LÊ THỊ HOA ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VIÊM PHỔI DO VIRUS HỢP BÀO HÔ HẤP, ĐỒNG NHIỄM VI KHUẨN Ở BỆNH NHI VÀ HIỆU QUẢ HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ CỦA PROBIOTICS TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG...
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu mục tiêu 1
Bài viết mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của viêm phổi do virus hợp bào hô hấp và đồng nhiễm vi khuẩn ở trẻ em từ 1 đến 24 tháng tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong giai đoạn 2022-2024 Nghiên cứu nhằm cung cấp thông tin quan trọng về triệu chứng lâm sàng, kết quả xét nghiệm và tình trạng sức khỏe của bệnh nhi, từ đó hỗ trợ việc chẩn đoán và điều trị hiệu quả Việc hiểu rõ các đặc điểm này sẽ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ em mắc bệnh viêm phổi.
2.1.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
Trẻ em từ 1 đến 24 tháng tuổi được chẩn đoán mắc viêm phổi cộng đồng do virus hợp bào hô hấp đang được điều trị nội trú tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương.
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
- Trẻ từ 1 đến 24 tháng tuổi
- Được chẩn đoán viêm phổi do RSV mà chưa nằm viện hoặc nhập viện trong vòng 48 giờ đầu
- Cha mẹ bệnh nhi đồng ý tham gia nghiên cứu, giải thích và ký tên vào phiếu đồng ý nghiên cứu
- Trẻ có bệnh nền (bệnh tim bẩm sinh, dị dạng đường thở), trẻ đẻ non
- Trẻ bị đồng nhiễm virus khác (cúm, adenovirus, coronavirus, …)
- Bệnh nhân chuyển khỏi đơn vị điều trị (không vì lý do chuyên môn)
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm phổi do RSV ở trẻ em
Bệnh nhân viêm phổi được chẩn đoán theo tiêu chuẩn WHO-2013 với các triệu chứng như ho hoặc khó thở, kèm theo ít nhất một biểu hiện như thở nhanh theo lứa tuổi, rút lõm lồng ngực, hoặc có âm thanh bất thường khi nghe phổi Đối với trường hợp viêm phổi nặng, bệnh nhân có thể xuất hiện các dấu hiệu như tím tái, spO2 dưới 90%, thở rên, hoặc không ăn uống được X-quang tim phổi cho thấy tổn thương đám mờ không đều ở nhu mô phổi, và kết quả xét nghiệm virus hợp bào hô hấp trong dịch tỵ hầu dương tính.
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm phổi do RSV ở trẻ em yêu cầu bệnh nhi có kết quả Real-time PCR và/hoặc nuôi cấy dịch tỵ hầu dương tính với ít nhất một loại vi khuẩn trong vòng 48 giờ sau khi nhập viện.
- Từ tháng 8 năm 2022 đến hết tháng 11 năm 2023
Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương
2.1.2.1 Thiết kế nghiên cứu Đề tài được thiết kế bằng phương pháp nghiên cứu mô tả tiến cứu
2.1.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu nghiên cứu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho ước lượng 1 tỷ lệ hiện mắc n=Z 2 (1 - /2)
(1 – p) pε 2 Trong đó: n: Là cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu
Hệ số tin cậy Z(1-α/2) cho độ tin cậy 95% là 1,96 Tỷ lệ đồng nhiễm vi khuẩn ở bệnh nhân nhiễm RSV được xác định là p = 0,436, tương ứng với 43,6% theo nghiên cứu của Hishiki H và cộng sự Sai số tương đối ε trong nghiên cứu này được chọn là 0,14.
Thay vào công thức tính được n = 254 bệnh nhi Cộng thêm 10% phòng bỏ nghiên cứu, cỡ mẫu tính toán là 279 bệnh nhi
Trong thời gian nghiên cứu, chúng tôi thu thập được 283 bệnh nhi viêm phổi do RSV
Chúng tôi đã chọn mẫu thuận tiện với các bệnh nhi đủ điều kiện chẩn đoán viêm phổi do RSV Trong vòng 24 giờ đầu nhập viện, các bệnh nhi sẽ được nuôi cấy vi khuẩn dịch tỵ hầu và thực hiện xét nghiệm real-time PCR đa mồi 7 vi khuẩn dịch tỵ hầu Những bệnh nhân có kết quả cấy vi khuẩn và/hoặc PCR dương tính sẽ được phân loại vào nhóm đồng nhiễm vi khuẩn, trong khi những bệnh nhân có cả hai kết quả âm tính sẽ được xếp vào nhóm không đồng nhiễm.
Bài viết phân tích đặc điểm lâm sàng của trẻ từ 1 đến 24 tháng tuổi bị viêm phổi do virus RSV, bao gồm các yếu tố như tuổi, giới tính, triệu chứng ho, khò khè, sốt, thở nhanh, rút lõm lồng ngực, và các âm thở như ran ẩm, ran nổ, ran ngáy, cũng như mức độ bão hòa oxy SpO2 Nghiên cứu cũng so sánh nhóm trẻ có đồng nhiễm vi khuẩn và nhóm không đồng nhiễm vi khuẩn trong quá trình điều trị nội trú tại Bệnh viện Nhi Trung ương.
Nghiên cứu về đặc điểm cận lâm sàng ở trẻ từ 1-24 tháng tuổi bị viêm phổi do RSV cho thấy sự khác biệt giữa nhóm có đồng nhiễm vi khuẩn và nhóm không đồng nhiễm Các chỉ số quan trọng bao gồm tổn thương trên phim chụp X-quang ngực, số lượng bạch cầu, bạch cầu đa nhân trung tính, nồng độ huyết sắc tố, tiểu cầu, CRP, và loại vi khuẩn đồng nhiễm được xác định qua xét nghiệm real-time PCR đa mồi 7 vi khuẩn hoặc nuôi cấy dịch tỵ hầu Thời gian nằm viện cũng là một yếu tố đáng lưu ý trong nghiên cứu này.
2.1.2.4 Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu
Các biến số trong nghiên cứu theo bảng 2.1 như sau:
Bảng 2.1 Các biến số trong nghiên cứu
Tên biến số Định nghĩa biến Phân loại biến
Các khai thác biến số
1 tháng tuổi: tròn 30 ngày đến 59 ngày tuổi
2 tháng tuổi: tròn 60 ngày đến 89 ngày tuổi
1 tuổi: tròn 1 tuổi đến dưới 24 tháng Dưới 6 tháng: trẻ từ 1 đến 5 tháng tuổi
6-11 tháng: trẻ từ 6 đến 11 tháng tuổi 12-24 tháng: trẻ từ 12 đến 24 tháng tuổi
Thứ bậc Hồ sơ bệnh án
Giới Nam, nữ Nhị phân
Hồ sơ bệnh án Sốt
Khi thân nhiệt cơ thể vượt quá giới hạn bình thường, nhiệt độ ở nách ≥ 37,5 0 C [104]
Sốt cao: từ 39,5 độ C trở lên Sốt vừa: 38,5-39,4 độ C Sốt nhẹ: 37,5-38,4 độ C
Quan sát của thầy thuốc khi thăm khám thấy trẻ có tím môi, quanh môi, đầu chi, toàn thân Định tính
Khám lâm sàng, quan sát người bệnh
Tên biến số Định nghĩa biến Phân loại biến
Các khai thác biến số
Ho khan: tiếng ho trong, không có đờm
- Ho đờm: ho thường xuyên có đờm, có thể khạc ra đờm có màu trong suốt hoặc trắng đục, vàng, xanh
Âm thanh thở ra của trẻ em có thể nhẹ nhàng như nhạc, nhưng để nghe rõ, cần áp sát tai vào miệng trẻ và quan sát ngực hoặc bụng Hiện tượng thở khò khè xảy ra khi đường dẫn khí ở phổi bị hẹp, khiến thì thở ra kéo dài hơn bình thường và yêu cầu trẻ phải nỗ lực hơn khi thở.
Ranh giới giữa ngực và bụng dưới lồng ngực có thể thấy rõ khi lồng ngực bị lõm vào trong lúc hít vào, trong khi các phần khác của lồng ngực và bụng di chuyển ra ngoài Đây là dấu hiệu của hiện tượng rút lõm lồng ngực.
- Rút lõm lồng ngực chỉ có giá trị khi quan sát lúc trẻ nằm yên, xảy ra liên tục
Khám lâm sàng, quan sát lồng ngực trẻ khi thở
- Trẻ < 2 tháng nhịp thở ≥ 60 chu kỳ/phút [59]
- Trẻ từ 2 tháng – 160 chu kỳ /phút [105]
Trẻ từ 12 tháng trở lên: nhịp tim
Khám lâm sàng, đến nhịp tim
- Giá trị của CRP Định lượng, liên tục Xét nghiệm
Giá trị spO2 ≤94% Nhị phân
Số gram Hb/dl máu Định lượng, liên tục
Dành cho trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên Thiếu máu: Huyết sắc tố 5 x 10 9 CFU/5 mL, được sử dụng ở dạng xịt vào mũi, họng
- Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 8 năm 2022 đến hết tháng 11 năm 2023
Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương
- Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng Tiến hành trên đối tượng bệnh nhi viêm phổi do RSV và đồng nhiễm vi khuẩn
- So sánh giữa 2 nhóm: Nhóm chứng sử dụng nước muối sinh lý 0,9% và nhóm probiotics sử dụng bào tử lợi khuẩn
2.2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định dựa trên giả thuyết rằng bào tử lợi khuẩn có khả năng cải thiện triệu chứng hiệu quả hơn 25% Cụ thể, 90% người sử dụng sản phẩm bào tử lợi khuẩn mất đi triệu chứng trong khoảng thời gian từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 6, trong khi tỷ lệ này ở nhóm chứng chỉ đạt 65% Công thức tính cỡ mẫu được áp dụng để đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu.
Z = 0,84 p1 tỷ lệ khỏi bệnh của nhóm chứng (p1 = 0,65) p2 tỷ lệ khỏi bệnh của nhóm bào tử lợi khuẩn (p2= 0,9), p = (p1 + p2)/2 = 0,775 n1: số bệnh nhân nhóm chứng = n2: số bệnh nhân nhóm bệnh
Tính được cỡ mẫu bằng 43
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 101 bệnh nhi được chia thành 2 nhóm: nhóm chứng gồm 50 bệnh nhi và nhóm Probiotics gồm 51 bệnh nhi Để có được 101 bệnh nhi tham gia, chúng tôi đã sàng lọc 283 bệnh nhi bị viêm phổi do RSV từ nghiên cứu mục tiêu 1.
+ Mẫu được thu thập theo nguyên tắc lấy mẫu thuận tiện
Trong nghiên cứu, 120 bệnh nhi mắc viêm phổi do RSV và đồng nhiễm vi khuẩn đã được chọn ngẫu nhiên, với kết quả Real-time PCR dương tính ít nhất với một vi khuẩn gây bệnh Người tham gia được phân chia thành hai nhóm qua bốc thăm: nhóm Chứng sử dụng nước muối sinh lý NaCl 0,9% và nhóm Probiotics sử dụng probiotics Có 9 bệnh nhi trong nhóm Probiotics và 10 bệnh nhi trong nhóm Đối chứng đã rút khỏi nghiên cứu do ra viện sớm hoặc chuyển khoa khác Cuối cùng, nghiên cứu còn lại 51 trẻ trong nhóm Probiotics và 50 trẻ trong nhóm Đối chứng.
Nghiên cứu được thực hiện trên hai nhóm đối tượng, bao gồm nhóm sử dụng probiotics và nhóm chứng, nhằm điều trị viêm phổi do RSV kết hợp với nhiễm khuẩn Bệnh nhi được xịt thuốc mã hóa dưới dạng mẫu mù để đảm bảo tính khách quan, với liều lượng khoảng 50 µl/lần, 3 lần/ngày, vào hốc mũi, kết hợp với các liệu pháp điều trị tiêu chuẩn tại bệnh viện cho đến khi xuất viện Các phương pháp điều trị bao gồm liệu pháp oxy, kháng sinh, khí dung thuốc giãn phế quản, methylprednisolone chống viêm, truyền dịch và thông thoáng đường thở Mỗi lần xịt cung cấp khoảng 50 µl bào tử lợi khuẩn, tương đương ≥ 2,5 x 10^8 CFU của B subtilis ANA4 và B clausii ANA39 Trong suốt quá trình điều trị, các triệu chứng lâm sàng như xuất tiết mũi, khò khè, khó thở và các chỉ số sinh tồn được theo dõi hàng ngày cho đến khi bệnh nhi ra viện.
Bệnh nhi được tiến hành đo tải lượng virus hợp bào hô hấp và vi khuẩn đồng nhiễm, cũng như nồng độ IL-6, IL-8, TNF-α và IgA trong dịch mũi họng vào ngày thứ 0 và sau 3 ngày, trước 30 phút của lần xịt mũi thứ 10.
Nghiên cứu đã đánh giá tác dụng điều trị triệu chứng của probiotics ở nhóm bệnh nhi, tập trung vào các triệu chứng lâm sàng như ho, sổ mũi, khò khè, sốt, nhịp thở, độ bão hòa oxy qua da, nhịp tim và ran ở phổi Các triệu chứng này được theo dõi trước khi điều trị, sau 3 ngày và sau 5 ngày điều trị ở cả nhóm bệnh nhi sử dụng bào tử lợi khuẩn và nhóm chứng.
Nghiên cứu về tính an toàn của sản phẩm probiotics dạng xịt chứa bào tử lợi khuẩn trên trẻ em mắc viêm phổi do RSV và đồng nhiễm vi khuẩn cho thấy cần theo dõi các chỉ số lâm sàng quan trọng Các chỉ số này bao gồm mạch, nhịp thở, độ bão hòa oxy qua da, nhiệt độ và sự tham gia của các cơ hô hấp phụ trước, trong và sau khi sử dụng sản phẩm xịt mũi Việc theo dõi kỹ lưỡng giúp đánh giá hiệu quả và độ an toàn của probiotics trong điều trị bệnh nhi viêm phổi.
Nghiên cứu so sánh tải lượng virus hợp bào hô hấp, tình trạng vi khuẩn đồng nhiễm, cùng với nồng độ IL-6, IL-8, TNF-α và IgA trong dịch mũi họng vào ngày 0 và sau 3 ngày (trước 30 phút của lần xịt mũi thứ 10) giữa hai nhóm: nhóm xịt Probiotics và nhóm đối chứng.
2.2.2.4 Các biến số, chỉ số trong nghiên cứu và cách đo lường
Các biến số trong nghiên cứu theo bảng 2.1 và thêm các biến như sau:
Bảng 2.3 Các biến số trong nghiên cứu
Tên biến số Định nghĩa biến, đơn vị đo lường Phân loại biến
Cách khai thác biến số
Quan sát khi xịt mũi (Probiotics hoặc nước muối sinh lý) trẻ tím tái môi, đầu chi, toàn thân Định tính, nhị phân
Quan sát khi xịt mũi (Probiotics hoặc nước muối sinh lý) trẻ tím tái toàn thân, tắc mũi, ngừng thở Định tính, nhị phân
Quan sát khi xịt mũi (Probiotics hoặc nước muối sinh lý) trẻ ho sặc sụa Định tính, nhị phân
Tên biến số Định nghĩa biến, đơn vị đo lường Phân loại biến
Cách khai thác biến số Đỏ da, sưng nề ở mũi
Quan sát trong và sau khi xịt có hiện tượng đỏ da, sưng nề mũi Định tính Khám lâm sàng
Mạch, spO2, nhịp thở, nhiệt độ Đo bằng máy monitoring Đếm nhịp thở trong 1 phút Đo nhiệt độ bằng nhiệt kế thủy ngân Định tính, nhị phân
Giá trị chu kỳ ngưỡng (Ct) ngày 0, sau 3 ngày Định lượng, rời rạc
Xét nghiệm dịch tỵ hầu
Tải lượng vi khuẩn đồng nhiễm
Giá trị chu kỳ ngưỡng (Ct) của vi khuẩn ngày 0, sau 3 ngày Định lượng, rời rạc
Xét nghiệm dịch tỵ hầu
IL-6 Nồng độ interleukin-6 trong dịch mũi họng (pg/l)ngày 0, sau 3 ngày Định lượng, liên tục
Xét nghiệm dịch tỵ hầu
IL-8 Nồng độ interleukin-8 trong dịch mũi họng (pg/l) ngày 0, sau 3 ngày Định lượng, liên tục
Xét nghiệm dịch tỵ hầu
TNF-α Nồng độ TNF-α trong dịch mũi họng (pg/l) ngày 0, sau 3 ngày Định lượng, liên tục
Xét nghiệm dịch tỵ hầu
IgA Nồng độ IgA trong dịch mũi họng
(pg/l) ngày 0, sau 3 ngày Định lượng, liên tục
Xét nghiệm dịch tỵ hầu
Các triệu chứng được đánh giá trước, trong và sau khi xịt probiotics và nước muối sinh lý bao gồm xuất tiết mũi, nhịp thở, mạch, mức độ oxy trong máu (spO2), tình trạng tím tái, ngừng thở, kích thích niêm mạc mũi, cũng như các phản ứng như nôn, ỉa chảy và co giật.
Thời gian phục hồi các triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân bao gồm thời gian hết sốt, ho, sổ mũi, khò khè, ran ẩm, ran rít và triệu chứng rút lõm lồng ngực.
Các chỉ số trong nghiên cứu
Mức giảm và số lần giảm của tải lượng RSV cùng với vi khuẩn bội nhiễm được xác định thông qua sự khác biệt giữa các giá trị Ct (chu kỳ ngưỡng).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhi viêm phổi do virus hợp bào hô hấp, đồng nhiễm vi khuẩn
3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Hình 3.1 Phân bố bệnh theo tuổi (n(3)
Nhận xét: Lứa tuổi hay gặp nhất trong nghiên cứu là dưới 6 tháng
(62,9%), tiếp đến là trẻ từ 6-11 tháng chiếm 22,3%, nhóm trẻ từ 12- 24 tháng chiếm tỷ lệ thấp nhất 14,8%
- Giới tính và địa dư hành chính
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhi theo giới tính và địa dư
Nhận xét: Số bệnh nhi nam nhiều hơn nữ, tỷ lệ nam: nữ xấp xỉ 1,8:1
Bệnh nhi ở nông thôn chiếm 64,3% nhiều gấp 1,8 lần số bệnh nhi ở thành thị (35,7%)
- Phân bố bệnh nhân theo từng tháng
Hình 3.2 Phân bố bệnh nhi theo tháng mắc bệnh (n(3)
Nhiễm RSV xảy ra quanh năm, với số bệnh nhi cao nhất ghi nhận vào tháng 5 năm 2023 (13,8%), tiếp theo là tháng 2/2023 (13,1%) và tháng 8/2022 (11,8%) Trong khi đó, tháng 11/2023 ghi nhận số ca bệnh thấp nhất, chỉ đạt 1,8%.
3.1.2 Đặc điểm chung lâm sàng, cận lâm sàng của viêm phổi do RSV
3.1.2.1 Đặc điểm chung về lâm sàng
Bảng 3.2 Các triệu chứng cơ năng (n(3)
Triệu chứng Số lượng Tỷ lệ
Thời gian xuất hiện TC trước vào viện (ngày)
Xuất tiết mũi 277 97,9 3,63±1,60 Ăn kém 237 83,7 3,28±1,38
Các triệu chứng viêm long hô hấp như ho, xuất tiết mũi và khò khè thường gặp ở hầu hết trẻ em Tình trạng ăn kém chiếm tỷ lệ cao, lên đến 83,7% ở những bệnh nhi cần nhập viện Sốt xuất hiện ở 61,8% trường hợp, trong khi tiêu chảy cũng là một triệu chứng tiêu hóa thường gặp với tỷ lệ 18% Các triệu chứng này thường xuất hiện trung bình 3-4 ngày trước khi bệnh nhi nhập viện.
Bảng 3.3 Các triệu chứng thực thể (n(3)
Triệu chứng thực thể Số lượng Tỷ lệ (%)
Trong một nghiên cứu về trẻ em mắc viêm phổi, có tới 76,3% trẻ có độ bão hòa oxy qua da ≤ 94% Các triệu chứng điển hình của bệnh bao gồm rút lõm lồng ngực và thở nhanh theo tuổi, lần lượt chiếm 67,8% và 41,7% Đáng chú ý, tỷ lệ trẻ có cả triệu chứng ran rít và ran ẩm ở phổi cao nhất đạt 51,2%, trong khi đó, 25,4% trẻ chỉ xuất hiện triệu chứng ran ẩm.
3.1.2.2 Đặc điểm chung về cận lâm sàng
Bảng 3.4 Các triệu chứng cận lâm sàng
Công thức máu Số lượng Tỷ lệ %
Nhận xét: Đa số bệnh nhi có số lượng bạch cầu, bạch cầu trung tính,
CRP bình thường (tỷ lệ lần lượt là 81,3%, 80,9% và 55,0%) Trong số các trẻ từ 6 tháng trở lên, tỷ lệ trẻ bị thiếu máu là 23,1%
Bảng 3.5 Các tổn thương phổi trên phim chụp X-quang ngực thẳng
Tổn thương phổi Số lượng Tỷ lệ (%) Đám mờ, nốt mờ 2 trường phổi 214 75,6 Đám mờ cạnh tim 19 6,7
Nốt mờ, tổn thương kẽ, ứ khí 17 6,0 Đám mờ thùy trên P 11 3,9
Tổn thương phổi trên phim X-quang thường biểu hiện dưới dạng đám mờ và nốt mờ ở hai phổi, chiếm tới 75,6% Các loại tổn thương khác như đám mờ cạnh tim, nốt mờ, tổn thương kẽ, ứ khí, đám mờ thùy trên phổi phải và dày thành phế quản có tỷ lệ thấp hơn.
3.1.3 Tình trạng đồng nhiễm vi khuẩn ở bệnh nhi viêm phổi do RSV
3.1.3.1 Tác nhân vi sinh phân lập được qua các phương pháp
Bảng 3.6 Tỷ lệ xác định vi khuẩn dương tính trong dịch tỵ hầu qua phương pháp real-time PCR và nuôi cấy dịch tỵ hầu
Phương pháp Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
* có 10 bệnh nhi không làm xét nghiệm PCR 7 vi khuẩn
** có 1 bệnh nhi không nuôi cấy dịch tỵ hầu
Tỷ lệ phát hiện vi khuẩn trong dịch tỵ hầu bằng kỹ thuật real-time PCR đạt 47,3%, trong khi tỷ lệ dương tính vi khuẩn qua phương pháp nuôi cấy chỉ là 36,9%.
- Tác nhân đồng nhiễm xác định qua kỹ thuật real-time PCR 7 vi khuẩn
Hình 3.3 Các loại vi khuẩn phân lập được qua kỹ thuật real-time PCR 7 vi khuẩn
Vi khuẩn H influenzae chiếm tỷ lệ cao nhất với 53,4% trong số trẻ em được nghiên cứu, tiếp theo là S pneumoniae với 24% Đáng chú ý, 15,5% trẻ bị nhiễm đồng thời cả hai loại vi khuẩn S pneumoniae và H influenzae Ngoài ra, có 3,1% trẻ nhiễm M pneumoniae và 1,6% bệnh nhân nhiễm cả S pneumoniae và M pneumoniae.
- Tác nhân vi khuẩn đồng nhiễm xác định qua nuôi cấy dịch tỵ hầu
Bảng 3.7 Tác nhân vi khuẩn đồng nhiễm xác định được qua nuôi cấy dịch tỵ hầu (n4)
Loại vi khuẩn Số lượng Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhi chỉ nhiễm H influenzae cao nhất 55,7%, S pneumoniae chiếm 14,4%, M catarrhalis chiếm 11,5%, S aureus chiếm 10,6%
- So sánh sự phù hợp tác nhân giữa 2 phương pháp
Bảng 3.8 Sự phù hợp tác nhân giữa 2 phương pháp RT-PCR và nuôi cấy vi khuẩn
Không Cùng loại vi cấy khuẩn n (%)
Trong nghiên cứu, có 71/283 (25,1%) trường hợp cho kết quả dương tính cả real-time PCR và nuôi cấy vi khuẩn Đáng chú ý, 42,8% trường hợp cho kết quả âm tính ở cả hai phương pháp, trong khi 20,1% trường hợp real-time PCR dương tính nhưng nuôi cấy âm tính Ngoài ra, 8,1% trường hợp nuôi cấy vi khuẩn dương tính nhưng real-time PCR không phát hiện được vi khuẩn Có 3,5% trường hợp không thực hiện RT-PCR nhưng vẫn cho kết quả nuôi cấy dương tính, và 1 trường hợp (0,4%) cho kết quả real-time PCR dương tính nhưng không được nuôi cấy vi khuẩn.
Bảng 3.9 Tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn H influenzae
Tên kháng sinh Số lượng
Nhận xét: Trong số 61 chủng vi khuẩn phân lập được thì có 72,1% số vi khuẩn tiết men betalactamase Tỷ lệ kháng kháng sinh của H influenzae với
Ampicillin, Cefuroxime, and Cefaclor account for over 90% of bacterial strains, with a low sensitivity of 32.1% to the combination of Ampicillin and Sulbactam Cefotaxime demonstrates a high sensitivity rate of 98.2% and shows no resistance to Ceftriaxone, Imipenem, and Ciprofloxacin.
3.1.3.2 Tỷ lệ đồng nhiễm vi khuẩn
Hình 3.4 Tỷ lệ đồng nhiễm vi khuẩn (n(3)
Trong một nghiên cứu với 283 bệnh nhi, có 162 trường hợp, tương đương 57,2%, cho thấy đồng nhiễm vi khuẩn, với ít nhất một kết quả dương tính qua phương pháp real-time PCR hoặc nuôi cấy vi khuẩn dịch tỵ hầu.
3.1.4 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhi viêm phổi do virus hợp bào hô hấp và đồng nhiễm vi khuẩn
3.1.4.1 Phân bố tuổi, giới theo tình trạng đồng nhiễm
Bảng 3.10 Phân bố tuổi, giới theo tình trạng đồng nhiễm vi khuẩn
Số lượng Tỷ lệ (%) Số p lượng
Tỷ lệ trẻ từ 6-11 tháng tuổi trong nhóm đồng nhiễm đạt 27,8%, cao hơn so với 14,9% ở nhóm không đồng nhiễm Ngược lại, tỷ lệ trẻ dưới 6 tháng và trẻ từ 12 tháng trong nhóm đồng nhiễm lại thấp hơn so với nhóm không đồng nhiễm.
Tỷ lệ nhiễm bệnh trong nhóm có đồng nhiễm đạt 42,8%, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p