1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Skkn cấp tỉnh sử dụng sơ Đồ tư duy và trò chơi trong giờ Ôn tập chương hóa học 11 nhằm phát huy tính tích cực của học sinh

56 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng sơ đồ tư duy và trò chơi trong giờ ôn tập chương hóa học 11 nhằm phát huy tính tích cực của học sinh
Tác giả Nguyễn Đức Hải Cường
Trường học Trường THPT Nam Đàn 2
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023 - 2024
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 6,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I: MỞ ĐẦU (6)
    • 1. Lý do chọn đề tài (6)
    • 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (7)
    • 3. Mục đích nghiên cứu (7)
    • 4. Nhiệm vụ nghiên cứu (7)
    • 5. Phương pháp nghiên cứu (8)
    • 6. Những đóng góp của đề tài (8)
  • PHẦN II: NỘI DUNG (9)
    • 1. Cơ sở lý luận (9)
      • 1.1. Đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi HS THPT (9)
      • 1.2. Sơ đồ tư duy trong dạy học (10)
        • 1.2.1. Khái niệm về sơ đồ tư duy (10)
        • 1.2.2. Sử dụng SĐTD trong dạy học (10)
        • 1.2.3. Những lợi ích của SĐTD (11)
      • 1.3. Tính tích cực trong dạy và học (11)
    • 2. Cơ sở thực tiễn (12)
      • 2.1. Thực trạng của việc sử dụng SĐTD và trò chơi trong dạy học Hóa học nhằm tạo tính tích cực học tập cho học sinh trường THPT (12)
      • 2.2. Thực trạng tính tích cực trong học tập của học sinh ở trường THPT Nam Đàn 2 hiện nay (13)
    • 3. Lồng ghép sơ đồ tư duy và các trò chơi trong tiết ôn tập chương Hoá học 11 – Sách giáo khoa KNTT với cuộc sống. Nhằm phát huy năng lực sáng tạo và tính tích cực trong học tập của học sinh trường THPT Nam Đàn 2 (15)
      • 3.1. Tổng quan về chương trình Hoá học 11 – Sách giáo khoa KNTT với cuộc sống.10 3.2. Thiết kế sơ đồ tư duy ở các bài ôn tập chương hoá học 11 – Sách giáo khoa kết nối tri thức với cuộc sống (15)
        • 3.2.1. Tổ chức dạy học bằng sơ đồ tư duy (15)
        • 3.2.2. Việc sử dụng sơ đồ tư duy trong giờ luyện tập chương (17)
      • 3.3. Hướng dẫn sử dụng một số trò chơi dạy học trong dạy học môn Hoá học (18)
        • 3.3.1. Trò chơi Domino (19)
        • 3.3.2. Trò chơi Bingo (20)
        • 3.3.3. Trò chơi sức mạnh đồng đội (21)
        • 3.3.4. Cuộc đua kỳ thú (23)
        • 3.3.5. Trò chơi mảnh ghép kỳ diệu (24)
      • 3.4. Ví dụ minh họa về việc sử dụng sơ đồ tư duy và trò chơi học tập trong giờ ôn tập môn Hóa học 11 (26)
        • 3.4.1. Sử dụng SĐTD và trò chơi học tập trong tiết ôn tập chương 1: “Cân bằng hoá học” – Hóa học 11. Sách giáo khoa KNTT với cuộc sống (26)
        • 3.4.2. Sử dụng SĐTD và trò chơi học tập trong tiết ôn tập chương 2: “Nitrogen và Sulfur” – Hoá học 11 (Sách giáo khoa KNTT với cuộc sống) (31)
        • 3.4.3. Sử dụng SĐTD và trò chơi học tập trong tiết ôn tập chương 5: “Dẫn xuất (35)
        • 3.4.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm (39)
        • 3.4.2. Kê hoạch thực nghiệm sư phạm (39)
        • 3.4.3. Kết quả thực nghiệm sư phạm (39)
          • 3.4.3.1. Kết quả đánh giá trước khi áp dụng biện pháp (39)
          • 3.4.3.2. Kết quả đánh giá sau khi áp dụng biện pháp (40)
      • 3.5. Khảo sát tính cấp thiết và khả thi của đề tài (44)
        • 3.5.1. Mục đích khảo sát (44)
        • 3.5.2. Nội dung và phương pháp khảo sát (44)
          • 3.5.2.1. Nội dung khảo sát (44)
          • 3.5.2.2. Phương pháp khảo sát (44)
        • 3.5.3. Đối tượng khảo sát (45)
        • 3.5.4. Kết quả khảo sát về tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp (45)
          • 3.5.4.1. Khảo sát GV (45)
          • 3.5.4.2. Khảo sát học sinh (46)
  • PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (49)
    • 1. Kết luận (49)
    • 2. Kiến nghị. .......................................................................................................... 44 Tài liệu tham khảo (49)
  • Phụ lục (52)

Nội dung

Trong giờ ôn tập chương, việc tổ chức cho các em tham gia học tập hoạt động nhóm hay cá nhân để trình bày được nội dung kiến thức giúp các em khắc sâu, nhớ lâu thì sơ đồ tư duy SĐTD là p

NỘI DUNG

Cơ sở lý luận

1.1 Đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi HS THPT

Lứa tuổi thanh niên, bắt đầu từ dậy thì và kéo dài đến khi trở thành người lớn, thường từ 15 đến 18 tuổi, là giai đoạn phát triển mạnh mẽ về cả thể chất và tinh thần Trong giai đoạn này, học sinh THPT dễ bị kích thích và có những biểu hiện tương tự như tuổi thiếu niên Sự phát triển trong thời kỳ đầu của thanh niên không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý và nhân cách mà còn tác động đến các lựa chọn trong cuộc sống của họ.

Ở lứa tuổi này, mối quan hệ bạn bè trở nên quan trọng, với tình bạn đóng vai trò then chốt trong việc khám phá bản thân Học sinh trong giai đoạn này thường khát khao tự nhận thức nhưng chưa thể hiện thực hóa bản thân, dẫn đến việc so sánh với bạn bè để kiểm tra giá trị cá nhân Hoạt động nhóm không chỉ gắn kết tình bạn mà còn tạo cơ hội cho các em cùng tiến bộ và phấn đấu để đạt được những thành tựu tương đương với bạn bè.

Ở lứa tuổi này, học sinh thể hiện tính độc lập và chủ động sáng tạo trong nhận thức, một phẩm chất tâm lý đặc trưng được hình thành từ môi trường xã hội và tâm lý của các em Tuy nhiên, phẩm chất này còn phụ thuộc vào phương pháp dạy học của giáo viên và điều kiện của nhà trường Các em cũng có xu hướng thích thể hiện bản thân, tìm tòi, sáng tạo và tham gia vào các hoạt động vui chơi trong quá trình học tập.

Việc áp dụng SĐTD và trò chơi trong quá trình ôn tập chương học không chỉ giúp học sinh củng cố kiến thức mà còn phát triển những phẩm chất và năng lực quan trọng như năng lực tự chủ và tự học.

Năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, cùng với năng lực ngôn ngữ là những yêu cầu quan trọng được quy định trong Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ban hành ngày 26 tháng 12 năm 2018.

2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018

Thông qua SĐTD và trò chơi trong phần ôn tập chương, học sinh có thể nắm vững kiến thức và vận dụng một cách năng động, kích thích trí tưởng tượng và trí nhớ Điều này giúp phát triển tư duy mềm dẻo, khả năng xử lý thông minh trong các tình huống phức tạp, đồng thời tăng cường khả năng áp dụng kiến thức vào cuộc sống, giúp học sinh dễ dàng thích nghi với những thay đổi trong xã hội.

1.2 Sơ đồ tư duy trong dạy học

1.2.1 Khái niệm về sơ đồ tư duy

Theo Tony Buzan, người sáng tạo ra Sơ Đồ Tư Duy (SĐTD), SĐTD là một phương pháp ghi chép sáng tạo sử dụng màu sắc và hình ảnh để làm nổi bật và phát triển các ý tưởng Ở trung tâm sơ đồ là một ý tưởng hoặc hình ảnh chủ đạo, từ đó các nhánh chính được phát triển, kết nối với ý tưởng trung tâm Phương pháp này không chỉ giúp tổ chức tư duy một cách hiệu quả mà còn kích thích sự sáng tạo, cho phép các ý tưởng nảy sinh và phát triển một cách tự nhiên.

- Một SĐTD thông thường có cấu trúc 2 phần chính:

+ Các từ hình ảnh (hay từ khoá)

+ Các đường nối liên kết chúng với nhau

Sơ đồ trung tâm là hình ảnh hoặc từ khoá thể hiện ý tưởng chủ đạo, với ý trung tâm kết nối các hình ảnh hoặc từ khoá cấp 1 qua các nhánh chính Từ các nhánh này, có thể phân nhánh tiếp đến các từ khoá cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn Quá trình phân nhánh tiếp tục tạo ra sự liên kết giữa các khái niệm và hình ảnh, từ đó xây dựng một bức tranh tổng thể mô tả rõ ràng và đầy đủ về ý trung tâm.

1.2.2 Sử dụng SĐTD trong dạy học

Trong quá trình học tập, việc tạo hứng thú cho học sinh là vô cùng quan trọng Hứng thú học tập thể hiện qua sự tập trung, say mê và độ sâu rộng của sự quan tâm Nó phát sinh từ sự hấp dẫn về mặt cảm xúc của nội dung học tập và đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả học tập.

Sử dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) trong dạy học không chỉ tạo hứng thú cho học sinh (HS) mà còn giúp các em hiểu sâu hơn và ghi nhớ lâu hơn Phương pháp này khuyến khích HS phát biểu sáng tạo, tăng cường tính độc lập và phát triển tư duy Đối với giáo viên (GV), SĐTD giúp tiết kiệm thời gian, tăng tính linh hoạt trong bài giảng và quan trọng nhất là hỗ trợ HS nắm bắt kiến thức thông qua các liên kết chặt chẽ giữa các khái niệm.

Việc sử dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) không chỉ giúp học sinh (HS) học tập tích cực mà còn tối ưu hóa tiềm năng của não bộ Để thiết lập SĐTD hiệu quả, HS cần chú ý đến bố cục màu sắc, đường nét, các nhánh và sắp xếp ý tưởng một cách súc tích, trực quan, dễ hiểu và dễ tiếp thu Qua đó, SĐTD góp phần phát triển khả năng tư duy và thẩm mỹ của HS.

Sử dụng SĐTD giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách tự nhiên và hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập Việc này không chỉ giúp HS chiếm lĩnh kiến thức dễ dàng mà còn nâng cao hiệu quả học tập của các em.

Học sinh trong nhóm có thể thảo luận và đóng góp ý kiến để hoàn thiện SĐTD Do SĐTD là sơ đồ mở, không yêu cầu các nhóm phải có kiểu dáng hay màu sắc giống nhau, giáo viên chỉ cần hướng dẫn học sinh về mặt kiến thức.

1.2.3 Những lợi ích của SĐTD

SĐTD là một công cụ hữu ích giúp học sinh nâng cao hiệu quả học tập bằng cách kích thích cả hai bán cầu não, từ đó giúp các em tiếp thu kiến thức nhanh chóng, hiểu sâu sắc hơn và ghi nhớ nhiều chi tiết hơn.

- SĐTD giúp HS khái quát được tổng quan kiến thức

- SĐTD giúp HS có nhiều sáng tạo trong việc thiết kế SĐTD theo cách riêng của bản thân hay nhóm riêng

SĐTD không phải là một tác phẩm hội hoạ, vì vậy cần tránh việc trang trí cầu kỳ và thiết kế rối mắt Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách thiết kế SĐTD sao cho dễ nhìn, dễ hiểu và bao quát nhất.

Cơ sở thực tiễn

2.1 Thực trạng của việc sử dụng SĐTD và trò chơi trong dạy học Hóa học nhằm tạo tính tích cực học tập cho học sinh trường THPT

Hiện nay, việc sử dụng SĐTD và trò chơi trong các tiết ôn tập chương đã được giáo viên áp dụng, nhưng chủ yếu chỉ trong các tiết thao giảng hoặc dạy thi giáo viên giỏi các cấp Một số giáo viên vẫn ít áp dụng phương pháp này trong các tiết dạy thông thường.

- Tôi đã tiến hành khảo sát một số GV trong trường và thu được kết quả ở bảng sau:

Theo khảo sát, số lượng giáo viên sử dụng sách giáo dục đào tạo (SĐTD) và trò chơi trong các giờ ôn tập chương còn hạn chế, chủ yếu áp dụng trong các giờ thao giảng, nghiên cứu bài học hoặc trong các kỳ thi giáo viên giỏi (GVG).

Việc áp dụng SĐTD và tổ chức trò chơi trong giảng dạy đã trở nên quen thuộc với học sinh, tuy nhiên, nhiều giáo viên chỉ sử dụng SĐTD để củng cố nội dung bài học trong các hoạt động củng cố tự biên soạn Điều này dẫn đến việc học sinh tiếp thu một cách thụ động, thiếu sự tham gia sáng tạo và tích cực trong quá trình học tập.

Một số giáo viên đã áp dụng trò chơi trong giảng dạy, nhưng chủ yếu chỉ sử dụng trong hoạt động giới thiệu bài mới với các trò như ô chữ hay lật mở mảnh ghép để đoán hình ảnh Việc sử dụng trò chơi trong lớp học chưa được thực hiện một cách đa dạng và phong phú, cần cải thiện để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

8 phát huy tính tích cực, ít có sự lôi cuốn, hấp dẫn các em

Trong dạy học, việc kết hợp các kỹ thuật dạy học tích cực như trò chơi học tập, SĐTD và hoạt động nhóm là rất quan trọng, giúp phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học Hiện nay, nhiều giáo viên đang chú trọng đến việc áp dụng những phương pháp này trong tiết dạy, nhằm đổi mới cách thức giảng dạy Đặc biệt, việc sử dụng SĐTD kết hợp với các trò chơi đa dạng trong các tiết luyện tập không chỉ mang lại hiệu quả cao mà còn tạo ra môi trường học tập thú vị cho học sinh.

2.2 Thực trạng tính tích cực trong học tập của học sinh ở trường THPT Nam Đàn 2 hiện nay

Một số học sinh vẫn còn nhút nhát và thiếu chủ động trong các hoạt động nhóm, dẫn đến việc tham gia chỉ theo sự phân công mà không tích cực đóng góp Ý thức trách nhiệm của các em đối với nhiệm vụ còn hạn chế, và mức độ hoàn thành nhiệm vụ chưa đáp ứng yêu cầu của hoạt động nhóm Hầu hết các em vẫn giữ thái độ bị động khi tham gia vào các hoạt động này.

Học sinh thường ngại giao tiếp và trao đổi nhóm, dẫn đến sự phối hợp và tôn trọng ý kiến chưa cao Việc tranh luận giữa các em cũng còn hạn chế Đặc biệt, khả năng quản lý thời gian của các em chưa hiệu quả, ảnh hưởng đến việc tổ chức hoạt động nhóm một cách thành công.

Trường chúng tôi có đầu vào học sinh tương đối thấp, với đa số các em chủ yếu tập trung vào các môn xã hội để vượt qua kỳ thi tốt nghiệp THPT Điều này dẫn đến việc các em chưa phát triển đam mê và hứng thú với các môn Khoa học Tự nhiên, đặc biệt là môn Hóa học.

Để hiểu rõ hơn về thực trạng học tập, tôi đã tiến hành khảo sát mức độ hứng thú trong học tập và sự tham gia hoạt động nhóm của học sinh lớp 11 tại trường THPT Nam Đàn 2 trước khi thực hiện thí nghiệm.

Theo số liệu, phần lớn học sinh không hứng thú với môn Hóa học, đặc biệt trong các buổi luyện tập và ôn tập chương, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng tiếp thu kiến thức của các em.

Nhiều học sinh hiện nay chỉ tham gia hoạt động nhóm hoặc chuẩn bị bài ở nhà một cách thụ động và bị ép buộc, dẫn đến việc thiếu hứng thú trong học tập Điều này không đáp ứng được yêu cầu của chương trình GDPT 2018 Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần áp dụng các kỹ thuật dạy học và phương pháp giảng dạy sáng tạo nhằm thu hút học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tạo sự hứng thú không chỉ trong giờ ôn tập chương mà còn trong toàn bộ môn Hóa học.

Để thu hút học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập trong giờ ôn tập, tôi áp dụng nhiều biện pháp nhằm khuyến khích sự chủ động trong việc chiếm lĩnh kiến thức Những phương pháp này không chỉ giúp học sinh hứng thú hơn mà còn tạo điều kiện cho các em phát triển kỹ năng tự học hiệu quả.

Và từ đó các em sẽ tích cực hơn học tập trong các giờ ôn tập chương nói riêng cũng như yêu thích môn Hoá học nói chung.

Lồng ghép sơ đồ tư duy và các trò chơi trong tiết ôn tập chương Hoá học 11 – Sách giáo khoa KNTT với cuộc sống Nhằm phát huy năng lực sáng tạo và tính tích cực trong học tập của học sinh trường THPT Nam Đàn 2

3.1 Tổng quan về chương trình Hoá học 11 – Sách giáo khoa KNTT với cuộc sống Đối với sách giáo khoa Hoá học 11 – Bộ KNTT với cuộc sống có 6 chương:

✓ Chương 1: Cân bằng hoá học

✓ Chương 3: Đại cương về hoá học hữu cơ

✓ Chương 5: Dẫn xuất Halogen – Alcohol – Phenol

✓ Chương 6: Hợp chất Carbonyl – Carboxylic acid

Sau mỗi chương, học sinh sẽ có bài ôn tập để củng cố kiến thức đã học Tiết ôn tập này giúp các em vận dụng kiến thức vào giải bài tập và áp dụng vào các vấn đề thực tiễn xung quanh.

Để phát triển năng lực và kỹ năng cần thiết trong môn Hóa học, các em cần phải yêu thích và có hứng thú với việc học tập bộ môn này Sự tích cực trong học tập sẽ giúp các em phát huy tối đa khả năng của mình.

3.2 Thiết kế sơ đồ tư duy ở các bài ôn tập chương hoá học 11 – Sách giáo khoa kết nối tri thức với cuộc sống

3.2.1 Tổ chức dạy học bằng sơ đồ tư duy:

SĐTD là phương pháp ghi chép giúp củng cố kiến thức một cách logic, với cách thức ghi chép đơn giản, rõ ràng và dễ nhớ Phương pháp này không chỉ kích thích hứng thú học tập mà còn nâng cao khả năng sáng tạo và cải thiện khả năng ghi nhớ của não bộ.

- GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài học thông qua sơ đồ tư duy được thực hiện qua các bước sau:

Bước 1: Cho học sinh quan sát một số SĐTD mẫu

Bước 2: Học sinh học cách thiết kế SĐTD bằng cách hoàn thiện các sơ đồ tư duy do

GV vẽ sẵn nhưng còn thiếu nhánh, thiếu nội dung sau khi học xong một phần kiến thức Bước 3: Thực hành vẽ SĐTD trên giấy

Bước 4: Cho học sinh lên thuyết trình

- GV hướng dẫn học sinh lưu ý khi vẽ sơ đồ tư duy:

+ Vẽ chủ đề ở trung tâm:

• Chủ đề trung tâm vẽ giữa mảnh giấy để từ đó phát triển ra các ý khác

• Chủ đề trung tâm nên được làm nổi bật, dễ nhớ Có thể sử dụng những hình vẽ liên quan giúp gợi nhớ tốt

+ Vẽ thêm các tiêu đề phụ:

• Tiêu đề phụ vẽ gắn liền với trung tâm

• Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra nhiều hướng một cách dễ dàng hơn

+ Trong mỗi tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý và các chi tiết hỗ trợ:

• Ngắn gọn, súc tích, chỉ nên sử dụng từ khóa và hình ảnh

Khuyến khích sử dụng biểu tượng và cách viết tắt để tiết kiệm không gian và thời gian trong việc vẽ Việc áp dụng các mật mã, ký hiệu riêng và phong cách cá nhân sẽ giúp bạn tạo nên SĐTD độc đáo cho chính mình.

+ Ở bước cuối cùng, hãy thêm những hình ảnh nhằm giúp các ý chính thêm nổi bật, giúp lưu giữ chúng vào trí nhớ tốt hơn

Chúng ta sẽ dần nâng cao mức độ sử dụng SĐTD trong các buổi học tiếp theo Giáo viên yêu cầu học sinh vẽ SĐTD để hệ thống hóa nội dung bài cũ, kiểm tra kiến thức đã học, soạn bài mới và khái quát, củng cố kiến thức của một chương học.

- GV giới thiệu cho học sinh một số phần mềm sử dụng vẽ SĐTD như IMIND MAP, EDRAWMIND để học sinh làm quen và sử sụng

SĐTD vẽ bằng phần mềm IMIND MAP:

SĐTD vẽ bằng phần mềm EDRAWMIND:

Sơ đồ tư duy là công cụ linh hoạt, cho phép biến tấu dưới nhiều hình thức khác nhau Điều này không yêu cầu tất cả học sinh phải trình bày theo một kiểu mẫu cố định Thay vào đó, giáo viên nên khuyến khích học sinh sáng tạo và thu thập ý tưởng, chỉ cần chỉnh sửa nội dung kiến thức cho phù hợp.

3.2.2 Việc sử dụng sơ đồ tư duy trong giờ luyện tập chương

Việc sử dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) để hệ thống hóa kiến thức không chỉ áp dụng cho từng bài học riêng lẻ mà còn giúp tổ chức và liên kết kiến thức trong toàn bộ chương trình học SĐTD là công cụ hiệu quả để cải thiện khả năng ghi nhớ và hiểu biết, giúp người học dễ dàng nắm bắt các mối quan hệ giữa các khái niệm.

Trong quá trình giảng dạy 13 chương, tôi nhận thấy rằng các bài luyện tập chương đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố và hệ thống hóa kiến thức, cũng như rèn luyện kỹ năng giải bài tập hóa học Các tiết luyện tập trước đây thường được cấu trúc thành hai phần.

Phần 1: Kiến thức cần nắm vững Phần 2: Bài tập Ở phần 1 sẽ hệ thống lại các kiến thức theo kiểu dùng lời nên nếu dạy học theo phương pháp truyền thống thì phần này sẽ tẻ nhạt, nhàm chán, chỉ là GV hỏi và học sinh trả lời như sách giáo khoa, hiệu quả sẽ không cao, khả năng ghi nhớ của HS cũng sẽ bị hạn chế

Sử dụng SĐTD để hệ thống hóa kiến thức một chương trên giấy giúp học sinh dễ nhớ và hình dung mạch kiến thức một cách rõ ràng Việc trình bày nội dung ngắn gọn, có mối liên hệ chặt chẽ và kèm theo hình ảnh minh họa sẽ hỗ trợ học sinh trong việc ghi nhớ lâu dài Để dạy phần này, giáo viên có thể triển khai các phương pháp phù hợp nhằm tối ưu hóa hiệu quả học tập.

Khi bắt đầu áp dụng phương pháp dạy học mới, giáo viên chuẩn bị một sơ đồ tư duy dạng điền khuyết để học sinh làm quen Trong các giờ học tiếp theo, học sinh sẽ được phân công lập sơ đồ tư duy tại nhà, có thể theo nhóm hoặc cá nhân, dựa trên những nội dung cần ôn tập Khi trở lại lớp, giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét một số sơ đồ tư duy, chọn ra sơ đồ hoàn chỉnh nhất và yêu cầu đại diện nhóm hoặc cá nhân trình bày Cuối cùng, cả lớp sẽ nhận xét và bổ sung ý kiến để hoàn thiện sơ đồ, giúp học sinh ghi chép và nắm vững kiến thức bài học.

Sơ đồ tư duy (SĐTD) có thể được biến tấu thành nhiều hình thức khác nhau, như sơ đồ hệ thống hóa kiến thức và sơ đồ câm, nhằm phù hợp với nội dung học tập Điều này mang lại sự phong phú và đa dạng trong cách trình bày của học sinh, giúp quá trình sử dụng SĐTD trở nên thú vị và không nhàm chán.

Sau giờ luyện tập, học sinh sẽ dễ dàng ôn tập và xem lại kiến thức một cách nhanh chóng SĐTD giúp hệ thống hóa kiến thức theo từng bài, chương và phần, đặc biệt là trong việc so sánh, tích hợp và khắc sâu kiến thức một cách bền vững Để SĐTD phát huy hiệu quả tối ưu, cần kết hợp với các phương pháp và kỹ thuật dạy học khác.

3.3 Hướng dẫn sử dụng một số trò chơi dạy học trong dạy học môn Hoá học

Trò chơi giáo dục là hình thức tương tác giúp học sinh giải quyết vấn đề học tập một cách hứng thú và tích cực Việc tổ chức các trò chơi trong giờ luyện tập không chỉ kích thích sự tham gia của học sinh mà còn giúp các em chiếm lĩnh kiến thức hiệu quả và đạt được thành công trong học tập.

Học tập hiệu quả có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào nội dung và khối lượng kiến thức cần ôn tập Việc kết hợp giữa hoạt động nhóm và cá nhân sẽ giúp tiết học trở nên lôi cuốn, sinh động, tạo cảm giác thoải mái và hứng thú cho học sinh Giáo viên cần linh hoạt áp dụng các trò chơi phù hợp, từ trò chơi offline như sử dụng giấy ghi chép hay bảng cho cá nhân và nhóm, đến các trò chơi trực tuyến, nhằm tăng cường sự hứng khởi trong quá trình học tập của học sinh.

Một số lưu ý khi tổ chức trò chơi học tập:

Ngày đăng: 09/03/2025, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 được Bộ giáo dục và đào tạo ban hành tại Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/20218 Khác
2. Chương trình giáo dục phổ thông môn Hóa học (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT – BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Khác
3. Sách giáo khoa Hóa học 11– bộ Kết nối tri thức, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
4. Chuyên đề học tập Hóa học 11 – bộ Kết nối tri thức, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
5. Sách bài tập Hóa học 11 – bộ Kết nối tri thức, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
6. Sách giáo viên Hóa học 11 – bộ Kết nối tri thức, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
7. Tài liệu tập huấn về các phương pháp dạy học tích cực Khác
8. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên Khác
9. Tư liệu internet về các cách thức tổ chức trò chơi học tập trong dạy học Khác
10. Tài liệu sử dụng phần mềm IMIND MAP và EDRAWMIND về thiết kế Sơ đồ tư duy Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

-  GV  chuẩn  bị  các  bảng  BINGO  từ  Web  “Myfreebingocards”  với  30  bảng  BINGO miễn phí (3x3, 4x4, 5x5) và hệ thống câu hỏi chứa đựng nội dung kiến thức  cần kiểm tra - Skkn cấp tỉnh sử dụng sơ Đồ tư duy và trò chơi trong giờ Ôn tập chương hóa học 11 nhằm phát huy tính tích cực của học sinh
chu ẩn bị các bảng BINGO từ Web “Myfreebingocards” với 30 bảng BINGO miễn phí (3x3, 4x4, 5x5) và hệ thống câu hỏi chứa đựng nội dung kiến thức cần kiểm tra (Trang 20)
HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG NHÓM THAM GIA CÁC TRÒ CHƠI - Skkn cấp tỉnh sử dụng sơ Đồ tư duy và trò chơi trong giờ Ôn tập chương hóa học 11 nhằm phát huy tính tích cực của học sinh
HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG NHÓM THAM GIA CÁC TRÒ CHƠI (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w