Tác Tác giả Nguyễn Thanh Bình khi nói về bản chất của việc hoạt động đọc hiểu văn bản trong môn Ngữ văn trong bài “Dạy học đọc hiểu TP văn chương theo loại thể trong nhà trường THPT” đã
Trang 1Năm học: 2023 - 2024
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI ĐỌC HIỂU NHẰM NÂNG CAO
NĂNG LỰC ĐỌC THẨM MĨ TRONG DẠY HỌC VĂN BẢN MÙA XUÂN CHÍN
CỦA HÀN MẶC TỬ-SGK NGỮ VĂN 10 TẬP 1 BỘ KẾT NỐI TRI THỨC VỚI
CUỘC SỐNG
Lĩnh vực: Ngữ văn
Trang 2Năm học: 2023 - 2024
SỞ GD & ĐT NGHỆ AN TRƯỜNG THPT PHAN ĐĂNG LƯU
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI ĐỌC HIỂU NHẰM NÂNG CAO
NĂNG LỰC ĐỌC THẨM MĨ TRONG DẠY HỌC VĂN BẢN MÙA XUÂN CHÍN
CỦA HÀN MẶC TỬ-SGK NGỮ VĂN 10 TẬP 1 BỘ KẾT NỐI TRI THỨC VỚI
Số điện thoại: 0979.024.342
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Bước sang thế kỉ XXI, thế giới có nhiều chuyển biến mạnh mẽ về mọi mặt trong đó có
lĩnh vực giáo dục Trong nhà trường phổ thông, hướng tiếp cận nội dung không còn phù hợp nữa Cùng với sự bùng nổ thông tin và khối tri thức nhân loại nên giáo dục không thể chỉ hướng theo nội dung mà còn phải chú ý tới cách dạy, cách học Vì vậy hơn bao giờ hết, việc đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực cho người học là mục tiêu cần thiết để giúp HS có thể tự khám phá kiến thức, tự khẳng định mình trong một cộng đồng rộng lớn, đa dạng, phức tạp, có nhiều đổi mới
và để tạo ra sự thích ứng cao trước mọi hoàn cảnh của cuộc sống Yêu cầu này đã được nêu ra từ Nghị quyết số 88/2014/QH13 “tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa trí, đức, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh” Luật Giáo dục
2019 cũng xác định mục tiêu giáo dục “nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam , phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”
1.2 Là môn học thuộc lĩnh vực giáo dục ngôn ngữ và văn học, mang tính công cụ, thẩm mĩ,
nhân văn, môn Ngữ văn góp phần tạo tiền đề cho việc học tập các môn học khác Chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018 đã xác định mục tiêu chương trình: “Hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất chủ yếu: Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm; Bồi dưỡng
tâm hồn, hình thành nhân cách và phát triển cá tính” và “Góp phần giúp HS phát triển các năng
lực chung: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo” Để từ đó HS “biết tiếp nhận, đánh giá các văn bản văn học nói riêng, các sản phẩm giao tiếp và các giá trị thẩm mĩ nói chung trong cuộc sống” Như vậy, có thể thấy, môn Ngữ văn
có vai trò lớn trong việc giúp HS hình thành và phát triển phẩm chất tốt đẹp cùng với các năng lực cốt lõi, năng lực chuyên môn để giúp các em sống, học tập và làm việc hiệu quả Trong dạy
học môn Ngữ văn đọc và hiểu được xem là khâu “đột phá”, và “khởi điểm của môn Ngữ văn là dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản” Điểm mới trong dạy học môn Ngữ văn theo Chương
trình 2018 chính là nhằm hình thành và phát triển cho HS cách đọc, kĩ năng đọc để HS có thể đọc hiểu các văn bản cùng loại Bên cạnh đó, HS cần được bồi dưỡng giáo dục về cái đẹp, về lòng trắc ẩn cùng các giá trị nhân văn… Sử dụng phương pháp dạy đọc thẩm mĩ trong dạy học văn góp phần đạt được mục tiêu ấy Dạy đọc thẩm mĩ sẽ hướng tới phát triển năng lực, phẩm chất
và nhân cách của HS, trước hết là năng lực tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc và cả những giá
trị nhân văn của con người, hướng tới các giá trị Chân - Thiện - Mĩ
1.3 Trong dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông (THPT), đọc hiểu giữ vai
trò quan trọng không thể thiếu, trong đó có đọc thẩm mĩ Đọc thẩm mĩ trong dạy học tác phẩm văn chương nói chung, dạy học thơ trữ tình nói riêng ở trường THPT được xem là cách dạy học hiệu quả và phù hợp, đáp ứng được một phần yêu cầu của dạy học theo Chương trình PGPT môn Ngữ văn mới Một trong những biện pháp tích cực nhằm nâng cao hiệu quả đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình hướng tới phát triển phẩm chất và NL người học là việc sử dụng hệ thống
câu hỏi đọc hiểu phù hợp Vì vậy trong khuôn khổ đề tài này, tôi xin đề xuất giải pháp Xây dựng hệ thống câu hỏi đọc hiểu nhằm nâng cao hiệu quả đọc thẩm mĩ trong dạy học văn bản Mùa Xuân chín của Hàn Mặc Tử - SGK lớp 10 tập 1 bộ KNTTVCS Đây là một trong những
biện pháp quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả dạy học đọc thẩm mĩ trong thơ trữ tình ở trường THPT hiện nay
Trang 52 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Một trong những mục tiêu quan trọng của việc dạy học tiếng mẹ đẻ nói chung, dạy học Ngữ văn nói riêng là rèn luyện cho HS sử dụng thành thạo bốn kĩ năng cơ bản, đó là: nghe, nói, đọc,
viết Trong bốn kĩ năng này, học càng lên cao thì kĩ năng về “đọc” (trong đó có đọc hiểu) càng
được quan tâm chú ý hơn Ở Việt Nam, thuật ngữ “Đọc hiểu” được xuất hiện trong Chương trình, sách giáo khoa phổ thông từ năm 2000 Nó thể hiện sự đổi mới tư tưởng dạy học Ngữ văn của nước ta
Theo quan điểm của tác giả Trần Đình Sử trong bài viết “Đọc hiểu văn bản - một khâu đột phá trong dạy học TP văn chương”, thì “Dạy văn là dạy cho HS năng lực đọc, kĩ năng đọc để giúp các em có thể đọc hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại… Do đó, hiểu bản chất môn Văn là môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự bản chất của văn học, vừa hiểu đúng thực chất việc dạy văn là dạy năng lực, phát triển năng lực chủ thể của HS” Tuy nhiên từ đặc trưng của
môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông vừa là môn học công cụ, vừa là môn học nghệ thuật, có chức năng giáo dục thẩm mĩ, do vậy môn Ngữ văn có vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực cho HS, đặc biệt là năng lực đọc hiểu văn bản
Tác Tác giả Nguyễn Thanh Bình khi nói về bản chất của việc hoạt động đọc hiểu văn bản
trong môn Ngữ văn trong bài “Dạy học đọc hiểu TP văn chương theo
loại thể trong nhà trường THPT” đã nhấn mạnh: “Bản chất của hoạt động đọc hiểu văn chương là quá trình lao động sáng tạo mang tính thẩm mĩ nhằm phát hiện ra những giá trị của TP trên cơ
sở phân tích đặc trưng văn bản Đọc văn chương với bất kì hình thức nào cũng là một dạng thức lao động… Hoạt động đọc văn đòi hỏi người đọc trước hết phải huy động khả năng tri giác ngôn ngữ để tìm hiểu không chỉ các tầng ý nghĩa của lớp từ và câu mà còn thức tỉnh cảm xúc, khơi dậy năng lực liên tưởng, tưởng tượng để tái hiện thế giới nghệ thuật của TP”
Như vậy, có thể thấy, hoạt động đọc hiểu trong môn Ngữ văn có những điểm khác cơ bản
so với hoạt động đọc hiểu ở các bộ môn khoa học khác đó là hoạt động sáng tạo mang tính thẩm
mỹ hay nói cách khác đó là đọc thẩm mỹ Sự khác nhau đó thể hiện rất rõ ở việc khi đọc hiểu các
bộ môn khoa học khác người đọc tập trung cơ bản vào những gì được tiếp thu thông tin, được duy trì, được “mang đi”, và được “áp dụng” Khi đó, người đọc cần ngôn ngữ rõ ràng và dễ hiểu Ngược lại, đọc thẩm mĩ quan tâm đến điều xảy ra trong suốt sự kiện đọc thực tế Đọc thẩm mĩ
liên quan đến trải nghiệm những gì đang đọc Khi đó, người đọc được “sống với TP” Tác giả Nguyễn Thị Hạnh trong bài viết “Một số cơ sở khoa học để xác định nội dung học tập trong chương trình môn Ngữ văn ở trường phổ thông sau 2015” đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục,
số 96, tháng 3 năm 2013 đã cho rằng mục tiêu chung của môn Ngữ văn nhằm: “Phát triển cho học sinh các kĩ năng, đọc, viết, nghe, nói tiếng Việt để HS bộc lộ được bản thân một cách chuẩn mực, sáng tạo và ấn tượng, để HS giao tiếp có hiệu quả trong các tình huống ở nhà trường và ngoài xã hội; Phát triển cho HS kĩ năng đọc truyện, đọc thơ, đọc kịch với tinh thần phê phán và sáng tạo, góp phần phát triển cho HS cảm xúc thẩm mĩ, nuôi dưỡng cho HS tinh thần tôn trọng các
di sản văn hóa của dân tộc và của nhân loại… ” Năng lực đọc thẩm mỹ càng quan trọng hơn
khi đọc hiểu thơ trữ tình
Trong nhiều tài liệu đã có những nghiên cứu về thơ và dạy học thơ ở trường THPT Trong
cuốn Giáo trình Lí luận văn học, tác giả Trần Đình Sử phân tích khá đầy đủ khái niệm chung về thơ ca, trong đó tác giả nhấn mạnh: “Thơ là loại hình văn học sớm nhất của nhân loại Thơ ra đời hầu như cùng một lúc với nhạc, họa, múa, nhảy trong các cuộc tế lễ thần linh, ma thuật thời nguyên thủy” Lamactine thì cho rằng: Thơ là sự hiện thân cho những gì thầm kín nhất của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người và cho những hình ảnh tươi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên Còn Nguyễn Thị Thu Hằng khẳng định: “Thơ là sự bộc lộ trực tiếp thế giới chủ quan của con người, bao gồm cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ qua hệ thống ngôn từ
Trang 6giàu hình ảnh, nhịp điệu, hàm súc và cô đọng” Chính vì vậy, trong cuốn sách “Dạy học phát triển
năng lực môn Ngữ văn trung học phổ thông” do tác giả Đỗ Ngọc Thống chủ biên đã định hướng
cách đọc hiểu văn bản thơ “Đọc văn bản thơ không chỉ có nhiệm vụ tượng thanh các con chữ mà còn tượng hình lên trong “nội quan” của người đọc thế giới hình tượng và chủ thể trữ tình - người phát ngôn, bộc bạch, thổ lộ, giãi bày trong thơ” và “người dạy phải có các cách thức khơi gợi học sinh liên tưởng, tưởng tượng, kết nối với thực tiễn và kinhnghiệm của bản thân để
lí giải và đồng cảm với nhân vật trữ tình” Tác giả Nguyễn Viết Chữ trong cuốn “Phương pháp
dạy học TP văn chương (theo loại thể)” cũng đã trình bày một số phương pháp, biện pháp dạy học tác phẩm văn học theo đặc trưng loại thể, trong đó có thơ trữ tình Theo tác giả, khi dạy TP văn
chương nói chung và thơ trữ tình nói riêng phải xác định được “chất của loại trong thể” Nếu xác định sai thể loại sẽ khiến giáo viên lúng túng, tựa như “mở nhầm cửa, khiến người dạy, người học không đến được hành lang đầy châu báu”
Tóm lại, có thể thấy rằng, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến hoạt động đọc hiểu văn bản, dạy học tác phẩm thơ trữ tình ở trường THPT và các vấn đề liên quan Tuy nhiên, tôi nhận thấy rằng, chưa có công trình nào đề cập đến các biện pháp tổ chức
dạy học đọc thẩm mĩ khi dạy văn bản Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử (Ngữ văn 10 - Bộ sách
Kết nối trí thức với cuộc sống).Việc tìm hiểu, nghiên cứu để nâng cao hiệu quả đọc thẩm mĩ
trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình nói chung và khi dạy văn bản Mùa xuân chín nói riêng sẽ góp
một phần quan trọng trong dạy học môn Ngữ văn, nhất là trong bối cảnh chương trình GDPT
2018 vừa được đưa vào thực hiện như hiện nay
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và địa bàn khảo sát
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề sử dụng phương pháp đọc thẩm mỹ nhằm nâng
cao hiệu quả giờ học khi dạy học phần đọc văn bản Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử (Chương
trình Ngữ văn 10 - Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
- Phạm vi nghiên cứu: sử dụng phương pháp đọc thẩm mỹ nhằm nâng cao hiệu quả giờ học
khi dạy học phần đọc văn bản Mùa xuân chín trong chương trình Ngữ văn 10 của bộ sách Kết nối
tri thức với cuộc sống
3.2 Địa bàn khảo sát
Đề tài tiến hành khảo sát tại trường THPT Phan Đăng Lưu và một số trường THPT trên địa bàn huyện Yên Thành và tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Phan Đăng Lưu
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Khẳng định vai trò của đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình; đề xuất biện
pháp xây dựng câu hỏi đọc hiểu nhằm phát triển năng lực đọc hiểu, phát triển nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn, trí tuệ và tư duy khoa học cho HS
- Nhiệm vụ: Xác định cơ sở khoa học của đề tài; Đề xuất cách xây dựng câu hỏi đọc hiểu
nhằm nâng cao hiệu quả dạy đọc thẩm mỹ khi dạy đọc văn bản Mùa xuân chín; Tiến hành thực
nghiệm để đánh giá hiệu quả của đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp thuộc hai nhóm nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn, cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân loại và hệ thống hoá
- Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê
Trang 76 Dự báo đóng góp của đề tài
- Góp phần đưa ra một số giải pháp phù hợp để rèn luyện, phát triển NLTM khi dạy đọc –
hiểu văn bản Mùa xuân chín trong chương trình Ngữ Văn 10
- Nâng cao hiệu quả dạy học các văn bản thơ nói riêng, môn Ngữ Văn nói chung ở trường THPT hiện nay;
- Tăng sức hấp dẫn của bộ môn, nhằm thu hút HS, khắc phục hiện tượng HS không mặn mà với môn Văn
- Rèn luyện và phát triển NLTM cho học sinh không chỉ trong học tập mà còn trong cuộc sống
7 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của đề tài có 3 chương
Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2 Xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm nâng cao hiệu đọc thẩm mĩ trong dạy học văn bản Mùa xuân chín
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 8NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số vấn đề về câu hỏi và vai trò của câu hỏi trong đọc hiểu Ngữ Văn
1.1.1.1 Khái niệm câu hỏi
Theo Từ điển tiếng Việt, “Hỏi” có nghĩa là nói ra điều cần được chỉ dẫn hoặc cần được làm sáng tỏ “ Câu hỏi” là câu biểu thị sự cần biết hoặc không rõ với những đặc trưng của ngữ điệu
và từ hỏi, còn gọi là câu nghi vấn
Về mặt nội dung, câu hỏi trong dạy học là những yêu cầu, những vấn đề đưa ra cần được
giải quyết trong quá trình tương tác giữa GV và HS Câu hỏi được GV giao cho HS về nhà giải quyết thường được gọi là bài tập Theo đó, một bài tập có thể gồm nhiều câu hỏi khác nhau
Về mặt hình thức,câu hỏi là câu nghi vấn có dấu hỏi ở cuối câu và các cụm từ để hỏi như
Tại sao? Vì sao? Như thế nào?
1.1.1.2 Phân loại câu hỏi
Có nhiều dạng câu hỏi khác nhau gồm: Câu hỏi dạng đóng,câu hỏi dạng mở Các dạng câu hỏi này được thể hiện ở các mức độ:biết, hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo…Bên cạnh đó, cũng có nhiều cách phân loại câu hỏi, dựa vào mục đích sử dụng: Loại câu hỏi và bài tập được xây dựng với mục đích hình thành và phát triển năng lực người học; Loại câu hỏi được
sử dụng trong quá trình dạy học như hình thành kiến thức, củng cố, hoàn thiện kiến thức…Loại câu hỏi được xây dựng theo nội dung phản ánh từ HS, loại câu hỏi được hình thành theo câu trả lời của HS
1.1.1.3 Vai trò của câu hỏi
Trong dạy học nói chung, dạy học môn Ngữ Văn ở trường THPT nói riêng, hệ thống câu hỏi của GV có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi vì đây là một trong những yếu tố quyết định chất lượng và đánh giá khả năng lĩnh hội kiến thức của HS Câu hỏi góp phần kích thích não bộ HS trong giờ học Vì vậy, HS phải suy nghĩ, tái hiện kiến thức cũ, đồng thời thu nạp kiến thức mới,
từ đó có sự liên hệ, áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống, để rồi đưa ra cách giải quyết vấn đề theo lí lẽ riêng mang tính sáng tạo cá nhân của mỗi HS
Câu hỏi đọc hiểu trong môn Ngữ Văn được sử dụng nhằm mục đích hướng dẫn, tổ chức hoạt động đọc hiểu cho HS, giúp HS biết cách đọc và tự mình đọc hiểu tác phẩm văn học Chủ thể của câu hỏi đọc hiểu là GV và cũng có thể là HS Trong dạy học Ngữ Văn ở THPT, hệ thống câu hỏi được xem như một điểm tựa vững chắc giúp GV thực hiện các bước của tiến trình dạy học Đặt câu hỏi là một kĩ thuật dạy học tích cực Vì vậy GV cần xác định rõ mục đích và biết cách đặt câu hỏi tùy thuộc vào từng cấp độ nhận thức của HS để giúp các em suy nghĩ, phát triển
và khám phá kiến thức từ nội dung bài học
1.1.2 Một số vấn đề lí luận về đọc hiểu và đọc thẩm mĩ
1.1.2.1.Đọc hiểu văn bản
Trên thực tế, thuật ngữ “Đọc hiểu” được đưa vào sử dụng trong nhà trường ở Việt Nam
gắn liền với sự thay đổi Chương trình, sách giáo khoa phổ thông của Bộ GD&ĐT từ những năm
2000 Đến nay, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về đọc hiểu Tác giả Nguyễn Thanh Hùng
trong cuốn Kĩ năng đọc hiểu văn (2014), đã khẳng định: “Đọc hiểu có liên quan tới nhiều kĩ năng nằm trong trường hành động đọc Đọc là tiền đề của hiểu Đọc và hiểu có quan hệ phụ thuộc vào nhau và phối hợp với nhau để hiểu trọn vẹn tác phẩm trong quá trình đọc” Tức là hoạt động đọc
hiểu có quan hệ với năng lực đọc, hành động đọc, kĩ năng đọc để nắm vững ý nghĩa của văn bản
Trang 9Đọc hiểu là một quá trình nhận thức phức tạp, đòi hỏi người đọc cần tham gia tích cực trong mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với văn bản
Dưới góc nhìn của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Trọng Hoàn trong cuốn “Dạy học Ngữ văn theo định hướng năng lực”, đọc hiểu văn bản thực chất là: “Quá trình thực hiện cơ chế chuyển mã - từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng và biểu tượng, hình dung và cảm xúc thông qua quá trình tạo nghĩa - từ tiền đề nghĩa tín hiệu và hệ thống, khám phá vẻ đẹp nghệ thuật của ngôn ngữ và nghệ thuật cấu trúc văn bản hướng tới sự tác động tích cực giữa hiệu quả đọc hiểu đối với chủ thể nhận thức…” Quan điểm này cho thấy, đọc hiểu văn bản là một hoạt động trí tuệ,
có tính kiến tạo Đây là một hoạt động, một phương thức tiếp cận và chiếm lĩnh giá trị của văn bản nhằm phát triển năng lực cho HS
Tác giả Trịnh Thị Lan khi bàn về bản chất của hoạt động đọc hiểu lại cho rằng đọc hiểu văn
bản bao gồm nhiều hành động không diễn ra cùng một lúc: Một là hành động nhận diện ngôn ngữ
của văn bản (nhận diện đủ các tín hiệu ngôn ngữ mà người viết dùng để tạo ra văn bản) Tiếp theo
là hành động làm rõ nghĩa của các chuỗi tín hiệu ngôn ngữ (nội dung của văn bản và ý đồ tác động của người viết đến người đọc) Cuối cùng là hành động hồi đáp lại ý kiến của người viết được nêu trong văn bản (Văn bản và dạy học đọc hiểu văn bản ở trường trung học (Vận dụng vào dạy học truyện dân gian), NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội)
Ở phương diện khác, tác giả Trần Đình Sử khẳng định, một trong những lí do
khiến cho HS ngại học văn, chưa rung cảm với văn, chưa chăm học văn là do chưa hiểu được cái hay của văn, cảm thấy văn “khó hiểu”, khó nắm bắt và khó cảm nhận Do đó, nhiệm vụ hàng đầu
của môn Ngữ văn là dạy học sinh đọc hiểu văn Trong bài viết “Đọc hiểu văn như là một khâu đột phá trong nhà trường”, tác giả Trần Đình Sử nêu rõ: “Dạy Văn là dạy cho HS năng lực đọc,
kĩ năng đọc để học sinh có thể đọc - hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc hiểu văn mà trực tiếp nhận ra các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho HS năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mĩ ”
1.1.2.2 Đọc thẩm mĩ
Tác giả Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn “Kĩ năng đọc hiểu văn” cho rằng “Bản chất của hoạt động đọc hiểu văn bản là quá trình lao động sáng tạo, mang tính thẩm mĩ nhằm phát hiện
ra những giá trị của tác phẩm trên cơ sở phân tích đặc trưng văn bản” Như vậy, có thể nói
mức độ cao của đọc hiểu, đó chính là “đọc thẩm mĩ”
Theo “Đại Từ điển tiếng Việt” (Nguyễn Như Ý chủ biên, 1998), “Thẩm mĩ” có nghĩa là
“Khả năng cảm thụ và hiểu biết về cái đẹp” Cảm xúc thẩm mĩ bộc lộ toàn bộ thế giới tâm hồn
cũng như cá tính và những trải nghiệm của một con người, biểu hiện những rung động của chủ thể thẩm mĩ trước đối tượng thẩm mĩ”
Đọc thẩm mĩ là một khái niệm dựa trên quan điểm của nhà nghiên cứu Ngữ văn Hoa Kì -
L Rosenblatt Theo nhà nghiên cứu đọc thẩm mĩ bao gồm quan hệ giữa con người với thế giới tự
nhiên và xã hội Theo đó, ý nghĩa của TP không chỉ mang tính khách quan và hiển thị trên trang văn bản mà nó được hiển thị thông qua cảm xúc, sự kết nối và trải nghiệm của con người Theo
quan điểm của L Rosenblatt “Đọc thẩm mĩ là một quá trình chủ động, người đọc tập trung suy nghĩ và chia sẻ cảm nhận của cá nhân với từng tác phẩm văn học Để tạo ra trải nghiệm sống, người đọc phải chú ý thể hiện cảm xúc, thái độ, ý tưởng, tình huống, tính cách và tình cảm Sự kết nối và trải nghiệm này là bản chất của đọc thẩm mĩ Với đọc thẩm mĩ, đọc trở thành thứ mà ngôn
từ văn bản "khuấy trộn" người đọc”
Cũng theo L Rosenblatt thì “Bản chất của cách đọc thẩm mĩ là sự “Giao thoa giữa người
Trang 10đọc và tác phẩm” Tức là đọc như sự giao thoa giữa TP và người đọc quy định lẫn nhau, bổ sung
cho nhau, cùng được hình thành, thay đổi và phát triển trong quá trình đọc Nhờ đọc, TP từ cuốn sách sẽ trở thành văn bản văn học và nhờ đọc, người đọc cũng sẽ phong phú hơn không chỉ về kiến thức mà còn về đời sống tinh thần, về những phẩm chất giá trị
Đọc thẩm mĩ giữ vai trò quan trọng trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT bởi đây là một quá trình chủ động, ở đó người đọc tập trung suy nghĩ và chia sẻ cảm nhận cá nhân với từng TP văn học Để tạo ra trải nghiệm sống, người đọc phải chú ý thể hiện cảm xúc, thái độ, ý tưởng, tình huống, tính cách và tình cảm Sự kết nối trải nghiệm này làm nên bản chất của đọc thẩm mĩ Chính điều này cũng góp phần phát triển năng lực thẩm mĩ ở HS trong quá trình học Ngữ văn bởi
“Phát triển năng lực văn chương cũng là phát triển năng lực người, bởi vì xét đến cùng, đời sống tinh thần chính là nơi chứa đựng nhiều nhất tính người và tâm hồn, tình cảm hay tưởng tượng là những thứ lung linh nằm trong đáy sâu của thế giới tinh thần ấy Văn chương là nhân văn, là con người” (Lê Ngọc Trà, Thế nào là “đọc hiểu” và năng lực văn chương? Tạp chí Kiến thức ngày nay, Số 961, ngày 20 tháng 4 năm 2017)
1.1.3 Thơ trữ tình và dạy đọc thẩm mỹ khi dạy học thơ trữ tình
1.1.3.1 Thơ trữ tình
Thực tế cho thấy, trong nghiên cứu văn học có rất nhiều quan niệm khác nhau về thơ Theo
Từ điển Văn học: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống qua những tâm trạng, những cảm xúc dạt dào, những tưởng tượng mạnh mẽ trong một ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhất
là có nhịp điệu rõ ràng” Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: “Thơ
là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” Cùng quan điểm trên,
Tố Hữu quan niệm: “Thơ là điệu hồn đi tìm những hồn đồng điệu” Tác giả Vũ Nho trong bài viết Dạy học thơ ở trường Trung học phổ thông, cho rằng: “Thơ là tâm sự, là kí thác, là tấc lòng của tác giả gửi gắm”
Bản chất của thơ trữ tình là phản ánh mọi mặt đời sống tâm hồn, giàu sức liên tưởng và tưởng tượng Nếu như ở tác phẩm tự sự, nhà văn xây dựng bức tranh về đời sống, trong đó trung tâm là nhân vật có đường đời và số phận riêng; Tác giả kịch, bằng đối thoại và độc thoại thể hiện tính cách và hành động của con người qua
Từ xưa đến nay, trong Chương trình môn Ngữ văn ở trường THPT, thơ trữ tình luôn chiếm một vị trí quan trọng, góp phần làm nên diện mạo của nền văn học dân tộc Thơ trữ tình là mảng thơ phong phú về thể loại, đa dạng về đề tài và luôn mới mẻ về nội dung
Dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình có tác dụng rất lớn đối với việc phát triển phẩm chất, nhân cách, bồi đắp tâm hồn cho HS, đặc biệt là HS THPT - lứa tuổi lứa tuổi có nhiều đổi mới trong quá trình phát triển về các mặt tâm lí, sinh lí, tư duy và nhận thức Lí giải điều này, có thể thấy rằng, nói đến phẩm chất tức là nói đến những đức tính tốt đẹp của con người Nó được thể hiện ở các mức độ nhận thức, thái độ, hành vi ứng xử trong đạo đức, lối sống Điểm nổi bật nhất
của thơ trữ tình là chất trữ tình Do đặc trưng về loại thể, thơ trữ tình thiên về diễn tả cảm xúc, diễn
tả những rung động, sự suy tư của nhà thơ về cảnh vật, con người, về cuộc đời… Những cảm xúc, rung động ấy xét cho cùng chính là tiếng nói của hiện thực đời sống tác động vào tâm hồn nhà
thơ, có tác dụng đánh thức, lay động, rung cảm tâm hồn người đọc Đây chính là cầu nối dẫn đến
sự đồng cảm, gắn bó giữa con người với con người trong xã hội
Lâu nay, khi dạy thơ trữ tình ở trường THPT, GV chủ yếu chọn cách giảng giải,
Trang 11phân tích, bình chú cho HS nghe về cái hay, cái đẹp của TP Theo đó, HS chỉ lắng nghe, ghi chép một cách thụ động những lời GV giảng HS ít được tương tác trực tiếp với TP và hệ quả là các em rất nhanh quên, không có được những cảm xúc, rung động thực sự xuất hiện trong quá trình tiếp nhận
TP Vì thế, các em không thể cảm nhận hết được cái hay, cái đẹp của TP Chương trình GDPT môn Ngữ văn (2018) yêu cầu dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học đòi hỏi GV cần phải thay đổi, từ bỏ thói quen bấy lâu nay vẫn dạy học theo cách cũ, chuyển từ cách GV nói cho HS nghe những gì mình thích, truyền cho HS hiểu những gì mình biết sang hướng dẫn để HS
tự tìm ra cái hay, cái đẹp của TP theo cách nhìn, cách suy nghĩ, cách cảm nhận riêng của từng HS Vì vậy, rất cần thiết phải có sự thay đổi mạnh mẽ trong quan điểm, nhận thức cũng như thay đổi về cách dạy, cách học của cả GV và HS Đọc thẩm mĩ được xem là cách đọc giúp HS khắc phục được một phần hệ quả nêu trên
Khi sử dụng phương pháp đọc thẩm mĩ trong dạy thơ trữ tình cũng cần chú ý tới các mức
độ và biểu biện của đọc thẩm mĩ Cụ thể:
1 Nhận diện các yếu tố thẩm mĩ: HS tiếp nhận các thông tin trao đổi về vẻ đẹp của các sự
vật, hiện tượng thế giới xung quanh được thể hiện trong TP ở mức độ đơn giản nhất Các yếu tố thẩm mĩ được thể hiện qua hệ thống từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệụ, cấu tứ thơ; qua hình ảnh, suy nghĩ, hành động của nhân vật trữ tình trong thơ; qua cảm xúc, tâm trạng của tác giả…
2 HS bày tỏ tình cảm thẩm mĩ của cá nhân: Khi đọc tác phẩm, HS có cảm xúc trước các
hiện tượng thẩm mĩ trong tự nhiên, trong đời sống xã hội và thế giới nghệ thuật được miêu tả trong mỗi TP thơ trữ tình Đồng thời, các em bắt đầu tái hiện được cái đẹp trong tự nhiên, trong đời sống xã hội bằng phương tiện phù hợp
3 Khái quát giá trị thẩm mĩ: HS phân tích, đánh giá được tính thẩm mĩ, giá trị văn hoá của
các sự vật, hiện tượng được thể hiện trong thơ Ngoài ra, các em còn diễn tả được ý tưởng và cảm xúc của cá nhân về vẻ đẹp của hình ảnh, hình tượng nghệ thuật được trình bày trong TP thơ trữ tình
4 Làm chủ, lan tỏa cảm xúc thẩm mĩ: Trên cơ sở nhận thức ở mức độ khái quát giá trị thẩm
mĩ, HS nhận ra được những giá trị của bản thân qua việc cảm nhận và hiểu TP thơ; Hình thành, nâng cao nhận thức và xúc cảm thẩm mĩ của cá nhân; HS biết chia sẻ với người khác về cảm xúc, thái độ, tình cảm và những hành vi đẹp đối với bản thân và các mối quan hệ xã hội
5 Khám phá, sáng tạo thẩm mĩ: HS đề xuất được các ý tưởng và có cảm nhận riêng về cái
đẹp sau khi học TP thơ trữ tình Từ đó, các em sáng tạo được các sản phẩm có tính thẩm mĩ mang dấu ấn cá nhân Các em hình thành được thế giới quan thẩm mĩ cho bản thân thông qua việc tiếp nhận TP thơ trữ tình
Trang 122 Biết bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc của
cá nhân trước cái đẹp từ tác phẩm thơ
3 Có cách thức bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ, cảm nhận cảu cá nhân
Nhận thức thẩm mĩ
1 Nhận ra vẻ đẹp của ngôn ngữ, hình ảnh xuất hiện trong tác phẩm thơ
2 Nhận ra cái đẹp trong cuộc sống được miêu tả trong tác phẩm thơ
3 Nhận ra giá trị thẩm mĩ trong nghệ thuật của tác phẩm thơ
4 Nhận ra giá trị của cá nhân người đọc từ tác phẩm thơ
Từ các mức độ này có thể thiết lập Cấu trúc của đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình như sau:
Trang 13- Thực trạng nhận thức của GV và HS về đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình ở trường THPT
- Thực trạng tình hình dạy học đọc thẩm mĩ đối với tác phẩm thơ trữ tình ở trường THPT
* Mục đích khảo sát: tìm hiểu thực trạng dạy và học về đọc thẩm mĩ thơ trữ tình ở trường
THPT môn Ngữ văn, từ đó có căn cứ để đề xuất việc xây dựng hệ thống câu hỏi đọc hiểu phù hợp
trong dạy học văn bản Mùa xuân chín- chương trình Ngữ văn lớp 10 (Bộ sách Kết nối tri thức
với cuộc sống) nói riêng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình ở trường THPT
* Phương pháp khảo sát
Để thực hiện đề tài, chúng tôi tiến hành: Dùng phiếu khảo sát, trao đổi trực tiếp với GV trực tiếp giảng dạy Ngữ văn 10 và HS lớp 10 năm học 2022 - 2023; khảo sát SGK, SGV, sách bài tập Ngữ văn 10 (Bộ sách theo chương trình GDPT 2006 và bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
(Phiếu khảo sát ở Phụ lục 1, Phụ lục 2); giáo án dạy Ngữ văn 10, 11, 12 của một số giáo viên
năm học 2021 - 2022
Kết quả cụ thể như sau:
1.2.1.Thực trạng tài liệu phục vụ dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn 10
Chúng tôi tiến hành khảo sát các tài liệu phục vụ dạy học gồm:
- SGK, SGV, sách bài tập Ngữ văn 10 theo chương trình GDPT 2006
- SGK, SGV, sách bài tập Ngữ văn 10 (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
- Giáo án dạy một số TP thơ trữ tình của giáo viên tổ Ngữ văn trường THPT Phan Đăng Lưu năm học 2021 - 2022
* Về bộ SGK Ngữ văn 10 theo chương trình GDPT 2006 và bộ SGK Ngữ văn 10 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống
Về cấu trúc đơn vị bài học
- Ở SGK Ngữ văn 10 theo chương trình GDPT 2006, mỗi bài học là một TP riêng biệt, các tác phẩm thơ được sắp xếp theo tiến trình thời gian ra đời và cũng tách riêng phần TP thơ nước ngoài và TP thơ Việt Nam
- Ở SGK Ngữ văn 10 bộ Kết nối tri thức và cuộc sống, bài học được cấu trúc theo chủ đề, mỗi chủ đề gồm 4 hoạt động đọc, viết, nói và nghe Trọng tâm của mỗi bài học là các văn bản thuộc cùng một loại, thể hoặc nội dung đã được gợi mở từ nhan đề bài học Các văn bản này có mối liên hệ nhất định với nhau về nội dung và không nhất thiết phải cùng ra đời trong một thời kì hay cùng thuộc về một nền văn học
Cụ thể ở bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca phần đọc hiểu có 5 văn bản thơ trữ tình
Trang 14gồm: Văn bản 1,2,3: Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản; Văn bản 4: Thu hứng (Cảm xúc mùa thu); Văn bản 5: Mùa xuân chín và một văn bản nghị luận: Bản hòa âm ngôn từ trong Tiếng thu của Lưu Trọng Lư
Về hệ thống câu hỏi trong SGK
Với bộ SGK Ngữ văn theo chương trình GDPT 2006, chúng tôi tiến hành khảo sát và phân loại cụ thể hệ thống câu hỏi đọc hiểu được sử dụng trong các tác phẩm thơ trữ tình Số lượng câu hỏi được tính theo thứ tự ghi ở cuối bài học đối với mỗi tác phẩm thơ trong sách giáo khoa không tính theo các câu hỏi nhỏ trong một câu hỏi lớn, trong đó có tính với các bài đọc thêm Kết quả cụ thể ở 13 bài thơ trong chương trình Ngữ văn 10 là 48 câu hỏi
Ở bộ SGK Kết nối tri thức với cuộc sống, hệ thống câu hỏi được chia thành ba phần:
trước khi đọc, trong khi đọc và sau khi đọc Kết quả cụ thể ở bài 2: Vẻ đẹp của thơ ca (gồm 5 văn
bản thơ) là 32 câu hỏi
Chúng tôi tiến hành so sánh cụ thể hệ thống câu hỏi ở văn bản: Thu hứng (Cảm xúc mùa thu)
- Đỗ Phủ, văn bản được học ở cả hai bộ sách, kết quả cụ thể như sau:
Trong bộ SGK Ngữ văn theo chương trình GDPT 2006, phần hướng dẫn học bài gồm 3 câu hỏi:
Câu 1: Theo anh (chị), bài thơ có thể chia làm mấy phần? Vì sao lại chia như vậy? Hãy xác định nội dung của mỗi phần?
Câu 2: Nhận xét sự thay đổi của tầm nhìn từ bốn câu thơ đầu đến bốn câu thơ sau Vì sao
có sự thay đổi ấy?
Câu 3: Xác định mối quan hệ giữa bốn câu thơ đầu và bốn câu thơ sau, mối quan hệ giữa
toàn bài và nhan đề Thu hứng
Ở bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, phần hướng dẫn học bài chia làm các phần:
- Trước khi đọc: gồm 2 câu hỏi
Câu 1: Bạn đã được làm quen với một số bài thơ Đường luật trong sách giáo khoa Ngữ văn cấp Trung học cơ sở Hãy chia sẻ ấn tượng của bạn về đặc điểm hình thức cũng như nội dung của những bài học thuộc thể loại này
Câu 2: Bạn đã bao giờ xa gia đình và thấy nhớ nhà? Nếu có thể, hãy chia sẻ về những trải nghiệm ấy của bạn?
- Trong khi đọc: gồm 3 câu hỏi
Câu 1: Khung cảnh mùa thu được tái hiện trong bài thơ (màu sắc, không khí, trạng thái vận động của sự vật)
Câu 2: Hãy nhận diện phép đối trong cả nguyên tác và bản dịch nghĩa trong các cặp câu thơ 3-4 và 5-6
Trang 15Câu 3: Âm thanh của tiếng dao thước may áo, tiếng chày đập vải gợi ra không khí gì?
- Sau khi đọc gồm 7 câu hỏi
Câu 1: Mô tả một số đặc điểm cơ bản của thơ Đường luật (Bố cục, cách gieo vần, luật
bằng - trắc, phép đối) được thể hiện trong bài Thu hứng
Câu 2: Đối chiếu hai bản dịch thơ với nguyên văn (thông qua bản dịch nghĩa), từ đó chỉ ra những chỗ hai bản dịch thơ có thể chưa diễn đạt hết sắc thái ý nghĩa của nguyên văn
Câu 3: Những từ ngữ và hình ảnh nào được dùng để gợi không khí cảnh thu trong bốn câu thơ đầu bài thơ? Khung cảnh mùa thu này có thể gợi cho bạn những ấn tượng gì?
Câu 4: Qua các từ ngữ và hình ảnh ở hai câu thơ 5 - 6, người đọc có thể nhận biết được điều gì về nhân vật trữ tình?
Câu 5: Việc mô tả khung cảnh sinh hoạt của con người ở hai câu thơ kết có ý nghĩa như thế nào trong việc thể hiện cảm xúc của nhân vật trữ tình?
Câu 6: Thu hứng được viết trong một hoàn cảnh đặc biệt của cuộc đời Đỗ Phủ
Phải chăng tác phẩm chỉ thể hiện nỗi niềm thân phận cá nhân của nhà thơ?
Câu 7: Có ý kiến cho rằng câu thơ nào trong bài thơ cũng thể hiện cảm xúc về mùa thu, nỗi niềm tâm sự của tác giả trong mùa thu Bạn có suy nghĩ gì về ý kiến này?
Từ việc so sánh đó, chúng tôi nhận thấy rằng, hệ thống câu hỏi đọc hiểu trong SGK Ngữ văn 10 theo chương trình GDPT 2006 chủ yếu tập trung dưới dạng câu hỏi nhận biết thông thường, câu hỏi thông hiểu và đánh giá khái quát chung Đây là những loại câu hỏi mang tính chất gợi mở, tập trung hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung, hình thức nghệ thuật của TP là chính Những câu hỏi này chủ yếu nhằm hướng tới phát triển nội dung bài học Các câu hỏi tự bộc lộ, hướng tới phát triển phẩm chất và năng lực người học, câu hỏi yêu cầu HS phát biểu cảm xúc, nói lên suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng của mình khi học về TP hầu như không xuất hiện và nếu có thì cũng xuất hiện với số lượng rất ít Còn ở bộ SGK Kết nối tri thức với cuộc sống, hệ thống câu hỏi đa dạng, bám sát đặc trưng thể loại và đặc biệt hệ thống câu hỏi đã nhằm hướng tới phát triển cảm xúc, suy nghĩ, cảm nhận, tình cảm, đánh giá của HS khi học TP (Chủ thể - Bạn đọc
- HS) Đây cũng chính là những thuận lợi cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này Hệ thống câu hỏi trong SGK chính là những định hướng, nguồn tài liệu tham khảo vô cùng quý giá cho GV và HS khi tiến hành dạy và học theo chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018
* Về thực tiễn giáo án giảng dạy của giáo viên
Chúng tôi tiến hành khảo sát một số giáo án của GV trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT Phan Đăng Lưu năm học 2023 - 2024 Kết quả khảo sát cho thấy, mặc dù GV đã
cố gắng thay đổi cách thức tổ chức giờ dạy nhưng do hình thức thi chưa thay đổi nên nhiều GV vẫn phải dạy theo hướng cung cấp kiến thức là chủ yếu và dạy với mục đích đáp ứng nhu cầu ứng thí - học để thi Vì vậy, các câu hỏi đọc hiểu phần nhiều mang tính chất gợi mở, dẫn dắt, hướng dẫn HS phân tích, tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của TP chưa có nhiều câu hỏi quan tâm đến thái độ, tình cảm, cảm xúc và những suy nghĩ, hành động của HS khi học TP thơ trữ tình, tức là chưa quan tâm nhiều đến sự tác động của TP đến chủ thể người học
Như vậy, qua khảo sát thực tế có thể thấy, hầu hết các tài liệu phục vụ dạy và học môn Ngữ văn 10 ở theo chương trình GDPT 2006 chủ yếu tập trung vào việc cung cấp kiến thức cho HS, chưa quan tâm nhiều đến sự tác động qua lại giữa TP và chủ thể người đọc, tức là chưa thật sự chú
ý vào việc việc khơi gợi, phát triển cảm xúc, suy nghĩ, tình cảm và cách nhìn nhận, đánh giá của
HS đối với cuộc sống cũng như cách nhìn nhận đối với xã hội, con người cùng những sở thích, mối
Trang 1660 40 20
0 Không quan tâm Đang tìm hiểu Có quan tâm Rất quan tâm
Giáo viên Học sinh
quan tâm và mục tiêu cuộc sống mà các em cần hướng tới từ việc học tác phẩm thơ trữ tình Năm học 2022-2023, lớp 10 bắt đầu triển khai chương trình GDPT 2018, việc đổi mới chương trình đòi hỏi GV phải thay đổi cách dạy, đặc biệt là trong dạy các TP thơ trữ tình, và đọc thẩm mỹ là một trong số những phương pháp đó
1.2.2 Tình hình dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình ở trường trung học phổ thông
Để tìm hiểu thực trạng dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình ở trường THPT, tôi tiến hành khảo sát
21 GV gồm (11 GV trường THPT Phan Đăng Lưu, 3 GV trường THPT Bắc Yên Thành , 4 GV trường THPT Yên Thành 2, 3 GV trường THPT Phan Thúc Trực) và 132 HS ở khối lớp 10 tại trường THPT Phan Đăng Lưu
- Trước hết, xét ở khía cạnh mức độ quan tâm của GV và HS về đọc thẩm mĩ Câu hỏi đặt
ra cho GV và HS là: Thầy/Cô có quan tâm đến đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình không?
Em có biết về đọc thẩm mĩ khi học thơ trữ tình không? Chúng tôi thu được kết quả như sau:
Biểu đồ 1.1 Mức độ quan tâm của GV và HS đến đọc thẩm mĩ
Theo số liệu ở Biểu đồ 1.1, có thể thấy mức độ quan tâm về đọc thẩm mĩ của GV cao hơn so với mức độ quan tâm của HS Hầu hết GV được khảo sát đều cho rằng, có quan tâm đến vấn đề đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình ở trường THPT (Có quan tâm là 14 GV chiếm tỉ lệ 65,7 % và rất quan tâm là 4 GV chiếm tỉ lệ 18%) Tuy nhiên, do mục đích dạy học chủ yếu để phục vụ kì thi THPT
và xét tuyển đại học là chính, cho nên GV không chú trọng thực hiện dạy đọc thẩm mĩ đối với thơ trữ tình Số GV đang tìm hiểu đọc thẩm mĩ chiếm tỉ lệ thấp (3 GV chiếm 14,3%), không có GV không quan tâm đến đọc thẩm mĩ
Đối với nhóm HS tham gia khảo sát, tỉ lệ các em rất quan tâm đến vấn đề tỉ lệ 3,8%) Tỉ lệ
HS không quan tâm và đang tìm hiểu về đọc thẩm mĩ chiếm phần lớn (54%) Điều này chứng tỏ mức độ quan tâm về đọc thẩm mĩ ở GV và HS không giống nhau Tôi đã tiến hành phỏng vấn
một số HS và hầu hết đều nhận được câu trả lời như nhau “Đọc thẩm mĩ là cách đọc rất xa lạ với chúng em hiện nay Chúng em đọc chỉ để ghi nhớ kiến thức chứ không phải để hiểu và nắm rõ các chi tiết đặc sắc và ý nghĩa rút ra từ TP Chúng em chỉ cần có kiến thức về nội dung tác phẩm
để tham dự kì thi tuyển sinh vào lớp 10 thôi” (Em H.T.K.L lớp 10A2 chia sẻ)
- Tiếp đến là cách hiểu về đọc thẩm mĩ của GV và HS: Câu hỏi được tôi đặt ra là: Thầy/Cô hiểu như thế nào về đọc thẩm mĩ? Em hiểu như thế nào về đọc thẩm mĩ? Trên cơ sở các
câu hỏi này, kết quả khảo sát ở biểu đồ 1.2 cho thấy, tỉ lệ GV và HS khá tương đồng với cách hiểu:
“Đọc thẩm mĩ là cách đọc quan tâm đến cái đẹp”, tuy nhiên có sự chênh lệch ở các cách hiểu còn lại Đáng chú ý là, khi dạy và học về đọc thẩm mĩ thì HS quan tâm đến cảm xúc của tác giả (54
HS chiếm tỉ lệ 40,9%), còn GV quan tâm đến cảm xúc của người đọc (25,6 % GV lựa chọn) trong
quá trình đọc Bên cạnh đó, có nhiều GV và HS cho rằng, đọc thẩm mĩ không chỉ có một cách hiểu
mà là sự kết hợp của các cách hiểu khác nhau, thậm chí là cả bốn cách
Trang 1790 80 70 60 50 40 30 20 10 0
Giáo viên Học sinh
Biểu đồ 1.2 Cách hiểu của GV và HS về đọc thẩm mĩ
- Về bản chất của đọc thẩm mĩ: Với câu hỏi nhằm khảo sát nhận thức của GV và HS về bản chất của đọc thẩm mĩ: Thầy/Cô cho biết, bản chất của đọc thẩm mĩ? Theo em, bản chất của đọc thẩm mĩ
là gì? (Là quá trình diễn ra hành động đọc? Là sự giao thoa giữa người đọc và tác giả? Là sự giao thoa giữa người đọc, tác giả và TP?) Kết quả khảo sát cho thấy, có sự tương đồng khá lớn về tỉ lệ
GV và HS trong các cách hiểu này Hầu hết GV và HS đều hiểu: “Bản chất của đọc thẩm mĩ là sự giao thoa giữa người đọc, tác giả và TP” (Tỉ lệ tương ứng là hơn 95% GV (20/21 GV lựa chọn) và
hơn 80% HS (106/132 HS lựa chọn)) Chỉ có gần 5% số HS cho rằng, đọc thẩm mĩ đơn thuần là quá trình diễn ra hành động đọc Các cách hiểu khác chiếm tỉ lệ thấp ở GV và HS
- Ở khía cạnh nhận thức về vai trò của đọc thẩm mĩ trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình ở trường THPT, với câu hỏi: Theo thầy/Cô, đọc thẩm mĩ có vai trò như thế nào trong dạy học thơ trữ tình? Theo em, đọc thẩm mĩ có vai trò như thế nào trong dạy học thơ trữ tình? Có hơn 70% số GV và HS
(107/153 tổng số GV và HS) nhận thấy rằng, đọc thẩm mĩ giúp người đọc cảm nhận được cái hay, cái đẹp của TP; Giúp người đọc biết cảm nhận, suy nghĩ, nhìn nhận, đánh giá bản thân; Giúp bồi đắp tâm hồn, tình cảm, góp phần giáo dục phẩm chất, nhân cách người đọc Khoảng gần 30% số lượng GV và
HS cho rằng, đọc thẩm mĩ mới chỉ đạt được một biểu hiện trên Số lượng này ở HS cũng cao hơn GV (Xem biểu đồ 1.3)
Biểu đồ 1.3: Nhận thức về vai trò của đọc thẩm mĩ trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình
- Những khó khăn trong việc áp dụng phương pháp đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình
Câu hỏi chúng tôi đặt ra là: Khi thiết kế giáo án bài dạy thơ trữ tình, Thầy/Cô có quan tâm chú ý đến đọc thẩm mĩ không? Thầy/Cô có thường sử dụng các biện pháp hướng đến đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình không? Theo Thầy/Cô những khó khăn gặp phải khi tiến hành dạy đọc
Là hình thức của Là cách đọc quan Là cách đọc quan đọc hiểu tâm đến cái đẹp tâm đến cảm xúc
tác giả
Là cách đọc quan tâm đến cảm xúc người đọc Giáo viên Học sinh
Trang 18100 80 60 40 20 0 Không quan Ít quan tâm Có quan tâm Rất quan tâm tâm
Giáo viên Học sinh
thẩm mĩ trong dạy đọc thơ là gì?
- Về việc thiết kế giáo án: Hầu hết GV (tỉ lệ hơn 95%) cho biết, quan tâm đến đọc thẩm mĩ trong quá trình xây dựng giáo án (trong đó có quan tâm là 16 GV chiếm 76,2% và rất quan tâm là 4
GV chiếm tỉ lệ 19%), có 1 GV chiếm 4,8% số GV ít quan tâm đến vấn đề này Tuy nhiên, về phía
HS, chỉ có 51,5% số HS cho rằng GV có sự quan tâm đến đọc thẩm mĩ, 35,6% HS cho rằng GV ít quan tâm và 12.9% HS cho rằng GV hoàn toàn không quan tâm đến đọc thẩm mĩ khi thiết kế giáo án (Xem biểu đồ 1.4)
Biểu đồ 1.4 Ý kiến của GV và HS về mức độ quan tâm khi thiết kế giáo án dạy học đọc
thẩm mĩ thơ trữ tình
- Về việc áp dụng các biện pháp hướng đến đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình: Kết quả khảo
sát cho thấy sự tương đồng trong câu trả lời của HS và GV Có 18 GV (chiếm tỉ lệ 85,7%) và 87,2% HS cho rằng GV chỉ hiếm khi hoặc thỉnh thoảng sử dụng các biện pháp hướng đến đọc thẩm mĩ, Chỉ có 3 GV (Chiếm tỉ lệ 14,3%) thường xuyên áp dụng các biện pháp hướng đến đọc thẩm mĩ (Có 8,3% HS cho rằng như thế) và vẫn có 6 HS chiếm tỉ lệ 4,5% cho rằng GV không sử dụng các biện pháp hướng đến đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình (Xem biểu đồ 1.5)
Biểu đồ 1.5 Ý kiến của GV và HS về mức độ áp dụng các biện pháp hướng đến đọc thẩm
mĩ
Về những khó khăn khi áp dụng các biện pháp đọc thẩm mĩ: Kết quả khảo sát cho hầu hết GV lựa
chọn phương án khác (19 GV chiếm tỉ lệ 90,5%) và cụ thể là theo ý kiến của các GV thì gặp tất cả các khó khăn: Lượng kiến thức bài học nhiều, thời gian trên lớp học ít, không gian lớp học (khó thể hiện cảm xúc), tâm trạng và sự chuẩn bị của GV, sự hợp tác của HS, hệ thống cơ sở vật chất, trang
Giáo viên Học sinh
Trang 19thiết bị nhà trường Ở HS, câu trả lời cũng tương tự có 112 HS chiếm tỉ lệ 84,8% lựa chọn phương
án khác và viết cả 4 nhân tố đều ảnh hưởng) Ngoài ra HS còn nêu thêm một số khó khăn nữa: tính cách HS, trạng thái học tập
Như vậy, dựa trên cơ sở kết quả thu được từ việc khảo sát thực trạng dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình, tôi nhận thấy rằng:
- Ở trường THPT, mức độ quan tâm đến đọc thẩm mĩ của GV cao hơn mức độ quan tâm của HS Điều này được cụ thể hóa từ việc định hướng môn học, thiết kế giáo án Tuy nhiên, không có sự khác biệt nhiều về mức độ nhận thức và nhận biết về đọc thẩm mĩ giữa GV và HS
- Tuy GV có quan tâm đến đọc thẩm mĩ nhưng do khối lượng kiến thức, cùng những khó khăn về cơ sở vật chất, không gian lớp học cũng như sự hạn chế về thời gian trên lớp học cho nên việc dạy học đọc thẩm mĩ đối với tác phẩm thơ trữ tình chưa được GV quan tâm và ít được GV thực hiện
- Nhìn chung, HS có biết đến đến đọc thẩm mĩ, song vẫn còn một số HS không quan tâm vì chưa nhận thức rõ được bản chất và vai trò, ý nghĩa của đọc thẩm mĩ trong giờ học tác phẩm thơ trữ tình Nguyên nhân chủ yếu là do các em chưa có được sự nhận thức về đọc thẩm mĩ, chưa được định hướng, chưa quan tâm và chưa có mục đích cũng như phương pháp học cụ thể khi đọc hiểu thơ trữ tình Một số em chưa yêu thích môn Văn, học Văn chỉ vì lí do là môn bắt buộc trong các môn thi tuyển sinh vào lớp 10
Trang 20Tiểu kết chương 1
Với mục đích góp phần nâng cao hiệu quả dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ trong dạy học
văn bản Mùa xuân chín, tôi tiến hành nghiên cứu để tìm hiểu một số vấn đề cơ sở lí luận về đọc thẩm
mĩ: khái niệm câu hỏi, vai trò câu hỏi trong đọc hiểu Ngữ Văn , khái niệm đọc thẩm mĩ, bản chất của đọc thẩm mĩ, vai trò, ý nghĩa của đọc thẩm mĩ Bên cạnh đó, tôi còn phân tích thực tiễn dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình ở trường THPT bằng việc khảo sát 21 GV của các trường THPT Phan Đăng Lưu, THPT Bắc Yên Thành, THPT Yên Thành 2, THPT Phan Thúc Trực về và 132 HS lớp 10 năm học 2023 – 2024 của trường THPT Phan Đăng Lưu về: Thực trạng các tài liệu phục vụ dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình; Thực trạng nhận thức của GV và HS về đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình; Thực trạng tình hình dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình Kết quả khảo sát cho thấy, mặc dù dạy đọc thẩm mĩ rất quan trọng đặc biệt để hình thành phẩm chất, năng lực cho HS theo chương trình GDPT 2018 nhưng lại chưa được GV quan tâm và sử dụng nhiều trong quá trình dạy học thơ trữ tình Đây là những cơ sở quan trong để tôi xây dựng những biện pháp tổ chức xây dựng câu hỏi
đọc hiểu nhằm nâng cao hiệu quả đọc thẩm mĩ văn bản Mùa xuân chín nói riêng và thơ trữ tình nói
chung theo hướng phát triển NL văn học và NL thẩm mĩ cho HS để nâng cao hiệu quả dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT Các biện pháp tổ chức dạy học sẽ được tôi đề xuất, lí giải và trình bày
cụ thể ở chương 3 của đề tài
Trang 21CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỌC
THẨM MĨ TRONG DẠY HỌC PHẦN ĐỌC VĂN BẢN MÙA XUÂN CHÍN
2.1.Một số nguyên xây dựng câu hỏi
2.1.1 Đáp ứng mục tiêu của Chương trình GDPT môn Ngữ văn (2018) phù hợp với
định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học
Các câu hỏi đề xuất hướng tới đáp ứng mục tiêu chung của Chương trình GDPT môn Ngữ
văn (2018) đó là:
- Góp phần hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất tốt đẹp: Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm; Bồi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách và phát triển cá tính cho HS
- Giúp HS phát triển các năng lực chung như năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp
và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Giúp HS mở rộng và nâng cao yêu cầu phát triển phẩm chất: Có bản lĩnh, có cá tính, có lí tưởng, hoài bão, biết giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, có tinh thần hội nhập và ý thức công dân toàn cầu
- Phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học cho HS
2.1.2 Đảm bảo tính khoa học
Các câu hỏi đề xuất phải hướng tới mục tiêu cụ thể, dựa trên cơ sở lí luận và cách thức thực hiện khoa học, chặt chẽ, logic, phù hợp với điều kiện và đặc trưng môn Ngữ văn ở trường THPT
2.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả, tính khả thi và có ý nghĩa thực tiễn
Các câu hỏi đề xuất có tính đến hiệu quả đạt được, đồng thời:
- Tạo ra sự thống nhất, phù hợp với nguyên tắc phát triển kĩ năng đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình ở trường THPT
- Áp dụng được và phù hợp với thực tế dạy học ở trường THPT
- Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi và khả năng nhận thức của HS THPT
2.1.4 Bám sát đặc trưng của thơ trữ tình
Các câu hỏi đề xuất cần bám sát những đặc trưng cơ bản của thơ trữ tình, đó là: Bộc lộ, giãi bày suy nghĩ, tình cảm, thái độ, cảm xúc; Bồi dưỡng, phát triển phẩm chất, nhân cách con người
2.1.5 Đảm bảo tính đặc thù của đọc thẩm mĩ thơ trữ tình
- HS được ứng đáp, phản hồi khi đọc tác phẩm: Khuyến khích và tôn trọng mức độ phản ứng, hồi đáp của HS; Khuyến khích HS phản hồi lại câu trả lời của mình
- Giúp HS thấy được tiềm năng giao tiếp giữa các quan điểm khác nhau của từng HS
- Tạo cơ hội để HS được thảo luận, trải nghiệm và liên hệ về bản thân
Trang 222.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm nâng cao hiệu quả đọc thẩm mỹ khi dạy văn bản Mùa
xuân chín
2.2.1 Xây dựng hệ thống câu hỏi đọc hiểu giai đoạn trước khi đọc
Có thể nói, các nhiệm vụ chính của hoạt động trước khi đọc thơ trữ tình nhằm mục đích
“tạo đà” cho hoạt động đọc hiểu thơ trữ tình, bao gồm: Xác định mục tiêu cho việc đọc thơ trữ tình; Huy động tri thức và trải nghiệm nền liên quan đến nội dung thơ trữ tình; Bổ sung tri thức cần thiết để bạn đọc thực hiện hoạt động đọc hiểu thơ trữ tình; Tạo ra dự đoán ban đầu để kích thích bạn đọc sẵn sàng tham gia vào hoạt động đọc hiểu thơ trữ tình Ở giai đoạn này, GV cần xác định được HS đã có những tri thức nền nào liên quan đến tâm thế tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình? Vì vậy, nhóm câu hỏi hướng tới đọc thẩm mĩ trong thơ trữ tình ở giai đoạn này có nhiệm
vụ giúp tạo tâm thế cho HS trước khi thâm nhập tác phẩm thơ trữ tình, khơi gợi kiến thức nền và tạo đà cho các em tâm thế sẵn sàng tiếp cận tác phẩm thơ trữ tình GV nên sử dụng các câu hỏi khơi gợi kết hợp với hình ảnh minh họa… để vừa đánh thức kí ức vừa tạo hứng thú học tập cho
HS, giúp các em có cơ hội bộc lộ cảm xúc, tình cảm, chia sẻ suy nghĩ và những cảm nhận của mình trước khi thâm nhập, khám phá tác phẩm thơ trữ tình Các câu hỏi này nhằm mục đích khơi gợi sự liên tưởng, tưởng tượng, khơi gợi cảm xúc, tình cảm thẩm mĩ cho HS trước khi thâm nhập vào hoạt động đọc hiểu tác phẩm thơ trữ tình
Ở giai đoạn đầu này, tôi xác định học sinh đã có những tri thức nền nào liên quan đến tâm thế tiếp nhận TP? Trước khi hỏi tôi thường khơi gợi bằng việc kết hợp với hình ảnh minh họa, video để vừa đánh thức kí ức vừa tạo hứng thú học tập cho HS, giúp các em có cơ hội bộc lộ cảm xúc, thể hiện tình cảm, chia sẻ suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân trước khi thâm nhập, khám phá TP thơ trữ tình
Khi dạy văn bản Mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử), tôi sử dụng một số câu hỏi mang tính chất tạo đà cho hoạt động đọc hiểu như sau:
Em hãy đọc những câu thơ em đã học, đã đọc viết về mùa xuân? Những hình ảnh mùa xuân
ấy để lại ấn tượng gì trong em?
Học sinh đã đọc một số câu thơ viết về mùa xuân như:
Cỏ xanh như khói bến xuân tươi
Lại có mưa xuân nước vỗ trời
(Nguyễn Trãi)
Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng,
Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi;
Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời
( Anh Thơ)
Mùa xuân người ra đồng Lộc traỉ đầy nương mạ
( Thanh Hải) Những bài thơ, câu thơ ấy nói về mùa xuân một cách đặc biệt Mùa xuân đẹp, hài hòa, nhưng vô cùng thơ mộng, khiến người ta nhớ mãi không quên
Trang 23Với cách đặt câu hỏi này, ngay từ đầu, chúng tôi đã tạo tâm thế cho HS trước khi thâm nhập tác phẩm thơ trữ tình, khơi gợi kiến thức nền và tạo đà cho các em sẵn sàng tiếp cận tác phẩm thơ trữ tình Nó cũng vừa đánh thức kí ức vừa tạo hứng thú học tập cho HS, giúp các em
có cơ hội bộc lộ cảm xúc, tình cảm, chia sẻ suy nghĩ và những cảm nhận của mình trước khi thâm nhập, khám phá bài thơ
2.2.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi đọc hiểu giai đoạn trong khi đọc
- Giai đoạn Trong khi đọc là giai đoạn HS trực tiếp tương tác, tiếp xúc với tác phẩm thơ trữ
tình Ở giai đoạn này, các em được trực tiếp thâm nhập tác phẩm, trực tiếp khám phá cái hay, cái đẹp trong tác phẩm ngay từ những dòng thơ đầu tiên cho đến những câu cuối cùng kết thúc bài thơ Đây được xem là giai đoạn rất quan trọng, vì HS phải tiến hành song song hai mục đích: vừa giải mã vừa tham gia kiến tạo nghĩa của văn bản thơ trữ tình, đồng thời vừa bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc của mình khi đọc tác phẩm Vì thế, câu hỏi đọc hiểu hướng tới đọc thẩm mĩ trong thơ trữ tình ở giai đoạn này cần hướng vào việc phát triển cảm xúc và bộc lộ những suy nghĩ của HS khi thâm nhập tác phẩm bên cạnh những câu hỏi tìm hiểu nội dung kiến thức văn bản thơ trữ tình
GV có thể sử dụng kết hợp các dạng câu hỏi gồm: câu hỏi dự đoán thông tin, câu hỏi suy luận, câu hỏi gợi mở, tái hiện kiến thức, câu hỏi liên hệ kiến thức nền của HS, câu hỏi hình dung, tưởng tượng, câu hỏi suy nghĩ và tìm kiếm, câu hỏi sáng tạo… Đặc biệt là, GV nên sử dụng linh hoạt các câu hỏi tự bộc lộ nhằm khơi gợi thái độ và cảm xúc của HS khi học thơ trữ tình Ở giai đoạn này, câu hỏi tự bộc lộ được xem là dạng câu hỏi quan trọng, được sử dụng với mục đích giúp HS có cơ hội bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc, cách nhìn nhận, đánh giá và những cảm nhận của các em khi học thơ trữ tình Để hướng tới nâng cao hiệu quả dạy học đọc thẩm mĩ trong thơ trữ tình, GV nên sử dụng linh hoạt dạng câu hỏi này Cách diễn đạt với dạng câu hỏi này có thể là:
Em có cảm nhận gì….? Em có suy nghĩ gì….? Nêu cảm xúc của em khi học về ….? Cảm nhận của em về …? Tuy nhiên, khi thiết kế hệ thống câu hỏi hướng tới đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ
trữ tình, GV cần linh hoạt, không nên sử dụng quá nhiều câu hỏi trong một giờ học sẽ khiến giờ dạy thơ trữ tình trở nên khiên cưỡng, gò ép, gây gián đoạn quá trình tư duy và làm đứt mạch cảm xúc của HS GV nên sử dụng câu hỏi kết hợp với các hình thức học tập cá nhân và học hợp tác nhóm để HS vừa khám phá nội dung tác phẩm vừa có cơ hội bộc lộ cảm xúc thẩm mĩ của cá nhân khi tiếp nhận tác phẩm Mức độ khó của câu hỏi cần được thực hiện sao cho đảm bảo sự linh hoạt, tính vừa sức của HS, cần có sự phối hợp linh hoạt giữa câu hỏi ở mức độ thấp và câu hỏi ở mức độ cao Nếu câu hỏi quá dễ sẽ gây nên sự nhàm chán và câu hỏi quá khó sẽ tạo không khí căng thẳng, chán nản và mệt mỏi cho HS
Trang 24Cụ thể khi dạy văn bản Mùa xuân chín chúng tôi đã đặt ra các câu hỏi như sau:
1 Nhan đề bài thơ Mùa xuân chín được cấu tạo bởi những từ thuộc từ loại nào Nhan
đề đó gợi cho em những liên tưởng gì?
2 Bức tranh mùa xuân chín được hiện lên qua những hình ảnh, màu sắc, âm thanh nào? Em
cảm nhận như thế nào về những hình ảnh, màu sắc, âm thanh ấy?
3 Nêu cách ngắt nhịp, gieo vần trong bài thơ Em có cảm nhận gì về cách ngắt nhịp, gieo vần cuả bài thơ?
4 Bài thơ có những sự lựa chọn và kết hợp ngôn từ nào em thấy đặc biệt? Ngôn từ của bài thơ đã gợi lên một khung cảnh mùa xuân như thế nào?
5 Con người trong bài thơ hiện lên qua những hình ảnh nào? Hình ảnh nào gắn với nhân vật trữ tình?
6 Nêu mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ
- Ở câu hỏi thứ nhất chúng tôi yêu cầu HS hoạt động cặp đôi, thực hiện nhiệm vụ Học sinh vận dụng những kiến thức về mặt từ loại đã học và nhận ra cấu tạo đặc biệt của nhan đề như sau: Nhan đề được cấu tạo bởi “mùa xuân” (danh từ) và “chín” (động từ trạng thái).Từ “chín” gợi liên tưởng đến trạng thái lí tưởng của mọi sự vật, hiện tượng trong khung cảnh mùa xuân: sắc xuân rực rỡ, sức xuân dồi dào, con người tràn đầy sức sống
Nhan đề của bài thơ đã gợi những liên tưởng rất lạ, rất đẹp và độc đáo:Nhan đề Mùa xuân chín gợi lên
một mùa xuân đang ở độ căng tràn, đẹp nhất, viên mãn nhất, tràn đầy sức sống, lung linh sắc màu, rạng rỡ sức xuân, phơi phới xuân tình; nghe vừa mới, vừa sôi nổi, vừa có một sức sống dồn nén đang thầm nảy nở giống như cái mới, cái lãng mạn và khao khát trong tâm hồn thi sĩ Hàn Mạc Tử
Với việc đặt câu hỏi như thế này, ngay từ đầu chúng tôi đã khơi dậy trong các em cách nhìn nhận của mình về vấn đề, giúp các em có điều kiện bộc lộ những suy nghĩ,cảm xúc, liên tưởng của mình khi bắt đầu thâm nhập tác phẩm
- Đến câu hỏi 2 chúng tôi cho học sinh thảo luận theo nhóm,HS thảo luận và nhận ra mùa xuân được gợi nên từ những hình ảnh nên thơ mà bình dị:
+ Làn nắng ửng - khói mơ tan
+ Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
+ Tà áo biếc
+ Giàn thiên lí - bóng xuân sang
+ Sóng cỏ xanh tươi
+ Thôn nữ hát trên đồi
- Mùa xuân hiện lên với màu sắc ấm áp, âm thanh trong trẻo
+ Màu vàng (nắng, mái nhà tranh)
+ Màu xanh biếc (tà áo, sóng cỏ, giàn thiên lí)
+ Tiếng ca, tiếng thầm thĩ
- Mùa xuân sống động bởi nghệ thuật độc đáo:
+ Nhân hóa: gió trêu tà áo biếc
+ Ẩn dụ: đám xuân xanh
Qua những hình ảnh và âm thanh trên, có thể nhận thấy bức tranh mùa xuân làng quê đang độ
Trang 25chín: vừa thấm đẫm hơi xuân ngập tràn, căng ngọt, đầy sức sống, vừa nên thơ trong trẻo, vừa bình dị, mộc mạc
Bằng cách trả lời câu hỏi này, học sinh vừa biết quan sát, vừa biết suy nghĩ, rung động; biết thưởng thức, đánh giá cái đẹp của tác phẩm văn học.Đó chính làchủ trương đánh thức, lay động tâm hồn người đọc khi họ sống với thế giới hình tượng của việc đọc thẩm mĩ
Tương tự như thế đến câu hỏi 3 HS đã phát hiện bài thơ chủ yếu ngắt nhịp 4/3 hoặc 2/2/3
Có chỗ tác giả chú ý tạo điểm nhấn cho nhịp điệu bằng dấu chấm như: “Trên dàn thiên lí Bóng xuân sang” … Bên cạnh gieo vần chân, bài thơ còn có chỗ gieo vần lưng và không quy định vị trí
bắt vần chặt chẽ như trong Thơ Đường Cách ngắt nhịp và gieo vần ở đây linh hoạt hơn nhiều so với các quy định về vần và nhịp trong bài Thơ Đường luật
Tiếp đó chúng tôi câu hỏi thảo luận: Việc ngắt nhịp, gieo vần như vậy có ý nghĩa gì trong việc thể hiện cảm xúc của nhân vật trữ tình? Học sinh thảo luận để đưa ra câu trả lời: cách ngắt nhịp, gieo vần tự do thể hiện sự phong phú, linh hoạt các cung bậc cảm xúc
Ở câu hỏi thứ 4 Học sinh thực hiện nhiệm vụ được giao theo hình thức cá nhân Chúng tôi lưu ý học sinh đọc kĩ văn bản, chú ý sự kết hợp từ lạ, độc đáo sau đó chọn 1 – 2 học sinh trả lời Với câu hỏi này học sinh đã phát hiện rất tinh tế như sau:
Bài thơ có nhiều tổ hợp từ ngữ sáng tạo, chưa có tiền lệ Bản thân nhan đề bài thơ đã là một kết hợp ít bắt gặp trong tiếng Việt khi “mùa xuân” lại gắn liền với động từ trạng thái “chín”, vừa gợi ra một sự vận động ở bên trong, vừa kích thích những tưởng tượng thị giác Các cấu trúc đảo
ngữ, các phép nhân hoá, so sánh đều nhấn mạnh được vẻ phơi phới của sắc xuân và sức xuân:
“Sột soạt gió trêu tà áo biếc”; “Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi/Hổn hển như lời của nước mây” … Sự kết hợp ngôn từ độc đáo đó gợi lên một khung cảnh mùa xuân tươi mới, đẹp đẽ, viên
mãn đầy sức sống từ cảnh tới cảm xúc của con người
Tiếp đó chúng tôi đặt câu hỏi thảo luận thêm: Trạng thái “chín”, viên mãn của mùa xuân được thể hiện qua những hình ảnh nào? Em thích hình ảnh nào nhất? Vì sao? ở câu hỏi này HS
lựa chọn hình ảnh yêu thích và lí giải theo quan điểm cá nhân
Câu hỏi 5 chúng tôi cho Học sinh thực hiện nhiệm vụ được giao theo nhóm 4 đến 6 học sinh Giáo viên lưu ý học sinh đọc kĩ văn bản một lần nữa để nhận ra mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình sau đó chọn đại diện 1 – 2 học sinh phát biểu Học sinh khác bổ sung, nhận xét.Ở câu hỏi này, học sinh đã phát hiện và trả lời khá tốt như sau:
Con người trong bài thơ có khi hiện lên qua một nét chấm phá hoán dụ (“tà áo biếc”), có khi được miêu tả trực tiếp (“Bao cô thôn nữ hát trên đồi”), có khi hiện lên gián tiếp qua “tiếng
ca”, có khi hiện lên trong kí ức của nhân vật trữ tình (người chị “gánh thóc”)… Nhân vật trữ tình trong bài thơ là con người xúc động trước thiên nhiên và con người trong khung cảnh mùa xuân Nhân vật trữ tình hiện diện qua cái nhìn, qua tình cảm trước tạo vật, trong con người Đến khổ
Trang 26cuối, nhân vật trữ tình được khách thể hoá thành hình ảnh “khách xa”, giữa khung cảnh mùa xuân, nhớ về người chị của mình
Đến câu hỏi 6, chúng tôi tiếp tục cho học sinh thực hiện nhiệm vụ theo cặp đôi Học sinh
đã phát hiện và trả lời bài thơ thể hiện cảm xúc rung động, say mê của nhân vật trữ tình trước
cảnh sắc mùa xuân tươi tắn, đẹp đẽ đến độ chín viên mãn của “nắng ửng” “khói mơ tan” “mái nhà tranh lấm tấm vàng” … của con người đang độ xuân nhất, đẹp nhất với “tà áo biếc”; “bao
cô thôn nữ…” Nhưng bài thơ cũng cho thấy những ưu tư, dự cảm của nhân vật trữ tình về sự phôi phai của cái đẹp: “có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi” hay “lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng”, nhớ người chị cũng từng xuân xanh đẹp đẽ nhưng rồi tảo tần vất vả, “chị ấy năm nay…
chang chang”
Như thế các câu hỏi mà chúng tôi xây dựng khổng chỉ hướng tới hiểu tác phẩm tức là vừa thu nhận thông tin, sự kiện và các lớp nội dung của văn bản, đáp ứng yêu cầu đọc trừu xuất
(efferent reading) mà còn chú ý phát triển năng lực đọc thẩm mỹ (aesthetic reading) cho các em
Đó là việc đánh thức, lay động tâm hồn người đọc khi để các em sống với thế giới hình tượng,
“đắm chìm” vào thế giới ấy để thưởng thức với tất cả các cung bậc tình cảm của nhà thơ Rồi từ tâm thế, tâm trạng, tình cảm, cảm xúc ấy, người đọc lại hiểu thêm tác phẩm với những điều mới
mẻ Từ việc sống với thế giới hình tượng, phát hiện, ngộ ra thế giới tâm hồn tha nhân đến việc hiểu chính tâm hồn, tình cảm của bản ngã; tiến tới giác ngộ, chuyển hóa và thay đổi bản thân
2.2.3 Xây dựng hệ thống câu hỏi đọc hiểu giai đoạn sau khi đọc
Sau khi đọc được xem là giai đoạn HS thu hoạch được những gì các em đã làm được trong
suốt tiến trình đọc hiểu thơ trữ tình Đây cũng là lúc các em có cơ hội được đào sâu, mở rộng vốn kiến thức dựa trên cơ sở kiến thức vừa khám phá được từ tác phẩm thơ trữ tình Trên cơ sở hướng dẫn HS xâu chuỗi những thông tin kiến thức đã được tìm hiểu trong quá trình đọc tác phẩm, GV giúp HS vận dụng tri thức đã học vào thực tiễn đời sống, qua đó các em sẽ nhận ra được ý nghĩa từ tác phẩm Các câu hỏi hướng tới đọc thẩm mĩ được sử dụng ở giai đoạn Sau khi đọc giúp HS kết nối các nội dung đã được giải mã ở giai đoạn trước (đặc biệt là giai đoạn Trong khi đọc) để hoàn thiện quá trình đọc hiểu tác phẩm thơ trữ tình Sau khi đọc là giai đoạn HS thực hiện các thao tác nhận xét, đánh giá, phê bình và đưa ra những phản ứng, suy nghĩ, cảm xúc của mình về tác phẩm thơ Vì vậy, hệ thống câu hỏi cần được sử dụng gồm: câu hỏi giải thích, cắt nghĩa, câu hỏi đánh giá, phê bình, vận dụng, câu hỏi tạo lập văn bản
Khi dạy văn bản Mùa xuân chín,sau khi học văn bản chúng tôi đặt ra một số câu hỏi như sau: Cảm xúc của em khi đọc bài thơ? Nêu cảm nhận của em về nhân vật trữ tình trong bài thơ? Từ những thông tin về cuộc đời bất hạnh của Hàn Mặc Tử, hãy phát biểu suy nghĩ, cảm nhận của mình sau khi học văn bản? Ngoài ra trong phần kết nối đọc viết,tôi còn cho học sinh viết đoạn văn trình bày cảm nhận về một câu thơ hoặc một hình ảnh trong bài thơ Mùa xuân chín gợi cho em nhiều ấn tượng và cảm xúc.Với các câu hỏi này, các em có cơ hội bày tỏ, tâm tư, suy nghĩ, đánh giá
của mình về vai trò của sức mạnh nội tại trong mỗi con người Từ đó, các em biết ước mơ, khát vọng và nỗ lực để đạt được ước mơ của mình
Trang 28Có thể thấy rằng, hiệu quả giờ dạy đọc thẩm mĩ phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống câu hỏi đặc biệt
là nghệ thuật đặt câu hỏi của GV tuy nhiên cũng không vì thế mà tôi lạm dụng Bên cạnh việc đặt câu hỏi nhằm kích thích, gợi ý cho học sinh suy nghĩ trả lời ở các cấp độ khác nhau, tôi cũng luôn hướng
dẫn, khuyến khích, tạo điều kiện cho các em tự đặt câu hỏi với GV, với bạn bè trong nhóm, trong lớp để các em có cơ hội bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ, ý tưởng của cá nhân và bộc lộ cách hiểu của
mình Như thế, giờ học thơ trữ tình sẽ trở nên sôi nổi, hào hứng, có ý nghĩa và mang tính hấp dẫn, tích cực hơn Thêm nữa giờ học đạt hiệu quả cao, bên cạnh kĩ thuật đặt câu hỏi, tôi cũng kết hợp với các phương pháp, kĩ thuật dạy học khác để tăng cường sự tham gia tích cực của học sinh nhằm tạo cảm giác hưng phấn, tâm thế thoải mái, dễ chịu cho các em trong giờ học thơ trữ tình