DƯƠNG QUỐC NGHỊ ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA DUNG DỊCH XOA BÓP GS - TVB KẾT HỢP ĐIỆN CHÂM, XOA BÓP BẤM HUYỆT ĐIỀU TRỊ ĐAU THẮT LƯNG DO THOÁI HÓA CỘT SỐNG LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA II HÀ NỘI
Tổng quan về thắt lƣng do thoái hóa cột sống thắt lƣng
THCS thắt lưng, hay còn gọi là thoái hóa đốt sống thắt lưng (Spondylosis hoặc Osteoarthritis), là một bệnh lý mạn tính tiến triển, gây ra đau đớn và hạn chế khả năng vận động mà không có dấu hiệu viêm Bệnh chủ yếu liên quan đến tình trạng thoái hóa sụn khớp và đĩa đệm cột sống, kèm theo những biến đổi ở xương dưới sụn và màng hoạt dịch.
1.1.2 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh
Bệnh lý phát sinh từ nhiều nguyên nhân, chủ yếu do sự lão hóa của tế bào và tổ chức, bị ảnh hưởng bởi các yếu tố cơ học, di truyền, nội tiết và chuyển hóa, làm cho quá trình lão hóa diễn ra nhanh chóng và nghiêm trọng hơn.
Sự lão hóa gây ra sự giảm số lượng tế bào sụn và rối loạn khả năng tổng hợp collagen cùng mucopolysaccharid, dẫn đến chất lượng sụn suy giảm, đặc biệt là tính đàn hồi và khả năng chịu lực Thêm vào đó, tế bào sụn ở người trưởng thành không có khả năng sinh sản và tái tạo, làm cho quá trình lão hóa diễn ra nhanh chóng hơn.
Yếu tố cơ giới đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình thoái hóa diễn ra nhanh chóng Sự gia tăng bất thường của lực nén trên mỗi đơn vị diện tích của mặt khớp và đĩa đệm gây ra tình trạng chịu áp lực quá tải lên sụn khớp và đĩa đệm Tình trạng này kéo dài trong nhiều năm dẫn đến tổn thương sụn khớp, xương dưới sụn, mất tính đàn hồi của đĩa đệm, và xơ cứng dây chằng bao khớp, từ đó gây ra nhiều triệu chứng và biến chứng trong điều trị bệnh lý cơ xương khớp.
- Di truyền: cơ địa già sớm
- Nội tiết: mãn kinh, đái tháo đường, loãng xương do nội tiết
- Chuyển hóa: bệnh gout, bệnh da sạm màu nâu
- Nghề nghiệp lao động nặng
- Tiền sử chấn thương cột sống, bất thường trục chi dưới, tiền sử phẫu thuật cột sống, yếu cơ, tƣ thế lao động
Có nhiều giả thuyết về cơ chế bệnh sinh của thoái hóa khớp, trong đó có hai giả thuyết chính đƣợc nhiều tác giả ủng hộ:
Dưới tác động của các lực cơ học, vi gãy xương xảy ra do sự suy yếu của các đám collagen, dẫn đến tổn thương chất Proteoglycan.
Thuyết tế bào cho thấy rằng tế bào sụn có thể bị cứng lại do áp lực tăng cao, dẫn đến việc giải phóng các enzym tiêu protein Những enzym này sẽ dần dần hủy hoại các chất cơ bản trong cấu trúc tế bào sụn.
Sụn khớp là phần tổn thương sớm nhất trong tình trạng thoái hóa khớp, với hiện tượng mòn sụn và sự xuất hiện của các vết nứt có kích thước và độ sâu khác nhau Bên cạnh đó, tình trạng xơ hóa của tổ chức xương dưới sụn và sự phát triển của gai xương cũng góp phần gây ra triệu chứng và biến chứng trong thoái hóa khớp.
Triệu chứng đau cột sống thường xuất hiện âm ỉ với tính chất cơ học, tăng lên khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi Người bệnh có thể cảm thấy cứng cột sống vào buổi sáng Trong giai đoạn thoái hóa nặng, cơn đau có thể trở nên liên tục và ảnh hưởng đến giấc ngủ Ngoài ra, có thể nghe thấy tiếng lục khục khi cử động cột sống Một số trường hợp cũng gặp phải đau rễ dây thần kinh do hẹp lỗ liên hợp hoặc thoát vị đĩa đệm.
Các đặc điểm lâm sàng gợi ý ĐTL do nguyên nhân cơ học:
Để bắt đầu, tình trạng này thường không liên quan đến tiền sử ngã hoặc chấn thương rõ rệt Thay vào đó, nó phát triển dần dần ở những người có tiền sử đau cột sống thắt lưng cấp tính hoặc đau thần kinh tọa, hoặc những người đã từng trải qua cơn đau cột sống thắt lưng thoáng qua.
Đau có xu hướng tăng cường khi gắng sức, đứng lâu, gập thân, ngồi hoặc ngủ trên giường mềm, nhưng có thể giảm khi ngừng hoạt động, nằm ở tư thế hợp lý hoặc trên giường cứng Bệnh nhân thường đáp ứng tốt với thuốc giảm đau chống viêm không steroid.
Thời điểm đau thường liên quan đến sự thay đổi thời tiết, với triệu chứng đau ban ngày xuất hiện nhiều hơn vào ban đêm, đặc biệt là trong nửa sau của đêm Nếu sử dụng giường ngủ phù hợp, cơn đau có thể giảm thiểu Một số người có thể cảm thấy hết đau sau khi thức dậy, nhưng vẫn có những trường hợp khác không như vậy.
NB chỉ đau ít, nhanh chóng hết đau sau một vài động tác vận động đơn giản
Đau tiến triển một cách đặc trưng, với cường độ thay đổi rõ rệt từ tuần này sang tuần khác, thường xuyên có các đợt thuyên giảm và tăng cường sau khi gắng sức.
Triệu chứng âm tính gần đây cho thấy tình trạng toàn thân không thay đổi, không có sốt, và không xuất hiện các rối loạn chức năng mới như chức năng dạ dày ruột, sản phụ khoa hay phế quản phổi Bên cạnh đó, không có biểu hiện đau ở các vùng cột sống hay khớp khác, cũng như không có rối loạn tâm lý.
Biến dạng cột sống: NB ở tƣ thể đứng thẳng, nhìn vùng thắt lƣng theo hướng nghiêng, đánh giá các độ ưỡn, gù, vẹo của cột sống
Co cứng cơ cạnh sống là hiện tượng dễ nhận biết khi quan sát bệnh nhân ở tư thế thẳng đứng hoặc nghiêng, với cơ bên nào co cứng sẽ nổi gồ lên, không có dấu hiệu nóng đỏ và khi sờ nắn sẽ cảm thấy khối cơ rắn chắc Điểm đau cột sống thắt lưng (CSTL) và điểm đau cạnh sống có thể xác định bằng cách ấn vào các mỏm gai đốt sống, trong đó điểm đau cạnh sống nằm cách đường liên mỏm gai khoảng 2 cm.
Hạn chế tầm vận động của cột sống thắt lưng (CSTL) yêu cầu người bệnh thực hiện các động tác cúi, ngửa, nghiêng (phải, trái) và xoay (phải, trái) Để đánh giá mức độ hạn chế này, cần sử dụng thước đo tầm vận động.
Đau thắt lƣng theo Y học cổ truyền
1.2.1 Bệnh danh ĐTL tương ứng với bệnh danh “Yêu thống” thuộc phạm vi chứng “Tý” theo YHCT “Tý” là bế tắc, không thông Chứng “Tý” là một loại bệnh do tà khí phong hàn thấp nhiệt ở ngoài xâm nhập vào cơ thể, đóng bít, ngăn trở kinh lạc, khí huyết vận hành không thông lợi mà gây ra [3] Theo Hải Thƣợng Lãn Ông, điểm cốt yếu của chứng Tý là do bên trong cơ thể bị hƣ suy, hai kinh can thận bị suy yếu khiến cho tinh huyết giảm, không nuôi dưỡng được gân xương, tà khí thừa cơ xâm nhập vào cơ thể mà gây bệnh [13]
1.2.2 Nguyên nhân cơ chế bệnh sinh
Do sự thiếu hụt khí trong cơ thể, các tà khí như phong, hàn, thấp, nhiệt có thể xâm nhập vào cơ, xương khớp và kinh lạc, gây cản trở cho sự lưu thông của khí huyết, dẫn đến bệnh “Tý” Nếu phong chiếm ưu thế, sẽ gọi là hành tý; nếu hàn chiếm ưu thế, gọi là thống tý; và nếu thấp chiếm ưu thế, gọi là trước tý.
Do bị chấn thương vùng lưng, sai tư thế làm tổn hại đến kinh mạch làm khí huyết vận hành không thông lợi gây đau [3]
Do bẩm tố tiên thiên không đủ, lao lực quá độ, tuổi cao, chức năng các tạng trong cơ thể suy giảm, hoặc ốm đau lâu ngày, thận tinh bị tổn hại dẫn đến thận hư Thận hư không đủ khả năng nuôi dưỡng can âm, làm cho can huyết hư Khi thận hư không chủ được cốt tủy, can huyết hư không nuôi dưỡng được cân, sẽ gây ra chứng “Tý”.
Theo YHCT, "Yêu thống" bao gồm các thể như Hàn thấp, Huyết ứ, Thấp nhiệt và Phong hàn thấp kèm Can thận hư Đau lưng thấp (ĐTL) do Thấp hàn thường gặp trong các thể lâm sàng này.
1.2.3.1 Thể Phong hàn thấp kèm Can thận hư
Triệu chứng của bệnh tương tự như phong hàn thấp tý nhưng chủ yếu thiên về hàn tý, bao gồm đau lưng đột ngột sau khi tiếp xúc với thời tiết lạnh, ẩm ướt Cơn đau có thể diễn ra nhiều, hạn chế vận động và kèm theo ho, hắt hơi, với cường độ đau tăng lên khi trời lạnh và ẩm Đau có thể xuất hiện một bên hoặc hai bên cột sống, cơ cạnh sống không đỏ, có co cứng và điểm đau chói khi ấn vào Bên cạnh đó, người bệnh còn gặp triệu chứng liên quan đến can thận hư như đau lưng, ù tai, mất ngủ, nước tiểu trong, đau mỏi lưng gối, tiểu tiện nhiều lần vào ban đêm, và mạch trầm tế.
+ Pháp: Bổ can thận, khu phong, trừ thấp, tán hàn
+ Phương thuốc: bài thuốc cổ phương Độc hoạt ký sinh thang gia giảm + Châm cứu: cứu là chính, gồm các huyệt Quan nguyên, Khí hải, Thận du,
Tam âm giao…Tại chỗ châm bổ, ôn châm các huyệt tại khớp đau và vùng lân cận
+ Xoa bóp bấm huyệt: dùng các thủ thuật xát, day, lăn, bóp, vận động [3] 1.2.3.2 Thể Huyết ứ kèm Can thận hư
Triệu chứng của thể huyết ứ bao gồm đau lưng xuất hiện sau khi mang vác nặng hoặc thay đổi tư thế đột ngột, với cơn đau có thể tập trung ở một bên hoặc hai bên cột sống, đau dữ dội tại một chỗ và hạn chế vận động Người bệnh thường gặp khó khăn khi cúi hoặc đi lại, kèm theo cơ vùng lưng co cứng Ngoài ra, triệu chứng liên quan đến can thận hư như đau lưng, ù tai, mất ngủ, nước tiểu trong, đau mỏi lưng gối và tiểu tiện nhiều lần vào ban đêm cũng thường xuất hiện Lưỡi có màu tím, có điểm ứ huyết và mạch đập yếu, chậm.
+ Pháp: Hoạt huyết hóa ứ, thƣ cân hoạt lạc, bổ can thận
+ Phương thuốc: bài thuốc cổ phương Tứ vật đào hồng hoặc Thân thống trục ứ thang gia vị theo thể dương hư hay âm hư
Châm cứu là phương pháp hiệu quả để điều trị đau lưng, bằng cách châm vào các huyệt như A thị, Dương lăng tuyền và Huyết hải Ngoài ra, việc bổ sung năng lượng cho các huyệt Can du, Thận du và Tam âm giao ở hai bên cũng rất quan trọng trong việc giảm đau và cải thiện tình trạng sức khỏe.
+ Xoa bóp bấm huyệt: dùng các thủ thuật xát, day, lăn, bóp, vận động [3].
Tổng quan về phương pháp điều trị
1.3.1.1 Định nghĩa Điện châm là phương pháp chữa bệnh phối hợp tác dụng chữa bệnh của châm cứu với tác dụng của các dòng điện một chiều hoặc dòng điện xung do máy điện châm phát ra Kích thích của dòng điện một chiều hoặc dòng điện xung có tác dụng làm dịu đau, ức chế cơn đau điển hình, nhất là tác dụng để châm tê, kích thích hoạt động của các cơ, các tổ chức và tăng cường dinh dưỡng các tổ chức, làm giảm viêm, giảm sung huyết, giảm phù nề tại chỗ [16]
Châm cứu vào huyệt là phương pháp kích thích tạo ra phản xạ mới, giúp ức chế và phá vỡ các phản xạ bệnh lý, từ đó giảm đau và giải phóng sự co cơ Đây là nền tảng cho các phương pháp điều trị tại chỗ hoặc xung quanh khu vực bị tổn thương.
Khi nội tạng bị tổn thương, cảm giác vùng da ở tiết đoạn tương ứng sẽ có những thay đổi rõ rệt Ngược lại, kích thích từ vùng da của một tiết đoạn nào đó cũng có thể tác động đến nội tạng trong cùng tiết đoạn Do đó, việc lựa chọn các vùng da và huyệt đạo ở tiết đoạn tương ứng với cơ quan nội tạng bị bệnh là rất quan trọng.
Mọi kích thích tác động lên cơ thể đều được truyền qua hệ thần kinh, liên quan đến hoạt động của tủy sống và vỏ não, thể hiện tính chất toàn thân Phản ứng toàn thân ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương và thông qua hệ này cùng hệ thần kinh thực vật, tác động đến các cơ quan nội tạng và mọi tổ chức trong cơ thể.
Bệnh tật xuất phát từ sự mất thăng bằng và rối loạn âm dương, có thể do các nguyên nhân bên ngoài như tà khí từ lục dâm, hoặc do thể trạng suy nhược và sức đề kháng yếu (chính khí hư) Ngoài ra, sự biến đổi bất thường về mặt tình cảm và tâm thần (nội nhân) cũng góp phần gây bệnh Một số nguyên nhân khác bao gồm thể chất yếu kém, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi và sinh hoạt không điều độ.
Nguyên tắc điều trị trong châm cứu là lập lại sự cân bằng âm dương và điều hòa chúng Để đẩy lùi tà khí và nâng cao chính khí, việc lựa chọn phương pháp châm hay cứu cần dựa vào vị trí và mức độ của bệnh, cũng như tình trạng hàn nhiệt và hư thực của người bệnh Cụ thể, bệnh hàn thường được điều trị bằng cứu, trong khi bệnh nhiệt thì thường áp dụng châm Đối với bệnh hư, cần châm bổ, còn bệnh thực thì sử dụng châm tả.
Bệnh tật gây rối loạn hoạt động của hệ kinh lạc, làm ảnh hưởng đến sự vận hành của kinh khí trong cơ thể Kinh khí có vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí huyết, giúp cơ thể khỏe mạnh và chống lại bệnh tật Nguyên nhân gây bệnh có thể đến từ bên ngoài hoặc bên trong; nếu là khí thực, cần loại bỏ tà khí (phương pháp tả), còn nếu do chính khí hư thì cần bổ sung kinh khí (phương pháp bổ) Trong điều trị châm cứu, việc tác động vào các huyệt trên kinh mạch giúp lưu thông khí huyết, giải quyết tình trạng bế tắc của kinh lạc, từ đó cải thiện sự vận hành của kinh khí.
1.3.1.3 Chỉ định, chống chỉ định
Các chứng liệt bao gồm liệt do tai biến mạch máu não, di chứng bại liệt, liệt các dây thần kinh ngoại biên, và các bệnh lý đau như đau đầu, đau lưng, đau thần kinh tọa Ngoài ra, còn có các vấn đề liên quan đến ngũ quan như giảm thị lực, thính lực và thất ngôn.
Đau có thể được phân loại thành đau cấp tính và mạn tính, bao gồm các loại như đau do đụng dập, chấn thương, đau sau phẫu thuật, đau ở các khớp và phần mềm quanh khớp, cũng như đau liên quan đến các bệnh lý thần kinh.
Bệnh cơ năng có thể biểu hiện qua nhiều triệu chứng khác nhau, như rối loạn thần kinh tim, mất ngủ không rõ nguyên nhân, kém ăn, đầy bụng, tiêu chảy, táo bón, cảm cúm, bí tiểu chức năng và nấc Những triệu chứng này thường gây khó chịu cho người bệnh và có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống Việc nhận diện và điều trị kịp thời các triệu chứng này là rất quan trọng để cải thiện sức khỏe tổng thể.
+ Một số bệnh do viêm nhiễm nhƣ viêm tuyến vú, chắp, lẹo
+ Cơ thể suy kiệt, sức đề kháng giảm, phụ nữ có thai
+ Tránh châm vào những vùng huyệt có viêm nhiễm, lở loét ngoài da
+ Tất cả những cơn đau nghi do nguyên nhân ngoại khoa…
+ Các trường hợp bệnh lý thuộc diện cấp cứu
Khi cơ thể ở trạng thái không thuận lợi như sau khi lao động, cảm thấy mệt mỏi hoặc đói, cần lưu ý rằng một số huyệt không nên châm cứu hoặc cần tránh châm sâu, chẳng hạn như huyệt Phong phủ và Nhũ trung.
1.3.1.4 Theo dõi và xử trí tai biến
Triệu chứng của tình trạng này bao gồm da tái nhợt, ra mồ hôi, nhịp mạch nhanh, tim đập yếu, và huyết áp có thể giảm xuống mức thấp Người bệnh có thể cảm thấy hoảng loạn và có nguy cơ ngất xỉu Trong trường hợp nặng, tình trạng có thể dẫn đến tụt huyết áp và rối loạn cơ tròn.
+ Xử trí: Lập tức bảo NB nhắm mắt, rút kim, đắp ấm, đảm bảo thông thoáng cho
NB dễ thở, giải thích cho NB, sử dụng thuốc trợ tim nếu cần thiết Nếu NB bất tỉnh châm tả Nhân trung để tỉnh thần [16]
+ Hiện tƣợng: chảy máu khi rút kim
+ Xử trí: Lấy bông gòn khô, thấm máu và day nhẹ để tránh gây tụ máu dưới da
+ Triệu chứng: khi rút kim thấy kim châm bị cong hoặc gãy, vị trí gãy thường ở phần tiếp nối giữa thân và đốc kim
Để xử trí khi kim bị kẹt, cần rút kim nhẹ nhàng theo chiều cong của kim Nếu kim gãy, bệnh nhân nên giữ nguyên tư thế và dùng panh để gắp kim ra Trong trường hợp kim bị di lệch, nên kết hợp chụp X-quang để xác định vị trí chính xác và tiến hành gắp kim Nếu cần thiết, có thể thực hiện tiểu phẫu để lấy kim ra an toàn.
Sau khi châm cứu một thời gian, có thể xuất hiện triệu chứng nhiễm trùng tại vị trí châm Nếu nhẹ, triệu chứng có thể chỉ là mụn nhọt tại chỗ, nhưng nếu nặng hơn, có thể dẫn đến ổ áp-xe nhỏ Trong những trường hợp đặc biệt, tình trạng này có thể gây nhiễm trùng huyết.
Đối với các nhiễm trùng nhẹ, nên sử dụng thuốc sát trùng tại chỗ Trong trường hợp nhiễm trùng nặng hơn, có thể cần phối hợp sử dụng kháng sinh hoặc thực hiện trích rạch ổ mủ và vệ sinh kỹ lưỡng.
Một số nghiên cứu điều trị đau thắt lƣng
Nghiên cứu của Dong-il Yuk, In-su Sung, Da-hyung Song và các cộng sự (2013) cho thấy phương pháp XBBH được áp dụng cho 440 bệnh nhân chẩn đoán hẹp cột sống thắt lưng mang lại hiệu quả tích cực trong việc giảm đau và nâng cao chất lượng cuộc sống cho những bệnh nhân này.
Nghiên cứu của Wonil Koh và cộng sự (2018) đã phân tích tác động của châm cứu lên tỷ lệ phẫu thuật cột sống đối với bệnh thoát vị đĩa đệm (ĐTL) tại Hàn Quốc, với dữ liệu từ 502.264 bệnh nhân được chẩn đoán ĐTL trong giai đoạn 2004-2010 Kết quả cho thấy, tỷ lệ phẫu thuật cột sống ở nhóm bệnh nhân được điều trị bằng châm cứu thấp hơn so với nhóm không được điều trị, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p 3 tháng
- Hình ảnh tổn thương trên phim X-quang CSTL: Mất đường cong sinh lý; hẹp khe khớp; đặc xương dưới sụn; gai xương, mỏ xương
* Các chỉ tiêu lâm sàng: được đánh giá trước điều trị (D0), sau 7 ngày (D7) và sau 14 ngày điều trị (D 14 ) ở hai nhóm:
- Mức độ ĐTL theo thang điểm VAS
Mức độ hạn chế vận động cột sống thắt lưng được đánh giá thông qua các chỉ số như độ giãn cột sống thắt lưng theo nghiệm pháp Schübel, khoảng cách tay đất, và tầm vận động của cột sống thắt lưng trong các động tác gấp, duỗi, nghiêng trái và nghiêng phải.
- Triệu chứng co cơ cạnh sống
- Hiệu quả điều trị chung
- Chứng trạng Y học cổ truyền tại thời điểm D 0 , D 14
+ Gặp lạnh đau tăng, chườm ấm đỡ đau; chân gối yếu
+ Chất lƣỡi: lƣỡi nhợt, lƣỡi đỏ
+ Rêu lƣỡi: trắng, vàng, ít rêu, khô, ƣớt, nhớt
+ Mạch: mạch trầm, mạch tế, mạch sác
2.3.4.3 Một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị
- Đặc điểm chung: Tuổi, giới, nghề nghiệp, thời gian bị bệnh
- Đặc điểm lâm sàng: Mức độ đau theo thang điểm VAS
2.3.5 Tiêu chuẩn đánh giá kết quả điều trị
2.3.5.1 Đánh giá hiệu quả giảm đau theo thang điểm VAS
Thang điểm VAS là một thước đo về cường độ đau, được sử dụng rộng rãi trong các quần thể người lớn khác nhau
Cấu tạo là một thước kẻ bằng nhựa có 2 mặt, một mặt chia từ 0 đến 10 cm
Thước đo đau 100 mm thể hiện mức độ nghiêm trọng của cơn đau, với chiều dài của thước tương ứng với cường độ đau Một mặt của thước có 5 hình tượng, giúp quy ước và mô tả các mức độ đau tăng dần.
- Hình 1 (tương ứng 0 điểm): NB không cảm thấy bất kỳ một đau đớn khó chịu nào
- Hình 2 (tương ứng 1 - 3 điểm): NB thấy hơi đau, khó chịu, không mất ngủ, không vật vã và các hoạt động khác bình thường
- Hình 3,4 (tương ứng 4 - 6 điểm): NB đau khó chịu, mất ngủ, bồn chồn, khó chịu, không dám cử động hoặc kêu rên
- Hình 5 (tương ứng 7 - 9 điểm): Đau nhiều, đau liên tục, không thể vận động, luôn kêu rên
- Hình 6 (tương ứng 10 điểm): Đau liên tục, toát mồ hôi, có thể choáng ngất
NB sẽ di chuyển thanh chỉ điểm vuông góc với thước dọc theo chiều dài của thước để xác định mức độ đau chính xác nhất Số điểm đau sẽ được ghi lại bằng cách đo khoảng cách từ 0 mm đến vị trí mà NB đã trượt đến.
Hình 2.3 Thước đánh giá đau VAS [30]
Bảng 2.1 Phân loại đau theo thang điểm VAS
Thang điểm VAS Mức độ đau Điểm quy đổi
8 < VAS ≤ 10 Đau rất nặng 0 điểm
2.3.5.2 Đánh giá mức độ hạn chế cột sống thắt lưng
Bệnh nhân đứng thẳng với hai gót chân sát nhau và bàn chân mở một góc 60 độ Đánh dấu bờ trên đốt sống S1, sau đó đo lên 10 cm và đánh dấu điểm thứ hai Yêu cầu bệnh nhân cúi tối đa trong tư thế thẳng gối, đo khoảng cách giữa hai điểm đã đánh dấu trên cột sống thắt lưng Khoảng cách bình thường dao động từ 4-6 cm.
Bảng 2.2 Đỏnh giỏ độ gión CSTL theo nghiệm phỏp Schửber Độ giãn CSTL (cm) Điểm quy đổi
* Đánh giá khoảng cách tay đất
NB đứng thẳng, 2 gót chân sát vào nhau, 2 bàn chân hình chữ V Yêu cầu
Khi thực hiện động tác cúi tối đa, hãy giữ gối thẳng và đưa hai tay thẳng về phía mặt đất Đo khoảng cách giữa đầu ngón tay giữa và mặt đất; thông thường, khoảng cách này sẽ nhỏ hơn.
Bảng 2.3 Đánh giá khoảng cách tay đất
Khoảng cách tay đất (cm) Điểm quy đổi
Đánh giá tầm vận động cột sống thắt lưng theo phương pháp Zero yêu cầu người bệnh đứng thẳng với hai gót chân sát nhau và hai bàn chân mở một góc 60 độ Trong quá trình đánh giá, người bệnh thực hiện các động tác vận động chủ động của cột sống thắt lưng, bao gồm gấp, duỗi, nghiêng trái và nghiêng phải.
Độ gấp của cột sống được đo khi trẻ mới sinh (NB) đứng thẳng, với điểm cố định tại gai chậu trước trên Cành cố định được đặt dọc theo đùi, trong khi cành di động được đặt dọc theo thân mình Khi trẻ cúi người tối đa, góc đo được phản ánh độ gấp của cột sống thắt lưng.
Độ duỗi của cột sống được đo khi người bệnh đứng thẳng, với điểm cố định ở gai chậu trước trên Cành cố định được đặt dọc theo đùi, trong khi cành di động được đặt dọc theo thân mình Khi ngửa người, góc đo được phản ánh góc duỗi của cột sống thắt lưng.
Độ nghiêng của cột sống được xác định khi người bệnh (NB) đứng thẳng, với điểm cố định ở gai sau S1 Cành cố định được giữ theo phương thẳng đứng, trong khi cành di động được đặt dọc theo cột sống, yêu cầu nghiêng tối đa về hai bên Góc đo được sẽ phản ánh góc nghiêng của cột sống thắt lưng Để đánh giá tầm vận động chủ động của NB, cần áp dụng phương pháp đánh giá phù hợp.
Bảng 2.4 Đánh giá tầm vận động của CSTL Điểm
Tầm vận động 4 3 2 1 Độ gấp ≥ 70 o 60 o – 69 o 40 o – 59 o < 40 o Độ duỗi ≥ 25 o 20 o – 24 o 15 o – 19 o < 15 o Độ nghiêng trái ≥ 30 o 25 o – 29 o 20 o – 24 o < 20 o Độ nghiêng phải ≥ 30 o 25 o – 29 o 20 o – 24 o < 20 o
2.3.5.3 Đánh giá mức độ co cơ
Khi quan sát bệnh nhân nằm sấp trên giường bệnh, nếu cơ bên nào co cứng sẽ nổi gồ lên, không có dấu hiệu nóng đỏ và khi sờ nắn sẽ cảm nhận được khối cơ rắn chắc Đánh giá tình trạng cơ cho thấy có sự co cơ hoặc không co cơ.
2.3.5.4 Đánh giá hiệu quả chung
Hiệu quả chung được đánh giá qua tổng điểm các tiêu chí VAS, độ giãn CSTL theo nghiệm pháp Schửber, cũng như khoảng cách tay đất và tầm vận động gấp, duỗi, nghiêng trái, nghiêng phải.
Hiệu quả điều trị (d): Đánh giá: Tốt: d > 80% Khá: d = 61 – 80%
Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm: Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Lào Cai
- Thời gian: từ tháng 05/2024 đến tháng 10/2024.
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu được trong NC được phân tích, xử lý theo phương pháp thống kê y sinh học, sử dụng phần mềm SPSS 20.0
* Các tham số sử dụng trong NC:
- Với biến định lƣợng: nếu phân phối chuẩn tính ̅ ± SD, nếu phân phối không chuẩn tính bằng trung vị
* Các test sử dụng trong NC:
Để so sánh các giá trị trong biến định lượng, chúng ta sử dụng test T ghép cặp cho hai giá trị cùng nhóm, trong khi test T – student được áp dụng cho hai giá trị khác nhóm Đối với việc so sánh trên hai nhóm, ANOVA test được sử dụng nếu phân phối dữ liệu là chuẩn; ngược lại, khi dữ liệu không phân phối chuẩn, phép kiểm định phi tham số Mann – Whitney sẽ được áp dụng.
- Với biến định tính: dùng phép kiểm hoặc kiểm định Fisher (khi tần số trong bất kỳ ô nào < 5)
Kết quả NC đƣợc coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.
Khống chế sai số trong nghiên cứu
- Sai số do lựa chọn đối tƣợng NC hắc phục:
+ Đảm bảo lựa chọn đối tƣợng theo tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ
+ Phân chia đối tƣợng vào 2 nhóm nghiên cứu và đối chứng phù hợp với thiết kế và mục tiêu nghiên cứu
- Sai số do phương pháp và công cụ thu thập thông tin hắc phục:
+ p dụng cùng một phương pháp thu thập thông tin và công cụ thu thập thông tin cho cả 2 nhóm NC và ĐC
+ Toàn bộ quá trình đƣợc đánh giá bằng một bác sĩ chuyên khoa YHCT.
Đạo đức trong nghiên cứu
NC đã được Hội đồng đề cương Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam phê duyệt và nhận được sự cho phép từ Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Lào Cai.
NC này hoàn toàn nhằm mục đích nâng cao hiệu quả điều trị cho NB NB tự nguyện tham gia sau khi đã đƣợc giải thích đầy đủ
Trong quá trình thăm khám và đánh giá bệnh nhân, chúng tôi cam kết duy trì tính khách quan và trung thực trong việc xử lý dữ liệu Thông tin cá nhân của bệnh nhân được bảo mật và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu Nếu bệnh nhân có dấu hiệu nặng hơn hoặc gặp phải tai biến, chúng tôi sẽ điều chỉnh phác đồ điều trị và bệnh nhân sẽ được loại khỏi nghiên cứu.
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu
Phân tích, xử lý số liệu
Kết luận Đánh giá tại thời điểm D 0 và kết quả điều trị D7, D14
Người bệnh được chẩn đoán đau thắt lƣng do thoái hóa cột sống có chứng yêu thống do phong hàn thấp kết hợp can thận hƣ
Xoa bóp bấm huyệt bằng tay, Điện châm
Nhóm NC: (n = 30) Dung dịch xoa bóp GS – TVB, xoa bóp bấm huyệt, Điện châm
Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu
3.1.1 Phân bố người bệnh theo tuổi
Bảng 3.1 Phân bố người bệnh theo tuổi
Nhận xét: NB chủ yếu ở độ tuổi 50 – 59 tuổi, chiếm 40,0% ở nhóm NC và
43,3% ở nhóm ĐC NB ≤ 49 tuổi chiếm tỷ lệ ít nhất, chiếm 23,3% ở cả nhóm
Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu (NC) là 55,87 ± 8,03 tuổi, trong khi nhóm đối chứng (ĐC) có tuổi trung bình là 56,20 ± 7,60 tuổi Kết quả phân tích cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tuổi giữa hai nhóm, với giá trị p > 0,05.
3.1.2 Phân bố người bệnh theo giới
Biểu đồ 3.1 Phân bố người bệnh theo giới
Nhận xét: Tỷ lệ NB nữ nhiều hơn nam ở cả 2 nhóm, chiếm 63,3% ở cả hai nhóm Không có sự khác biệt về giới giữa nhóm NC và nhóm ĐC với p > 0,05
3.1.3 Phân bố người bệnh theo nghề nghiệp
Biểu đồ 3.2 cho thấy phân bố người bệnh theo nghề nghiệp, trong đó lao động chân tay chiếm ưu thế với 66,7% ở nhóm NC và 60% ở nhóm ĐC Kết quả phân tích cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về nghề nghiệp giữa hai nhóm này với p > 0,05.
3.1.4 Phân bố người bệnh theo thời gian mắc bệnh
Biểu đồ 3.3 Phân bố người bệnh theo thời gian mắc bệnh
Lao động chân tay Lao động trí óc
Thời gian mắc bệnh của bệnh nhân trong nghiên cứu chủ yếu dưới 1 tháng, với 60% ở nhóm nghiên cứu (NC) và 63,3% ở nhóm đối chứng (ĐC) Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh trên 3 tháng là thấp nhất, chỉ chiếm 13,3% ở cả hai nhóm Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về thời gian mắc bệnh giữa nhóm NC và nhóm ĐC với p > 0,05.
3.1.5 Đặc điểm một số chỉ số lâm sàng trước điều trị
Bảng 3.2 Đặc điểm một số chỉ số lâm sàng trước điều trị
VAS (điểm) 5,92 ± 0,96 5,78 ± 0,85 > 0,05 Độ giãn CSTL (cm) 12,03 ± 1,08 12,36 ± 1,37 > 0,05 Khoảng cách tay đất (cm) 23,81 ± 5,91 24,74 ± 7,28 > 0,05 Gấp (độ) 47,52 ± 6,75 46,82 ± 6,17 > 0,05 Duỗi (độ) 17,64 ± 1,36 17,74 ± 1,62 > 0,05 Nghiêng phải (độ) 20,71 ± 5,74 21,32 ± 6,38 > 0,05 Nghiêng trái (độ) 19,91 ± 4,93 20,71 ± 5,86 > 0,05
Trước khi tiến hành điều trị, các chỉ số như VAS, độ giãn CSTL, khoảng cách tay đất, và tầm vận động CSTL (bao gồm gấp, duỗi, nghiêng) giữa hai nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, với p > 0,05.
3.1.6 Đặc điểm tổn thương trên phim X-quang
Bảng 3.3 Đặc điểm hình ảnh phim X-quang CSTL
Mất đường cong sinh lý 15 50 16 53,3 > 0,05 Gai xương, mỏ xương 21 70 22 73,3 > 0,05
Hẹp khe khớp 19 63,3 20 66,7 > 0,05 Đặc xương dưới sụn 16 53,3 18 60 > 0,05
Nhận xét: Tỷ lệ hình ảnh tổn thương trên phim X-quang CSTL ở hai nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Kết quả điều trị
3.2.1 Sự cải thiện mức độ đau theo thang điểm VAS
Biểu đồ 3.4 cho thấy sự thay đổi điểm VAS trung bình theo thời gian điều trị Sau 7 và 14 ngày điều trị, điểm VAS trung bình của cả hai nhóm đều giảm đáng kể so với trước điều trị, với p < 0,05 Nhóm NC ghi nhận điểm VAS trung bình giảm từ 5,92 ± 0,96 xuống 1,39 ± 0,42, trong khi nhóm ĐC giảm từ 5,78 ± 0,85 xuống 1,88 ± 0,56 sau 14 ngày, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Bảng 3.4 Mức độ chênh lệch điểm VAS tại các thời điểm sau điều trị
Mức độ chênh lệch điểm VAS
Chênh lệch Cải thiện (%) Chênh lệch Cải thiện (%)
Mức đ ộ đau th eo VA S (đ iểm ) p D7-D0 < 0,05 p D14-D0 < 0,05 p NC-C < 0,05
Sau 7 và 14 ngày điều trị, nhóm NC cho thấy hiệu suất giảm đau theo thang điểm VAS cải thiện rõ rệt hơn so với nhóm ĐC, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Bảng 3.5 Phân bố bệnh nhân theo mức độ đau VAS sau điều trị
Không đau 0 0 7 23,3 12 40,0 0 0 5 16,7 7 23,3 Đau nhẹ 6 20,0 16 53,4 14 46,7 7 23,3 17 56,6 16 53,4 Đau vừa 24 80,0 7 23,3 4 13,3 23 76,7 8 26,7 7 23,3
Trước khi điều trị, mức độ đau chủ yếu ở mức vừa, với 80,0% ở nhóm nghiên cứu và 76,7% ở nhóm chứng Không có bệnh nhân nào ở mức độ đau nhẹ hoặc không đau Sau 7 ngày điều trị, bệnh nhân chủ yếu chuyển sang mức độ đau nhẹ, chiếm 53,4% ở nhóm.
Sau 14 ngày điều trị, mức độ đau chủ yếu ở nhóm nghiên cứu (NC) là nhẹ, với 46,7%, và ở nhóm chứng là 53,4% Sự khác biệt về mức độ đau giữa hai nhóm tại thời điểm bắt đầu và sau 7 ngày không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Tuy nhiên, mức độ giảm đau sau 14 ngày so với trước điều trị có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 ở cả hai nhóm Điều này cho thấy sự cải thiện đáng kể về mức độ đau trước và sau điều trị trong mỗi nhóm, với p < 0,05.
3.2.2 Sự cải thiện tầm vận động cột sống thắt lƣng
3.2.2.1 Sự cải thiện độ gión cột sống thắt lưng theo nghiệm phỏp Schửber
Biểu đồ 3.5 Sự cải thiện độ giãn cột sống thắt lưng theo Schober
Sau 7 và 14 ngày điều trị, độ giãn CSTL trung bình của hai nhóm đều tăng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Cụ thể, sau 7 ngày, nhóm NC đạt độ giãn CSTL là 13,68 ± 0,57 cm, trong khi nhóm ĐC là 13,59 ± 0,54 cm, với sự khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) Đến ngày thứ 14, độ giãn CSTL của nhóm NC là 14,45 ± 0,63 cm, cao hơn so với nhóm ĐC là 13,92 ± 0,68 cm, cũng với ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Bảng 3.6 Hiệu suất cải thiện độ giãn CSTL theo Schober
Sau 7 và 14 ngày điều trị, nhóm nghiên cứu cho thấy hiệu suất cải thiện độ giãn CSTL trung bình theo nghiệm pháp Schürber tốt hơn so với nhóm đối chứng, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
3.2.2.2 Sự cải thiện tầm vận động cột sống theo nghiệm pháp tay đất
Biểu đồ 3.6 Sự cải thiện khoảng cách tay đất trung bình
Nhận xét: sau 7 và 14 ngày điều trị, khoảng cách tay đất trung bình của cả
Cả hai nhóm đều có sự giảm đáng kể với p < 0,05 Sau 7 ngày, khoảng cách tay đất trung bình của nhóm NC giảm từ 23,81 ± 5,91 cm xuống 12,13 ± 3,85 cm, trong khi nhóm ĐC giảm từ 24,74 ± 7,28 cm xuống 13,79 ± 4,29 cm, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Sau 14 ngày điều trị, khoảng cách tay đất trung bình của nhóm NC là 4,82 ± 2,14 cm, thấp hơn nhóm ĐC là 6,96 ± 3,61 cm, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Kh oản g cá ch tay đ ất (cm ) p D7-D0 < 0,05 p D14-D0 < 0,05 p NC-C < 0,05
Bảng 3.7 Hiệu suất cải thiện khoảng cách tay đất
Sau 7 và 14 ngày điều trị, nhóm NC cho thấy hiệu suất giảm khoảng cách tay đất cao hơn so với nhóm ĐC, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
3.2.2.3 Sự cải thiện tầm vận động gấp, duỗi, nghiêng
Bảng 3.8 Sự cải thiện tầm vận động gấp CSTL theo thời gian điều trị
D14 58,71 ±7,23 55,09 ± 7,04 < 0,05 Độ chênh TB D7-D0 (a) 5,28 ± 2,81 4,19 ± 2,53 > 0,05 Độ chênh TB D14-D0 (b) 11,19 ± 3,97 8,27 ± 3,26 < 0,05 p7-0, p14-0 < 0,05 pa-b < 0,05
Nhận xét: trước điều trị tầm vận động gấp CSTL trung bình ở cả hai nhóm không khác biệt với p > 0,05
Sau điều trị, tầm vận động gấp CSTL của cả hai nhóm đều tăng với ý nghĩa thống kê p < 0,05 Sau 7 ngày, tầm vận động gấp CSTL trung bình ở nhóm NC là 52,8 ± 6,92 độ, trong khi nhóm ĐC là 51,01 ± 6,86 độ, không có sự khác biệt thống kê (p > 0,05) Tuy nhiên, sau 14 ngày điều trị, tầm vận động gấp CSTL trung bình ở nhóm NC đạt 58,71 ± 7,23 độ, tốt hơn so với nhóm ĐC là 55,09 ± 7,04 độ, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05.
Sau 7 ngày điều trị, hiệu suất tăng tầm vận động gấp CSTL trung bình là 5,28 ± 2,81 độ ở nhóm NC cao hơn nhóm ĐC là 4,19 ± 2,53 độ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Sau 14 ngày điều trị, hiệu suất tăng tầm vận động gấp CSTL trung bình ở nhóm NC là 11,19 ± 3,97 độ tốt hơn nhóm ĐC là 8,27 ± 3,26 độ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Bảng 3.9 Sự cải thiện tầm vận động duỗi CSTL theo thời gian điều trị
(n = 30) p 1-2 ̅ ± SD ̅ ± SD D0 17,64 ± 1,36 17,74 ± 1,62 > 0,05 D7 22,03 ± 1,73 21,75 ± 1,68 > 0,05 D14 26,29 ± 1,89 25,18 ± 1,83 < 0,05 Độ chênh TB D7-D0 (a) 4,39 ± 0,85 4,01 ± 0,91 < 0,05 Độ chênh TB D14-D0 (b) 8,65 ± 0,92 7,44 ± 1,08 < 0,05 p7-0, p14-0 < 0,05 pa-b < 0,05
Nhận xét: Trước điều trị tầm vận động duỗi CSTL trung bình ở cả hai nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Sau 7 và 14 ngày điều trị, tầm vận động duỗi CSTL của cả 2 nhóm đều tăng so với trước điều trị, có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Tầm vận động duỗi CSTL trung bình ở nhóm NC sau 7 ngày là 22,03 ± 1,73 độ và nhóm ĐC là 21,75 ± 1,68 độ, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Sau 14 ngày điều trị, tầm vận động duỗi CSTL ở nhóm NC là 26,73 ± 1,89 độ, cao hơn nhóm ĐC là 25,18 ± 1,83 độ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Sau 7 ngày điều trị, hiệu suất tăng tầm vận động duỗi CSTL trung bình là 4,39 ± 0,85 độ ở nhóm NC tốt hơn nhóm ĐC (4,01 ± 0,91 độ), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Sau 14 ngày điều trị, hiệu suất tăng tầm vận động duỗi CSTL trung bình ở nhóm NC là 8,65 ± 0,92 độ cao hơn so với nhóm ĐC là 7,44 ± 1,08 độ, khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Bảng 3.10 Sự cải thiện tầm vận động nghiêng phải theo thời gian điều trị
(n = 30) p 1-2 ̅ ± SD ̅ ± SD D0 20,71 ± 5,74 21,32 ± 6,38 > 0,05 D7 25,15 ± 4,18 24,52 ± 4,04 > 0,05 D14 30,35 ± 5,91 28,47 ± 6,38 < 0,05 Độ chênh TB D7-D0 (a) 4,44 ± 1,63 3,2 ± 1,52 < 0,05 Độ chênh TB D14-D0 (b) 9,64 ± 2,35 7,15 ± 2,02 < 0,05 p7-0, p14-0 < 0,05 pa-b < 0,05
Nhận xét: Trước điều trị tầm vận động nghiêng phải CSTL trung bình ở cả hai nhóm là tương đương với p > 0,05
Sau 7 và 14 ngày điều trị, tầm vận động nghiêng phải CSTL của cả 2 nhóm đều tăng so với trước điều trị, có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Sau 7 ngày, tầm vận động nghiêng phải CSTL trung bình ở nhóm NC là 25,15 ± 4,18 độ, nhóm ĐC là 24,52 ± 4,04 độ, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Sau 14 ngày điều trị, tầm vận động nghiêng phải CSTL ở nhóm NC là 30,35 ± 5,91 độ, tốt hơn so với nhóm ĐC là 28,47 ± 6,38 độ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Sau 7 ngày điều trị, hiệu suất tăng tầm vận động nghiêng phải CSTL trung bình là 4,44 ± 1,63 độ ở nhóm NC, cao hơn nhóm ĐC là 3,2 ± 1,52 độ, với p < 0,05 Sau 14 ngày điều trị, hiệu suất tăng tầm vận động nghiêng phải CSTL trung bình ở nhóm NC là 9,64 ± 2,35 độ, tốt hơn nhóm ĐC là 7,15 ± 2,02 độ có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Bảng 3.11 Sự cải thiện tầm vận động nghiêng trái theo thời gian điều trị
(n = 30) p 1-2 ̅ ± SD ̅ ± SD D0 19,91 ± 4,93 20,71 ± 5,86 > 0,05 D7 24,48 ± 5,03 23,93 ± 5,25 > 0,05 D14 29,84 ± 5,92 27,93 ± 5,64 < 0,05 Độ chênh TB D7-D0 (a) 4,87 ± 1,01 3,22 ± 0,93 < 0,05 Độ chênh TB D14-D0 (b) 9,93 ± 1,26 7,22 ± 1,14 < 0,05 p7-0, p14-0 < 0,05 pa-b < 0,05
Nhận xét: Trước điều trị tầm vận động nghiêng trái CSTL trung bình ở cả hai nhóm không khác biệt với p > 0,05
Sau 7 và 14 ngày điều trị, tầm vận động nghiêng trái CSTL của cả 2 nhóm đều tăng so với trước điều trị, có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Sau 7 ngày, tầm vận động nghiêng trái CSTL ở nhóm NC là 24,48 ± 5,03 độ, nhóm ĐC là 23,93 ± 5,25 độ, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Sau 14 ngày điều trị, tầm vận động nghiêng trái CSTL ở nhóm NC là 29,84 ± 5,92 độ, tốt hơn so với nhóm ĐC là 27,93 ± 5,64 độ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Sau 7 ngày điều trị, hiệu suất tăng tầm vận động nghiêng trái CSTL là 4,87 ± 1,01 độ ở nhóm NC, tốt hơn nhóm ĐC là 3,22 ± 0,93 độ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Sau 14 ngày, hiệu suất tăng tầm vận động nghiêng trái CSTL ở nhóm NC là 9,93 ± 1,26 độ, cao hơn nhóm ĐC (7,22 ± 1,14 độ), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
3.2.3 Sự thay đổi co cơ vùng thắt lưng trước và sau điều trị
Bảng 3.12 Sự thay đổi co cơ vùng thắt lưng theo thời gian điều trị
Một số yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị
3.3.1 Liên quan giữa tuổi, giới và hiệu quả điều trị
Bảng 3.15 Liên quan giữa tuổi, giới và hiệu quả điều trị
Nhóm bệnh nhân dưới 60 tuổi có kết quả điều trị tốt gấp 2,6 lần so với nhóm bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05, và khoảng tin cậy 95% của tỷ lệ odds (OR) bao gồm giá trị 1 (0,82-8,27).
Nhóm nữ có kết quả điều trị tốt hơn 1,4 lần so với nhóm nam, tuy nhiên sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05, và khoảng tin cậy 95% của tỷ lệ odds (OR) nằm trong khoảng 0,71-5,83.
3.3.2 Liên quan giữa nghề nghiệp và hiệu quả điều trị
Bảng 3.16 Liên quan giữa nghề nghiệp và hiệu quả điều trị
Bệnh nhân làm nghề lao động chân tay có kết quả điều trị tốt hơn 1,9 lần so với bệnh nhân làm nghề lao động trí óc Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05, và khoảng tin cậy 95% của tỷ lệ odds (OR) bao gồm cả 1, với giá trị từ 0,48 đến 7,82.
3.3.3 Liên quan giữa thời gian bị bệnh và hiệu quả điều trị
Bảng 3.17 Liên quan giữa thời gian bị bệnh và hiệu quả điều trị
Nhận xét cho thấy bệnh nhân mắc bệnh dưới 1 tháng có kết quả điều trị tốt gấp 2,6 lần so với bệnh nhân mắc bệnh trên 1 tháng Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05, và khoảng tin cậy 95% của tỷ lệ odds (OR) bao gồm 1, với giá trị từ 0,32 đến 5,92.
3.3.4 Liên quan giữa mức độ đau theo thang điểm VAS và hiệu quả điều trị
Bảng 3.18 Liên quan giữa mức độ đau theo thang điểm VAS và hiệu quả điều trị
Mức độ đau Đau vừa 10 6 1,25
Bệnh nhân trải qua mức độ đau vừa có tỷ lệ điều trị thành công cao gấp 1,25 lần so với bệnh nhân chỉ có đau nhẹ Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05, và khoảng tin cậy 95% của tỷ lệ odds (OR) nằm trong khoảng 0,48-3,72.
Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu
4.1.1 Phân bố người bệnh theo tuổi
Theo nghiên cứu của chúng tôi, nhóm bệnh nhân (NB) chủ yếu ở độ tuổi 50 – 59, chiếm 40,0% ở nhóm nghiên cứu (NC) và 43,3% ở nhóm đối chứng (ĐC) Tỷ lệ bệnh nhân dưới 49 tuổi là thấp nhất, chỉ chiếm 23,3% ở cả hai nhóm Tuổi trung bình của bệnh nhân là 55,87 ± 8,03 tuổi ở nhóm NC và 56,20 ± 7,60 tuổi ở nhóm ĐC, không có sự khác biệt đáng kể về tuổi giữa hai nhóm với p > 0,05.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với một số nghiên cứu khác Cụ thể, theo Lê Thị Thu Hà (2022), tuổi trung bình của những người tham gia nghiên cứu là
NC là 57,58 ± 13,88 (tuổi) [33] Theo Nguyễn Minh Thƣ (2020), NB có độ tuổi trung bình là 58,60 ± 12,51 (tuổi) [34]
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi tác là yếu tố quan trọng trong sinh bệnh học của ĐTL do THCS, với cấu trúc cột sống như đốt sống thắt lưng, đĩa đệm và dây chằng có xu hướng thoái hóa theo thời gian Sự gia tăng tuổi tác dẫn đến áp lực kéo dài lên cột sống, gây ra vi chấn thương và tổn thương tích lũy do lao động và tư thế sai Bệnh tiến triển chậm với các tổn thương như hẹp khe liên đốt và thoái hóa đĩa đệm, cùng với suy giảm nội tiết ở người trung niên và cao tuổi, làm tình trạng bệnh nặng thêm Theo y học cổ truyền, bệnh nhân thuộc thể phong hàn thấp kết hợp Can Thận hư, cho thấy sự suy giảm chức năng Can và Thận theo độ tuổi, dẫn đến yếu gân cốt và tạo điều kiện cho phong, hàn, thấp xâm nhập, gây đau nhức Người lớn tuổi thường quan tâm đến sức khỏe và ưa chuộng các phương pháp điều trị an toàn từ y học cổ truyền, dẫn đến tỷ lệ thăm khám và điều trị cao hơn.
4.1.2 Phân bố người bệnh theo giới
Tỷ lệ NB nữ nhiều hơn nam ở cả 2 nhóm, chiếm 63,3% ở cả hai nhóm Không có sự khác biệt về giới giữa nhóm NC và nhóm ĐC với p > 0,05
Kết quả này phù hợp với kết quả NC của của tác giả Nguyễn Minh Thƣ
(2020) với tỷ lệ nữ ở nhóm NC chiếm 66,7%, nhóm chứng tỷ lệ nữ chiếm 76,7%
[34] Theo Lê Minh Tiến (2020) nữ giới chiếm 78,3% [24]
Tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới thường cao hơn nam giới, chủ yếu do phụ nữ tham gia vào các công việc nặng nhọc và có thời gian làm việc kéo dài, dẫn đến vi chấn thương cột sống thắt lưng Ngoài ra, nhiều lần mang thai và gánh nặng sinh nở cũng ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng cột sống, làm gia tăng tỷ lệ đau lưng ở nữ giới Theo y học cổ truyền, phụ nữ bắt đầu lão hóa sớm hơn nam giới, với các dấu hiệu như suy giảm dương minh mạch và khô sạm da xuất hiện từ tuổi 35, trong khi nam giới chỉ bắt đầu thấy dấu hiệu lão hóa từ tuổi 40 Quá trình lão suy này ở nữ giới diễn ra nhanh chóng hơn, ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể và chất lượng cuộc sống.
4.1.3 Phân bố người bệnh theo nghề nghiệp Đa phần NB là lao động chân tay, chiếm 66,7% ở nhóm NC và 60% ở nhóm ĐC Không có sự khác biệt về nghề nghiệp giữa nhóm NC và nhóm ĐC với p > 0,05
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đột quỵ do thoái hóa cột sống cao hơn ở nhóm lao động chân tay, với Nguyễn Thị Hải Yến (2021) ghi nhận 64,7% lao động chân tay so với 35,3% lao động trí óc Tương tự, Triệu Thị Thùy Linh (2015) cũng chỉ ra tỷ lệ lao động chân tay là 65,1% và lao động trí óc là 34,9% Ngược lại, Lê Minh Tiến (2020) lại phát hiện tỷ lệ lao động trí óc cao hơn, với 56,7% ở nhóm chứng và 53,3% ở nhóm nghiên cứu, so với 43,3% và 46,7% ở nhóm lao động chân tay.
Người lao động chân tay như công nhân, nông dân và người buôn bán thường xuyên thực hiện các động tác vận động cột sống một cách quá mức, đột ngột hoặc sai tư thế Điều này dẫn đến việc cột sống và đĩa đệm phải chịu tải trọng lớn trong thời gian dài, gây ra nguy cơ tổn thương và các vấn đề sức khỏe liên quan.
Áp lực kéo dài và lặp đi lặp lại lên đĩa đệm làm giảm quá trình nuôi dưỡng, gây thiếu oxy và biến đổi chuyển hóa của đĩa đệm Hệ quả là đĩa đệm thoái hóa, dẫn đến tổn thương xương dưới sụn và xơ cứng dây chằng bao khớp, làm tăng nguy cơ đau thắt lưng và thoát vị đĩa đệm sớm hơn bình thường.
4.1.4 Phân bố người bệnh theo thời gian mắc bệnh
Thời gian mắc bệnh của người bệnh (NB) trong nghiên cứu chủ yếu dưới 1 tháng, chiếm 60% ở nhóm nghiên cứu (NC) và 63,3% ở nhóm đối chứng (ĐC) Tỷ lệ NB mắc bệnh trên 3 tháng là thấp nhất, chỉ chiếm 13,3% ở cả hai nhóm NC và ĐC Không có sự khác biệt đáng kể về thời gian mắc bệnh giữa nhóm NC và nhóm ĐC với p > 0,05.
Kết quả nghiên cứu phù hợp với tác giả Nguyễn Thị Hải Yến (2021): số bệnh nhân đến điều trị sớm trong vòng 1 tháng đầu chiếm tỷ lệ 60% Theo
Nguyễn Minh Thư (2020) cho thấy tỷ lệ bệnh nhân (NB) mắc bệnh dưới 1 tháng chiếm 63,4% ở nhóm nghiên cứu (NC) và 60% ở nhóm đối chứng (ĐC), cho thấy mức độ đau thể xác (ĐTL) ảnh hưởng mạnh mẽ đến sinh hoạt hàng ngày của họ, làm giảm khả năng vận động và chất lượng cuộc sống Điều này dẫn đến việc NB tìm kiếm các biện pháp điều trị để cải thiện tình trạng sức khỏe Hơn nữa, nó cũng phản ánh sự gia tăng nhận thức của NB về bệnh lý và sự quan tâm đối với chăm sóc sức khỏe, giúp họ tiếp cận các phương pháp điều trị kịp thời và phù hợp hơn.
4.1.5 Đặc điểm một số chỉ số lâm sàng trước điều trị
Theo bảng 3.2, điểm VAS trung bình trước can thiệp của nhóm NC là 5,92 ± 0,96 điểm, trong khi nhóm ĐC đạt 5,78 ± 0,85 điểm Sự khác biệt giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Lê Minh Tiến (2021), trong đó điểm VAS trung bình trước can thiệp của nhóm nghiên cứu là 5,93 ± 0,64 và nhóm đối chứng là 6,03 ± 0,61 Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Minh Thư (2020) cũng cho thấy những kết quả tương tự.
Điểm VAS trung bình của nhóm NC là 5,73 ± 1,14, trong khi nhóm chứng có điểm VAS trung bình là 6,13 ± 1,07 Sự khác biệt này phản ánh đặc điểm của bệnh ĐTL do THCS, vốn là một dạng ĐTL mạn tính, thường xuyên xuất hiện hàng ngày và có khả năng tái phát.
Trước khi điều trị, các chỉ số độ giãn của cột sống thắt lưng (CSTL) theo Schübel, khoảng cách tay đất và tầm vận động CSTL (gồm gấp, duỗi, nghiêng trái, nghiêng phải) ở cả hai nhóm đều bị hạn chế, và sự khác biệt giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Sự hạn chế tầm vận động CSTL phù hợp với kết quả NC của tác giả Lê Minh Tiến (2020) và Nguyễn Hồng Thái (2022) [24], [38]
4.1.6 Đặc điểm tổn thương trên phim X-quang
Bảng 3.3 trình bày tỷ lệ các hình ảnh tổn thương phổ biến trên phim X-quang cột sống thắt lưng (CSTL) thẳng và nghiêng Trong nhóm không điều trị (NC), có 50% trường hợp mất đường cong sinh lý, 70% có gai xương, 63,3% hẹp khe đĩa đệm và 33,3% có đặc xương dưới sụn Trong khi đó, nhóm điều trị (ĐC) ghi nhận 53,3% mất đường cong sinh lý, 73,3% gai xương, 66,7% hẹp khe đĩa đệm và 60% đặc xương dưới sụn Không có sự khác biệt đáng kể về đặc điểm tổn thương trên phim X-quang CSTL giữa hai nhóm NC và ĐC (p > 0,05).
Kết quả điều trị
4.2.1 Sự cải thiện mức độ đau theo thang điểm VAS Đau là cảm giác chủ quan, mang tính cá nhân, thường liên quan đến tổn thương mô hiện tại hoặc tiềm tàng, đóng vai trò cảnh báo để bảo vệ cơ thể ĐTL do THCS không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, lao động và chất lƣợng sống, là lý do chính khiến NB tìm đến điều trị NC về đau gặp khó khăn do sự khác biệt về ngƣỡng, khả năng chịu đựng và phản ứng với đau giữa các cá nhân Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thang điểm VAS, một công cụ đơn giản và trực quan, để đánh giá mức độ đau dựa trên cảm nhận chủ quan của NB
Kết quả nghiên cứu cho thấy sau 7 và 14 ngày điều trị, điểm VAS trung bình của cả hai nhóm đều giảm đáng kể so với trước điều trị với p < 0,05 Cụ thể, nhóm NC có điểm VAS trung bình giảm từ 5,92 ± 0,96 xuống 1,39 ± 0,42, cho thấy hiệu quả tốt hơn so với nhóm ĐC, giảm từ 5,78 ± 0,85 xuống 1,88 ± 0,56 sau 14 ngày, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Hiệu quả giảm đau được thể hiện qua sự giảm điểm VAS trung bình ở nhóm NC, cho thấy hiệu suất tốt hơn so với nhóm ĐC tại các thời điểm NC Cụ thể, sau 7 ngày, nhóm NC đạt mức giảm 2,53 ± 0,83 điểm, cao hơn nhóm ĐC với 1,94 ± 0,81 điểm (p < 0,05) Sau 14 ngày điều trị, nhóm NC tiếp tục có hiệu suất giảm đau tốt hơn với 4,53 ± 0,76 điểm so với nhóm ĐC là 3,9 ± 0,73 điểm, với p < 0,05.
Nghiên cứu của một số tác giả cho thấy phương pháp điều trị đau thắt lưng (ĐTL) do thoái hóa cột sống (THCS) không dùng thuốc mang lại hiệu quả giảm đau đáng kể Triệu Thị Thùy Linh (2015) đã áp dụng điện trường châm và xoa bóp bấm huyệt, cho thấy sau 14 ngày, điểm VAS trung bình giảm 3,49 ± 1,30 trong nhóm nghiên cứu và 3,18 ± 1,22 trong nhóm điện châm Tương tự, Nguyễn Minh Thư (2020) đã đánh giá hiệu quả của điện châm kết hợp đắp parafin, với điểm VAS trung bình trước điều trị là 6,07 ± 1,44 và giảm xuống còn 0,57 ± 0,68 sau 14 ngày Ngoài ra, Nguyễn Thị Hải Yến (2021) cho biết sau điều trị, mức độ đau nhẹ ở nhóm nghiên cứu đạt 93,3%, trong khi nhóm chứng chỉ 66,7%, và tỷ lệ không đau ở nhóm nghiên cứu là 6,7%, so với 33,3% ở nhóm chứng.
Hiệu quả giảm đau đáng kể ở cả hai nhóm nghiên cứu là nhờ vào sự kết hợp giữa điện châm, xoa bóp bấm huyệt và dung dịch xoa bóp GS-TVB Theo y học hiện đại, châm cứu tạo ra một kích thích dẫn đến phản xạ mới, có khả năng ức chế và phá vỡ các phản xạ bệnh lý thông qua ba mức độ: tại chỗ, tiết đoạn thần kinh và toàn thân.
Điện châm làm tăng ngưỡng đau bằng cách kéo dài thời gian bán hủy và tăng cường tiết các chất như β-Endorphin, Enkephalin, Endomorphin, và Dynorphin trong cơ thể Xung điện từ huyệt bị kích thích truyền tới sừng sau của tủy sống, kích thích tuyến yên và tế bào não bào để tiết Enkephalin và Endorphin Hai chất này ức chế bài tiết chất P, từ đó ngăn chặn sự dẫn truyền cảm giác đau qua các sợi Aδ và C tại tủy sống Bên cạnh đó, xoa bóp bấm huyệt cũng giúp người bệnh thư giãn cả về thể chất lẫn tinh thần, tăng ngưỡng đau thông qua việc giải phóng Endorphin và cải thiện tuần hoàn tại chỗ, làm tăng khả năng thanh thải chất trung gian gây đau.
YHCT cho rằng khí huyết lưu thông bình thường thì không gây đau, với mối liên hệ mật thiết giữa khí và huyết Điện châm tác động vào huyệt đạo giúp điều hòa khí huyết và giảm đau Chúng tôi sử dụng huyệt Giáp tích L2 – S1, Đại trường du và các huyệt Thận du, Thái khê, Thái xung, Tam âm giao, Ủy trung để điều trị ĐTL và bổ thận Huyệt Thận du quan trọng trong chẩn đoán và điều trị bệnh thận, trong khi Thái khê và Thái xung tập trung nguyên khí của tạng phủ Tam âm giao kết nối ba kinh âm ở chân, còn Ủy trung chủ trị bệnh lý vùng eo lưng Các động tác xoa bóp bấm huyệt giúp khu phong, thông khí huyết, giảm đau hiệu quả bằng cách khai thông kinh mạch ứ trệ.
4.2.2 Sự cải thiện tầm vận động cột sống thắt lƣng
4.2.2.1 Hiệu quả cải thiện độ gión cột sống thắt lưng theo Schửber
Biểu đồ 3.5 cho thấy trước điều trị, độ giãn CSTL theo Schửber ở hai nhóm không có sự khác biệt (p > 0,05) Sau 7 và 14 ngày điều trị, độ giãn CSTL trung bình của cả hai nhóm đều tăng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Cụ thể, sau 7 ngày, độ giãn CSTL ở nhóm NC đạt 13,68 ± 0,57 cm, trong khi nhóm ĐC là 13,59 ± 0,54 cm, với sự khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05) Sau 14 ngày, độ giãn CSTL ở nhóm NC là 14,45 ± 0,63 cm, cao hơn nhóm ĐC là 13,92 ± 0,68 cm, cũng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Bảng 3.5 chỉ ra rằng hiệu suất cải thiện độ giãn CSTL trung bình theo nghiệm pháp Schửber ở nhóm NC tốt hơn so với nhóm ĐC, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
NC của chúng tôi cho kết quả tương đồng với các NC: Lê Minh Tiến
(2020) sau 14 ngày điều trị bằng điện châm, xoa bóp bấm huyệt kết hợp bài tập
Sau 14 ngày điều trị, độ giãn CSTL trung bình ở nhóm NC đạt 3,86 ± 0,33 cm, cao hơn so với nhóm ĐC với 3,60 ± 0,36 cm (p < 0,05) Hiệu suất tăng độ giãn CSTL ở nhóm 2 là 1,51 ± 0,16 cm, có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Theo nghiên cứu của Triệu Thị Thùy Linh (2015), việc áp dụng điện trường châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt trên bệnh nhân ĐTL do THCS đã giúp tăng độ giãn CSTL từ 1,92 ± 0,56 cm lên 4,28 ± 0,71 cm sau 14 ngày điều trị.
Hạn chế vận động cột sống và giảm độ giãn cột sống là những triệu chứng phổ biến trong đau thắt lưng do thoái hóa cột sống Nguyên nhân của tình trạng này thường là do cứng khớp và đau ở vùng cột sống khi thực hiện các động tác cúi, kết hợp với co cứng cơ cạnh sống và kéo căng rễ thần kinh, gây ra cơn đau khi có sự chèn ép Phương pháp điều trị điện châm được áp dụng để hỗ trợ trong việc giảm triệu chứng và cải thiện tình trạng sức khỏe.
YHHĐ và YHCT sử dụng châm cứu và điện châm để điều trị đau và cải thiện chức năng cơ thể Châm cứu giúp điều khí và giảm đau, trong khi điện châm kích thích các cơ quan cảm thụ, làm giãn mạch và tăng cường tuần hoàn máu, cải thiện dinh dưỡng và chuyển hóa tại chỗ Tác dụng giảm đau và giãn cơ của điện châm diễn ra ngay sau khi điều trị, giúp cơ vùng thắt lưng thư giãn và tăng cường vận động Xoa bóp bấm huyệt tác động lên da, cơ, gân, khớp và hệ thần kinh, tăng tính đàn hồi và sức bền của cơ, đồng thời giải quyết tình trạng đau và co cơ Các huyệt như giáp tích L2 – S1, Thận du, Đại trường du nằm dưới khối cơ vùng thắt lưng, vì vậy việc áp dụng điện châm và xoa bóp bấm huyệt sẽ giúp giãn cơ vùng thắt lưng co cứng, từ đó cải thiện tầm vận động và tăng độ giãn của cơ.
4.2.2.2 Hiệu quả cải thiện tầm vận động cột sống theo nghiệm pháp tay đất
Biểu đồ và bảng số liệu cho thấy sau 7 và 14 ngày điều trị, khoảng cách tay đất trung bình của hai nhóm đều giảm có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Cụ thể, sau 7 ngày, nhóm NC giảm từ 23,81 ± 5,91 cm xuống 12,13 ± 3,85 cm, trong khi nhóm ĐC giảm từ 24,74 ± 7,28 cm xuống 13,79 ± 4,29 cm, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Sau 14 ngày, khoảng cách tay đất trung bình của nhóm NC là 4,82 ± 2,14 cm, cao hơn nhóm ĐC với 6,96 ± 3,61 cm, và cũng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Hiệu suất giảm khoảng cách tay đất ở nhóm NC cao hơn so với nhóm ĐC với p < 0,05.
Nghiên cứu của Lê Thị Thu Hà (2022) cho thấy việc áp dụng điện châm Giáp tích L1 – L5 kết hợp với nhóm huyệt 8 và xoa bóp bấm huyệt trên NB ĐTL đã giúp giảm khoảng cách tay đất trung bình từ 20,42 ± 5,12 cm xuống còn 7,98 ± 4,65 cm sau 14 ngày.
Các phương pháp điều trị như điện châm, xoa bóp bấm huyệt và dung dịch xoa bóp GS-TVB không chỉ giảm đau mà còn làm giảm tình trạng co cứng cơ vùng thắt lưng, từ đó cải thiện khoảng cách tay chạm đất Cải thiện tính linh hoạt của cột sống thắt lưng là mục tiêu quan trọng trong các chương trình vận động trị liệu cho bệnh nhân mắc các bệnh cơ xương khớp như viêm khớp dạng thấp hoặc thoái hóa cột sống Khoảng cách tay chạm đất được khuyến nghị để đánh giá khả năng vận động của cột sống và khung chậu trong động tác cúi người, đồng thời là tiêu chí an toàn để đánh giá hiệu quả điều trị cho bệnh nhân thoái hóa cột sống Đau và co cơ vùng thắt lưng là nguyên nhân chính hạn chế tầm vận động cột sống ở bệnh nhân thoái hóa cột sống Thoái hóa đĩa đệm là biểu hiện đầu tiên của thoái hóa cột sống, và khi đĩa đệm bị thoái hóa, lực cơ học có thể gây tổn thương đến các cấu trúc xung quanh, dẫn đến đau Co cơ cạnh sống xuất hiện như một phản ứng bảo vệ nhưng kéo dài có thể làm giảm lưu lượng máu đến đĩa đệm và các mô mềm lân cận Do đó, các phương pháp điều trị này không chỉ giảm đau mà còn cải thiện tuần hoàn, tăng khả năng vận động và từ đó cải thiện khoảng cách tay chạm đất.
4.2.2.3 Hiệu quả cải thiện tầm vận động gấp, duỗi, nghiêng Điện châm, xoa bóp bấm huyệt có tác dụng giảm đau, giãn cơ, tăng sức bền của cơ, tăng tuần hoàn dinh dƣỡng cho cơ, từ đó tăng tính linh hoạt và khả năng vận động của cột sống Do vậy, sau khi điều trị bằng điện châm, xoa bóp bấm huyệt và dung dịch xoa bóp GS-TVB tầm vận động cột sống gấp, duỗi, nghiêng đều đƣợc cải thiện NC của chúng tôi có hiệu quả cải thiện tầm vận động CSTL tương đồng so với Nguyễn Thị Hải Yến (2021), và cao hơn so với kết quả của Nguyễn Hồng Thái (2022) [36], [38]
Một số yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị
4.3.1 Liên quan giữa tuổi, giới và hiệu quả điều trị
Phân tích mối quan hệ giữa tuổi tác, giới tính và hiệu quả điều trị cho thấy rằng những yếu tố này có ảnh hưởng nhất định đến kết quả điều trị Tuy nhiên, các khác biệt được ghi nhận vẫn chưa đạt mức ý nghĩa thống kê.
Liên quan giữa tuổi và hiệu quả điều trị
Nghiên cứu cho thấy nhóm bệnh nhân dưới 60 tuổi có kết quả điều trị tốt hơn gấp 2,6 lần so với nhóm từ 60 tuổi trở lên, có thể do khả năng phục hồi tốt hơn ở người trẻ và hệ tuần hoàn cùng cơ xương khớp chưa bị suy giảm nhiều Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05), cho thấy tuổi tác không ảnh hưởng đáng kể đến kết quả điều trị khi được xem xét riêng rẽ.
Liên quan giữa giới và hiệu quả điều trị
Khi so sánh hiệu quả điều trị giữa nam và nữ, nữ giới có khả năng đạt hiệu quả tốt hơn với tỷ lệ cao hơn 1,4 lần Sự khác biệt này có thể do mức độ chịu đau và tuân thủ các liệu pháp điều trị khác nhau giữa các giới Tuy nhiên, sự khác biệt về giới tính không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), cho thấy giới tính không phải là yếu tố quyết định rõ ràng cho hiệu quả điều trị trong nghiên cứu này.
4.3.2 Liên quan giữa nghề nghiệp và hiệu quả điều trị
Nghiên cứu cho thấy nghề nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị ĐTL do THCS, với nhóm người bệnh làm lao động chân tay có tỷ lệ hiệu quả cao hơn khoảng 1,9 lần so với nhóm lao động trí óc Sự khác biệt này có thể do lao động chân tay duy trì vận động cơ xương thường xuyên hơn, giúp tăng khả năng phục hồi Tuy nhiên, mức độ khác biệt giữa hai nhóm không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05), do đó nghề nghiệp không được xác định là yếu tố ảnh hưởng độc lập đến kết quả điều trị trong nghiên cứu này.
4.3.3 Liên quan giữa thời gian bị bệnh và hiệu quả điều trị
NC về mối liên quan giữa thời gian bị bệnh và hiệu quả điều trị cho thấy
Nghiên cứu cho thấy, bệnh nhân mắc bệnh dưới 1 tháng có khả năng đạt kết quả điều trị tốt gấp 2,6 lần so với nhóm mắc bệnh trên 1 tháng Sự khác biệt này có thể do các trường hợp mới mắc có khả năng đáp ứng tốt hơn với điều trị, vì tổn thương chưa phát triển phức tạp Tuy nhiên, mức độ khác biệt không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05), cho thấy thời gian mắc bệnh không phải là yếu tố ảnh hưởng độc lập đến hiệu quả điều trị trong nghiên cứu này.
4.3.4 Liên quan giữa mức độ đau theo thang điểm VAS và hiệu quả điều trị
Phân tích mối liên quan giữa mức độ đau theo thang điểm VAS và hiệu quả điều trị cho thấy mức độ đau ban đầu ảnh hưởng đến kết quả điều trị Nhóm bệnh nhân có mức độ đau vừa có hiệu quả điều trị tốt hơn một chút so với nhóm có mức độ đau nhẹ, với tỷ lệ hiệu quả cao hơn 1,25 lần Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05), điều này chỉ ra rằng mức độ đau không phải là yếu tố quyết định độc lập đến kết quả điều trị trong nghiên cứu này.
Nghiên cứu hiệu quả điều trị của Dung dịch xoa bóp GS-TVB kết hợp với điện châm và xoa bóp bấm huyệt trên 60 bệnh nhân đau thắt lưng do thoái hóa cột sống thể Phong hàn thấp kèm Can thận hư theo Y học cổ truyền cho thấy phương pháp này mang lại hiệu quả tích cực trong việc giảm đau và cải thiện chức năng vận động.
1 Dung dịch xoa bóp GS-TVB kết hợp điện châm và xoa bóp bấm huyệt có hiệu quả tốt trong điều trị đau thắt lưng do thoái hóa cột sống:
Điểm VAS trung bình của nhóm nghiên cứu đã giảm đáng kể từ 5,92 ± 0,96 xuống 1,39 ± 0,42 sau khi điều trị, với p < 0,05, cho thấy sự cải thiện rõ rệt so với nhóm chứng.
+ Cải thiện độ giãn thắt lƣng: Sau điều trị, độ giãn thắt lƣng của nhóm nghiên cứu tăng 4,45 ± 0,63 (cm) (p