nhằm giúp GV có thể dễ dàng hơn trong việc xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan, từ đó nhân rộng, chia sẻ để có được hệ thống câu hỏi chất lượng đáp ứng nhu cầu giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng dạy học
Trang 1511
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Đánh giá năng lực người học như thế nào
Vấn đề mà chúng tôi hướng đến để giải quyết trong đề tài này là các dạng thức câu hỏi trắc nghiệm khách quan mới dùng để đánh giá năng lực người học Qua đó, có cơ sở để bổ sung, chỉnh sửa hoặc phát triển phương pháp, nội dung dạy học đáp ứng nhu cầu đổi mới của giáo dục và giúp HS đáp ứng được các kì thi từ năm 2025 trở đi
1.1 Việc đánh giá năng lực của người học được thực hiện qua việc đánh giá hành vi của người học trong một tình huống cụ thể
- Bất kỳ một quá trình giáo dục nào cũng đều nhằm tạo ra những biến đổi của người học theo mục tiêu giáo dục Muốn biết những biến đổi đó đạt đến mức
độ nào, phải đánh giá được hành vi của người học trong một tình huống cụ thể
- Việc đánh giá không chỉ nhằm xác định mức độ tiến bộ, thành công của người học mà còn nhằm xác định mức độ phù hợp của mục tiêu, nội dung, phương pháp và quá trình giáo dục
- Cần đặc biệt lưu ý rằng, việc đánh giá năng lực người học không phải chỉ được thực hiện qua các kì thi mà phải kết hợp đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết; đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì Trong đánh giá, phải phối hợp một cách hợp lí việc đánh giá của giáo viên với đánh giá đồng đẳng và tự đánh giá của học sinh; đánh giá qua quan sát hoạt động nhóm ở trong và ngoài lớp học, quan sát thao thác thực hành, thí nghiệm, phân tích các bài thuyết trình; đánh giá qua vấn đáp, qua bài tập, bài kiểm tra, vở ghi chép, bản báo cáo kết quả thực hành, kết quả dự án học tập, kết quả đề tài nghiên cứu khoa học và các hồ sơ học tập khác Đặc biệt, cần kết hợp đánh giá theo hình thức tự luận với trắc nghiệm khách quan một cách hợp lí
1.2 Trong dạy học, ôn tập để chuẩn bị cho kì thi tốt nghiệp THPT năm
2025 cần thực hiện dạy học thực chất
- Do tính đặc thù nên kì thi tốt nghiệp THPT ở nước ta đang sử dụng hình thức đánh giá là trắc nghiệm khách quan, vẫn quen gọi là thi trắc nghiệm, trừ môn Ngữ văn
- Bài thi trên giấy không thể đánh giá được tất cả các năng lực của học sinh theo yêu cầu của chương trình giáo dục Ví dụ, đối với các môn ngoại ngữ, trong bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, bài thi tốt nghiệp THPT chỉ có thể tập trung vào đánh giá kĩ năng đọc hiểu các loại văn bản, các kĩ năng về từ ngữ, ngữ pháp
- Từ năm 2025, nhằm đánh giá tốt hơn năng lực người học, giảm xác suất đoán mò ở các câu hỏi thi, kì thi tốt nghiệp THPT có sự thay đổi về định dạng câu hỏi thi Ngoài dạng câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn (multiple choise item) quen
Trang 16- Dạy và học thực chất, dạy học không phải chỉ để truyền thụ kiến thức mà nhằm giúp học sinh hoàn thành các công việc, bước đầu giải quyết được các vấn
đề phù hợp trong học tập và đời sống nhờ vận dụng hiệu quả và sáng tạo những kiến thức, kĩ năng đã học
- Để đánh giá được năng lực của học sinh, phải thiết kế các tình huống xuất hiện vấn đề cần giải quyết, giúp học sinh bộc lộ năng lực của mình Trong đánh giá năng lực người học, có thể vận dụng các dạng thức mới về câu hỏi thi mà Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành, kết hợp với các hình thức đánh giá khác như
đã nói trên
2 Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù bộ môn vật lí
Mục đích của việc thiết kế câu hỏi là để kiểm tra, đánh giá năng lực của
HS Vì vậy, trước hết người thiết kế câu hỏi cần nắm rõ các yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù vật lí, sau đó xây dựng “bảng năng lực và cấp độ tư duy” cho phần kiến thức cần kiểm tra, đánh giá
Trên cơ sở bảng năng lực và cấp độ tư duy sẽ xây dựng được khung ma trận
và bản đặc tả của đề kiểm tra, đề thi
Môn vật lí hình thành và phát triển ở HS năng lực vật lí với những biểu hiện
cụ thể sau đây:
2.1 Nhận thức vật lí
Nhận thức được kiến thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi về: mô hình hệ vật lí; năng lượng và sóng; lực và trường; nhận biết được một số ngành, nghề liên quan đến vật lí; biểu hiện cụ thể là:
- Nhận ra và nêu được các đối tượng, khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình vật lí
- Trình bày được các hiện tượng, quá trình vật lí; đặc điểm, vai trò của các hiện tượng, quá trình vật lí bằng các hình thức biểu đạt: nói, viết, đo, tính, vẽ, lập
sơ đồ, biểu đồ
- Tìm được từ khoá, sử dụng được thuật ngữ khoa học, kết nối được thông tin theo logic có ý nghĩa, lập được dàn ý khi đọc và trình bày các văn bản khoa học có các thông tin vật lí
Trang 1713
- So sánh, lựa chọn, phân loại, phân tích được các hiện tượng, quá trình vật
lí theo các tiêu chí khác nhau
- Giải thích được ở mức độ cơ bản mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình
- Đưa ra được những nhận định phê phán hay nhận ra được những điểm sai
và nêu cách chỉnh sửa trong một số chủ đề thảo luận phù hợp
- Nhận ra được một số ngành nghề phù hợp với thiên hướng của bản thân
2.2 Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí
Tìm hiểu được một số hiện tượng, quá trình vật lí đơn giản, gần gũi trong đời sống và trong thế giới tự nhiên theo tiến trình; sử dụng được các chứng cứ khoa học để kiểm tra các dự đoán, lí giải các chứng cứ, rút ra các kết luận; biểu hiện cụ thể là:
- Đề xuất vấn đề liên quan đến vật lí: Nhận ra, mô tả và đặt được câu hỏi liên quan đến sự kiện vật lí; phân tích được bối cảnh để đề xuất được vấn đề nhờ kết nối tri thức, kinh nghiệm đã có và dùng ngôn ngữ của mình để biểu đạt vấn đề
đã đề xuất
- Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết trong một số tình huống đơn giản: Phân tích vấn đề để nêu được phán đoán; xây dựng và phát biểu được giả thuyết cho sự kiện, quá trình cần tìm hiểu
- Lập kế hoạch thực hiện: Xây dựng được khung logic nội dung tìm hiểu; lựa chọn được phương pháp thích hợp (quan sát, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn, tra cứu tư liệu); lập được kế hoạch triển khai tìm hiểu
- Thực hiện kế hoạch: Thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết quả tổng quan, thực nghiệm, điều tra; đánh giá được kết quả dựa trên phân tích, xử lí các dữ liệu bằng các tham số thống kê đơn giản; so sánh được kết quả với giả thuyết; giải thích, rút ra được kết luận và điều chỉnh khi cần thiết
- Viết, trình bày báo cáo và thảo luận: Sử dụng ngôn ngữ vật lí, hình vẽ, sơ
đồ, biểu bảng để biểu đạt được quá trình và kết quả tìm hiểu; viết được báo cáo sau quá trình tìm hiểu; hợp tác được với đối tác bằng thái độ tích cực và tôn trọng quan điểm, ý kiến đánh giá do người khác đưa ra để tiếp thu tích cực và giải trình, phản biện, bảo vệ được kết quả tìm hiểu một cách thuyết phục
- Ra quyết định và đề xuất ý kiến, giải pháp: Đưa ra được quyết định xử lí cho vấn đề đã tìm hiểu; đề xuất được ý kiến khuyến nghị vận dụng kết quả tìm hiểu, nghiên cứu, hoặc vấn đề nghiên cứu tiếp
2.3 Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
Vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết được một số vấn đề thực tiễn dựa trên kiến thức, kĩ năng và phương pháp vật lí, biểu hiện cụ thể là:
- Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn
- Đánh giá, phản biện được ảnh hưởng của một vấn đề thực tiễn
Trang 1814
- Thiết kế được mô hình, lập được kế hoạch, đề xuất và thực hiện được một
số cách thức hay biện pháp mới
- Nêu được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để đề ra cách thức hoạt động phù hợp, góp phần bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu;
có hành vi, thái độ hợp lí phù hợp với phát triển bền vững
Trong Chương trình môn Vật lí, mỗi thành tố của các năng lực chung cũng như năng lực đặc thù nói trên được đưa vào từng chủ đề, từng mạch nội dung dạy học, dưới dạng các yêu cầu cần đạt, với các mức độ khác nhau
3 Định hướng thiết kế câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo CT GDPT2018
3.1 Câu trắc nghiệm nhiều phương án lựa chọn
a) Câu dẫn:
Là một hỏi hoặc một câu chưa hoàn chỉnh yêu câu HS phải chọn trong đáp
án để thành câu hoàn chỉnh Câu dẫn phải đặt ra câu hỏi trực tiếp hoặc một vấn đề
cụ thể, không nên trích dẫn nguyên văn những câu có sẵn trong sách giáo khoa
Câu dẫn phải viết ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu, không sử dụng từ ngữ địa phương gây nhầm lẫn
b) Các phương án lựa chọn: gồm 1 phương án đúng và 3 phương án nhiễu
- Phương án đúng: Thể hiện sự hiểu biết của HS khi chọn đáp án chính xác,
HS nắm vững kiến thức mới phân biệt được Đáp án đúng của câu hỏi này phải độc lập với đáp án đúng của câu hỏi khác trong bài kiểm tra
- Các phương án nhiễu: Phải hợp lý đối với những HS học bài chưa kĩ hoặc không nắm vũng kiến thức Mỗi phương án nhiễu nên xây dựng dưa trên các lỗi nhận thức sai lệch của HS Phương án nhiễu cần có mối liên hệ với câu dẫn và tạo nên một nội dung hoàn chỉnh, có nghĩa Phương án nhiễu cũng cần có nội dung, cấu trúc tương tự như phương án đúng
c) Một số lưu ý khi viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
- Lời dẫn câu hỏi trắc nghiệm khách quan phải khác với câu hỏi của bài tự luận
- Không nắc lại thông tin của câu dẫn trong mỗi câu lựa chọn
- Tránh những phương án đúng mà HS nhìn vào là chọn được ngay
- Tránh các phương án nhiễu mà khi nhìn vào thấy ngay và không có HS nào lựa chọn
- Không để các phương án nhiễu phủ định nhau hoặc đồng nghĩa, hoặc phương án nhiễu đúng một phần,
- Mỗi câu hỏi không được có nhiều hơn một phương án đúng hoặc không
có phương án nào đúng
- Không dùng các cụm từ như: “đúng nhất”; “chính xác nhất”; “Tất cả các phương án trên đều đúng”; “Tất cả đều sai”; “A và C đúng” …
Trang 1915
- Nêu yêu cầu chọn phương án phủ định hoặc sai thì phải in đậm những từ
đó trong câu dẫn để tránh nhầm lẫn cho HS
d) Câu hỏi trắc nghiệm nhiều phương án lựa chọn theo CT GDPT 2018
Trong CT GDPT 2006 lâu nay thực hiện thì dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn đã rất quen thuộc với GV và HS, nguồn học liệu cho dạng thức câu hỏi này cũng rất đa dạng và phong phú
Trong CT GDPT 2018 dạng thức câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều phương án lựa chọn vẫn là một trong các dạng thức được sử dụng để kiểm tra, đánh giá NL và PC của HS Tuy nhiên, ngoài các câu hỏi nhằm mục đích đánh
giá mức độ “nhận thức vật lí”, mức độ “vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học” của
HS thì CT GDPT 2018 còn chú trọng thêm việc đánh giá năng lực “Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí” Việc “tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật
lí” tạo hứng thú hơn cho HS với bộ môn, thông qua đây cũng hình thành cho HS các phẩm chất quan trọng như tình yêu thiên nhiên, bảo vệ môi trường, tôn trọng quy luật tự nhiên, …
e) Các ví dụ về thiết kế câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều phương
Ví dụ 1.1 Theo thời gian, dao tự do động có
A biên độ và tần số riêng không đổi
B biên độ thay đổi, tần số không đổi
C tần số thay đổi, biên độ không đổi
D biên độ và tần số thay đổi
Ví dụ 1.2 Đối với dao động tắt dần, đại lượng vật lí có độ lớn giảm dần theo
thời gian là
A biên độ B tốc độ C tần số D li độ
- Cấp độ hiểu: HS Trình bày được các hiện tượng, quá trình vật lí; đặc điểm, vai trò của các hiện tượng, quá trình vật lí bằng các hình thức biểu đạt: nói, viết, đo, tính, vẽ, lập sơ đồ, biểu đồ Giải thích được ở mức độ cơ bản mối quan
hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình vật lí
Ví dụ 1.3 Một hệ dao động có tần số dao động riêng là f0 chịu tác dụng của một
ngoại lực tuần hoàn có tần số f, khi ổn định hệ sẽ dao động
Trang 2016
A cưỡng bức với tần số f0 B cưỡng bức với tần số f
C tắt dần với tần số f0 D tắt dần với tần số f0
Ví dụ 1.4 Hệ dao động có tần số dao động riêng là f0 chịu tác dụng của một
ngoại lực tuần hoàn có tần số f thay đổi được Khi điều chỉnh để f = f0 thì biên
độ dao động của hệ
A đột ngột tăng đến giá trị cực đại B vẫn không thay đổi
C đột ngột giảm về không D bắt đầu tăng dần
- Cấp độ vận dụng: So sánh, lựa chọn, phân loại, phân tích được các hiện tượng, quá trình vật lí theo các tiêu chí khác nhau Vận dụng được các mối quan
hệ giữa các đại lượng vật lí để xác định giá trị của chúng
Ví dụ 1.5 Một vật dao động cưỡng bức dưới tác dụng của một ngoại lực biến
thiên điều hòa theo thời gian có biên độ của ngoại lực không đổi, còn tần số thay đổi được Khi tần số của ngoại lực là 4 Hz và 7 Hz thì biên độ dao động của vật
có cùng giá trị 10 cm Khi tần số của ngoại lực là 5 Hz thì biên độ dao động của
vật có thể nhận giá trị nào sau đây?
A 12 cm B 10 cm C 8 cm D 7 cm
Ví dụ 1.6 Một con lắc dao động tắt dần có năng lượng dao động tỉ lệ với bình
phương biên độ dao động Cứ mỗi chu kì dao động biên độ của nó giảm 3% Sau mỗi dao động năng lượng dao động của nó giảm
(2) Câu hỏi đánh giá NL “tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí” bài “Dao động tắt dần Dao động cưỡng bức Hiện tượng cộng hưởng” (sách
Vật lí 11 – KNTT)
Ở phần đánh giá NL “tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ vật lí” bằng
câu hỏi nhiều lựa chọn thì chỉ nên dừng lại ở cấp độ biết và hiểu Vì để thể hiện năng lực này trọn vẹn hơn HS phải kết nối được tri thức với kinh nghiệm sống, hiểu biết về thế giới tự nhiên từ đó luận giải vấn đề Như vậy ở mức độ vận dụng nên đưa vào ở dạng thức câu hỏi đúng/ sai thì hiệu quả đánh giá NL sẽ tốt hơn
- Cấp độ biết: HS nhận ra, mô tả được các sự vật, hiện tượng liên quan đến vật lí trong tự nhiên
Ví dụ 1.7 Tục ngữ có câu “thùng rỗng kêu to” nhằm ám chỉ những người năng
lực và trình độ hạn chế nhưng lại hay khoe khoang, tự mãn, đánh bóng bản thân làm như mình rất giỏi Dưới góc nhìn vật lí thì đây là hiện tượng
A phản xạ B cộng hưởng C giao thoa D nhiễu xạ
- Cấp độ hiểu: HS phân tích vấn đề để nêu được phán đoán, giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên bằng kiên thức vật lí
Trang 2117
Ví dụ 1.8 Một trong những công nghệ đảm bảo an toàn
cho các tòa nhà cao tầng ở Nhật bản là “con lắc thép
khổng lồ” Người ta sẽ lắp đặt một con lắc thép có khối
lượng rất lớn trên nóc tòa nhà Tác dụng của con lắc đó
là
A làm tăng tuổi thọ của tào nhà, chống hư mòn do môi trường
B giảm sự hấp thụ nhiệt của tòa nhà khi thời tiết nắng nóng
C giảm sự rung chuyển của tòa nhà khi có động đất
A làm kết cấu xây dựng bên trong tòa nhà vững chắc hơn
- Cấp độ vận dụng: HS sử dụng ngôn ngữ vật lí, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng để
biểu đạt được quá trình và kết quả tìm hiểu; đưa ra được quyết định xử lí cho vấn
đề đã tìm hiểu, đề xuất được ý kiến khuyến nghị vận dụng kết quả tìm hiểu, nghiên cứu, hoặc vấn đề nghiên cứu tiếp
Ví dụ 1.9 Năm 1940, người ta xây dựng một
chiếc cầu treo qua eo biển Tacoma ở nước Mỹ
Cầu có khả năng chịu được nhiều ô tô tải trọng
lớn đi qua nhưng đã đổ sập chỉ dưới tác dụng
của một cơn gió Nguyên nhân của tai nạn này
là do
A gió thổi thẳng đứng từ trên xuống
B tần số giật của gió quá lớn
C tần số gió giật bằng tần số dao động riêng của cầu gây ra cộng hưởng
D Chiều dài của cây cầu quá lớn nên biên độ dao động vượt giới hạn
(3) Câu hỏi đánh giá NL “vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học” bài “Dao động tắt dần Dao động cưỡng bức Hiện tượng cộng hưởng” (sách Vật lí 11 –
KNTT)
- Cấp độ biết: Biết vận dụng kiến thức đã học vào một tình huống cụ thể ở mực tái hiện (tức là HS đã được biết đến trong bài học thông qua sách giáo khoa hoặc các hoạt động học tập trên lớp)
Chẳng hạn HS đã được GV định hướng tìm hiểu thí nghiệm về dao động cưỡng bức và đã biết sự phụ thuộc của biên độ dao động cưỡng bức vào độ lệch giữa tần số của lực cưỡng bức và tần số riêng của hệ dao động Vì vậy, để đánh
giá NL “vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học” của HS ở cấp độ biết có thể sử dụng
câu hỏi như sau:
Trang 2218
Ví dụ 1.10.Trong thí nghiệm về dao động cưỡng bức của các
con lắc đơn (1); (2); (3); (4) như hình bên, chiều dài dây treo
các con lắc tương ứng là 28 cm; 40 cm; 50 cm; 20 cm Con lắc
điều khiển (Đ) được điều chỉnh có chiều dài 35 cm và kích thích
cho nó dao động Con lắc đơn dao động cưỡng bức với biên độ
Ví dụ 1.11 Tiến hành thí nghiệm khảo sát dao động cưỡng bức của một con lắc
lò xo trong 4 môi trường không khí; nước; dầu nhớt loãng; dầu nhớt đậm đặc thì
có được các đồ thị như 4 hình vẽ dưới đây
Trang 2319
Ví dụ 1.12 Bạn Nam xách một xô nước đi tưới cây trên sân trường,
thấy nước trong xô sóng sánh (dao động) bèn nảy ra ý tưởng xác
định chu kì dao động riêng của khối nước trong xô Sau nhiều lần
thử nghiệm Nam nhận thấy, nếu bước đi thẳng đều với tốc độ cỡ 2
bước/giây (độ dài mỗi bước chân như nhau) thì nước trong xô sóng
sánh mạnh nhất Từ đó, Nam xác định được gần đúng chu kì dao
động riêng của nước trong xô là
A 1,00 s B 2,00 s C 0,25 s D 0,50 s
3.2 Câu trắc nghiệm đúng sai
Đây là dạng thức câu hỏi trắc nghiệm hoàn toàn mới đối với cả HS và GV,
nó không đơn thuần là “câu hỏi đúng/sai” truyền thống, HS chỉ cần lựa chọn đúng hoặc sai cho mỗi câu hỏi Dạng thức “câu hỏi trắc nghiệm đúng sai” mà Bộ Giáo
dục và Đào tạo đưa ra trong đề minh họa gồm có 4 lệnh hỏi cho mỗi câu hỏi Bốn lệnh hỏi này tạo thành một câu hỏi nhằm đánh giá toàn diện hơn một vấn đề bao
gồm 4 ý (a, b, c, d) có mức độ tư duy tăng dần Cách cho điểm cũng cho thấy sự
phân hóa mạnh về cấp độ năng lực của câu hỏi
Chúng ta biết rằng mỗi năng lực hoặc thành phần cụ thể của năng lực đều
có nhiều biểu hiện Dạng thức “câu hỏi trắc nghiệm đúng sai” theo CT GDPT
2018 nhằm đánh giá những biểu hiện của một năng lực hoặc các thành phần năng
lực đó Vì vậy, khi xây dựng “câu hỏi trắc nghiệm đúng sai” GV cần nhận thức
rõ các biểu hiện của năng lực hoặc thành phần năng lực mà mình muốn đánh giá thông qua việc khai thác một nội dung (kiến thức, kĩ năng) hoặc kết hợp nhiều nội dung Trên cơ sở đó, chúng ta cũng thấy rằng 4 lệnh hỏi trong 1 câu hỏi nên hỏi
về một vấn đề hoàn chỉnh theo mức độ tăng dần của cấp độ tư duy
Qua tìm hiểu, nghiên cứu đề minh họa 2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
và các nội dung về đổi mới trong kiểm tra, đánh giá NL của HS chúng tôi đề xuất
quy trình thiết kế, xây dựng “câu hỏi trắc nghiệm đúng sai” theo dạng thức mới
như sau:
Trang 2420
a) Thiết kế câu hỏi trắc nghiệm đúng sai sử dụng đánh giá trong quá trình học tập và kiểm tra thường xuyên
(1) Xác định đơn vị kiến thức cần đánh giá NL của HS:
Để xây dựng câu hỏi sử dụng trong đánh giá quá trình và kiểm tra thường xuyên thì GV dựa vào nội dung bài học lựa chọn phần kiến thức cần đánh giá
Cũng cần chú ý rằng dạng thức câu hỏi này có 4 lệnh hỏi và nó tạo thành một logic thống nhất, vì vậy cần chọn những đơn vị kiến thức phù hợp
(2) Xác định năng lực cần đánh giá:
GV dựa vào yêu cầu cần đạt và đối tượng HS để xác định rõ các NL mà HS cần đạt được thông qua nội dung bài học, ngoài ra GV cần xác định rõ dạng thức câu hỏi trắc nghiệm đúng sai dùng để đánh giá thành phần NL nào là phù hợp với từng nội dung cụ thể của bài học
(3) Tìm kiếm thông tin và xây dựng ý tưởng:
Để có được bài tập mới, gây hứng thú cho HS và đồng thời đạt được mục đích đánh giá NL của HS hiệu quả thì công đoạn này GV phải thực sự đầu tư thời gian, trí lực và tâm huyết
GV có thể tìm kiếm thông tin liên quan đến đơn vị kiến thức cần đánhgiá
NL của HS qua internet, tài liệu giảng dạy, báo, tạp chí khoa học, thực tiễn cuộc sống, …sau đó kết nối thông tin, xâu chuỗi với kiến thức HS đã được học để hình thành ý tưởng thiết kế câu hỏi
(4) Viết câu hỏi:
Sau khi đã có ý tưởng cho câu hỏi thì GV tiến hành viết câu hỏi dựa trên ý tưởng đó với một số điểm cần chú ý sau đây:
Trang 2521
- Phần dẫn rõ ràng, mô tả đúng bản chất hiện tượng vật lí, nếu trích dẫn sự kiện, hiện tượng đã từng xảy ra thì cần nói rõ địa điểm, thời điểm xảy ra
- Hình vẽ, bảng biểu, đồ thị, ảnh cần rõ nét, có tính thẩm mỹ và đảm bảo đọc được số liệu nếu có
- Với các bài toán mô hình, lý tưởng hóa cũng cần chỉ rõ để HS nắm bắt thông tin từ đó HS mới có thể xử lý tình huống theo đúng mục đich sư phạm của câu hỏi
- Các lệnh hỏi ở đây là các kết luận liên quan đến vấn đề nêu ra ở phần dẫn
và HS cần tư duy để xác định là kết luận đưa ra đúng hay sai GV viết các lệnh hỏi nên theo thứ tự tăng dần cấp độ tư duy
Ví dụ 3.2.1: Xây dựng “câu hỏi trắc nghiệm đúng sai” cho bài 22 “Cường
độ dòng điện” (Sách vật lí 11 -KNTT)
Mục I, trong bài học có 2 nội dung chính là tìm hiểu thí nghiệm và định nghĩa cường độ dòng điện, viết công thức tính cường độ dòng điện Với nội dung liên quan định nghĩa, công thức thì HS cần có NL tái hiện và hiểu cách áp dụng
công thức, vì vậy chúng ta nên sử dụng dạng thức “câu hỏi trắc nghiệm nhiều lựa chọn” để đánh giá HS sẽ phù hợp hơn Ở phần thí nghiệm thì đòi hỏi HS phải hiểu
rõ thí nghiệm; cách tiến hành thí nghiệm, tác dụng và hoạt động của các thiết bị trong thí nghiệm Vì vậy, nội dung này đòi hỏi HS phải có NL về thực nghiệm,
NL phân tích và khái quát hóa vấn đề Để đánh giá các NL thành phần này của
HS thì rõ ràng là dạng thức “câu hỏi trắc nghiệm đúng sai” sẽ mang lại hiệu quả
sư phạm cao hơn
Từ phân tích trên chúng tôi thiết kế hai câu hỏi trắc nghiệm đúng sai cho hai thí nghiệm trình bày trong sách giáo khoa để sử dụng trong hoạt động hình thành kiến thức mới của HS như sau:
Câu 1: Thiết kế thí nghiệm như hình vẽ
bên Đóng khóa k thì đèn sáng
a) Dòng điện chạy qua bóng đèn làm nó phát
sáng (Đ)
b ) Độ sáng của bóng đèn tăng theo cường độ
dòng điện đi qua nó Do đó, cường độ dòng điện đặc trưng cho tác dụng mạnh hay yếu của dòng điện (Đ)
c) Khi dịch con chạy C của biến trở về phía M thì điện trở của mạch điện tăng lên (S)
Trang 2622
d) Khi dịch con chạy C về phía N thì độ sáng của đèn giảm và số chỉ Ampe
kế cũng giảm (S)
Câu 2: Thiết kế thí nghiệm như hình vẽ
bên R0 là điện trở bảo vệ; Rbt là biến trở; N là
nam châm điện Đóng khóa k thì thấy một số
ghim giấy ở phía dưới bị hút dính vào nam châm
điện
a) N là nam châm nên khi chưa đóng k thì
N vẫn có thể hút các ghim giấy ở phía dưới nó (S)
b) Tác dụng của nam châm lên các ghim giấy là tác dụng cơ học của dòng
điện chạy trong nam châm gây ra (S)
c) Số chỉ ampe kế càng lớn thì số lượng ghim giấy bị hút lên nam châm càng nhiều chứng tỏ tác dụng từ mà dòng điện gây ra càng mạnh (Đ)
d) Khi dịch con chạy C dịch chuyển về phía N thì độ lớn lực từ nam châm
điện tác dụng lên các ghim giấy giảm theo (Đ)
Mục II, có 3 nội dung chính là: (1) Dòng điện chạy trong dây dẫn kim loại; (2) Liên hệ giữa cường độ dòng điện với mật độ và tốc độ của các hạt mang điện; (3) Bài tập vận dụng và gợi ý mở rộng kiến thức trong thực tiễn Chúng ta thấy rằng có thể kiểm tra năng lực nhận thức vật lí ở nội dung (1) và (2): Biết bản chất dòng điện trong kim loại; Hiểu được các đại lượng vật lí ảnh hưởng đến cường độ dòng điện chạy trong dây dẫn kim loại; Vận dụng để xác định được tốc độ chuyển động có hướng của electron trong dây dẫn kim loại khi có dòng điện chạy qua Từ
đó, chúng ta có cơ sở thiết kế bài tập sau đây cho hai phần kiến thức ở (1) và (2) như sau:
Câu 3: Đồng có mật độ electron tự do là n = 8,45.1028 electron/m3 Một dây dẫn bằng đồng có hình dạng trụ tròn, tiết diện đều, đường kính tiết diện là d
= 2 mm Cho dòng điện không đổi có cường độ I = 5 A chạy qua dây dẫn
a) Dòng điện chạy trong dây đồng là dòng dịch chuyển có hướng của các electron tự do (Đ)
b) Điện lượng chuyển qua tiết diện ngang của dây dẫn trong 2 phút là 10C (S)
c) Để diễn tả một diễn biễn nào đó trong đời sống xảy ra rất nhanh người
ta có thể dùng câu “nhanh như điện giật” Trong dây đồng, dòng dịch chuyển
có hướng của các electron tạo ra dòng điện nên tốc độ chuyển động của các electron này sẽ rất lớn, cỡ tốc độ ánh sáng (S)
d) Biết dây đồng nói trên có chiều dài 12 cm Thời gian ngắn nhất để một electron chuyển động có hướng đi hết chiều dài sợi dây là 1000 giây (Đ)
Phần bài tập vận dụng và mở rông kiến thức chúng ta có thể dựa trên gợi
ý của sách giáo khoa Ở mục “Em có thể”:
Trang 27Câu 4: Một chiếc sạc dự phòng có thông số ghi như hình bên
a) Thông số 5000 mAh cho ta biết dung lượng pin
của sạc dự phòng (Đ)
b) Pin này có thể cấp dòng điện 0,5 A liên tục trong
10 giờ (Đ)
c) Khi dùng sạc dự phòng thì toàn bộ năng lượng điện tích trữ trên pin sẽ
từ từ được chuyển hóa hoàn toàn thành năng lượng dùng cho điện thoại hoạt động (S)
d) Một học sinh nạp đầy pin của sạc dự phòng này và cắm vào smartphon
để chơi Game Liên Quân Sau khi sử dụng liên tục 6 giờ 30 phút thì pin hết năng lượng Cường độ dòng điện chạy qua pin lúc đang hoạt động là 0,83A (S)
b Thiết kế câu hỏi trắc nghiệm đúng sai sử dụng trong kiểm tra định kì, thi học sinh giỏi, thi đánh giá năng lực
Cũng tương tự như thiết kế câu hỏi cho quá trình đánh giá NL thường xuyên, thiết kế câu hỏi trắc nghiệm đúng sai sai dung cho kiểm tra định kì hoặc các kì thi cũng cần qua 4 bước:
(1) Xác định đơn vị kiến thức cần đánh giá NL của HS: thể hiện ở khung
ma trận
(2) Xác định năng lực cần đánh giá: thể hiện ở bảng năng lực và cấp độ tư
duy
(3) Tìm kiếm thông tin và xây dựng ý tưởng: Với bài kiểm tra định kì, bài
thi thì cần bao quát nội dung, liên thông nhiều đơn vị kiến thức theo một mạch thống nhất trong mỗi câu hỏi
(4) Viết câu hỏi: Tuân thủ các yêu cầu như đã nói ở phần trên
Ví dụ 3.2.2: Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm đúng sai cho đề thi chọn đội tuyển học sinh giỏi tỉnh lớp 11 (theo dự thảo cấu trúc đề thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh của Sở giáo dục và đào tạo Nghệ An năm 2025)
Câu hỏi 1 là câu hỏi thuộc chương trình lớp 10, nội dung đơn vị kiến thức thuộc phần năng lượng, động lượng Đánh giá năng lực nhận thức vật lí trong 2 lệnh hỏi a) và b) ở mức độ biết và hiểu Đánh giá năng lực tìm hiểu thế giới tự
Trang 28Từ đây, chúng ta sẽ dễ dàng liên tưởng đến trò chơi bắn bi, bóng rổ, bóng
đá, … các trò chơi, môn thể thao này vừa gần gũi với HS vừa dễ dàng khai thác các lệnh hỏi Tiếp đến, chúng ta tìm hiểu thông tin về môn thể thao: luật chơi, cấu trúc sân chơi, dụng cụ chơi, … để lên ý tưởng bài tập và đưa ra số liệu phù hợp thực tiễn Chẳng hạn đối với môn bóng rổ thì cần biết: khối lượng quả bóng, chiều cao của rổ, kích thước tấm chắn bóng …Các lệnh hỏi ở cấp độ biết và hiểu thì chúng ta có thể lí tưởng hóa điều kiện bài toán, hỏi về quy luật chuyển động Lệnh hỏi ở cấp độ vận dụng thì chúng ta cho số liệu đề học sinh dựa vào hiểu biết thức tiễn và vận dụng kiến thức vật lí về năng lượng, động lượng để giải quyết bài toán
Câu 1: Bóng rổ là môn thể thao được nhiều bạn trẻ
yêu thích, nó giúp người chơi rèn luyện thể chất và
giúp các bạn trẻ tăng chiều cao hiệu quả Một quả
bóng rổ có khối lượng m = 600 g được một học sinh
ném về phía rổ và đã ghi điểm sau khi bóng chạm
vào bảng chắn bóng
a) Nếu bỏ qua sức cản của không khí thì quá trình chuyển động của bóng trong
không khí chỉ có sự chuyển hóa giữa động năng và thế năng trọng trường của quả bóng (Đ)
b) Động năng quả bóng lúc ở vị trí cao nhất bằng không (S)
c) Sau khi được ném đi thì động năng của quả bóng giảm liên tục về không (S) d) Ngay lúc vừa được ném đi, bóng cách mặt sân bóng 2 m và có tốc độ v0 = 7,5
m/s Sau đó, bóng va chạm vào bảng chắn bóng ở vị trí cách mặt sân bóng 3,15
m Lực cản không khí đã chuyển hóa một phần cơ năng của quả bóng thành nhiệt nên tốc độ quả bóng ngay trước lúc chạm bảng chắn bằng 5,81 m/s (S)
Tương tự cho các câu hỏi tiếp theo, chúng ta dựa trên đơn vị kiến thức, bảng năng lực và cấp độ tư duy, khung ma trận để thiết kế nội dung câu hỏi phù hợp với yêu cầu đánh giá năng lực của đề thi
Ngoài các tính huống liên quan thế giới tự nhiên, trò chơi, thể thao, ứng dụng khoa học kỹ thuật thì khai thác bài toán thí nghiệm cũng cho ta nhiều ý tưởng
để khai thác, giúp đề thi đánh giá năng lực HS rất hiệu quả
Trang 2925
Câu 2: Một quả cầu nhựa được
gắn vào đầu thanh quay, cách trục
quay của mô tơ 20 cm như hình
bên Khi mô tơ quay đều với tốc độ
4 vòng/s thì thấy bóng của quả cầu
trên bức tường thẳng đứng ở phía
sau dao động
a) Dao động của bóng quả cầu trên bức tường là dao động điều hòa (Đ)
b) Tần số dao động của bóng quả cầu trên bức tường là 4 Hz (Đ)
c) Ánh sáng trong thí nghiệm là chùm ánh sáng song song nằm ngang Khi thanh
quay được 2 vòng thì bóng của quả cầu trên bức tường đi được quãng đường là
80 cm (S)
d) Khoảng thời gian ngắn nhất để bóng của quả cầu đi được quãng đường 100 cm
xấp xỉ bằng 0,29 s (Đ)
Câu 3: Hình vẽ bên là sơ đồ cấu tạo của đơn giản
của một đồng hồ quả lắc và cơ cấu truyền năng
lượng: gồm một thanh treo nhẹ được coi như một
con lắc đơn có chiều =1m; quả nặng có khối
lượng m 100g.= Để duy trì dao động cho quả lắc
người ta phải bù năng lượng cho nó một cách phù
hợp Nguồn năng lượng là dây cót và cơ cấu truyền
năng lượng cho quả lắc là hệ thống bánh răng và
c) Thực tế có lực cản tác dụng lên quả lắc coi lực cản không đổi Sau mỗi lần qua
vị trí cân bằng thì biên độ góc giảm 2.5.10 rad.−3 Quả lắc được thả không vận tốc ban đầu từ vị trí dây treo lệch góc 0,15 rad so với phương thẳng đứng Nếu không được bù năng lượng, thì sau 1 phút (kể từ lúc bắt đầu dao động) quả lắc sẽ dừng lại (Đ)
d) Mỗi lần kéo dây cót, thế năng đàn hồi được tích lũy là 256 J Quả lắc được bù năng lượng phù hợp nên nó dao động điều hòa với biên độ góc là 0,15 rad Hiệu
Trang 3026
suất của quá trình bù năng lượng cho quả lắc là 75% Mỗi lần kéo dây cót thì đồng
hồ chạy được trong 7 ngày mới dừng lại (S)
Câu 4: Ở dưới đây là hình ảnh thí nghiệm sóng dừng trên một sợi dây đàn hồi dài
80 cm
a) Khi xuất hiện sóng dừng trên dây như hình H.2 thì điểm dao động với biên độ
lớn nhất trên sợi dây đàn hồi lúc này gọi là bụng sóng (Đ)
b) Khi máy phát âm tần hiển thị trên màn hình 0,00 Hz thì bộ rung không hoạt
động; khi bật máy phát âm tần ở chế độ 22,00 Hz thì cần rung của bộ rung sẽ tạo
ra dao động có tần số 11,00 Hz lan truyền trên sợi dây đàn hồi (S)
c) Dựa vào hình H.2 ta xác định được tốc độ truyền sóng trên sợi dây này là 17,6
m/s (Đ)
d) Nếu sóng có tần số f, bước sóng λ thì tốc độ sóng là v = λ.f Do đó, khi tăng
tần số máy phát đến 44,00 Hz thì lúc này tốc độ truyền sóng trên dây cũng sẽ tăng đến 35,2 m/s (S)
Câu hỏi 5 có đơn vị kiến thức thuộc phần dòng điện, mạch điện với yêu cầu đánh giá năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn Ứng dụng của các thiết bị điện trong đời sống rất đa dạng và gần gũi với HS, tuy nhiên cũng cần lựa chọn các thiết bị để dễ khai thác kiến thức phù hợp với chương trình vật
lí phổ thông Trong câu hỏi này chúng tôi lựa chọn về ứng dụng của bóng đèn, thông qua bài toán để cho HS hiểu rõ thông số kỹ thuật của đèn, từ thông số tính toán để so sánh hiệu quả kinh tế của đèn LED so với đèn sợi đốt khi sử dụng trong thắp sáng
Trang 3127
Câu 5: Hình ảnh dưới đây là các thông tin về bóng đèn sợi đốt và bóng đèn
LED được đưa ra trong sách vật lí 11 – KNTT trang 108
Giản đồ phân phối năng lượng
Thông số ghi trên đèn 220 V – 100 W 220 V – 20 W
Cho hai bóng đèn này hoạt động ở đúng hiệu điện thế định mức của chúng
a) Phần trăm điện năng hao phí do tỏa nhiệt trên bóng đèn sợi đốt là 95% và trên
đèn LED là 20% (Đ)
b) Đèn sợi đốt có công suất lớn hơn đèn LED nên nó sáng hơn đèn LED (S) c) Mỗi ngày, một đèn bật sử dụng 5 giờ thì sau 1 tháng (30 ngày) tổng tiền điện
phải chi trả cho 2 bóng hoạt động là 36000 đồng (Đ)
d) Tổng chi phí tiền mua bóng và tiền điện sau 30000 giờ sử dụng của đèn sợi đốt
là 6240000 đồng và của đèn LED là 1248000 đồng (Đ)
3.3 Câu trắc nghiệm trả lời ngắn
Đối với câu trắc nghiệm trả lời ngắn chỉ có một lệnh hỏi nên việc thiết kế tình huống không phức tạp như câu hỏi trắc nghiệm đúng sai Tuy nhiên, khi thiết
kế câu hỏi dạng này cần chú ý cách viết lệnh hỏi để HS trả lời đúng thiết kế đáp
án thì phần mềm chấm điểm mới chấm chính xác điểm cho HS Đáp án chỉ cho phép HS ghi 4 ký tự vào 4 ô và đồng thời tô kín các ô tương ứng, như vậy câu hỏi cần chỉ rõ đơn vị, lấy bao nhiêu số sau dấu phẩy thập phân
a) Câu trắc nghiệm trả lời ngắn mức độ biết
Câu hỏi trắc nghiệm trả lời ngắn thì đáp án thường biểu diễn qua số liệu cụ thể để ghi vào bảng đáp án Cấp độ biết thì chỉ yêu cầu HS tái hiện, nhận ra kiến thức đã học, do đó phương án thiết kế mức độ biết ở dạng thức câu hỏi này hiệu quả nhất là dùng hình ảnh Sử dụng hình ảnh sách giáo khoa hoặc hình ảnh trong trong cuộc sống trên đó có thể hiện số liệu liên quan kiến tức vật lí cần đánh giá sao cho HS chỉ cần quan sát hình ảnh là có thể đưa ra được thông số để trả lời câu hỏi
Trang 3228
Ví dụ 3.3.1:
Câu 1: Hình bên là ảnh chụp của một nguồn điện không
đổi Thông số ghi trên nguồn điện cho biết nguồn điện này
có dung lượng điện là bao nhiêu mA.h? (500 mA.h)
Câu 2: Hình bên là ảnh chụp của một tụ điện Tụ điện này
có điện dung là bao nhiêu µF? (100 µF)
b) Câu trắc nghiệm trả lời ngắn mức độ hiểu
Tình huống thiết kế trong câu hỏi mức độ hiểu thì HS chỉ cần sử dụng không quá hai bước tư duy để đưa ra chính xác đáp án GV khi thiết kế câu hỏi này cần đứng ở vị thế của HS đưa ra các lệnh hỏi phù hợp như vậy mới đảm bảo phân loại các cấp độ trong đánh giá NL của HS
Ví dụ 3.3.2:
Câu 1: Hình bên là ảnh chụp của một tụ điện Điện tích tối
đa mà tụ điện này có thể tích được là bao nhiêu? (tính theo
đơn vị C) (0,04)
Câu 2: Đường đặc tuyến vôn – ampe của một điện trở R có
dạng như hình vẽ dưới đây Điện trở R có giá trị bằng bao
nhiêu? (tính theo đơn vị Ω) (80)
c) Câu trắc nghiệm trả lời ngắn mức độ vận dụng
Câu hỏi ở cấp độ vận dụng có thể chia thành vận dụng thấp và vận dụng cao Câu hỏi vận dụng thấp là các tình huống quen thuộc, HS chỉ cần sử dụng 3 đến 4 thao tác tư duy để tìn ra đáp án bài tập Câu hỏi vận dụng cao dùng để phân loại các HS có NL tốt, vì vậy cần đưa ra tình huống mới, hoặc các tình huống trong đời sống, tự nhiên, thí nghiệm, … HS buộc phải vận dụng cao các kiên thức
kĩ năng đã học mới có thể giải quyết vấn đề
Ví dụ 3.3.2:
Câu 1: Để cảnh báo hạn chế tốc độ xe tham gia
giao thông khi bắt đầu vào khu vực đông dân cư
hoặc khu vực nguy hiểm người ta thiết kế các gờ
giảm tốc ngang trên đường như hình ảnh bên Khi
xe chạy qua các gờ này tài xế sẽ cảm nhận được
khung xe dao động (xe bị xóc)
Trang 3329
Nếu khoảng cách hai gờ giảm tốc liên tiếp là 40 cm, xe chạy với tốc độ 36 km/h thì tần số xóc của xe là bao nhiêu Hz ? (25)
Câu 2: Để chuẩn đoán hình ảnh trong y học, người
ta thường sử dụng tia X (hay tia Rơn-ghen) để chụp
X quang và chụp CT Cho rằng vùng điện trường
giữa hai cực của ống tia X (hình vẽ bên) là một điện
trường đều, chùm electron phát ra từ catôt đến anôt
là chùm hẹp, song song và có tốc độ ban
đầu không đáng kể Hiệu điện thế giữa hai cực là 120 kV Động năng của electron khi đến anôt là bao nhiêu MeV? Biết điện tích eletron là 1,6.10-19C và
1 MeV = 1,6.10-13J (0,12)
Câu 3: Hai vật dao động điều hòa cùng tần số, đồ
thị li độ theo thời gian tương ứng là hai đường hình
sin (1) và (2) như hình vẽ bên Tại thời điểm vật (1)
có li độ x1 = 1 cm và đang chuyển động nhanh
dần thì vật2) có li độ bằng bao nhiêu cm? (Kết quả lấy đến 1 chữ số sau dấu phẩy thập phân) (-4,7)
Câu 4: Trong thí nghiệm giao thoa ánh sáng với khe Y-âng, khoảng cách hai khe
hẹp là 1,5 mm; khoảng cách các khe hẹp đến màn quan sát là 2 m Nguồn sáng S phát được đồng thời hai ánh sáng đơn sắc có bước sóng lần lượt là λ1 = 0,45 µm (màu lam) và λ2 (màu đỏ) Biết ánh sáng đỏ có bước sóng trong khoảng từ 0,64
µm đến 0,76 µm Trên màn quan sát thấy trong khoảng giữa hai vân liên tiếp cùng màu vân trung tâm có 4 vân sáng màu lam Trên màn quan sát, khoảng cách nhỏ nhất từ vân sáng trung tâm đến vị trí mà ánh sáng tại đó bị triệt tiêu hoàn toàn là bao nhiêu mm? (1,5 mm)
Trang 3430
4 Xây dựng ma trận đề và đề kiểm tra định kì, đề thi khảo sát chất lượng,
đề học sinh giỏi cấp trường theo chương trình GDPT 2018
4.1 Xây dựng ma trận đề và đề kiểm tra giữa kì 1 môn vật lí 11 theo cấu trúc đề minh họa 2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Phần I (4,50 điểm): Câu trắc nghiệm nhiều phương án lựa chọn
HS trả lời từ câu 1 đến câu 18 Mỗi câu hỏi HS chỉ chọn một phương
án Mỗi câu trả lời đúng được 0,25 điểm
- Phần II (4,00 điểm): Câu trắc nghiệm đúng sai
HS trả lời câu 1 câu 4 Trong mỗi ý a), b), c), d) ở mỗi câu, HS chọn
đúng hoặc sai
Điểm tối đa của 01 câu hỏi là 1 điểm
+ HS chỉ lựa chọn chính xác 01 ý trong 1 câu hỏi được 0,1 điểm
+ HS chỉ lựa chọn chính xác 02 ý trong 1 câu hỏi được 0, 25 điểm + HS chỉ lựa chọn chính xác 03 ý trong 1 câu hỏi được 0,50 điểm + HS lựa chọn chính xác cả 04 ý trong 1 câu hỏi được 1 điểm
- Phần III (1,50 điểm): Câu trắc nghiệm trả lời ngắn
HS trả lời câu 1 đến câu 6 Tô đáp án theo yêu cầu của đề ra vào phiếu trả lời Mỗi câu đúng được 0,25 điểm
b) Bảng năng lực và cấp độ tư duy
Trang 354 Động năng
Thế năng Sự chuyển hóa năng lượng trong dao động điều hòa
5 Dao động tắt dần Dao động cưỡng bức
Hiện tượng cộng hưởng
Trang 36- Nhận biết được các dao động cơ học
- Biết dao động điều hòa: Đồ thị li độ hình sin; phương trình li độ là hàn số sin hoặc cosin
- Biết tên gọi, ý nghĩa của các đại lượng vật lí trong phương trình li độ
- Vận dụng được mối quan hệ giữa dao động điều hòa và chuyển động tròn đều
để xác định các đại lượng vật lí của dao động
độ lệch pha của dai dao động cùng chu
Trang 3733
- Vận dụng được các số liệu trên đồ thị
để mô ta dao động điều hòa
- Xác định được độ lệch pha của hai dao động
3 Vận tốc, gia
- Vận dụng được đồ thị; mối quan hệ giữa các đại lượng vận tốc, gia tốc, vận tốc đề xác định các đại lượng vật lí của dao động điều hòa
- Vận dụng các kiên thức đã học vào các tình huống thực tiễn
4 Động
năng
Thế năng Sự
chuyển
hóa năng
lượng trong dao động
điều hòa
- Động năng và thế năng của vật dao động điều hòa biến thiên tuần hoàn theo thời gian
- Nhận biết được dạng độ thị động năng, thế năng theo li độ x
- Biểu thức tính động năng, thế năng
- Động năng, thế năng của con lắc lò xo;
con lắc đơn
- Đọc được thông số trên đồ thị động năng, thế năng theo x
Trang 3834
- Hiểu được sự chuyển hóa năng lượng trong dao đông điều hòa của con lắc đơn, con lắc lò xo
- Hiểu điều kiện để cơ năng bảo toàn
- Vận dụng được đồ thị động, năng thế năng theo x
- Vận dụng được các biểu thức động năng, thế năng, bảo toàn cơ năng
5 Dao động tắt
dần Dao
động cưỡng bức
Hiện tượng cộng hưởng
Nhận biết được các loại dao động: tự do;
tắt dần; cưỡng bức, hiện tượng cộng hưởng
- Hiểu rõ đặc điểm của cacs loại dao động: tự do; tắt dần; cưỡng bức, hiện tượng cộng hưởng
- Lấy được ví dụ trong thực tế về các loại dao động trên
Vận dụng hiểu biết về các loại dao động vào giải quyết các tình huông trong thực tiễn
4.1.3 Đề kiểm tra và đáp án
a) Đề kiểm tra
PHẦN 1 Câu trắc nghiệm nhiều phương án lựa chọn Thí sinh trả lời từ câu 1
đến câu 18 Mỗi câu hỏi thí sinh chỉ chọn một phương án
Câu 1 (B): Một vật dao động điều hòa dọc theo trục tọa độ Ox Phương trình li
độ của vật là x=A cos( + t ), trong đó A, , là các hằng số Pha dao động tại thời điểm t là
Trang 3935
Câu 3 (B): Đối với vật dao động điều hòa thì tần số là số dao động vật thực hiện
trong
A 1 giây B 1 chu kì dao động
Câu 4 (B): Một vật dao động điều hòa dọc theo trục tọa độ Ox Phương trình li
Câu 5 (B): Một vật dao động điều hòa dọc theo trục tọa độ Ox Phương trình li
độ của vật là x=A cos( + t ), trong đó A, , là các hằng số Gia tốc cực đại của vật là
li độ?
A Hình (1) B Hình (2) C Hình (3) D Hình (4) Câu 8 (B) Dao động tắt dần là dao động có
A biên độ giảm dần theo thời gian B động năng giảm dần theo thời gian
C chu kỳ giảm dần theo thời gian D thế năng giảm dần theo thời gian
Trang 4036
Câu 9 (B): Biên độ của dao động cưỡng bức không phụ thuộc vào
A biên độ của ngoại lực
B độ lớn lực cản môi trường
C độ chênh lệch giữa tần số của ngoại lực và tần số riêng của hệ
D pha ban đầu của ngoại lực
Câu 10 (H): Pit-tông của một động cơ đốt trong dao động trên một
đoạn thẳng dài 20 cm và làm cho trục khuỷu của động cơ quay đều
Biên độ dao động của một điểm trên mặt pit-tông là
A 10 cm B 20 cm B 5 cm D 40 cm
Câu 11 (H): Một vật dao động điều hòa trên trục
Ox Hình bên là đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của
li độ x vào thời gian t Tần số góc của dao động là
Câu 13 (H): Một vật dao động điều hòa với chu kì 2 giây và biên độ 4 cm Tốc
độ của vật khi đi qua vị trí có li độ 2cm là
A 2π√3 cm/s B 2√3 cm/s C 2π cm/s D π√3 cm/s Câu 14 (H): Khi vật dao động điều hòa đi từ vị trí biên về vị trí cân bằng thì
A động năng của nó giảm dần B động năng của nó tăng dần
C cơ năng của nó giảm dần D cơ năng của nó tăng dần
Câu 15 (H): Dao động cơ học của người khi ngồi trên xe buýt dừng ở trạm đón
khách là dao động
A duy trì B tắt dần C cưỡng bức D tự do Câu 16 (VD): Đồ thị biểu diễn vận tốc theo thời gian
của một vật dao động điều hòa có dạng như hình vẽ
bên Tần số dao động của vật là
A 2 Hz B 0,5 Hz C 1 Hz D 4 Hz