THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG TỔ CHỨC CẤP CỨU NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO CẤP VÀ KẾT QUẢ CAN THIỆP Ở 6 BỆNH VIỆN KHU VỰC MIỀN BẮC, VIỆT NAM THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG TỔ CHỨC CẤP CỨU NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO CẤP VÀ KẾT QUẢ CAN THIỆP Ở 6 BỆNH VIỆN KHU VỰC MIỀN BẮC, VIỆT NAM THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG TỔ CHỨC CẤP CỨU NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO CẤP VÀ KẾT QUẢ CAN THIỆP Ở 6 BỆNH VIỆN KHU VỰC MIỀN BẮC, VIỆT NAM THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG TỔ CHỨC CẤP CỨU NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO CẤP VÀ KẾT QUẢ CAN THIỆP Ở 6 BỆNH VIỆN KHU VỰC MIỀN BẮC, VIỆT NAM THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG TỔ CHỨC CẤP CỨU NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO CẤP VÀ KẾT QUẢ CAN THIỆP Ở 6 BỆNH VIỆN KHU VỰC MIỀN BẮC, VIỆT NAM Kết quả tổ chức đào tạo cho nhân viên y tế ứng dụng công nghệ thông tin và phần mềm quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp .... 74B
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu mô tả (mục tiêu 1&2)
Các báo cáo thống kê về hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong cấp cứu đột quỵ thiếu máu não tại 6 bệnh viện
Các bác sỹ, điều dưỡng viên, kỹ thuật viên liên quan đến hoạt động cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp tại các bệnh viện trên
Trong năm 2022, các bệnh viện đã trang bị công nghệ thông tin và phần mềm tổ chức cấp cứu cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp Những thiết bị này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả cấp cứu và cải thiện khả năng chẩn đoán kịp thời cho người bệnh.
Trong giai đoạn 2020-2022, các bệnh viện đã xây dựng hồ sơ và tài liệu chi tiết về quy trình cấp cứu bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp tại khoa/đơn vị đột quỵ Những tài liệu này nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và đảm bảo sự an toàn cho bệnh nhân trong quá trình cấp cứu.
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian thu thập số liệu: từ năm 2020 đến năm 2022 Địa điểm: Tại 6 bệnh viện khu vực miền Bắc
Sáu bệnh viện tọa lạc tại các tỉnh Hải Dương, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Thành phố Hà Nội, đều là những cơ sở y tế uy tín với hơn 60 năm truyền thống, thuộc hạng I và II Gần đây, các bệnh viện đã được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất mới và trang thiết bị y tế hiện đại, tạo điều kiện cho bác sĩ áp dụng tiến bộ khoa học vào chẩn đoán và điều trị Mỗi bệnh viện là trung tâm khám chữa bệnh lớn, sẵn sàng tiếp nhận và cấp cứu cho mọi đối tượng cần điều trị.
Các bệnh viện đều đầy đủ các chuyên khoa với lực lượng chuyên môn hùng hậu, giầu kinh nghiệm và có đạo đức nghề nghiệp
Sáu bệnh viện trong mạng lưới cấp cứu đột quỵ đã triển khai mô hình đơn vị đột quỵ nhằm cấp cứu kịp thời cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp Các chuyên khoa như Cấp cứu, Hồi sức, Nội thần kinh và Ngoại khoa phối hợp chặt chẽ với nhau và với các đơn vị thành viên trong mạng lưới để thực hiện hội chẩn và chuyển tuyến hiệu quả.
Kể từ năm 2010, các bệnh viện đã áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám chữa bệnh, với việc triển khai hệ thống HIS và LIS Nhiều bệnh viện còn áp dụng các phân hệ nâng cao như PACS và bệnh án điện tử EMR Hầu hết các vị trí làm việc trong bệnh viện đều được trang bị máy tính kết nối mạng LAN, và có đội ngũ nhân viên công nghệ thông tin hỗ trợ triển khai ứng dụng và hỗ trợ người sử dụng.
Hiện nay, các bệnh viện chưa kết nối hệ thống công nghệ thông tin và phần mềm quản lý khám chữa bệnh, gây khó khăn trong phối hợp chuyên môn Đặc biệt, trong điều trị bệnh đột quỵ thiếu máu não, hệ thống Telemedicine rất cần thiết để kết nối các bác sĩ giữa các tuyến, giúp hội chẩn và điều trị kịp thời, từ đó cứu sống bệnh nhân trong thời gian ngắn nhất.
Hình 2.1 Bản đồ hành chính các địa điểm nghiên cứu (nguồn internet)
Bệnh viện số 1 Bệnh viện số 2
Bệnh viện số 5 Bệnh viện số 6
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính
2.1.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Tất cả các báo cáo thống kê về cơ sở vật chất và hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, cũng như hồ sơ và tài liệu liên quan đến tổ chức cấp cứu cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp, đã được thu thập từ 6 bệnh viện nghiên cứu.
Nghiên cứu được thực hiện với 159 nhân viên y tế đủ tiêu chuẩn, tham gia vào các hoạt động cấp cứu cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp tại 6 bệnh viện khu vực miền Bắc Cỡ mẫu này được chọn nhằm đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy cho nghiên cứu định tính.
Bài nghiên cứu bao gồm 03 người tham gia, trong đó có 01 cán bộ quản lý từ bệnh viện (thuộc ban giám đốc hoặc lãnh đạo phòng kế hoạch tổng hợp), 01 phụ trách công nghệ thông tin của bệnh viện hoặc khoa/đơn vị đột quỵ, và 01 nhân viên y tế chuyên môn Tổng số nhân viên y tế được nghiên cứu định tính là 18 người.
Tiêu chuẩn lựa chọn nhân viên y tế
Các bác sỹ, điều dưỡng viên, kỹ thuật viên làm việc trong lĩnh vực cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp
Cam kết làm việc tại khoa/đơn vị đột quỵ ít nhất 1 năm (để đảm bảo thời gian can thiệp và đánh giá hiệu quả can thiệp)
Tự nguyện tham gia nghiên cứu
Nhân viên y tế không có mặt trong thời gian nghiên cứu (ốm đau, đi học, có kế hoạch chuyển công tác…)
STT Biến số Định nghĩa biến/chỉ số Phân loại biến
PP thu thập A1 Thông tin hành chính bệnh viện
1 Bệnh viện Tên bệnh viện Danh mục Phát vấn
2 Phân loại Phận hạng bệnh viện (hạng I, II, III) theo Thông tư 06/2024/TT-BYT [1] Danh mục Phát vấn
Mức ứng dụng CNTT của bệnh viện theo Thông tư 54/2017/TT-BYT của
Bộ Y tế: mức 1; mức 2; mức 3
4 Đơn vị hoạt động khám chữa bệnh đột quỵ
Hình thức tổ chức: Đội đột quỵ, Đơn vị đột quỵ, Khoa đột quỵ Danh mục Phát vấn
Bệnh viện đã ban hành quy chế hoạt động nhằm cải thiện quy trình khám bệnh và chữa bệnh đột quỵ, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa các bộ phận trong việc chăm sóc bệnh nhân Quy chế này giúp nâng cao hiệu quả điều trị và đảm bảo an toàn cho người bệnh, góp phần vào việc quản lý tốt hơn các ca đột quỵ.
Nhị phân (Có/không) Phát vấn
A2 Thông tin nhân viên y tế
6 Tuổi Tính theo dương lịch Liên tục Phát vấn
7 Giới tính Giới tính của đối tượng nghiên cứu Nhị phân Phát vấn
8 Đối tượng Nghề nghiệp của nhân viên y tế (Bác sỹ, Điều dưỡng viên, Khác) Danh mục Phát vấn
Trình độ học vấn của nhân viên y tế (Tiến sĩ, Thạc sĩ , Đại học, Cao đẳng, trung cấp, khác)
10 Thâm niên công tác trong nghề y Số năm công tác trong nghề y Liên tục Phát vấn
11 Thâm niên công tác trong lĩnh vực
Số năm công tác lĩnh vực khám, chữa bệnh đột quỵ Liên tục Phát vấn
STT Biến số Định nghĩa biến/chỉ số Phân loại biến
PP thu thập khám, chữa bệnh đột quỵ
Lĩnh vực hoạt động khám, chữa bệnh đột quỵ
Khoa công tác của NVYT: Cấp cứu, Hồi sức tích cực, Nội thần kinh, Ngoại thần kinh, khác
Thông tin về đào tạo cơ bản về
Thời gian, nội dung, nơi đào tạo Danh mục Phát vấn
Thông tin về đào tạo liên tục hàng năm về CNTT
Thời gian, nội dung, nơi đào tạo Danh mục Phát vấn
15 Nhu cầu đào tạo sử dụng CNTT
Nội dung đào tạo (CNTT cơ bản, phần mềm quản lý bệnh viện…), hình thức đào tạo (trực tiếp, trực tuyến, kết hợp)
Mục tiêu 1: Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp
Số lượng, trình độ, thâm niên của các cán bộ bảo đảm hoạt động CNTT của bệnh viện
17 Sự sẵn có của hệ thống CNTT
Phân công cán bộ trực CNTT, trang thiết bị dự phòng (máy tính, máy in, đường truyền )
18 Tình trạng trang thiết bị CNTT
Số lượng, cấu hình, phân cấp chất lượng, tình trạng hoạt động của: Máy chủ, máy trạm, máy in
Phát vấn/ Quan sát/ kiểm kê
STT Biến số Định nghĩa biến/chỉ số Phân loại biến
Phần mềm ứng dụng của bệnh viện
Danh sách phần mềm phục vụ cho khám chữa bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp (HIS, LIS, PACS, EMR, Telemedicine, mạng xã hội ), tình trạng hoạt động
Phát vấn/ Quan sát/ kiểm kê
Đánh giá hệ thống phần mềm quản lý, trang thiết bị và hạ tầng CNTT là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công việc của nhân viên y tế Những đánh giá này giúp xác định các điểm mạnh và điểm yếu của hệ thống hiện tại, từ đó đề xuất các cải tiến cần thiết để tối ưu hóa quy trình làm việc Việc thu thập ý kiến từ nhân viên y tế về hệ thống phần mềm sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về trải nghiệm người dùng và khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế trong môi trường y tế.
21 Đánh giá các nội dung liên quan
Công nghệ thông tin (CNTT) đóng vai trò quan trọng trong việc cấp cứu bệnh nhân ĐQTMNC, với sự đánh giá từ nhân viên y tế về tính cần thiết và những khó khăn trong triển khai Các thách thức khi sử dụng mạng xã hội và yêu cầu đối với phần mềm cũng được nhấn mạnh, cùng với nhu cầu tập huấn sử dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác cứu chữa.
Mục tiêu 2 tập trung vào việc nâng cao kiến thức và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin của nhân viên y tế trong tổ chức cấp cứu cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp Việc này không chỉ giúp cải thiện quy trình cấp cứu mà còn nâng cao hiệu quả điều trị, đảm bảo bệnh nhân nhận được sự chăm sóc kịp thời và chính xác Sự phối hợp giữa công nghệ và y tế là yếu tố then chốt trong việc tối ưu hóa kết quả điều trị cho bệnh nhân đột quỵ.
Nhận biết ưu điểm ứng dụng CNTT trong cấp cứu ĐQTMNC đối với
NVYT chỉ ra được ưu điểm khi ứng dụng phần mềm quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong tổ chức cấp cứu ĐQTMNC
Nhận biết ưu điểm ứng dụng CNTT trong cấp cứu ĐQTMNC đối với quá trình cấp cứu
NVYT chỉ ra được ưu điểm khi ứng dụng phần mềm quản lý kết nối giữa các bệnh viện đối với quá trình cấp cứu
STT Biến số Định nghĩa biến/chỉ số Phân loại biến
Nhận biết ưu điểm ứng dụng CNTT trong cấp cứu ĐQTMNC đối với quá trình chẩn đoán, chỉ định
NVYT chỉ ra được ưu điểm khi ứng dụng phần mềm quản lý kết nối giữa các bệnh viện đối với quá trình chẩn đoán, chỉ định
Nhận biết ưu điểm ứng dụng CNTT trong cấp cứu ĐQTMNC đối với quá trình điều trị
NVYT chỉ ra được ưu điểm khi ứng dụng phần mềm quản lý kết nối giữa các bệnh viện đối với quá trình điều trị
Nhận biết ưu điểm ứng dụng CNTT trong cấp cứu ĐQTMNC đối với công tác quản lý
NVYT chỉ ra được ưu điểm khi ứng dụng phần mềm quản lý kết nối giữa các bệnh viện đối với công tác quản lý
Nhận biết được khó khăn khi triển khai ứng dụng
NVYT chỉ ra được ác khó khăn khi triển khai phần mềm quản lý kết nối giữa các bệnh viện
Kiến thức chung và thực hành của
Kiến thức, thực hành của NVYT về CNTT cơ bản, phần mềm tin học văn phòng
Kiến thức, thực hành của NVYT về sử dụng CNTT trong bệnh viện
Kiến thức, thực hành của NVYT về các phần mềm quản lý y tế trong bệnh viện (HIS, LIS, PACS)
STT Biến số Định nghĩa biến/chỉ số Phân loại biến
Kiến thức, thực hành của NVYT về sử dụng CNTT trong kết nối y khoa
Nhân viên y tế cần nâng cao kiến thức và thực hành về hội nghị truyền hình trực tuyến và chia sẻ thông tin qua hệ thống telemedicine Việc sử dụng phần mềm quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong tổ chức cấp cứu ĐQTMNC là rất quan trọng Bên cạnh đó, việc áp dụng telemedicine trên điện thoại thông minh cũng góp phần cải thiện hiệu quả trong việc chăm sóc sức khỏe.
Khó khăn, thuận lợi, rào cản trong ứng dụng CNTT
Nhu cầu đào tạo về công nghệ thông tin ngày càng tăng cao, đặc biệt là trong việc đánh giá hiệu quả ứng dụng phần mềm quản lý Cần xem xét các yếu tố như nội dung, kỹ thuật, thời gian dành cho hoạt động nhập số liệu, đội ngũ nhân sự và chi phí liên quan để đảm bảo kết quả ứng dụng đạt hiệu quả tối ưu.
Lợi ích của phần mềm đối với người bệnh và nhân viên y tế
Những ưu điểm, tồn tại của phần mềm, Nguyên nhân, giải pháp
Nhu cầu, khả năng kết nối của phần mềm
Khả năng chấp nhận sử dụng của đơn vị Đề xuất ưu tiên hỗ trợ để triển khai tốt ứng dụng phần mềm mới trong quản lý
Nghiên cứu can thiệp (mục tiêu 3)
Các bác sỹ, điều dưỡng viên, kỹ thuật viên liên quan đến hoạt động cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp
* Tiêu chuẩn lựa chọn nhân viên y tế
Các bác sĩ, điều dưỡng viên và kỹ thuật viên thường xuyên tham gia vào công tác cấp cứu cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp tại khoa hoặc đơn vị chuyên trách về đột quỵ.
Cam kết làm việc tại khoa/đơn vị đột quỵ ít nhất 1 năm (thời gian can thiệp và đánh giá hiệu quả can thiệp)
Tự nguyện tham gia nghiên cứu
Nhân viên y tế không có mặt trong thời gian nghiên cứu (ốm đau, đi học, có kế hoạch chuyển công tác…)
2.2.2 Thời gian thực hiện can thiệp
Thời gian Nội dung công việc
1-2/2023 Xây dựng tài liệu đào tạo và phần mềm quản lý kết nối
3-11/2023 Tổ chức đào tạo cho nhân viên y tế; Ứng dụng phần mềm quản lý kết nối; Theo dõi và giám sát triển khai 3/2024 Đánh giá sau can thiệp
Nghiên cứu này là một can thiệp không đối chứng, áp dụng mô hình đánh giá trước và sau can thiệp Nó kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính thông qua phỏng vấn sâu và quan sát trực tiếp Thiết kế can thiệp được xây dựng dựa trên kết quả của nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, nhằm tối ưu hóa hoạt động can thiệp.
Sơ đồ 2.1 Thiết kế nghiên cứu can thiệp 2.2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Nghiên cứu đã chọn mẫu có chủ đích 159 nhân viên y tế đủ tiêu chuẩn từ 6 bệnh viện khu vực miền Bắc để tham gia vào các hoạt động cấp cứu cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp Sau khi can thiệp, cỡ mẫu nghiên cứu còn lại là 157 do 2 nhân viên y tế chuyển đơn vị công tác và không thể theo dõi.
Xây dựng mô hình can thiệp
(6) Bệnh viện số 6 Đánh giá TRƯỚC can thiệp Đánh giá SAU can thiệp CAN THIỆP
- Kết quả tổ chức đào tạo, triển khai ứng dụng phần mềm
- Kết quả đào tạo nâng cao kiến thức, thực hành về CNTT chung của NVYT
Kết quả ứng dụng phần mềm quản lý kết nối giữa các bệnh viện cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp đã được đánh giá bởi 18 nhân viên y tế, với mỗi đơn vị tham gia gồm 3 người: 1 cán bộ quản lý bệnh viện (ban giám đốc hoặc lãnh đạo phòng kế hoạch tổng hợp), 1 phụ trách công nghệ thông tin của bệnh viện hoặc khoa đột quỵ, và 1 nhân viên y tế chuyên môn.
Căn cứ pháp lý cho nội dung can thiệp bao gồm Thông tư 54/2017/TT-BYT quy định bộ tiêu chí ứng dụng công nghệ thông tin tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Thông tư 46/2018/TT-BYT quy định hồ sơ bệnh án điện tử nhằm quản lý và sử dụng hồ sơ bệnh án điện tử (EMR); Thông tư 49/2017/TT-BYT về hoạt động y tế từ xa tại Việt Nam; Quyết định 5969/QĐ-BYT phê duyệt kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin của Bộ Y tế giai đoạn 2021-2025; và Quyết định 4888/QĐ-BYT phê duyệt đề án ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin y tế thông minh giai đoạn 2019.
2025 [6]; Quyết định phê duyệt chương trình chuyển đổi số y tế đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 [8]
Dựa trên nhu cầu thực tế về việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác khám, chữa bệnh, cùng với kết quả nghiên cứu mô tả cắt ngang về tình hình ứng dụng CNTT trong tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp tại 6 bệnh viện, các hoạt động sau đây sẽ được triển khai nhằm khắc phục những thiếu hụt, khó khăn và tồn tại trong quy trình này.
+ Cung cấp ứng dụng phần mềm “Quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp”
Sản phẩm phần mềm là kết quả của đề tài khoa học cấp Bộ quốc phòng
Nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức hệ thống cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp tại các bệnh viện Quân y khu vực phía Bắc đang được triển khai nhằm phát triển phần mềm hỗ trợ nhân viên y tế trong quá trình cấp cứu Phần mềm này giúp hội chẩn, theo dõi, lưu trữ và đồng bộ thông tin bệnh nhân một cách chính xác, giảm thời gian cấp cứu và nâng cao khả năng cứu sống người bệnh Người dùng cần có máy tính hoặc điện thoại thông minh kết nối internet để sử dụng phần mềm Đặc thù của cấp cứu đột quỵ yêu cầu cập nhật thông tin nhanh chóng, do đó, phần mềm được ưu tiên phát triển trên thiết bị di động Tuy nhiên, do quy định bảo mật thông tin trong mạng quân sự tại các bệnh viện, giai đoạn đầu ứng dụng sẽ không cho phép đồng bộ dữ liệu trực tiếp giữa các hệ thống, mà người dùng cần nhập thông số cơ bản và sử dụng camera để chụp ảnh dữ liệu cần thiết.
Sơ đồ 2.2 Các module phần mềm và sự tương tác với người dùng phần mềm
“Quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu mãu não cấp”
Hệ thống bao gồm các module sau:
Module quản lý tài khoản và đơn vị là thành phần quan trọng trong việc quản lý và phân quyền tài khoản trên hệ thống Nó đảm bảo kiểm soát quyền truy cập và sử dụng các tính năng theo đúng chính sách bảo mật, giúp các nhóm quản lý đơn vị, người dùng và thông tin cá nhân hoạt động hiệu quả.
Module tiếp đón người bệnh cho phép nhập thông tin hành chính và tự động tạo mã số ID riêng cho từng bệnh nhân Hệ thống cũng hỗ trợ tìm kiếm thông tin lịch sử khám bệnh, giúp nâng cao hiệu quả trong việc tiếp đón và theo dõi quá trình điều trị.
Module quản lý thông tin người bệnh cho phép tạo lập và cập nhật thông tin hành chính cùng các hình ảnh lâm sàng như phim CT, MRI và kết quả xét nghiệm Thông tin lâm sàng được phân loại theo từng tuyến, giúp dễ dàng phân biệt và đưa ra quyết định xử trí Hệ thống ghi nhận các mốc thời gian trong quá trình cấp cứu từ bệnh viện tuyến dưới đến tuyến trên, đồng thời cảnh báo theo phác đồ cấp cứu cho từng bệnh nhân Các thông tin quan trọng bao gồm thời gian khởi phát, thời gian nhập viện, thời gian khám lâm sàng, chỉ số NIHSS, chỉ số GLASSGOW, chỉ số ASPECTS và đánh giá cận lâm sàng.
Các chỉ số quan trọng như Glucose, Ure, Creatinin, INR và tình trạng Rung nhĩ, cùng với kết quả từ các xét nghiệm hình ảnh CT/MRI, đóng vai trò then chốt trong việc chỉ định điều trị Thời gian chỉ định và phương pháp điều trị như tiêu sợi huyết hoặc lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học là rất cần thiết Đặc biệt, thời gian tái thông mạch máu não cũng là một yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả điều trị.
Chuyển viện bao gồm thời gian chuyển đến bệnh viện mới và các chỉ định cần thiết Hội chẩn diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định để đánh giá tình trạng bệnh nhân Thời gian hết theo dõi được xác định khi bệnh nhân không còn cần sự giám sát chặt chẽ Cuối cùng, thời gian ra viện được quy định khi bệnh nhân đủ điều kiện để xuất viện, đồng thời chỉ số mRS cũng được xem xét để đánh giá mức độ phục hồi.
Module quản lý hội chẩn trực tuyến: Hệ thống cho phép thiết lập hội chẩn trực tuyến và nhóm “chat” phân theo từng người bệnh
Module báo cáo cung cấp các báo cáo đa dạng dựa trên dữ liệu cập nhật từ bác sĩ các tuyến, giúp theo dõi toàn bộ quá trình cấp cứu và điều trị của bệnh nhân Hệ thống này cho phép theo dõi tình hình hoạt động trong mạng lưới theo tháng, quý, năm và đáp ứng các yêu cầu thực tế khác.
Module thông tin y học lâm sàng cung cấp thư viện tài liệu y học liên quan đến cấp cứu bệnh nhân và đột quỵ não, giúp bác sĩ tuyến dưới nâng cao kiến thức và chuyên môn Hệ thống còn có chuyên trang tin tức cập nhật hoạt động của mạng lưới, cùng với thông báo và cảnh báo cho các thành viên.
Hình 2.2 Giao diện của hệ thống phần mềm “Quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu mãu não cấp”
+ Các hoạt động đào tạo
STT Nội dung đào tạo Hình thức Giảng viên Học viên Thời gian đào tạo
1 Kiến thức công nghệ thông tin cơ bản và ứng dụng phần mềm quản lý thông tin người bệnh trong bệnh viện (phần mềm HIS,
Trực tiếp kết hợp trực tuyến
Chủ nhiệm đề tài, nghiên cứu sinh và cán bộ
2 Sử dụng phần mềm “Quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp”
Trực tiếp kết hợp trực tuyến
Chủ nhiệm đề tài, nghiên cứu sinh và cán bộ
3 Quản trị, vận hành phần mềm “Quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp”
Trực tiếp kết hợp trực tuyến
Chủ nhiệm đề tài, nghiên cứu sinh và cán bộ phát triển phần mềm
Chúng tôi cung cấp tài liệu về công nghệ thông tin cơ bản và hướng dẫn sử dụng phần mềm quản lý thông tin bệnh nhân, bao gồm các hệ thống HIS, LIS và PACS.
Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu
2.3.1 Kỹ thuật thu thập số liệu
Sau khi hoàn tất việc số hóa bộ câu hỏi có cấu trúc bằng phần mềm Qualtrics, một liên kết trực tuyến đã được tạo ra để gửi bảng hỏi Liên kết này (https://jh.qualtrics.com/jfe/form/SV_6KUl7StAoLmbTWC) được phát cho từng nhân viên y tế tham gia vào các hoạt động cấp cứu cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não tại 6 bệnh viện ở khu vực miền Bắc.
Kiểm kê cơ sở hạ tầng và trang thiết bị công nghệ thông tin, phần mềm hiện có trong tổ chức cấp cứu cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp là một bước quan trọng Việc này giúp đánh giá hiệu quả hoạt động và tối ưu hóa quy trình cấp cứu Thông tin được ghi chép chi tiết trong bảng kiểm (Phụ lục 02) sẽ hỗ trợ trong việc cải tiến hệ thống và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
Thu thập các số liệu về tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp tại khoa/đơn vị đột quỵ trong năm 2020-2022 (Phụ lục 03)
Nghiên cứu sinh thực hiện phỏng vấn sâu và phối hợp điều tra viên để quan sát và ghi chép nội dung trả lời từ lãnh đạo bệnh viện, phòng kế hoạch tổng hợp (tổ công nghệ thông tin) cùng với khoa/đơn vị đột quỵ Họ cũng tương tác với nhân viên y tế đang ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức cấp cứu cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp Thời gian trung bình cho mỗi cuộc phỏng vấn sâu là 30 phút cho mỗi nhân viên y tế.
2.3.2 Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi phát vấn nhân viên y tế tham gia cấp cứu bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp bao gồm các phần sau: thông tin hành chính bệnh viện và cá nhân nhân viên y tế; đánh giá về đào tạo CNTT của nhân viên; nhận xét về các phần mềm và công cụ phục vụ cấp cứu đột quỵ; hiệu quả của ứng dụng quản lý kết nối giữa các bệnh viện; kiến thức và thực hành tin học cơ bản; kiến thức và thực hành về phần mềm quản lý bệnh viện; và cuối cùng là phần mềm quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong tổ chức cấp cứu.
Phiếu kiểm kê là công cụ quan trọng để quan sát và ghi chép thông tin về trang thiết bị công nghệ thông tin, bao gồm số lượng và chất lượng máy tính, máy chủ, tình trạng sử dụng, bảo quản, bảo trì, cũng như các thiết bị đi kèm như đường truyền, dữ liệu và phần mềm đang sử dụng trong tổ chức cấp cứu bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp Việc thực hiện phiếu kiểm kê giúp đảm bảo hiệu quả và an toàn trong quá trình cấp cứu.
Trong giai đoạn 2020-2022, phiếu thu thập số liệu về tổ chức cấp cứu bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp tại khoa/đơn vị đột quỵ đã được triển khai, ghi nhận quy mô tổ chức, số lượng bệnh nhân, thời gian cấp cứu, khoảng cách di chuyển, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, cùng với kết quả sau điều trị và tình hình chuyển tuyến (Phụ lục 03)
Các phiếu phỏng vấn sâu và quan sát từ lãnh đạo bệnh viện, phòng kế hoạch tổng hợp, và khoa/đơn vị đột quỵ đã chỉ ra những khó khăn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức cấp cứu cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp Nhu cầu đào tạo và hợp tác giám sát hỗ trợ là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin và phần mềm quản lý Các hoạt động can thiệp nhằm kết nối các bệnh viện trong cấp cứu bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp cũng cần được triển khai để cải thiện quy trình cứu chữa.
Trong bộ công cụ phỏng vấn, thang điểm Likert 5 được áp dụng để đánh giá nhận thức, thực hành và quan điểm của nhân viên y tế Cách quy đổi điểm số cụ thể sẽ được sử dụng để phân tích các yếu tố này một cách chi tiết và chính xác.
1 Rất không ủng hộ hoặc rất kém: 1 điểm
2 Không ủng hộ hoặc kém: 2 điểm
3 Bình thường hoặc trung bình: 3 điểm
4 Ủng hộ hoặc Khá: 4 điểm
5 Rất ủng hộ hoặc Tốt: 5 điểm
Điểm trả lời được phân loại thành hai mức: ≤ 3 là mức thấp về thái độ hoặc sự hài lòng, trong khi > 3 là mức cao Điểm trung bình về kiến thức và thực hành được chia thành các mức: 1-2 điểm là kém, 2-3 điểm là trung bình, 3-4 điểm là khá, và 4-5 điểm là tốt Nếu điểm trung bình ≤ 3, đánh giá là không đạt; nếu > 3, đánh giá là đạt Để đánh giá độ tin cậy của bộ công cụ thu thập số liệu, sử dụng hệ số Cronbach’s alpha, với hệ số > 0,6 được xem là đạt yêu cầu.
Kiến thức về CNTT được phân chia thành ba nhóm chính: Nhóm 1 "Kiến thức chung về CNTT" với 3 câu hỏi và hệ số Cronbach’s alpha là 0,7781; Nhóm 2 "Kiến thức về ứng dụng CNTT trong bệnh viện" với 3 câu hỏi và hệ số Cronbach’s alpha là 0,7876; và Nhóm 3 "Kiến thức về ứng dụng CNTT trong trao đổi, kết nối y khoa" có hệ số Cronbach’s alpha cao nhất là 0,9344.
Thực hành về sử dụng CNTT được chia thành 3 nhóm chính: Nhóm 1 “Thực hành về CNTT nói chung” (3 câu hỏi) với hệ số Cronbach’s alpha = 0,7725, Nhóm 2
Trong nghiên cứu về thực hành ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong bệnh viện, nhóm 1 đạt hệ số Cronbach’s alpha là 0,8586, cho thấy độ tin cậy cao Trong khi đó, nhóm 3 tập trung vào thực hành ứng dụng CNTT trong trao đổi và kết nối y khoa, với hệ số Cronbach’s alpha lên tới 0,9554, phản ánh tính nhất quán và độ tin cậy rất cao trong các dữ liệu thu thập Những kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của CNTT trong việc nâng cao hiệu quả quản lý và giao tiếp trong lĩnh vực y tế.
Để đánh giá hiệu quả của các ứng dụng và phần mềm quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong tổ chức cấp cứu, nghiên cứu sử dụng thang điểm đánh giá khả dụng của hệ thống TeleHealth (TUQ) do tác giả Bambang Parmanto và cộng sự phát triển.
Thang điểm được nghiên cứu bởi Hajesmaeel-Gohari và cộng sự, được công bố quốc tế năm 2021, đã trở thành một công cụ đánh giá phổ biến, chiếm 19% trong tổng số 8 bộ thang điểm Thang điểm này bao gồm 5 chủ đề lớn, cung cấp một cái nhìn tổng quan và sâu sắc về các yếu tố cần thiết trong đánh giá.
Bài viết này trình bày 21 câu hỏi nhằm đánh giá và làm rõ khả dụng của hệ thống TeleHealth Mỗi câu hỏi được thiết kế với 5 mức độ lựa chọn, từ rất kém đến tốt, giúp người dùng dễ dàng phản hồi về trải nghiệm của họ với hệ thống.
Bộ câu hỏi được xây dựng và đánh giá thử nghiệm tại 1 bệnh viện quân y trên
30 nhân viên y tế Sau quá trình đánh giá thử nghiệm được hiệu chỉnh và hoàn thành bộ công cụ thu thập số liệu cho phù hợp với thực tế
2.3.3 Quy trình thu thập thông tin
Giai đoạn trước can thiệp:
Bộ công cụ được thử nghiệm dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức cấp cứu bệnh nhân đột quỵ não tại một bệnh viện quân y, tương tự như 6 bệnh viện đã nghiên cứu Việc số hóa các phụ lục của nghiên cứu được thực hiện bằng phần mềm Qualtrics, tạo link online cho bảng hỏi Điều tra viên đã phối hợp với Phòng Kế hoạch tổng hợp tại các bệnh viện để tổng hợp báo cáo và số liệu, thu thập thông tin về tổ chức cấp cứu bệnh nhân đột quỵ não tại 6 bệnh viện Đồng thời, điều tra viên cũng làm việc với đơn vị công nghệ thông tin để kiểm đếm, quan sát và thu thập thông tin về hiện trạng hệ thống công nghệ thông tin.
Xử lý và phân tích số liệu
2.4.1 Phân tích số liệu định lượng
Số liệu thu thập được rà soát, làm sạch và nhập trên chương trình Qualtrics
Dữ liệu nghiên cứu mô tả và can thiệp được nhập riêng biệt và liên kết với nhau thông qua mã cá nhân của từng đối tượng nghiên cứu, giúp loại trừ các sai số trong quá trình nhập liệu.
Dữ liệu được kiểm tra và phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 20, với mục đích mô tả thông tin theo ba mục tiêu nghiên cứu thông qua việc tính tỷ lệ phần trăm, số trung bình và độ lệch chuẩn Nghiên cứu áp dụng các bài kiểm tra như ², Mann-Whitney U và Kruskal-Wallis để đánh giá sự khác biệt giữa các giá trị trung bình, với mức ý nghĩa thống kê được xác định khi p < 0,05 Ngoài ra, phân tích hồi quy đơn biến và đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng (biến độc lập) đến các biến phụ thuộc.
OR và 95% CI được sử dụng để xem xét mối liên quan [23]
Số điểm kiến thức về CNTT được chia như sau: Kém (16-23 điểm), Trung bình (24-28 điểm), và Tốt (>28 điểm)
Điểm thực hành về ứng dụng công nghệ thông tin được phân loại như sau: Kém (19-24 điểm), Trung bình (25-29 điểm) và Tốt (>29 điểm) Điểm trung bình về kiến thức và thực hành được chia thành các mức: 1 điểm ≤ Kém ≤ 2 điểm.
Điểm số được phân loại như sau: từ 2 đến 3 điểm là Trung bình, từ 3 đến 4 điểm là Khá, và từ 4 đến 5 điểm là Tốt Kết quả can thiệp được đánh giá thông qua hai chỉ số chính: chỉ số kết quả và giá trị p Chỉ số hiệu quả can thiệp được tính toán để so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện can thiệp, theo công thức đã đề cập.
|p2 – p1| Chỉ số hiệu quả can thiệp (%) = - x 100 p1
Trong đó p1 là kết quả có tại thời điểm đánh giá trước can thiệp (TCT) năm 2022; p2 là kết quả tại thời điểm đánh giá sau can thiệp (SCT) năm 2024
Sử dụng kiểm định giả thuyết (test ²) và giá trị p là phương pháp để đánh giá sự khác biệt Một sự khác biệt được coi là có ý nghĩa thống kê khi giá trị p nhỏ hơn 0,05.
2.4.2 Phân tích số liệu định tính
Phương pháp phân tích nội dung được áp dụng để phân tích dữ liệu từ phỏng vấn sâu và quan sát Kết quả được trình bày thông qua các kết luận tổng hợp cùng với việc trích dẫn những phát hiện từ ý kiến của các đối tượng nghiên cứu.
Bài viết này phân tích các chủ đề nghiên cứu liên quan đến thực trạng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị công nghệ thông tin trong lĩnh vực y tế Đồng thời, nó đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành ứng dụng công nghệ thông tin của nhân viên y tế Ngoài ra, nghiên cứu cũng xem xét hiệu quả của các hoạt động đào tạo, hướng dẫn và giám sát trong việc ứng dụng công nghệ thông tin, cũng như phần mềm quản lý kết nối mới giữa các bệnh viện trong tổ chức cấp cứu cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não.
Mã hóa các đối tượng trả lời rồi tiến hành ghi chép, sắp xếp các nội dung trả lời theo chủ đề phân tích đã liệt kê, sắp xếp.
Sai số và các biện pháp hạn chế
Để giảm thiểu sai số trong nghiên cứu, chúng tôi đã thực hiện các biện pháp cụ thể Đối với sai số liên quan đến thông tin do đối tượng nghiên cứu cung cấp, việc giải thích rõ ràng về mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc điều tra là cần thiết để đảm bảo tính chính xác và chân thực của số liệu.
Cuối mỗi buổi điều tra, phiếu điều tra sẽ được kiểm tra lại để phát hiện và sửa chữa những vấn đề chưa rõ ràng hoặc sai sót Việc này nhằm đảm bảo tính chính xác và trung thực của dữ liệu thu thập được.
Giấu tên của đối tượng nghiên cứu để có được các thông tin chính xác.
Lực lượng tham gia và tổ chức nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trực tiếp bởi Nghiên cứu sinh dưới sự hướng dẫn của tập thể Thầy, Cô Ngoài ra, còn có sự tham gia của các thành viên khác trong quá trình nghiên cứu.
Ban chủ nhiệm đề tài Cấp Bộ Quốc Phòng đã tiến hành nghiên cứu nhằm xây dựng mô hình tổ chức hệ thống cấp cứu cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp tại các bệnh viện quân y khu vực phía Bắc Mục tiêu của đề tài là cải thiện quy trình cấp cứu và nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân, góp phần giảm thiểu tỷ lệ tử vong và di chứng do đột quỵ Các kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở khoa học để triển khai các giải pháp cấp cứu hiệu quả hơn trong hệ thống y tế quân đội.
Ban Giám đốc, Chỉ huy các đơn vị và nhân viên y tế của 6 bệnh viện khu vực miền Bắc
Các cán bộ và chuyên gia CNTT đã hỗ trợ tích cực trong việc triển khai thực địa và tổ chức các khóa đào tạo phần mềm.
Đạo đức trong nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu đã được chấp nhận cho nghiên cứu sinh thực hiện theo Quyết định số HĐĐĐ - 02/2023 của Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học thuộc Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương.
Nghiên cứu tiến hành có sự đồng ý của Ban Giám đốc 6 bệnh viện và các cấp có thẩm quyền
Tất cả các đối tượng nghiên cứu được thông tin rõ ràng về mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu Họ có quyền từ chối hoặc ngừng tham gia bất kỳ lúc nào.
Tất cả thông tin cá nhân và kết quả nghiên cứu sẽ được bảo mật tuyệt đối Dữ liệu và kết quả chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu đã được xác định và không được áp dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.
Nghiên cứu đã đưa ra các khuyến nghị cho 6 bệnh viện nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức cấp cứu cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp.
Trong quá trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu luôn sẵn sàng trả lời và tư vấn mọi thắc mắc của các đối tượng liên quan đến chủ đề nghiên cứu.
Sau khi kết thúc đánh giá sau can thiệp, nhóm nghiên cứu cũng giới thiệu kết quả can thiệp để các bệnh viện khác sử dụng.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp ở 6 bệnh viện khu vực miền Bắc, Việt Nam, 2022
Bảng 3.1 Phân bố một số đặc trưng của 6 bệnh viện
Một số đặc trưng Số lượng
Phân loại hạng bệnh viện
Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin theo Thông tư 54
Hình thức tổ chức hoạt động khám chữa bệnh đột quỵ tại bệnh viện Đội đột quỵ Đơn vị đột quỵ
Quy chế hoạt động khám chữa bệnh đột quỵ
Số lượng cán bộ công nghệ thông tin chuyên trách 22
Số lượng trung bình cán bộ công nghệ thông tin chuyên trách/từng bệnh viện
Trình độ cán bộ công nghệ thông tin chuyên trách
Trong nghiên cứu về 6 bệnh viện, có 5 bệnh viện hạng 1 và 1 bệnh viện hạng 2 Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin theo Thông tư 54 giữa các bệnh viện có sự khác biệt, với 4 bệnh viện đạt mức 2-3 và 2 bệnh viện đạt mức 4-6 Hoạt động khám chữa bệnh đột quỵ chủ yếu được tổ chức dưới hình thức đơn vị đột quỵ Trung bình, mỗi bệnh viện chỉ có 3,8 cán bộ công nghệ thông tin chuyên trách, chủ yếu là cán bộ có trình độ đại học.
Thông tư 54 của Bộ Y tế, được áp dụng từ năm 2017, có giá trị quan trọng trong việc đánh giá mức độ ứng dụng công nghệ thông tin tại các bệnh viện Tuy nhiên, việc đáp ứng các yêu cầu cao của Thông tư này gặp nhiều khó khăn do cần đầu tư một khoản kinh phí lớn.
Biểu biên chế cho bộ phận CNTT còn hạn chế, dẫn đến quá trình tuyển dụng gặp khó khăn Mức thu nhập hiện tại không cạnh tranh so với các công ty bên ngoài, khiến việc thu hút nhân lực CNTT chất lượng trở nên khó khăn hơn.
Bảng 3.2 Phân bố trình độ học vấn, chuyên môn và vị trí công tác của nhân viên y tế tại 6 bệnh viện nghiên cứu (n9)
Trình độ chuyên môn và vị trí công tác Số lượng Tỷ lệ %
Lĩnh vực hoạt động khám, chữa bệnh đột quỵ
Tỷ lệ bác sỹ khám chữa bệnh đột quỵ cao hơn tỷ lệ điều dưỡng (55,4% so với 44,6%)
Tỷ lệ nhân viên y tế có trình độ đại học và trên đại học cao hơn tỷ lện nhân viên y tế có trình độ cao đẳng (61,5% so với 38,4%)
Bảng 3.3 Phân bố nhóm tuổi và giới tính của nhân viên y tế tại 6 bệnh viện nghiên cứu (n9)
Nhóm tuổi và giới tính Số lượng Tỷ lệ %
Nhóm tuổi nhân viên y tế tham gia khám chữa bệnh đột quỵ chủ yếu là từ 40 tuổi trở lên, chiếm 54,1%, với độ tuổi trung bình là 41,4 ± 7,6 Đặc biệt, nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn đáng kể so với nữ giới, với 83,6% so với 16,4%.
Bảng 3.4 Phân bố thâm niên công tác trong ngành y tế và trong khám chữa bệnh đột quỵ tại 6 bệnh viện nghiên cứu (n9)
Thâm niên công tác (năm) Trung bình Độ lệch chuẩn
Thời gian công tác trong ngành y 18,2 7,7
Thời gian công tác trong lĩnh vực khám, chữa bệnh đột quỵ
Thời gian công tác trung bình của nhân viên y tế trong ngành y là 18,2 ± 7,7 năm và thời gian công tác trong lĩnh vực khám, chữa bệnh đột quỵ là: 16,5 ± 7,2 năm
Bảng 3.5 trình bày thông tin về đào tạo công nghệ thông tin cho nhân viên y tế tại 6 bệnh viện nghiên cứu, cho thấy tỷ lệ nhân viên được đào tạo và không được đào tạo trong lĩnh vực này.
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Đào tạo cơ bản về công nghệ thông tin Đào tạo cơ bản về công nghệ thông tin
Thời gian được đào tạo
Nội dung được đào tạo
Kết hợp trực tiếp và trực tuyến
5,9 0 0 Đào tạo liên tục hàng năm về công nghệ thông tin Đào tạo liên tục hàng năm về công nghệ thông tin
Thời gian được đào tạo
Phần mềm quản lý bệnh viện
Tỷ lệ nhân viên y tế được đào tạo cơ bản về công nghệ thông tin (CNTT) là 21,4%, với thời gian đào tạo trung bình là 2,9 tháng Ngoài ra, tỷ lệ nhân viên y tế được đào tạo hàng năm về CNTT chỉ đạt 8,8%, và thời gian đào tạo trung bình là 1,1 tháng.
Bảng 3.6 Nhu cầu về đào tạo công nghệ thông tin của nhân viên y tế (n9) Đào tạo về công nghệ thông tin Số lượng Tỷ lệ %
Nhu cầu đào tạo về công nghệ thông tin
Kết hợp trực tiếp và trực tuyến
Phần mềm quản lý bệnh viện
Tỷ lệ nhân viên y tế có nhu cầu đào tạo về công nghệ thông tin (CNTT) thông qua hình thức trực tiếp cao hơn hình thức trực tuyến, với 64,8% so với 35,1% Đặc biệt, nhu cầu đào tạo về phần mềm quản lý bệnh viện trong đội ngũ nhân viên y tế là rất cao, đạt 99,4%.
Chúng tôi không chỉ làm việc theo giờ hành chính mà còn phải trực ngoài giờ, điều này khiến việc học công nghệ thông tin trở nên khó khăn Để giải quyết vấn đề này, tôi thường tìm kiếm thông tin từ các anh chị trong khoa hoặc lên mạng Google khi cần thiết.
Hiện nay, việc học các phần mềm liên quan đến công việc hàng ngày tại bệnh viện là rất cần thiết Các kỹ sư IT tại đây sẽ đào tạo trực tiếp, hướng dẫn chi tiết để nâng cao kỹ năng cho nhân viên y tế Việc này sẽ mang lại hiệu quả cao hơn nếu được tổ chức hàng năm.
3.1.2 Thực trạng về trang thiết bị công nghệ thông tin
Bảng 3.7 Phân bố thực trạng về trang thiết bị công nghệ thông tin chung tại 6 bệnh viện năm 2022
Trang thiết bị công nghệ thông tin Số lượng Tỷ lệ %
Phân cấp chất lượng máy chủ (n))
Phân cấp chất lượng máy trạm (n53)
Phân cấp chất lượng máy in (ns1)
Ghi chú về phân cấp trang thiết bị CNTT bao gồm các cấp độ hoạt động: Cấp 1 cho biết thiết bị hoạt động rất tốt; Cấp 2 cho thấy thiết bị hoạt động khá tốt; Cấp 3 chỉ ra rằng thiết bị vẫn hoạt động nhưng đã được sửa chữa; Cấp 4 cho biết thiết bị không hoạt động và cần sửa chữa lớn; và Cấp 5 là thiết bị hỏng cần thanh lý.
Tỷ lệ chất lượng máy chủ hoạt động tốt và khá tốt đạt 65,51%, trong khi tỷ lệ máy chủ hỏng cần thay thế là 10,35% Đối với máy trạm, tỷ lệ hoạt động tốt và khá tốt lên tới 96,58%, với tỷ lệ máy trạm hỏng cần thay thế chỉ 3,41% Về máy in, tỷ lệ chất lượng hoạt động tốt và khá tốt là 91,66%, còn tỷ lệ máy in hỏng cần thay thế là 8,34%.
Bảng 3.8 trình bày sự phân bố về mức độ sẵn sàng của hệ thống công nghệ thông tin trong việc hỗ trợ hoạt động cấp cứu cho bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp tại 6 bệnh viện nghiên cứu.
Sự sẵn sàng của hệ thống công nghệ thông tin phục vụ cấp cứu
Số lượng bệnh viện phân công cán bộ trực công nghệ thông tin
Số lượng bệnh viện có trang thiết bị công nghệ thông tin dự phòng
Máy chủ Máy trạm Máy in
Trong 6 bệnh viện nghiên cứu chỉ có 3 bệnh viện có phân công cán bộ trực CNTT chuyên trách và phần lớn các bệnh viện không có trang thiết bị CNTT dự phòng
Máy tính và máy in hiện tại không đáp ứng đủ nhu cầu của các khoa, với cấu hình máy thấp và thường xuyên hỏng hóc, gây khó khăn cho hoạt động hàng ngày Thiết bị server cũng gặp tình trạng tương tự Hơn nữa, nhân lực CNTT hiện đang thiếu, không đủ để bố trí lực lượng trực 24/24, mặc dù hoạt động liên tục của bệnh viện là rất cần thiết.
3.1.3 Đánh giá, đề xuất của nhân viên y tế về thực trạng công nghệ thông tin trong tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp
Biểu đồ 3.1 Nhận xét của bác sỹ và điều dưỡng viên về hệ thống quản lý thông tin tổng thể bệnh viện tại 6 bệnh viện nghiên cứu (n9)
Tỷ lệ nhân viên y tế đánh giá hệ thống quản lý thông tin tổng thể bệnh viện ở mức trung bình, kém và rất kém chiếm 58,5% Đặc biệt, điều dưỡng viên có tỷ lệ đánh giá hệ thống đáp ứng thấp hơn bác sĩ, với 70,4% so với 48,9%.
Biểu đồ 3.2 Đánh giá của nhân viên y tế về hệ thống quản lý thông tin xét nghiệm tại 6 bệnh viện nghiên cứu (n9)
Bác sỹ Điều dưỡng Chung
Tốt Khá Trung bình Kém Rất kém
Bác sỹ Điều dưỡng Chung
Tốt Khá Trung bình Kém
Thực trạng kiến thức và thực hành ứng dụng công nghệ thông tin của nhân viên y tế trong tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp ở 6 bệnh viện khu vực miền Bắc, Việt Nam năm 2022 và một số yếu tố liên quan
3.2.1 Thực trạng kiến thức và thực hành ứng dụng công nghệ thông tin của nhân viên y tế
Bảng 3.14 trình bày tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức về hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong việc cấp cứu bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp, dựa trên số liệu từ 9 nhân viên y tế được khảo sát.
Hiệu quả ứng dụng CNTT trong cấp cứu ĐQTMNC
Chung Bác sỹ Điều dưỡng viên p *
Dễ dàng theo dõi được toàn bộ diễn biến thời gian của người bệnh ĐQTMNC một cách có hệ thống cảnh báo với từng mốc thời gian quan trọng
Tìm kiếm người bệnh và thông tin y tế thuận lợi 32 20,1
Dễ dàng cập nhật và theo dõi các chỉ số cận lâm sàng, lâm sàng 72 45,3 41 56,9 31 43,1 0,712
Hệ thống tự động đánh giá tình trạng người bệnh và đưa ra phác đồ điều trị
Dữ liệu y tế của người bệnh được liên thông giữa các bệnh viện trong cùng mạng lưới để cập nhật, theo dõi xuyên suốt quá trình chuyển tuyến
Nhận được sự hỗ trợ chuyên môn kịp thời của các chuyên gia trong mạng lưới bằng nhiều hình thức
Nâng cao kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm xử trí, theo dõi người bệnh ĐQTMNC của các bệnh viện trong cùng mạng lưới
Hệ thống tự động điều hướng chuyển tuyến cho người bệnh 38 23,9 24 63,2 14 36,8 0,267
Sử dụng thuận lợi trên nhiều trang thiết bị thông minh 64 40,3 33 51,6 31 48,4 0,431 Được cập nhật các tài liệu hướng dẫn điều trị mới, tin tức hoạt động 58 36,5 35 60,3 23 39,7 0,337
* Kiểm định Chi bình phương
Tỷ lệ cao nhất trong việc theo dõi diễn biến và cảnh báo thời gian của người bệnh đạt 72,3%, trong khi tỷ lệ tìm kiếm thông tin y tế thuận lợi chỉ là 20,1% Đáng chú ý, bác sĩ có tỷ lệ nhận biết cao hơn so với điều dưỡng viên, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P