Nghiên cứu thực trạng cơ sở hạ tầng, nhân lực, kiến thức, thực hành ứng dụng CNTT cơ bản và các yếu tố liên quan cũng như đánh giá kết quả ứng dụng CNTT trong tổ chức cấp cứu người bệnh
Trang 1VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
-
LÊ VƯƠNG QUÝ
THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG TỔ CHỨC CẤP CỨU NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ THIẾU MÁU NÃO CẤP
VÀ KẾT QUẢ CAN THIỆP Ở 6 BỆNH VIỆN KHU VỰC MIỀN BẮC,
Trang 2Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Nguyễn Thị Thùy Dương
2 TS Nguyễn Trọng Tuyển
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng đánh giá luận án cấp Viện họp tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
Vào hồi …giờ …, ngày …tháng …năm 2025
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1 Thư viện Quốc gia
2 Thư viện Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu mãu não cấp (ĐQTMNC) là rất quan trọng nhằm góp phần nâng cao chất lượng điều trị và giảm tử vong cho người bệnh Để đáp ứng được mục tiêu này, các bệnh viện cần phải có hệ thống tổ chức, quản lý, hạ tầng CNTT, phần mềm, nhân lực y tế có kiến thức và kỹ năng trong cấp cứu người bệnh ĐQTMNC Hiện nay, việc ứng dụng CNTT cơ bản và ứng dụng các phần mềm quản lý trong cấp cứu người bệnh ĐQTMNC còn nhiều hạn
chế Nghiên cứu “Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp và kết quả can thiệp ở 6 bệnh viện khu vực miền Bắc, Việt Nam” là rất cần thiết được thực hiện với 3 mục
- Đánh giá kết quả ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp ở 6 bệnh viện khu vực miền Bắc, Việt Nam, 2023-2024
Những điểm mới về khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài
Đây là nghiên cứu đầu tiên tại 6 bệnh viện khu vực miền Bắc, Việt Nam Nghiên cứu thực trạng cơ sở hạ tầng, nhân lực, kiến thức, thực hành ứng dụng CNTT cơ bản và các yếu tố liên quan cũng như đánh giá kết quả ứng dụng CNTT trong tổ chức cấp cứu người bệnh ĐQTMNC ở 6 bệnh viện khu vực miền Bắc, Việt Nam giai đoạn 2022-2024 Kết quả nghiên cứu đã
mô tả được thực trạng ứng dụng CNTT trong tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp và kết quả ứng dụng phần “Quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu mãu não cấp” ở 6 bệnh viện khu vực miền Bắc, Việt Nam
Trang 4CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 142 trang không kể tài liệu tham khảo và phụ lục, có 37 bảng, 6 biểu đồ, 3 sơ đồ 9 hình Đặt vấn đề 2 trang Tổng quan 33 trang; đối tượng và phương pháp nghiên cứu 25 trang; kết quả nghiên cứu 39 trang; bàn
luận 36 trang; kết luận 2 trang và kiến nghị 1 trang
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Ứng dụng CNTT trong hoạt động khám, chữa bệnh
Các ứng dụng CNTT và phần mềm quản lý kết nối giữa các bệnh
viện trong tổ chức cấp cứu ĐQTMNC nâng cao năng lực tổ chức kết nối trong
cấp cứu đột quỵ giữa các chuyên gia và cơ sở y tế với nhau, mở rộng phạm
vi tiếp cận trực tiếp với người bệnh từ giai đoạn truyền thông, dự phòng cũng như giúp đánh giá phát hiện ban đầu ngay từ khi ở giai đoạn khởi phát bệnh Toàn bộ quá trình cấp cứu di động, bệnh án điện tử, quá trình điều trị đều được ghi nhận và quản lý đồng bộ thực sự có kết quả và được các chuyên gia
y tế đánh giá cao
1.2 Kiến thức, thực hành về CNTT của nhân viên y tế trong khám, chữa bệnh
Tại Việt Nam, kiến thức và kỹ năng sử dụng thành thạo CNTT trong chẩn đoán điều trị nói chung cũng như trong trong cấp cứu đột quỵ còn nhiều hạn chế Việc ứng dụng phần mềm quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong
tổ chức cấp cứu người bệnh ĐQTMNC và đào tạo kiến thức và kỹ năng cho nhân viên y tế (NVYT) là rất quan trọng Ngành y tế đã chỉ đạo các cơ sở khám chữa bệnh nhằm tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng NVYT sử dụng thành thạo CNTT và các phần mềm ứng dụng trong khám chữa bệnh
1.3 Kết quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động khám, chữa bệnh từ một số nghiên cứu trong nước và quốc tế
Các nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định việc ứng dụng CNTT trong cấp cứu đột quỵ là rất quan trọng Các ứng dụng CNTT và phần mềm chuyên dụng không chỉ nâng cao năng lực tổ chức kết nối trong cấp cứu đột quỵ giữa các chuyên gia và cơ sở y tế với nhau mà còn mở rộng phạm vi tiếp cận trực tiếp với người bệnh từ giai đoạn truyền thông, dự phòng cũng như
Trang 5giúp đánh giá, phát hiện ngay từ khi ở giai đoạn khởi phát bệnh Tại Việt Nam, ngành y tế đã có các văn bản pháp qui về bộ tiêu chí CNTT để thực hiện hoạt động y tế nói chung cùng như cấp cứu người bệnh đột quỵ nói riêng Trong quản lý và tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não vấn đề thời gian luôn đặt lên hàng đầu Tại Việt Nam trong những năm vừa qua đã đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong lĩnh vực y tế và đặc biệt trong lĩnh vực cấp cứu Với căn bệnh ĐQTMNC, cần có sự tích hợp, đồng nhất các ứng dụng CNTT trên thiết bị di động Đồng thời việc ứng dụng phần mềm “Quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong tổ chức cấp cứu người bệnh ĐQTMNC” là rất cấp thiết nhằm cải thiện việc cấp cứu người bệnh
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nghiên cứu mô tả (mục tiêu 1&2)
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các báo cáo thống kê, hồ sơ tài liệu về hoạt động ứng dụng CNTT trong cấp cứu đột quỵ thiếu máu não tại 6 bệnh viện NVYT liên quan đến hoạt động cấp cứu người bệnh ĐQTMNC tại các 6 bệnh viện Trang thiết bị CNTT, phần mềm tổ chức cấp cứu người bệnh người bệnh ĐQTMNC tại 6 bệnh viện 2022
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian thu thập số liệu: từ năm 2020 đến năm 2022 tại 6 bệnh viện khu vực miền Bắc, Việt Nam Từ những năm 2010, các bệnh viện đã triển khai ứng dụng CNTT trong công tác quản lý khám chữa bệnh Tất cả các bệnh viện đã triển khai hệ thống HIS, LIS, PACS, đều được trang bị máy tính
có kết nối mạng LAN Tuy nhiên, trong tình hình chung các bệnh viện chưa
có sự kết nối hệ thống CNTT các phần mềm quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong tổ chức cấp cứu người bệnh ĐQTMNC
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu
2.1.3.1 Thiết kế nghiên cứu (Mục tiêu 1,2)
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp định lượng và định tính
Trang 62.1.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Báo cáo thống kê về cơ sở vật chất và hoạt động ứng dụng CNTT, tài liệu về tổ chức cấp cứu người bệnh người bệnh ĐQTMNC của 6 bệnh viện nghiên cứu 159 NVYT tham gia vào các hoạt động cấp cứu người bệnh người bệnh ĐQTMNC của 6 bệnh viện khu vực miền Bắc Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính là 18 người
2.1.4 Nội dung nghiên cứu
Thực trạng tổ chức, quản lý, ứng dụng CNTT trong cấp cứu người bệnh người bệnh ĐQTMNC ở 6 bệnh viện khu vực miền Bắc; Thực trạng kiến thức và thực hành ứng dụng CNTT của NVYT trong tổ chức cấp cứu người bệnh người bệnh ĐQTMNC ở 6 bệnh viện và một số yếu tố liên quan; Đánh giá kết quả ứng dụng CNTT và phần mềm quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong tổ chức cấp cứu người bệnh người bệnh ĐQTMNC ở 6 bệnh viện khu vực miền Bắc, Việt Nam
2.2 Nghiên cứu can thiệp (mục tiêu 3)
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả NVYT liên quan đến hoạt động cấp cứu người bệnh ĐQTMNC (như trong mục tiêu 1,2)
2.2.2 Thời gian thực hiện can thiệp: 12 tháng
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Là nghiên cứu can thiệp không đối chứng, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính
2.2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Chọn mẫu toàn bộ 159 NVYT tham gia vào các hoạt động cấp cứu người bệnh người bệnh ĐQTMNC của 6 bệnh viện khu vực miền Bắc Nghiên cứu định tính bao gồm 18 người
2.2.3.3 Nội dung can thiệp
Đào tạo về CNTT cơ bản ứng dụng trong bệnh viện; Cung cấp ứng dụng phần mềm “Quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong tổ chức cấp cứu người
Trang 7bệnh người bệnh ĐQTMNC”; Cung cấp các tài liệu CNTT cơ bản và các hướng dẫn sử dụng phần mềm quản lý thông tin người bệnh; Cung cấp tài liệu hướng dẫn sử dụng phần mềm quản lý kết nối giữa các bệnh viện trong
tổ chức cấp cứu người bệnh người bệnh ĐQTMNC; Giám sát hỗ trợ NVYT
về việc ứng dụng CNTT và tổ chức cấp cứu người bệnh người bệnh ĐQTMNC
2.3 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu
Phát vấn bằng bộ công cụ cho từng NVYT tham gia vào các hoạt động cấp cứu người bệnh người bệnh ĐQTMNC của 6 bệnh viện nghiên cứu Kiểm
kê cơ sở hạ tầng, trang thiết bị CNTT, phần mềm đang sử dụng trong tổ chức cấp cứu người bệnh người bệnh ĐQTMNC Thu thập các số liệu về tổ chức cấp cứu người bệnh người bệnh ĐQTMNC tại khoa/đơn vị đột quỵ trong năm 2020-2022
và giá trị p Số liệu định tính được phân tích theo phương pháp “Phân tích nội dung”
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu được chấp nhận theo Quyết định số HĐĐĐ - 02/2023 của Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương và sự đồng ý của Ban Giám đốc 6 bệnh viện
Trang 8Chương 3 KẾT QUẢ 3.1 Thực trạng ứng dụng CNTT trong cấp cứu người bệnh ĐQTMNC 3.1.1 Đặc trưng của bệnh viện và NVYT
Trong số 6 bệnh viện, có 5 bệnh viện hạng 1 và 1 bệnh viện hạng 2 Mức
độ ứng dụng CNTT theo Thông tư 54 khác nhau giữa các bệnh viện (mức 3: 4 bệnh viện; mức 4-6: 2 bệnh viện) Hình thức tổ chức hoạt động khám chữa bệnh đột quỵ tại bệnh viện chủ yếu là đơn vị đột quỵ) Số lượng trung bình cán bộ CNTT chuyên trách/từng bệnh viện 3,8 người/bệnh viện Tỷ lệ NVYT được đào tạo cơ bản về CNTT là 21,4% và thời gian đào tạo trung bình là (2,9 ± 0,9 tháng) Tỷ lệ NVYT được đào tạo hàng năm về CNTT là 8,8% và thời gian đào tạo trung bình là (1,1 ± 0,3 tháng) Tỷ lệ NVYT có nhu cầu đào tạo về CNTT bằng hình thức đào tạo trực tiếp cao hơn hình thức đào tạo có liên quan đến trực tuyến (64,8% so với 35,1%) Tỷ lệ NVYT có nhu cầu đào tạo về phần mềm quản lý bệnh viện rất cao (99,4%)
2-Bảng 3.1 Phân bố một số đặc trưng của 6 bệnh viện
Trang 9Một số đặc trưng Số lượng
Quy chế hoạt động khám chữa bệnh đột quỵ
Có
Không
6
0
Số lượng trung bình cán bộ công nghệ thông tin
bộ trực CNTT chuyên trách Tỷ lệ NVYT đánh giá về hệ thống quản lý thông tin tổng thể bệnh viện đáp ứng ở mức trung bình, kém, rất kém chiếm 58,5%
Tỷ lệ NVYT đánh giá về hệ thống quản lý thông tin xét nghiệm đáp ứng ở mức thấp chiếm 66,6% Tỷ lệ NVYT đánh giá về hệ thống lưu trữ và truyền tải hình ảnh y khoa đáp ứng ở mức cao chiếm 54,7% Tỷ lệ NVYT đánh giá về trang thiết bị, hạ tầng CNTT đáp ứng ở mức thấp chiếm 86,8%
Tỷ lệ NVYT nêu được khó khăn khi ứng dụng CNTT cao nhất ở yếu tố
“Thiếu thông tin về những nội dung thay đổi” (88,1%), và thấp nhất ở yếu tố
“Nhân viên không muốn thay đổi” (70,4%) Tỷ lệ NVYT đánh giá các yếu tố cần đáp ứng khi ứng dụng CNTT phục vụ cấp cứu người bệnh ĐQTMNC tập trung rất lớn (hơn 90%)
Trang 10Bảng 3.7 Phân bố thực trạng về trang thiết bị công nghệ thông tin
chung tại 6 bệnh viện năm 2022 Trang thiết bị công nghệ thông tin Số lượng Tỷ lệ %
Phân cấp chất lượng máy chủ (n=29)
Phân cấp chất lượng máy trạm (n=1053)
Phân cấp chất lượng máy in (n=731)
3.1.3 Đánh giá, đề xuất của nhân viên y tế về thực trạng công nghệ thông tin trong tổ chức cấp cứu người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp
Toàn bộ NVYT đều thấy cần thiết phải ứng dụng CNTT trong quá trình cấp cứu người bệnh ĐQTMNC Trong đó, tỷ lệ NVYT thấy mức độ rất cần thiết chiếm tỷ lệ cao hơn so với mức cần thiết (59,7% so với 40,4%) Một nửa NVYT nêu ra được các vấn đề khó khăn khi sử dụng mạng xã hội trong hoạt động hỗ trợ cấp cứu người bệnh ĐQTMNC Tỷ lệ NVYT đưa ra yêu cầu đối với phần mềm phục vụ cấp cứu người bệnh ĐQTMNC tập trung cao nhất vào yếu tố: đáp ứng yêu cầu chuyên môn và hoạt động ổn định (95,6% và 95%); và thấp nhất ở yếu tố bảo mật (65,4%) 100% NVYT tham gia khảo
Trang 11sát đều nhận thấy cần thiết phải có tập huấn ứng dụng CNTT trong cấp cứu người bệnh ĐQTMNC Kết quả phù hợp với phân tích định tính qua thực
hiện phỏng vấn lãnh đạo bệnh viện: “ với góc độ là người vừa làm chuyên môn và quản lý thì rất cần một phần mềm phục vụ riêng cho cấp cứu đột quỵ thiếu máu não cấp để phục vụ các yêu cầu về chuyên môn trong tình huống tối khẩn cấp, thông tin được liên thông và hỗ trợ trực tiếp với các chuyên gia Bên cạnh đó còn phục vụ cho công tác quản lý và nghiên cứu khoa học sau này ” (PVS – LĐBV)
3.2 Thực trạng kiến thức, thực hành ứng dụng của CNTT trong tổ chức cấp cứu người bệnh ĐQTMNC và một số yếu tố ảnh hưởng
3.2.1 Thực trạng kiến thức và thực hành ứng dụng CNTT
Tỷ lệ NVYT biết ưu điểm của ứng dụng CNTT trong cấp cứu người bệnh ĐQTMNC cao nhất là yếu tố theo dõi diến biến, cảnh báo về thời gian của người bệnh (72,3%); thấp nhất là yếu tố tìm kiếm người bệnh và thông tin y tế thuận lợi (20,1%) Chỉ có 45,9% và 23,9% NVYT nhận biết không đúng ở yếu tố hệ thống tự động đánh giá tình trạng người bệnh và đưa ra phác
đồ điều trị và hệ thống tự động điều hướng chuyển tuyến cho người bệnh Tỷ
lệ NVYT nhận biết được ưu điểm về ứng dụng CNTT trong cấp cứu người
bệnh ĐQTMNC đối với người bệnh, cao nhất là yếu tố người bệnh chủ động tiếp cận với hệ thống qua mạng internet (77,4%) và thấp nhất ở yếu tố nhận diện và cập nhật lịch sử khám chữa bệnh trước đó (49,7%) Tỷ lệ NVYT nhận
biết được ưu điểm về ứng dụng CNTT trong cấp cứu người bệnh ĐQTMNC
đối với quá trình cấp cứu, cao nhất là yếu tố hỗ trợ trực tiếp từ các chuyên gia trong mạng lưới (67,3%) và thấp nhất ở yếu tố quá trình chuyển tuyến được điều phối khoa học, chủ động (40,9%) Có 31,5% NVYT nhận biết không đúng về hệ thống thông báo cho người nhà người bệnh về tình trạng
cấp cứu Tỷ lệ NVYT nhận biết được ưu điểm về ứng dụng CNTT trong cấp
cứu người bệnh ĐQTMNC đối với quá trình chẩn đoán, chỉ định, cao nhất là yếu tố diễn biến thời gian của người bệnh ĐQTMNC được theo một cách có
Trang 12hệ thống và có cảnh báo (67,3%) và thấp nhất ở yếu tố được sự hỗ trợ hội
chẩn, tham vấn kịp thời của các chuyên gia trong mạng lưới (47,7%)
Tỷ lệ NVYT nhận biết được ưu điểm về ứng dụng CNTT trong cấp cứu
người bệnh ĐQTMNC đối với quá trình điều trị, chăm sóc người bệnh, cao nhất là yếu tố được sự hỗ trợ hội chẩn, tham vấn kịp thời của các chuyên gia trong mạng lưới (71,1%) và thấp nhất ở yếu tố các thông tin cận lâm sàng, lâm sàng của người bệnh khi có cập nhật mới được cảnh báo giúp quá trình điều trị kịp thời (44%) Có 25,8% tỷ lệ NVYT nhận biết không đúng ở yếu
tố hệ thống hỗ trợ tạo phiếu chăm sóc người bệnh cho điều dưỡng viên thực
hiện Tỷ lệ NVYT nhận biết được ưu điểm của về ứng dụng CNTT cho người
bệnh ĐQTMNC đối với công tác quản lý, cao nhất là yếu tố góp phần nâng cao kết quả công tác cấp cứu, điều trị người bệnh ĐQTMNC (63,5%) và thấp nhất ở yếu tố phục vụ công tác nghiên cứu khoa học (40,3%) Tỷ lệ NVYT nhận biết được các khó khăn về ứng dụng CNTT trong cấp cứu người bệnh ĐQTMNC, cao nhất là yếu tố kinh phí duy trì hệ thống (76,1%) và thấp nhất
ở yếu tố cần có sự đồng bộ giữa các hệ thống phần mềm (42,8%) Kinh phí duy trì hệ thống Có 43,4% tỷ lệ NVYT nhận biết không đúng ở yếu tố quy định của bảo hiểm xã hội
Bảng 3.21 Điểm trung bình về kiến thức của NVYT về ứng dụng CNTT
Điểm trung bình về kiến thức
Kiến thức về ứng dụng CNTT trong bệnh viện 2,6 0,5 Kiến thức về ứng dụng CNTT trong trao đổi, kết nối y khoa 2,5 0,5
Điểm trung bình kiến thức chung của NVYT về ứng dụng CNTT là 2,6±0,5
Trang 13Bảng 3.22 Điểm trung bình thực hành ứng dụng CNTT của NVYT
Điểm trung bình thực hành
Thực hành về ứng dụng CNTT trong bệnh viện 2,6 0,6 Thực hành về ứng dụng CNTT trong trao đổi, kết
Điểm trung bình thực hành ứng dụng CNTT trong tổ chức cấp cứu người bệnh ĐQTMNC của NVYT là 2,7±0,5
3.2.2 Yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành ứng dụng CNTT của NVYT
Mô hình hồi quy logistic đa biến cho thấy yếu tố thâm niên, học vấn có mối liên quan có ý nghĩa thống kê tới mức độ đánh giá kiến thức của NVYT
Ngoài hai yếu tố trên, có yếu tố thông tin về đào tạo cơ bản CNTT cũng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê tới mức độ đánh giá thực hành của NVYT
Yếu tố liên quan
Thâm niên công tác trong ngành y (năm) 0,82* 0,72 – 0,94
Yếu tố liên quan đến thực hành
* p<0,05; Hồi quy đa biến