BỘ GIAO THÔNG VÀ VẬN TẢI BỘ GIÁO GIỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN ĐINH THỊ THOA – 79929 – KTN59ĐH ĐỖ THỊ YẾN – 80482 – KTN59ĐH HOÀNG THỊ YẾN – 80485 –
Trang 1BỘ GIAO THÔNG VÀ VẬN TẢI BỘ GIÁO GIỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN ĐINH THỊ THOA – 79929 – KTN59ĐH
ĐỖ THỊ YẾN – 80482 – KTN59ĐH HOÀNG THỊ YẾN – 80485 – KTN59ĐH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH VINFAST TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT KINH DOANH Ô TÔ
THEO MÔ HÌNH KIM CƯƠNG
Trang 2HẢI PHÒNG - 2022
Trang 3BỘ GIAO THÔNG VÀ VẬN TẢI BỘ GIÁO GIỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM
HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN ĐINH THỊ THOA – 79929 – KTN59ĐH
ĐỖ THỊ YẾN – 80482 – KTN59ĐH HOÀNG THỊ YẾN – 80485 – KTN59ĐH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH VINFAST TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT KINH DOANH Ô TÔ
THEO MÔ HÌNH KIM CƯƠNG
NGÀNG: KINH DOANH QUỐC TẾ; MÃ SỐ: 7340120
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
Giảng viên hướng dẫn: TS Bùi Thị Thanh Nga
Trang 4HẢI PHÒNG - 2022
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trước hết, chúng em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến TS Bùi ThịThanh Nga - giảng viên hướng dẫn Trường Đại học Hàng hải Việt Nam Cô làngười trực tiếp hướng dẫn và có những ý kiến đóng góp quý giá cho chúng emtrong suốt quá trình thực hiện đề tài Đồng thời chúng em xin gửi lời cảm ơnchân thành đến Ban Giám hiệu Nhà trường, cùng các thầy cô trong Khoa Kinh
tế đã tận tình giảng dạy chúng em trong suốt thời gian học tập, những người đãđịnh hướng và cho chúng em những kiến thức chuyên sâu về chuyên ngànhKinh tế ngoại thương
Trong quá trình làm khóa luận, chúng em đã rất cố gắng nhưng sẽ khó tránhkhỏi những thiếu sót nhất định Chúng em rất mong nhận được sự đóng góp ýkiến từ các thầy cô để khóa luận của chúng em được hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Chúng em xin cam đoan khóa luận với đề tài: “ Đánh giá năng lực cạnh
tranh của Công ty Cổ phần Sản xuất và Kinh doanh VinFast trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh ô tô theo mô hình kim cương” là kết quả nghiên cứu của chúng
em và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tất cả các tài liệu thamkhảo sử dụng trong bài đều được trích dẫn nguồn cụ thể, mọi thông tin số liệuđều đảm bảo tính chính xác và trung thực
Trang 7MỤC LỤC
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Danh mục chữ viết tắt tiếng Việt
Trang 9STT Ký hiệu Diễn giải Nguyên nghĩa
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Mô hình kim cương của Michael Porter
Biểu đồ thể hiện đóng góp của ngành ô tô và GDP
Doanh số bán ô tô tại Việt Nam
Doanh số bán xe nhập khẩu và lắp ráp
Doanh số bán hàng năm 2020 một số thương hiệu xe sản
xuất, lắp ráp trong nước
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG Số
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành công nghiệp sản xuất ô tô là một ngành công nghiệp có nhiều đónggóp quan trọng với nền kinh tế và có bề dày lịch sử đối với nhiều quốc gia Sovới các nước trong khu vực và trên thế giới, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam làmột lĩnh vực còn khá non trẻ và chỉ thực sự phát triển trong những năm gần đây.Tuy nhiên ngành công nghiệp này cũng đạt được kết quả đáng kể và đóng góptích cực vào nền kinh tế nước nhà Trong đó phải kể đến sự đóng góp củaVinFast
Từ khi dự án đi vào hoạt động đến nay Công ty Cổ phần Sản xuất và Kinhdoanh VinFast đã đóng góp đáng kể vào ngân sách Nhà nước và mang tính tăngtrưởng nhanh Ngoài ra, dự án của VinFast còn giải quyết vấn đề về việc làmcho người lao động ở nhiều địa phương trên cả nước
Không chỉ khẳng định vai trò của mình với nền kinh tế trong nước màVinFast còn mang thương hiệu ô tô Việt vươn ra thế giới Đặc biệt hiện nay ViệtNam đã trở thành thành viên của WTO và khối thị trường chung thống nhấtASEAN, tham gia ký kết rất nhiều hiệp định thương mại, đây là cơ hội đểVinFast trở thành doanh nghiệp Việt có sức cạnh tranh trên thị trường quốc khuvực và thế giới Để phân tích năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Sản xuất
và Kinh doanh VinFast có thể vận dụng mô hình kim cương Michael Porter gồmbốn yếu tố chính: Các điều kiện yếu tố sản xuất, Các điều kiện về nhu cầu; Cácngành hỗ trợ và có liên quan; Chiến lược, cấu trúc và sự cạnh tranh của doanhnghiệp và hai yếu tố phụ là Chính phủ và Cơ hội Các nhân tố này là những nhân
tố có sự tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau và tạo nên một môi trường màtrong đó doanh nghiệp tồn tại, phát triển, sinh ra hay mất đi lợi thế cạnh tranh
Do đó, nhóm đã chọn đề tài: “Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ
phần Sản xuất và Kinh doanh VinFast trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh ô tô theo mô hình kim cương” làm khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế ngoại
Trang 13động và đối thủ cạnh tranh không chỉ trong nước mà còn ở phạm vi quốc tế dovậy luận văn sẽ có hướng tiếp cận thiên về lợi thế cạnh tranh quốc gia và đề xuấtnhững giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho VinFast.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những lợi thế về năng lực cạnh tranh cũng như nhữnghạn chế của VinFast theo Mô hình kim cương của Michael Porter để đưa ra một
số kiến nghị, giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty
Cổ phần Sản xuất và Kinh doanh VinFast
b Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống và phân tích các nội dung về lý luận cơ bản của năng lực cạnhtranh và “mô hình kim cương”
Trên cơ sở lý luận đó áp dụng vào thực tế của doanh nghiệp để chỉ ra nhữnglợi thế về năng lực cạnh tranh từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năngkhả năng cạnh tranh của Công ty Cổ phần Sản xuất và Kinh doanh VinFast
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phầnSản xuất và Kinh doanh VinFast theo mô hình kim cương
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Về nội dung: đánh giá năng lực cạnh tranh của VinFast theo mô hình kimcương
Về thời gian: phân tích năng lực cạnh tranh của VinFast trong giai đoạn từnăm 2017-2021
4 Những đóng góp của đề tài nghiên cứu
Về mặt lý luận:
Vận dụng mô hình kim cương để phân tích đánh giá từ đó chỉ ra những ưuđiểm trong năng lực của VinFast, đồng thời cũng cho thấy hạn chế, khó khăncòn tồn tại
Về mặt thực tiễn:
Trang 14Đề tài có những đóng góp tích cực về sự phát triển của Công ty Cổ phần Sảnxuất và Kinh doanh VinFast nói riêng và ngành công nghiệp sản xuất ô tô ViệtNam nói chung.
Phản ánh chính xác thực trạng của Công ty Cổ phần Sản xuất và Kinh doanhVinFast chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và đưa ra những kiến nghị,giải pháp nhằm giúp Công ty Cổ phần Sản xuất và Kinh doanh VinFast khôngchỉ đứng vững và phát triển trên thị trường nội địa mà còn vươn ra thế giới
5 Bố cục của khóa luận
Khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Ssản xuất vàKinh doanh VinFast trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh ô tô theo mô hình kimcương của Michael Porter
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho hoạt động sản xuấtkinh doanh ô tô của VinFast
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Cơ sở lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Trong mọi hoạt động kinh doanh cạnh tranh là một yếu tố tất yếu, đây làmột nhân tố đóng góp cho sự thúc đẩy phát triển của một doanh nghiệp, mộtngành nói riêng và nền kinh tế một quốc gia, nền kinh tế toàn cầu nói chung.Các học thuyết kinh tế cổ điển và hiện đại đều cho rằng cạnh tranh là một quyluật kinh tế cơ bản, là điều tất yếu không thể tránh khỏi Các khái niệm về cạnhtranh được ra đời khi có sự xuất hiện của nền kinh tế thị trường Theo dòng thờigian phát triển của nền kinh tế thế giới, các khái niệm và định nghĩa về cạnhtranh xuất hiện nhiều hơn và được phân tích nhìn nhận ở nhiều khía cạnh và góc
độ đa dạng khác nhau
Trong kinh tế học cạnh tranh được định nghĩa là một quá trình đấu tranh qualại giữa các chủ thể kinh tế Trong quá trình đấu tranh đó, mục tiêu chínhcủa các chủ thể đó là giành được nhiều thị phần khách hàng, tăng mức tiêuthụ, làm tăng lợi nhuận doanh nghiệp Đây là một quá trình cạnh tranh vôcùng khốc liệt đòi hỏi các doanh nghiệp phải có các chiến lược cụ thể, nếukhông sẽ sớm bị loại khỏi thị trường
Theo Từ điển kinh doanh của Anh (xuất bản năm 1992): Cạnh tranh chính
là sự ganh đua, hay sự kình địch của các nhà kinh doanh trên thị trường vớinhau nhằm để tranh giành lấy cùng một loại tài nguyên sản xuất hay làcùng một loại khách hàng về phía của mình
Theo như từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Cạnh tranh chính là hoạtđộng tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá với nhau, giữa cácthương nhân, hoặc các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chiphối bởi quan hệ cung - cầu, mục đích nhằm giành được các điều kiện sảnxuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất
Trang 16 Cạnh tranh tự do: thị trường sẽ tự do tồn tại không có bất cứ sự can thiệpnào từ nhà nước, giá cả tự do lên xuống theo quan hệ cung cầu Các chủthể kinh doanh hoàn toàn chủ động, tự do về ý chí, cách thức xây dựng
và thực hiện các chiến lược kinh doanh của mình
Cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước: là hình thức cạnh tranh có sựtham gia điều tiết của nhà nước bằng các chính sách để điều chỉnh ,hướng các quan hệ cạnh tranh theo một trật tự nhất định, đảm bảo duy trìmột môi trường kinh doanh bình đẳng
Dựa trên tính chất của hoạt động cạnh tranh:
Cạnh tranh hoàn hảo: là một hình thức cạnh tranh mà giá cả thị trườngkhông bị tác động bởi người mua và người bán, giá cả của sản phẩm phụthuộc hoàn toàn vào quan hệ cung cầu, quy luật giá trị quyết định
Cạnh tranh không hoàn hảo: là một hình thức cạnh tranh mà các công ty
có khả năng tác động được vào giá của một sản phẩm nào đó trên thịtrường và thu về được lợi nhuận thặng dư
Độc quyền: là hình thức cạnh tranh mà giá cả hàng hóa không phụ thuộcvào quy luật cung cầu mà do người bán quyết định Loại cạnh tranh nàyxảy ra khi thị trường có rất ít hoặc duy nhất một doanh nghiệp bán hànghóa, dịch vụ đó
Căn cứ vào thủ đoạn cạnh tranh:
Cạnh tranh lành mạnh: là hình thức mà các bên kinh doanh cạnh tranhvới nhau một cách công bằng, bình đẳng, không vi phạm vào các quyđịnh của pháp luật và phù hợp với chuẩn mực của xã hội
Trang 17 Cạnh tranh không lành mạnh: là hình thức cạnh tranh không công bằng,được thực hiện bằng các phương thức không lành mạnh, mục đích gâyphản cạnh tranh như tạo giá cả bất hợp lí với khách hàng, để giá hànghóa thấp hơn giá của thị trường để đối thủ không có khả năng cạnhtranh.
1.1.3 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là sự thể hiện thực lực và lợi thế của chủ thể kinhdoanh khi so sánh với năng lực của đối thủ cạnh tranh trong việc thực hiện cácyêu cầu, đòi hỏi của khách hàng, thỏa mãn tối đa lợi ích cho khách hàng và từ
đó thu được lợi ngày một cao hơn Khi tiến hành đánh giá năng lực cạnh tranhchủ một chủ thể kinh doanh nào đó cần phải so với đối thủ cạnh tranh cụ thể của
họ, hay sản phẩm hàng hóa phải cụ thể và trên cùng thị trường và trong cùngmột khoảng thời gian thời gian nhất định
Theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại (1997) về năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp đó là doanh nghiệp ấy không bị doanh nghiệp khácđánh bại về kinh tế, hoặc theo một khái niệm khác được đề cập trong từ điểnnày cho rằng năng lực cạnh tranh chính là sự nâng cao lợi thế cạnh tranh,hay năng suất lao động
Theo tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): “năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sửdụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm” , năng lực cạnh tranh giúp cho cácdoanh nghiệp có thể phát triển một cách bền vững trong điều kiện cạnhtranh quốc tế khốc liệt
Có thể thấy rằng các khái niệm và quan điểm về cạnh tranh, năng lực cạnhtranh tuy rộng nhưng chưa thực sự mang tính thống nhất, rất khó để đánh giáquan điểm nào được coi là phù hợp nhất về điều kiện, bối cảnh, trình độ củatừng thời kỳ kinh tế khác nhau
Trang 181.1.4 Các cấp độ của năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh hiện nay được xem xét ở ba cấp độ phổ biến khácnhau, bao gồm năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm hoặc dịch vụ
Năng lực cạnh tranh quốc gia: với cấp độ quốc gia, năng lực cạnh tranh sẽphụ thuộc vào năng suất trong việc sử dụng nguồn lực con người, tàinguyên, và vốn của một quốc gia Bởi vì năng suất chính là là yếu tố xácđịnh mức sống bền vững và được thể hiện qua nhiều các nhân tố như mứclương, hay là tỷ suất lợi nhuận từ vốn đã bỏ ra, hoặc có thể là từ tỷ suất lợinhuận thu được từ việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Năng lựccạnh tranh quốc gia không phải là việc một quốc gia thực hiện cạnh tranhtrong cụ thể một lĩnh vực nào đó để phát triển mà là quốc gia đó thực hiệncạnh tranh hiệu quả như thế nào trong các lĩnh vực
Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp: được xác định dựa trên việc khai thác và
sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài của doanh nghiệp để tạo ranhững sản phẩm, dịch vụ thu hút được \ người tiêu dùng giúp doanh nghiệptồn tại và phát triển và thu được lợi nhuận ngày càng cao, nâng cao vị thế vàchỗ đứng so với các doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh trên thị trường
Năng lực cạnh tranh sản phẩm: năng lực cạnh tranh của một sản phẩm chính
là lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất của sản phẩm đó so vớisản phẩm của đối thủ cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đobằng thị phần của sản phẩm cụ thể trên thị trường Cạnh tranh sản phẩm là
sự thể hiện những lợi thế, ưu điểm vượt trội của sản phẩm so với đối thủcạnh tranh
Mối quan hệ giữa các cấp độ của năng lực cạnh tranh: giữa năng lực cạnhtranh của các cấp độ luôn có mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau, tác động tớinhau Năng lực cạnh tranh quốc gia là điều kiện cần thiết để các ngành, cácdoanh nghiệp và sản phẩm phát triển bền vững và cải thiện năng lực cạnh tranhcủa mình
Trang 191.2 Cơ sở lý thuyết về lợi thế cạnh tranh
Khái niệm về lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia đã được đề cập và chỉ ratrong các học thuyết cổ điển về thương mại như lý thuyết lợi thế tuyệt đối, lợithế tương đối là dựa trên cơ sở năng suất lao động và hao phí các yếu tố sảnxuất cho một đơn vị sản phẩm Trước năm 1980 các khái niệm về lợi thế cạnhtranh theo các học thuyết cổ điển và các tác phẩm nghiên cứu về vấn đề nàyđược sử dụng khá rộng rãi, tuy nhiên các khái niệm này mới chỉ mang tính chấttương đối, chủ yếu đề cập đến các điểm mạnh và điểm yếu cụ thể của doanhnghiệp, hoặc chỉ đề cập đến lợi thế cạnh tranh trong một vài trường hợp không
rõ ràng mà chưa đánh giá được chính xác vấn đề là nhân tố nào làm cho năngsuất lao động tăng cao, hao phí các yếu tố sản xuất cho một đơn vị sản phẩmgiảm, đặc biệt là trong xu hướng sản xuất hiện đại ngày nay
Năm 1990, giáo sư Michael Porter của Trường Kinh doanh Harvard đã choxuất bản những kết quả của một nỗ lực nghiên cứu chuyên sâu nhằm tìm hiểu tạisao một số nước lại thành công còn một số khác lại thất bại trong cạnh tranhquốc tế Porter và các cộng sự đã nghiên cứu tổng cộng 100 ngành tại 10 quốc
gia khác nhau và đưa ra thuật ngữ về lợi thế cạnh tranh như sau “Lợi thế cạnh
tranh nằm ở trung tâm hiệu quả trên thị trường cạnh tranh Tuy nhiên, sau một vài thập niên phát triển mạnh mẽ, nhiều doanh nghiệp đã đánh mất tầm nhìn về lợi thế cạnh tranh trong cuộc đua tăng trưởng và theo đuổi đa dạng hóa Ngày nay, tầm quan trọng của lợi thế cạnh tranh là rất lớn Doanh nghiệp trên toàn thế giới đang phải đối mặt với mức tăng trưởng chậm hơn cũng như sự cạnh tranh quyết liệt từ các đối thủ trong nước và toàn cầu trong khi chiếc bánh thị phần không còn đủ lớn cho tất cả”
Theo Michael Porter ông vẫn đồng nhất với các quan điểm của các học giảtrước đó về lợi thế của mỗi quốc gia là dựa trên nguồn tài nguyên sẵn có dothiên nhiên ban tặng cho mỗi nước, vùng lãnh thổ, dân số, cơ cấu dân số trongmỗi thời kỳ mà một quốc gia có được, các đặc tính văn hóa của từng quốc giahay sự ổn định của yếu tố thể chế chính trị Ngoài ra, ông cho rằng lợi thế cạnh
Trang 20tranh còn phụ thuộc vào trình độ học vấn và khả năng tiếp thu những kiến thức
về khoa học công nghệ, tiếp thu các kinh nghiệm từ các nước tiên tiến và trên
cơ sở đó áp dụng sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh của nước mình Lợi thế cạnhtranh được tạo ra và duy trì thông qua một quá trình nội địa hóa, địa phương hóacao độ, nghĩa là các quốc gia thông qua trao đổi tiếp thu được các thành tựukhoa học kĩ thuật, kỹ năng quản lý, văn hóa và những tri thức khác nhau củanhân loại để biến những tri thức đó thành những kỹ năng cụ thể phù hợp vớiđiều kiện, môi trường quốc gia, địa phương mình Năng suất được coi là yếu tốcốt lõi của cạnh tranh, mức độ cạnh tranh được phản ánh qua năng suất laođộng, năng suất của người nắm đồng vốn, năng suất vùng, địa phương hay quốcgia Đồng thời để xây dựng và nuôi dưỡng môi trường kinh doanh kinh tế vi mô
có tính cạnh tranh thì cần biết được một quốc gia đang ở giai đoạn phát triểnkinh tế nào với các ưu tiên chính sách ra sao
Từ tất cả những quan niệm, nghiên cứu và phân tích các yếu tố quyết địnhđến lợi thế cạnh tranh của một quốc gia, Michael Porter đã đưa ra bốn nhân tốchính tác động qua lại lẫn nhau và quyết định đến việc hình thành lợi thế cạnhtranh thông qua mô hình kim cương
1.3 Lợi thế cạnh tranh theo mô hình kim cương của Michael Porter
1.3.1 Đặc điểm của lợi thế cạnh tranh của mô hình kim cương
M Porter tên đầy đủ là Michael Eugene Porter sinh năm 1947, ông là một vịgiáo sư tài ba của trường Đại học Harvard, một trong những chuyên gia đi đầutrong lĩnh vực nghiên cứu khả năng cạnh tranh và chiến lược cạnh tranh, pháttriển kinh tế của thế giới Trong thời gian cống hiến tại trường Đại học Harvardông là một trong những giáo sư đầu tiên đề xuất đưa môn học về chiến lượccạnh tranh và mô hình phân tích cấu trúc ngành vào chương trình giảng dạy.Năm 1983, M Porter bắt đầu làm việc cho Ủy ban ủy nhiệm của Tổng thốngHoa Kỳ về lĩnh vực cạnh tranh công nghiệp Năm 2005, M Porter là người có vịtrí đứng đầu trong danh sách 50 “bộ óc” quản trị có tầm ảnh hưởng lớn nhất củathế giới Ông có rất nhiều tác phẩm trong đó phải kể đến ba tác phẩm nổi tiếng
Trang 21về lý luận cạnh tranh đã được ông xuất bản gồm có: “Chiến lược cạnh tranh”xuất bản năm 1980, “Lợi thế cạnh tranh” xuất bản năm 1985 và “Lợi thế cạnhtranh quốc gia” được xuất bản vào năm 1990 Các cuốn sách kinh điển này đượcdịch thành nhiều thứ tiếng khác nhau và sử dụng trong hầu hết các chương trìnhđào tạo về lĩnh vực quản trị kinh doanh - MBA (Master of BusinessAdministration) của các nước trên thế giới Chúng được xem là những cuốn sáchkhông thể thiếu đối với các nhà quản trị kinh doanh và các nhà hoạch định chínhsách vĩ mô.
Trong cuốn “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” M Porter đã đưa ra lý thuyết về
“mô hình kim cương” (Diamond Pattern) dựa trên việc vận dụng lý luận về cạnhtranh trong nước vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế Ông đưa ra quan điểm chorằng không một quốc gia nào có lợi thế cạnh tranh trong tất cả các ngành hayhầu hết các ngành, mỗi quốc gia chỉ có thể thành công ở một số ngành nhất định
có lợi thế cạnh tranh bền vững khi tham gia vào môi trường kinh doanh quốc tế.Theo M.Porter, dù hoạt động trong hay ngoài nước, bản chất cạnh tranh nằmtrong 4 nhân tố chính đó là: Chiến lược, cấu trúc và sự cạnh tranh của doanhnghiệp; Các điều kiện về nhu cầu; Các ngành hỗ trợ và có liên quan; Các điềukiện yếu tố sản xuất Bốn nhân tố này là những nhân tố có sự tác động qua lại,ảnh hưởng lẫn nhau và tạo nên một môi trường mà trong đó doanh nghiệp tồntại, phát triển, sinh ra hay mất đi lợi thế cạnh tranh Khả năng thành công trongngành nghề nào đó của một quốc gia được đánh giá là cao nhất khi mà bốn nhân
tố này ở trạng thái thuận lợi nhất Ngoài ra bốn yếu tố trên còn chịu sự tác động
từ các chính sách của chính phủ và khả năng tận dụng cơ hội của doanh nghiệp
M Porter không đồng tình với các học thuyết cổ điển khi các học giả nàycho rằng lợi thế cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp là chỉ có lợi thế tuyệtđối theo quan điểm của Adam Smith, hay chỉ có lợi thế so sánh theo quan điểmcủa David Ricardo Theo M Porter, năng lực cạnh tranh của một quốc gia ngàynay phụ thuộc vào khả năng sáng tạo ra cái mới, nâng cấp các ngành côngnghiệp của quốc gia đó Lợi thế cạnh tranh được tạo ra và duy trì thông qua quá
Trang 22trình nội địa hóa, địa phương hóa cao độ Nghĩa là các quốc gia thông qua traođổi, tiếp thu được những thành tựu khoa học kỹ thuật, kỹ năng quản lý, văn hóa
và những tri thức khác của nhân loại, biến những tri thức đó thành kỹ năng cụthể phù hợp với môi trường của quốc gia
Trong bối cảnh thị trường ngày càng cạnh tranh khốc liệt, sự cạnh tranhđang ngày càng dịch chuyển sang sự đổi mới sáng tạo và đồng bộ hóa tri thức.Lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra thông qua quá trình địa phương hóa cao
độ do đó tất cả những khác biệt về chính sách, văn hóa, kinh tế, giá trị của cácnước sẽ tạo nên lợi thế trong cạnh tranh Một số quốc gia trên thế giới thànhcông ở một số ngành mà môi trường trong nước của họ phát triển, năng động.Các doanh nghiệp của một quốc gia thu được lợi thế so với các đối thủ của họtrên trường quốc tế nhờ việc họ đối đầu hoặc vượt qua được với các đối thủmạnh trong nước, họ có hệ thống các nhà cung cấp lớn trong nước, họ thu hútđược nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng trong nước và có sự liên kết chặt chẽvới các ngành công nghiệp phụ trợ và có liên quan
Vậy vì sao có nhiều doanh nghiệp tại một số quốc gia trên thế giới họ có khảnăng đổi mới sáng tạo rất nhất quán? Tại sao các doanh nghiệp này luôn hướngtới việc cải tiến, từ đó tìm kiếm lợi thế cạnh tranh nổi bật và vượt trội hơn đốithủ khác? Câu trả lời được M Porter lý giải qua bốn yếu tố cốt lõi của một quốcgia cần có đó là: Các điều kiện yếu tố sản xuất, Các điều kiện về nhu cầu, Cácngành hỗ trợ và có liên quan, Chiến lược, cấu trúc và sự cạnh tranh của doanhnghiệp Các yếu tố này đứng cạnh nhau tạo thành một hệ thống hình thoi như
mô hình viên kim cương quyết định lợi thế cạnh tranh của một quốc gia
1.3.2 Các yếu tố của mô hình kim cương
a Các điều kiện về yếu tố sản xuất
Các học thuyết cổ điển cho rằng các yếu tố sản xuất như: đất đai, tài nguyênthiên nhiên, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng vật chất, … quyết định đến sự pháttriển trong nền kinh tế của một quốc gia Những yếu tố này đều là những yếu tốsẵn có được thiên nhiên ưu đãi cho mỗi nước Để có thể có được lợi thế cạnh
Trang 23tranh mỗi doanh nghiệp cần tận dụng các nhân tố đầu vào với chi phí thấpnhưng vẫn đảm bảo được chất lượng
Một quốc gia sẽ ưu tiên xuất khẩu những mặt hàng mà nhân tố đầu vào đểsản xuất ra chúng tương đối phong phú Những học thuyết này gắn liền với kinh
tế học cổ điển với hai đại diện là Adam Smith và David Ricardo Nhưng M.Porter cho rằng các học thuyết này là chưa thực sự đầy đủ, thậm chí có nhữngquan điểm không chính xác vì các nhân tố này sẽ không mang lại lợi thế cạnhtranh cho quốc gia đó nếu như chúng không được sử dụng một cách hợp lý vàhiệu quả, đặc biệt đối với một số ngành muốn tăng năng suất lao động khôngphải dựa vào yếu tố tự nhiên sẵn có mà cần dựa vào sự lao động sáng tạo, đổimới, cải tiến của con người Hay hiểu một cách khác thì việc thay đổi, cải tiến,sáng tạo ra cái mới và chuyên biệt hóa đầu vào có vai trò quan trọng hơn sốlượng các yếu tố đầu vào được sử dụng nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh
Các yếu tố đầu vào sản xuất theo mô hình kim cương của M.Porter đượcchia ra làm hai nhóm là: nhóm các yếu tố cơ bản và nhóm các yếu tố tiên tiến.Các yếu tố cơ bản hay còn gọi là các yếu tố chung bao gồm có vị trí địa lý, tàinguyên thiên nhiên, nguồn lao động chưa qua đào tạo hoặc được đào tạo đơngiản và vốn Nhóm yếu tố này là nền tảng cơ bản của các ngành sản xuất nóichung Nhóm các yếu tố tiên tiến còn gọi là yếu tố chuyên biệt, bao gồm cơ sở
hạ tầng vật chất, nguồn nhân lực được đào tạo bài bản với chất lượng cao như kỹthuật viên, những lập trình viên máy tính hoặc những nhà nghiên cứu trongnhững lĩnh vực công nghệ thông tin liên lạc, điện tử viễn thông, kỹ thuật số, Thường trong hai nhóm yếu tố nói trên thì nhóm các yếu tố tiên tiến được hìnhthành trên cơ sở nhóm các yếu tố cơ bản và chủ yếu được hình thành thông quaviệc đào tạo chuyên sâu và cơ chế khuyến khích sự đổi mới, sáng tạo và pháttriển Theo M Porter thì nhóm yếu tố tiên tiến là yếu tố chính quyết định đếnnăng lực cạnh tranh quốc gia nên cần được ưu tiên hơn
Ví dụ, các công ty sản xuất mặt hàng điện tử tiêu dùng của Mỹ khi phải đốimặt với mức chi phí lao động tương đối cao, họ đã chọn việc chuyển những hoạt
Trang 24động đòi hỏi nhiều lao động sang Việt Nam và một số quốc gia khác ở khu vựcChâu Á do có mức chi phí lao động thấp hơn Thay vì tìm cách nâng cao cácnguồn lợi thế của mình, thì các công ty này lại tìm cách để cân bằng mức chi phílao động Trái lại với Mỹ khi đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của thị trườngtrong nước và thị trường nội địa đã bước vào giai đoạn bão hòa thì các đối thủcạnh tranh của họ tại Nhật Bản đã chọn lựa việc loại bỏ lao động thay vào đó là
áp dụng việc tự động hóa Điều này đã dẫn đến chi phí lắp ráp thấp hơn, tạo racác sản phẩm có chất lượng cao hơn và tạo được độ tin cậy với người tiêu dùnghơn Sau đó không lâu các công ty Nhật Bản đã xây dựng các nhà máy lắp ráptại Hoa Kỳ - nơi mà các công ty của Hoa Kỳ đã từ bỏ
b Các điều kiện về yếu tố cầu
Điều kiện về cầu được thể hiện trực tiếp ở tiềm năng của thị trường Nhucầu sẽ quyết định xác doanh nghiệp sản xuất cái gì và sản xuất như thế nào chophù hợp Những doanh nghiệp nghiên cứu, dự báo và đáp ứng được nhu cầu củathị trường sẽ có lợi thế trong cạnh tranh rất lớn Thị trường trong nước có nhiềucác yêu cầu cao về sản phẩm sẽ là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp phảithường xuyên thay đổi và cải tiến sản phẩm từ hình thức đến chất lượng nếu cácdoanh nghiệp này muốn tồn tại và phát triển Tương tự như thị trường nội địa,thị trường nước ngoài cũng đòi hỏi những tiêu chuẩn cao đối với sản phẩm vàcác dịch vụ do đó các doanh nghiệp muốn đạt được thành công trên thị trườngquốc tế phải không ngừng đổi mới, thường xuyên nghiên cứu nhu cầu của thịtrường và đáp ứng kịp thời các nhu cầu đó tại thị trường nước ngoài
Chẳng hạn như tại thị trường Nhật Bản các mặt hàng điện tử tiêu dùng và ô
tô du lịch chỉ có chỗ đứng cho các công ty có khả năng cạnh tranh quốc tế cao.Đồng thời, thị trường trong nước ngày càng hướng xu hướng quốc tế hóa nghĩa
là dần xóa bỏ sự khác biệt về nhu cầu giữa các thị trường nước ngoài, thị trườngtrong nước Các sản phẩm được ngày càng được tiêu chuẩn hóa Do đó, các yêucầu đặt ra đối với thị trường nội địa sẽ ngày càng cao, gắn với nhu cầu của thịtrường quốc tế Một ví dụ khác về sự thành công trên thị trường quốc tế của các
Trang 25doanh nghiệp Hoa Kỳ trong thực phẩm ăn nhanh và thẻ tín dụng không chỉ phảnánh được mong muốn của người tiêu dùng Hoa Kỳ về sự tiện lợi mà những thịhiếu đó còn lan rộng ra nhiều quốc gia, khu vực khác trên thế giới Các quốc giaxuất khẩu giá trị và thị hiếu tiêu dùng tại nước mình thông qua các phương tiệntruyền thông, đào tạo người nước ngoài tại quốc gia của họ, hay có thể qua sựảnh hưởng về chính trị, và thông qua những công dân và công ty của họ tại thịtrường nước ngoài Hay theo Porter đã nghiên cứu và chỉ ra rằng, chính sự đòihỏi và yêu cầu khắt khe của những người tiêu dùng ở bán đảo Scandinavia đãgiúp hãng Nokia của Phần Lan phát triển và Ericsson của Thụy Điển phải đầu tưvào công nghệ điện thoại di động từ rất lâu trước khi nhu cầu về điện thoại nàyxuất hiện tại các nước phát triển khác.
c Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan
Theo mô hình kim cương, các ngành hỗ trợ có vai trò cung cứng các yếu tốđầu vào cho chuỗi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Còn cácngành sản xuất liên quan là những ngành mà doanh nghiệp có thể phối kết hợphoạt động hoặc chia sẻ sản phẩm thuộc chuỗi ngành hoạt động sản xuất kinhdoanh ở tất cả các khâu từ sản xuất, phân phối, tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm.Một ngành công nghiệp mũi nhọn phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của cácngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan Ngược lại, các ngành công nghiệp hỗtrợ và có liên quan là động lực thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệpthen chốt có lợi thế cạnh tranh hơn vì lợi thế chi phí vận chuyển thấp, độ tin cậycao
Các ngành đóng vai trò cung ứng nếu có năng lực cạnh tranh quốc tế thì cóthể tạo ra lợi thế cho những ngành công nghiệp sản xuất trong nước theo nhiềucách khác nhau Đầu tiên, các ngành này sẽ cung cấp các yếu tố đầu vào với giá
rẻ nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả, nhanh chóng kịp thời Một ví dụ về các công tykinh doanh mặt hàng trang sức vàng bạc của nước Ý đã dẫn đầu thế giới trongngành này là do một phần tại Ý có các công ty cung cấp máy chế tạo kim hoàn
và máy tái chế kim loại quý hiếm, số lượng chiếm hai phần ba các loại máy chế
Trang 26tạo của thế giới Những công ty sản xuất sản phẩm, dịch vụ và thị trường tiêuthụ nằm gần nhau có thể tận dụng các tuyến liên lạc rút ngắn thời gian vậnchuyển, trao đổi thông tin nhanh chóng và thường xuyên, thậm chí có thể traođổi các ý tưởng, đổi mới trong ngành để phát triển hơn
Các doanh nghiệp sản xuất cũng có thể tạo ra những tác động làm ảnhhưởng đến các nhà cung ứng của mình hoặc có thể được coi như là nơi thửnghiệm cho công việc nghiên cứu và phát triển, qua đó đẩy nhanh nhịp độ đổimới Ví dụ, những nhà sản xuất giày da họ thường xuyên trao đổi, tương tác vớicác nhà chế tạo da về các chất lượng, mẫu mã và kỹ thuật sản xuất mới và họchỏi nhận biết chất lượng từ các bề mặt da và các màu da mới khi chúng vẫn cònnằm trên bản vẽ Các nhà sản xuất da thường là những người có được những sựhiểu biết và nắm bắt kịp thời đối với các xu hướng thời trang, qua đó giúp họ lên
kế hoạch sản xuất những sản phẩm mới đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của ngườitiêu dùng Những ngành hỗ trợ và có liên quan có vai trò cung ứng và như chấtxúc tác chuyển tải thông tin và đổi mới từ doanh nghiệp này đến doanh nghiệpkhác, góp phần đẩy nhanh tốc độ đổi mới trong toàn bộ ngày nói riêng và nềnkinh tế nói chung Một ví dụ khác về sự thành công của Thụy Sĩ trong ngànhdược phẩm là nhờ sự nổi lên từ thành công trong ngành nhuộm trên thị trườngquốc tế trước đó; hay sự thành công của đàn organ điện tử của người Nhật Bảnxuất phát từ sự thành công của các nhạc cụ được kết hợp với vị thế mạnh tronghàng điện tử tiêu dùng của nước này
d Chiến lược, cấu trúc doanh nghiệp và sự cạnh tranh
Chiến lược, cấu trúc doanh nghiệp và sự cạnh tranh, các yếu tố này theo môhình kim cương là sự đề cập về các yếu tố nội tại xuất phát từ bên trong của mộtdoanh nghiệp, một quốc gia góp phần tạo nên năng lực cạnh tranh M Porter
đã chỉ ra trong khía cạnh này là sự liên hệ chặt chẽ giữa mức độ cạnh tranhmãnh liệt trong nước và sự sáng tạo và trường tồn của lợi thế cạnh tranh trongmột ngành Mức độ cạnh tranh mạnh mẽ, gay gắt trong nước sẽ khiến các công
ty phải nỗ lực tìm kiếm các cách cải tiến hiệu quả sản xuất, từ đó làm cho họ
Trang 27trở nên có sức mạnh cạnh tranh trong nội địa và sau đó là trên thị trường thếgiới Các đối thủ cạnh tranh trong nước sẽ tạo ra sức ép cho sự cải tiến, sángtạo, giúp nâng cao chất lượng, tăng đầu tư vào hoạt động nâng cấp các yếu tốtiên tiến, đầu vào chất lượng cao Sự kết hợp của các yếu tố trên sẽ tạo ra đượccác công ty có đủ sức mạnh để cạnh tranh ở thị trường quốc tế rộng lớn.
Chiến lược, cấu trúc doanh nghiệp và sự cạnh tranh còn thể hiện đặc tínhquản lý kinh tế xã hội quốc gia mà công ty đó được sinh ra, mỗi quốc gia khácnhau được đặc trưng bởi các triết lý quản lý khác nhau, các triết lý này có thểgiúp hoặc không giúp cho việc tạo ra lợi thế cạnh tranh.Để làm rõ điểm nàyM.Porter đã đưa ra ví dụ thực tế về triết lý quản lý trong lĩnh vực sản xuất củaĐức và Nhật Bản so sánh với Hoa Kỳ Tại Đức và Nhật Bản các doanh nghiệpcủa hai quốc gia này tập trung vào việc nhấn mạnh vào thực hiện cải tiến cácquy trình sản xuất và thiết kế sản phẩm ngày một nâng cao hơn Ngược lại, tạiHoa Kỳ là sự phổ biến của những người hiểu biết về tài chính trong giới lãnhđạo của nhiều công ty tạo nên sự thiếu quan tâm của các công ty Hoa Kỳ tớiviệc cải tiến các quy trình sản xuất và thiết kế sản phẩm mà chủ yếu tập trungvào triết lý quản lý là sự thống trị của tài chính, chú trọng vào việc tối đa hóa lợinhuận tài chính trong ngắn hạn, điều này dẫn đến một kết quả của của nhữngtriết lý quản trị Hoa Kỳ là sự thua cuộc về năng lực cạnh tranh của quốc gia nàytrong các ngành công nghiệp dựa trên nền tảng cơ khí, những ngành mà trong đócác vấn đề về quy trình chế tạo và thiết kế sản phẩm là những yếu tố chính hếtsức quan trọng
e Vai trò của chính phủ
Chính phủ không phải yếu tố chính trong 4 yếu tố quan trọng của mô hìnhkim cương nhưng cũng là một yếu tố đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng tới lợithế cạnh tranh quốc gia Trước M.Porter đã có nhiều quan điểm khi đề cập đếnyếu tố chính phủ Các quan điểm này cho rằng chính phủ có vai trò như người
hỗ trợ một cách trực tiếp cho các doanh nghiệp từ đó tác động đến lợi thế cạnhtranh quốc gia thông qua các chính sách và các quy định luật pháp hoặc cho rằng
Trang 28nên để thị trường tự do cạnh tranh mà không có sự can thiệp của chính phủ M.Porter cho rằng các quan điểm trên đều là chưa đúng Ông cho rằng chính phủvừa có vai trò là người thúc đẩy vừa đồng thời là người đặt ra thách thức Chínhphủ sẽ cho thấy sự tác động của mình đến lợi thế cạnh tranh của một quốc giathông qua bốn yếu tố chính trong mô hình kim cương Có thể thấy được điềukiện về yếu tố sản xuất có thể bị ảnh hưởng bởi chính sách mà chính phủ banhành đối với thị trường vốn, hay các chính sách đối với giáo dục, các khoản trợcấp Ngoài ra, Chính phủ có thể điều chỉnh nhu cầu nội địa thông qua việc tiêuchuẩn hóa sản phẩm nội địa hoặc bằng các quy định bắt buộc hay có thể tácđộng tới các ngành hỗ trợ và liên quan thông qua các quy trên thị trường vốn,chính sách thuế Sự tác động của chính phủ có thể là tích cực hoặc tiêu cực đốivới một doanh nghiệp, từ đó có thể tạo cơ hội thúc đẩy hoặc cũng có thể gây bấtlợi cho lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên chính phủ không thể tạo ra lợi thế cạnhtranh Ví dụ ở Trung Quốc, chính phủ nước này có các chính sách khuyến khíchdoanh nghiệp xuất khẩu thông qua một số biện pháp như giảm giá đồng nội tệtrong nước, thưởng cho doanh nghiệp xuất khẩu, giảm bớt mức độ kiểm soátngoại tệ, thành lập các trung tâm xúc tiến thương mại, tham gia vào Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO), thành lập các khu chế xuất xuất khẩu… đã gópphần thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Trung Quốctrên thị trường thế giới.
f Cơ hội
Theo Porter cơ hội là một yếu tố quan trọng tác động làm cho một doanhnghiệp có thể tăng sức cạnh tranh hoặc có thể bị mất đi vị trí cạnh tranh Cơ hội
sẽ bao gồm tất cả các sự kiện nằm ngoài tầm kiểm soát của một doanh nghiệp,
có thể dự đoán nhưng không có khả năng chống lại Cơ hội có thể là sự ra đờicủa một công nghệ mới, sự thay đổi về tỷ giá hối đoái, xu hướng tiêu dùng củangười dân, sự ảnh hưởng của thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh… Dự đoán vànắm bắt được cơ hội tốt sẽ giúp doanh nghiệp tăng được sức cạnh tranh trên thịtrường
Trang 29Yếu tố cơ hội có thể xuất hiện ngay tại thị trường nội địa của một quốc giahoặc thị trên thị trường quốc tế Cơ hội còn được phản ánh thông qua sự pháttriển của bốn yếu tố chính của mô hình kim cương, sự phát triển của một yếu tốnày có thể trở thành một cơ hội cho yếu tố khác của mô hình phát triển theo Ví
dụ như các chính sách ưu đãi, phát triển thúc đẩy kinh tế của yếu tố chính phủđược coi là một cơ hội tại thị trường trong nước để thúc đẩy sự phát triển choyếu tố sản xuất
Có thể thấy dựa trên các yếu tố của mô hình kim cương của Michael Porter
để có thể tiến hành đánh giá một cách tổng quát về sự cạnh tranh trên thị trườnghiện nay, dựa vào mô hình này để tiến hành phân tích các công ty sẽ có khảnăng nghiên cứu và xây dựng hiệu quả hơn cho việc thực hiện cạnh tranh trựctiếp, gián tiếp trên thị trường như thế nào, cách để doanh nghiệp xác định đối thủcạnh tranh và tính khốc liệt của mức độ cạnh tranh; hiểu rõ sức mạnh của nhucầu trong nước, tác động của chính phủ và cơ hội
Hình 1.1: Mô hình kim cương của Michael Porter
Trang 30Mô hình trên cho thấy mỗi đỉnh trên mô hình là một yếu tố tạo lên mộtmạng lưới có mỗi liên hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau Mỗi đỉnh của
mô hình kim cương là một thuộc tính tạo lên lợi thế của một quốc gia, mỗi đỉnh
sẽ ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi các đỉnh khác Qua những phân tích dựatrên mô hình M.Porter cho rằng các quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng màbốn đỉnh chính của mô hình kim cương có lợi thế và nhập khẩu những mặt hàng
mà quốc gia đó không có ưu thế
Mô hình kim cương của Porter tuy đã giải thích được lợi thế cạnh tranh quốcgia nhưng nó cũng có những hạn chế nhất định Do đó không phải doanh nghiệpnào, ngành nào hay quốc gia nào cũng có thể phân tích lợi thế cạnh tranh theo
mô hình kim cương Điểm hạn chế của mô hình kim cương chính là M.Porterchỉ tập trung vào việc xây dựng lợi thế cạnh tranh dựa trên cơ sở nội lực của mộtquốc gia Hay hiểu cách khác thì mô hình kim cương đơn không nhắc tới hiệuquả hoạt động của các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia Bên cạnh đó, môhình kim cương của Porter không phù hợp với những nền kinh tế mở nhỏ có sựphụ thuộc vào phần lớn thị trường nước ngoài và cũng dựa trên chính sáchhướng ngoại, quan điểm của Porter phần lớn cố định cho những nước dựa vàonội lực là chính, và vì vậy mô hình kim cương đơn cần tích hợp và liên kết vớinhững kim cương của những quốc gia khác mạnh hơn về kinh tế Trong bốicảnh toàn cầu hóa toàn cầu diễn ra nhanh chóng như hiện nay, các công ty đaquốc gia có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thế giới do đó bên cạnh yếu
tố nội lực cũng cần quan tâm đến vai trò của cả các nguồn lực bên ngoài
Trang 31CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH VINFAST TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT KINH DOANH Ô TÔ THEO MÔ HÌNH KIM CƯƠNG
CỦA MICHAEL PORTER 2.1 Tổng quan về ngành ô tô Việt Nam
2.1.1 Lịch sử phát triển ngành ô tô Việt Nam
Năm 1958 là năm đánh dấu mốc cho sự ra đời của ngành ô tô Việt Nam khichiếc xe ô tô 4 chỗ đầu tiên đã được sản xuất tại nhà máy Chiến Thắng của miềnBắc Các kỹ sư, công nhân của nhà máy Chiến thắng với tinh thần học hỏi từ cáchãng sản xuất ô tô nước ngoài cùng sự hỗ trợ từ các kỹ sư nước ngoài và trênnền tảng mẫu xe Fregate của Pháp đã cho ra đời mẫu xe ô tô với tỷ lệ nội địa hóatối đa
Cho đến năm 1970, chiếc ô tô đầu tiên hoàn toàn được lắp ráp bởi ngườiViệt có tên gọi là La Dalat đã có mặt tại miền Nam, ô tô được lắp ráp dựa trêntiêu chuẩn của hãng Citroen (Pháp) Vào thời điểm đó La Dalat có 4 dòng xekhác nhau, từ giai đoạn từ năm 1970 – 1975, mỗi năm bán được trung bìnhkhoảng 1.500 chiếc/năm, với tỷ lệ nội địa hóa tăng cao từ 25 – 40%
Giai đoạn năm 1991 đến năm 1994: Năm 1991 ngành công nghiệp ô tô ViệtNam bắt đầu có sự chuyển mình mạnh mẽ khi nhà máy chuyên sản xuất ô tôquân đội thuộc sở hữu của nhà nước tại Hòa Bình được thành lập thành một tổchức liên doanh với tên gọi Tổng Công ty Ôtô Việt Nam (VMC): sự hợp tác vớihai công ty nước ngoài là Nichmen Corp (Nhật Bản) và Colombia Motors VMClắp ráp ô tô chở khách với linh kiện phụ tùng được cung cấp bởi các hãng nổitiếng Mazda, Subaru (Nhật Bản), Kia (Hàn Quốc) và BMW (Đức) Sau đó 1năm tức năm 1992, VMC tiếp tục hợp tác liên doanh với Công ty Mekong, mộtcông ty có nguồn vốn đầu tư chính từ Hàn Quốc chuyên lắp ráp các loại xe ô tôthể thao được cung cấp linh kiện phụ tùng từ hãng Mitsubishi (Nhật Bản) và một
số ít xe chở khách do hãng Fiat (Italia) cung cấp Vào thời điểm này dù xe chạy
Trang 32và hai nhà lắp ráp này còn cho ra mắt khá nhiều mẫu xe khác nhau nên thu về lợinhuận tốt Đến năm 1994, ba hãng sản xuất lớn trong ngành ô tô thế giới là Ford,Toyota, và Chysler, đã đăng ký thành lập liên doanh ô tô tại Việt Nam và đãđược nhận giấy phép Ngoài ra, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam còn có sự gópmặt của 16 doanh nghiệp ô tô lớn có vốn đầu tư nước ngoài Trong đó có têntuổi nhất phải kể tới như: Toyota, Mercedes-Benz, Ford, Honda, Mitsubishi…Giai đoạn 2004 đến năm 2016: Năm 2004, hai doanh nghiệp Việt Nam làCông ty cổ phần ô tô Xuân Kiên hay còn gọi là Vinaxuki và Công ty cổ phần ô
tô Trường Hải - Thaco, đã được Thủ tướng phê duyệt việc lắp ráp và sản xuấtcác loại ô tô Tuy nhiên đến năm 2012, do gặp rất nhiều khó văn về vốn và chưathực sự được phía chính phủ quan tâm sát sao nên Công ty cổ phần ô tô XuânKiên Vinaxuki buộc phải đóng cửa Sau đó, Công ty cổ phần ô tô Trường Hải đãtrở thành doanh nghiệp dẫn đầu thị phần ô tô Việt Nam vào năm 2016
Giai đoạn năm 2017 đến nay: Bước sang năm 2017, tập đoàn Vingroupchính thức thành lập tổ hợp sản xuất ô tô VinFast tại Hải Phòng Từ thời kỳ nàyngành ô tô Việt Nam như bước sang một trang mới Tháng 10/2018, VinFast đãcho ra mắt người dùng tại thị trường ô tô Việt Nam hai mẫu xe là Lux A2.0 vàLux SA2.0 thuộc phân khúc xe sedan và SUV tại triển lãm quốc tế Paris MotorShow Đây là một trong số ít những sự kiện ô tô có quy mô lớn và danh giá nhấttoàn cầu và đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của bạn bè quốc tế
2.1.2 Vai trò của ngành công nghiệp ô tô đối với nền kinh tế Việt Nam
Ngành công nghiệp sản xuất ô tô phát triển đã thúc đẩy cho sự phát triển của
cả ngành công nghiệp, cho nền kinh tế và xã hội không chỉ ở Việt Nam mà còn
ở đa số các quốc gia trên thế giới Sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô đã
mở ra cơ hội thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, cải tiến dây chuyền và kỹthuật sản xuất thông qua chuyển giao công nghệ Bên cạnh đó còn mở ra cơ hộihọc hỏi kinh nghiệm quản lý của các quốc gia công nghiệp phát triển, tạo công
ăn việc làm cho người lao động và được đào tạo với trình độ tay nghề cao, ýthức chấp hành tốt kỷ luật lao động
Trang 33Tại Việt Nam, tuy ngành công nghiệp ô tô phát triển còn chậm hơn so vớicác nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia nhưng ngành công nghiệp nàycũng đã có những đóng góp tích cực cho nền kinh tế - xã hội của nước nhà.
Cụ thể, ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam đã đóng góp cho ngân sách nhànước hàng tỷ USD thông qua các loại thuế và trực tiếp tạo việc làm cho lao độngtrên khắp cả nước Từ đây đã góp phần cải thiện, nâng cao tay nghề và năng suấtlao động, điều này rất có ý nghĩa đối với Việt Nam trong thời kỳ công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước như hiện nay Bên cạnh đó ngành công nghiệp ô tôcòn đóng góp đáng kể vào GDP của Việt Nam khi chiếm 3% GDP của cả nước.Chính vì vậy trong giai đoạn hiện nay ngành luôn nhận được những sự quan tâmđặc biệt từ phía chính phủ Các hiệp định thương mại được ký kết từ trước đếnnay luôn có những ngoại lệ dành cho ngành Ô tô nhằm bảo vệ ngành trước sức
ép cạnh tranh từ các nước trên thế giới
Ô tô là phương tiện di chuyển trong tương lai sẽ ngày càng thông dụng vàphổ biến trong nhu cầu người dùng Một quốc gia được coi là bắt đầu đi vào giaiđoạn ô tô hóa hay còn gọi là “motorization” khi có mức sử dụng trung bình trên
50 ô tô/1.000 dân Có thể hiểu motorization chính là quá trình ô tô dần trở nên
Hình 2.1: Biểu đồ thể hiện đóng góp của ngành ô tô và GDP
(Nguồn: Eurostat, CTS tổng hợp)
Trang 34phổ biến và trở thành phương tiện thiết yếu của người dân khi mức thu nhập của
họ được cải thiện và cao hơn trong tương lai Xu hướng này không chỉ diễn ra ở
Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới Với sức tiêu thụ như hiện nay
nền công nghiệp ô tô của Việt Nam đang ở giai đoạn trước của motorization
Cùng với sự phát triển tích cực của nền kinh tế, thu nhập bình quân đầu người sẽ
ngày càng tăng kéo theo nhu cầu của người dân tăng lên; hạ tầng giao thông
ngày một phát triển và đô thị hóa diễn ra nhanh chóng Điều này dự báo rằng,
chắc chắn Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ motorization trong giai đoạn từ khoảng
từ năm 2020 đến năm 2025, khi trung bình có trên 50 xe/1.000 dân; GDP/người
>3.000 USD
2.1.3 Đánh giá về thị trường tiêu thụ ô tô trong giai đoạn hiện nay
Giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021 là giai đoạn nhiều biến động với thị
trường tiêu thụ ô tô của Việt Nam Theo thống kê của Hiệp hội các nhà sản xuất
ô tô Việt Nam (VAMA) doanh số bán ô tô trong giai đoạn này được thể hiện qua
biểu đồ dưới đây:
Doanh số bán ô tô tại Việt Nam
ĐV: Chiếc
0 50 100 150 200
250 194.96
Trang 35Theo thống kê từ biểu đồ có thể thấy trong giai đoạn 2017-2019 doanh sốbán hàng của toàn thị trường ô tô có xu hướng tăng Đặc biệt năm 2019 toàn thịtrường tiêu thụ hơn 322 nghìn chiếc, tăng 11.7% so với năm 2018 Đây là con sốrất ấn tượng của thị trường tiêu thụ ô tô Để đạt được kết quả đó, trong năm
2019 các hãng xe ở Việt Nam liên tục đưa ra các ưu đãi cũng như các chươngtrình khuyến mại, giảm giá kết hợp với tặng quà như các phụ kiện giá trị chokhách hàng, điều này đã giúp kích cầu trên thị trường Bên cạnh đó, cùng với sựphát triển của nền kinh tế nhu cầu lựa chọn xe ô tô để di chuyển của người ViệtNam ngày càng tăng cao Họ lựa chọn phương tiện di chuyển này không chỉ đểđảm an toàn giao thông mà còn đến từ mong muốn trải nghiệm đối vớinhữngdòng xe mới Trong lượng xe được tiêu thụ thì doanh số xe nhập khẩu đạt132.872 xe, tăng 82% so với mức 72.979 xe của năm 2018 và doanh số xe lắpráp đạt 189.450 xe, giảm 12% so với mức 215.704 xe của năm 2018 Con số chothấy nhu cầu đối với xe nhập khẩu ngày càng lớn Do bắt đầu từ năm 2019 thuếnhập khẩu ô tô từ các nước trong khu vực ASEAN về Việt Nam giảm về mức0% giúp giá bán giảm đáng kể, dẫn tới việc nhập khẩu ô tô từ khu vực ASEANtăng mạnh Tuy nhiên, sự gia tăng xe nhập từ các nước ASEAN đã và đangkhiến sự cạnh tranh trên thị trường diễn ra gay gắt giữa xe nhập và xe lắp ráptrong nước
Tuy nhiên bước sang năm 2020 thị trường ô tô Việt Nam phải trải qua mộtnăm đầy khó khăn khi phải đối mặt với ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 bùng
nổ trên toàn cầu Có những thời điểm, nhiều nhà máy sản xuất, lắp ráp ô tô phảitạm dừng hoạt động do số ca mắc tăng cao, thị trường ô tô gần như rơi vào cảnh
tê cứng vì chuỗi cung ứng linh kiện phụ tùng bị gián đoạn trầm trọng Điều này
đã trực tiếp ảnh hưởng tới sức tiêu thụ ô tô không chỉ ở thị trường Việt Nam màcòn ở đa số các thị trường khác trên thế giới Cụ thể, tổng doanh số bán hàngcủa toàn thị trường tính đến hết tháng 12/2020 đạt 296.634 xe, giảm 8% so vớicùng kì năm ngoái Trong đó, doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước đạt187.104 xe giảm 1% còn xe nhập khẩu đạt 109.530 xe giảm tới 17% so với cùng
Trang 36kì năm ngoái Đây là minh chứng rõ nét cho thấy sức ảnh hưởng của dịchCovid-19 khi việc nhập khẩu ô tô trở nên khó khăn khiến doanh số bán xe nhậpkhẩu sụt giảm mạnh cùng với đó là chính sách ưu đãi giảm lệ phí trước bạ trongtình hình dịch bệnh khó khăn giúp giá xe lăn bánh giảm đáng kể từ 20 đến 200triệu đồng nên ô tô nội được khách hàng chọn mua nhiều hơn Do đó doanh
số bán hàng của các hãng xe chủ yếu lắp ráp trong nước như Hyundai, KIA vàđặc biệt là VinFast vẫn duy trì được đà tăng trưởng dù chịu ảnh hưởng của dịch.Trải qua một năm nhiều biến động tới năm 2021 doanh số bán hàng của thịtrường ô tô Việt Nam tuy còn bị kìm hãm bở dịch bệnh nhưng đã có dấu hiệuhồi phục trở lại khi doanh số bán hàng đạt 304.149 xe tăng 3% so với năm 2020.Trong đó doanh số bán hàng của xe lắp ráp trong nước giảm 10% nhưng xe nhậpkhẩu tăng mạnh lên mức 24% so với năm 2020 Điều này do sau khi dịch bệnhdần được khắc phục điều kiện nhập khẩu xe từ các nước trong khu vực ĐôngNam Á dần thuận lợi hơn cùng với mức ưu đãi thuế nhập khẩu 0% theo Hiệpđịnh thương mại tự do ATIGA tạo cơ sở để các nhà bán hàng tiếp tục nhập khẩu.Bên cạnh đó chi phí sản xuất lắp ráp xe ở Việt Nam cao hơn nhiều so với mứctrung bình của khu vực Đông Nam Á dẫn đến giá bán cũng cao hơn so với ô tônhập khẩu
Theo dự báo của Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại thị trường
ô tô Việt Nam năm 2022 có thể có nhiều triển vọng hơn với khả năng hồi phụcnhanh chóng Ước tính nhu cầu tiêu thụ ô tô sẽ tăng tử 10% đến 15% so với năm
2021 Việc người dân sở hữu ô tô còn rất thấp tại Việt Nam và việc Chính phủgiảm 50% phí trước bạ theo Nghị định 103/2021/NĐ-CP sẽ tạo cơ hội cho mứctăng trưởng cao trong năm 2022 Bên cạnh đó, hiện nay xu hướng sử dụng xeđiện đang dần diễn ra phổ biến trên thế giới và Việt Nam hiện đang dẫn đầutrong khu vực về xu hướng này do Vinfast lần đầu tiên trong năm 2021 đã cho
ra mắt mẫu xe điện e34 được lắp ráp trong nước và bắt đầu đầu tư mạnh vàotrạm sạc điện với ước tính khoảng 2.000 trạm sạc điện trên khắp cả nước vàcông bố sẽ dừng dần việc sản xuất xe xăng vào cuối năm 2020 để tập trung phát
Trang 37triển các mẫu xe điện mới trong tương lai Điều này sẽ góp phần mở ra xuhướng xe điện mới tại Việt Nam và có thể làm thay đổi đáng kể thị trường ô tôViệt Nam trong thời gian tới nhờ tốc độ phát triển nhanh chóng và nhận đượcnhiều sự ưu ái đến từ Chính phủ ở thời điểm hiện tại.
2.2 Tổng quan về hoạt động sản xuất kinh doanh ô tô của Vinfast
2.2.1 Tổng quan về Công ty TNHH sản xuất và kinh doanh VinFast
a Lịch sử hình thành công ty
Công ty VinFast có tên đầy đủ là công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất vàkinh doanh VinFast Tên công ty được rút gọn từ cụm từ “Việt Nam - Phongcách - An toàn - Sáng tạo - Tiên phong”
VinFast là một công ty khởi nghiệp ô tô tiên phong tại thị trường Việt Namvới vai trò đặc biệt là công ty con của tập đoàn Vingroup do ông Phạm NhậtVượng đứng đầu Trụ sở chính của công ty được đặt tại thành phố HảiPhòng do ông James Benjamin Deluca phối hợp cùng ông Lê Thanh Hải giữvai trò là giám đốc điều hành
7/2017: Tổ hợp nhà máy ô tô Vinfast có diện tích 335 hecta nằm tại khucông nghiệp Đình Vũ, Cát Hải, Hải Phòng được khởi công Nơi này ban đầu
là đầm lầy nuôi tôm của người dân Cát Hải Chỉ sau hơn một năm từ ngàykhởi công, tới ngày 14/6/2019, tổ hợp nhà máy VinFast được hình thành,hầu hết các phân xưởng đã hoàn thiện và được đưa vào lắp ráp dây chuyềnsản xuất
Ngay sau khi khởi công xây dựng nhà máy thì tập đoàn Vingroup đã bắt tayvới Siemens - “đại gia” công nghệ tại Đức để hợp tác về xây dựng doanhnghiệp số và lĩnh vực ô tô Sau đó, tập đoàn lại tiếp tục hợp tác với Bosch -nhà cung cấp công nghệ, dịch vụ hàng đầu thế giới một cách toàn diện tronglĩnh vực sản xuất ô tô Đồng thời tập đoàn hoàn tất ký kết với Phòng Thươngmại và Công nghiệp Đức tại Việt Nam về việc hợp tác và đào tạo nhân lựctrong ngành ô tô
Trang 38 Vingroup cũng công bố mua lại bản quyền sở hữu trí tuệ từ hãng BMW choviệc sản xuất 2 xe mẫu sedan và SUV Ngoài ra, VinFast đã hoàn tất hợpđồng sản xuất mẫu xe trị giá 5 triệu USD với nhà thiết kế hàng đầuPininfarina… để tạo thương hiệu ô tô VinFast chuẩn quốc tế.
Tổ hợp nhà máy VinFast gồm có: nhà điều hành, khu nhà sản xuất ô tô, khunhà sản xuất xe máy điện, khu công nghiệp phụ trợ, trung tâm đào tạo vàviện nghiên cứu và phát triển R&D Cả nhà máy sản xuất ô tô và nhà máysản xuất xe điện đều có công suất thiết kế 38 xe/giờ Vào giai đoạn 1, mỗinhà máy sản xuất 250.000 xe/năm theo kế hoạch và tăng lên 500.000chiếc/năm vào giai đoạn 2 với tốc độ sản xuất 38 xe/giờ Đối với nhà máysản xuất xe máy điện có thể nâng lên 1 triệu xe/năm
Bên trong xưởng hàn được trang bị 1.200 ABB của Thụy Điển với côngnghệ hàn thân xe hoàn toàn tự động Quy trình tạo ra một sản phẩm tại nhàmáy VinFast thông thường là: sau khi đi từ xưởng dập, xưởng hàn, chuyểntới xưởng sơn thì thân xe sẽ tập trung tại xưởng lắp ráp để thực hiện côngđoạn cuối cùng (lắp dây điện, nội thất, hệ truyền động và động cơ)
VinFast có xưởng sản xuất động cơ rộng tới 50.000 m2 Nơi này dành riêngcho việc sản xuất động cơ BMW N20 trang bị trên Lux A2.0 và Lux SA2.0.Ngoài ra tổ hợp nhà máy VinFast còn có xưởng phụ trợ và khu công nghiệpphụ trợ cho các đối tác
b Lĩnh vực hoạt động
Hoạt động chính của VinFast là phân phối các sản phẩm ô tô và xe máyđiện tại thị trường Việt Nam với những dòng xe được đứng top “những ô tô bánchạy gần đây” như: Fadil, ô tô điện VFe34, Lux A2.0 và Lux SA2.0,
c Quá trình phát triển
02/09/2017: Khởi công xây dựng tổ hợp nhà máy VinFast chuyên sản xuất ô
tô - xe máy điện
Trang 39 01/10/2018: Ra mắt VinFast Lux SA2.0 và Lux A2.0 tại Paris Motor Show
và được tổ chức ô tô hàng đầu Châu u - AutoBest trao tặng danh hiệu “ngôisao mới” của ngành ô tô toàn cầu
03/11/2018: Khánh thành nhà máy sản xuất xe máy điện thông minh và ramắt dòng sản phẩm đầu tiên Klara
05/03/2019: Mẫu SUV phiên bản đặc biệt ra mắt tại triển lãm ô tô Geneva2019
06/03/2019: Chiếc xe Lux SA2.0 đầu tiên được đưa ra từ dây chuyền lắp ráp
20/03/2019: Lô xe VinFast đầu tiên trong số 155 xe được vận chuyển đến 14quốc gia thuộc 4 châu lục qua đường hàng không để đưa vào kiểm duyệtchất lượng và độ an toàn
14/06/2019: Khánh thành nhà máy sản xuất ô tô VinFast tại Cát Hải, HảiPhòng sau 21 tháng thi công
06/2019: Bắt đầu bàn giao mẫu xe ô tô VinFast Lux SA2.0, VinFast LuxA2.0 và VinFast Fadil
12/09/2019: Hãng ra mắt hai mẫu xe máy điện Ludo và Impes
23/10/2019: VinFast được chương trình đánh giá xe mới tại khu vực ĐôngNam Á - ASEAN NCAP trao chứng nhận an toàn ở mức cao nhất (5 sao)cho xe Lux SA2.0 và Lux A2.0 Dòng xe đô thị đa dụng VinFast Fadil cũngđược đánh giá an toàn 4 sao
26/12/2019: Ra mắt phiên bản nâng cấp của dòng xe máy điện VinFastKlaraS
11/06/2020: Văn phòng mới tại Melbourne, Australia của VinFast chínhthức được khai trương
07/09/2020: VinFast cho ra mắt mẫu SUV V8 phiên bản giới hạn President
Từ đó khẳng định đẳng cấp của thương hiệu ô tô Việt Nam sau 2 năm ramắt
09/09/2020: VinFast ký thỏa thuận mua lại Trung tâm thử nghiệm xe hơi lâuđời và hiện đại bậc nhất thế giới - Lang Bang, bang Victoria, Australia
Trang 402.2.2 Tiềm năng phát triển của công ty VinFast
a Phạm vi hoạt động trong nước
Sau thành công của dòng xe ô tô, VinFast bắt tay vào sản xuất và phân phối
xe máy điện, ô tô điện tại thị trường trong nước Đặc biệt, VF e34 - dòng xe ô tôđiện đầu tiên của VinFast đã lập kỉ lục trên thị trường Việt Nam khi nhận đượchơn 25.000 đơn đặt hàng chỉ sau một thời gian ngắn mở bán
Mục tiêu trong tương lai, VinFast sẽ tiến tới tăng dần tỷ lệ nội địa hóa linhkiện, tự chủ công nghệ, kỹ thuật Bên cạnh đó sẽ tiếp tục đầu tư vào việc pháttriển và mở rộng thị phần trong nước cũng như chinh phục thị trường quốc tế
b Phạm vi hoạt động quốc tế
Mỹ, Canada, Pháp, Đức và Hà Lan là 5 thị trường trọng điểm nằm trong kếhoạch mở rộng kinh doanh trên thị trường quốc tế của VinFast ngay từ nhữngngày đầu khởi nghiệp Để thực hiện kế hoạch tiếp cận địa bàn này, VinFast đãphải gấp rút hoàn thiện bộ máy, thiết lập nền tảng kinh doanh vững chắc ở cácquốc gia sở tại trong suốt hơn một năm Đến ngày 12/07/2021, công ty VinFast
đã chính thức đưa vào hoạt động các chi nhánh của mình tại các đất nước:Canada, Pháp, Đức, Hà Lan, Mỹ Xe ô tô điện là dòng xe mà Vinfast muốn pháttriển ở thị trường quốc tế với mục tiêu đưa Vinfast trở thành hãng xe ô tô điệnhàng đầu thế giới trong tương lai
Để hoạt động hiệu quả tại thị trường quốc tế, công ty đã thiết lập kế hoạchphù hợp với đặc thù của từng thị trường Riêng tại thị trường Châu u, VinFast
ưu tiên tập trung vào các nước Pháp, Đức, Hà Lan trước khi nghiên cứu mở rộng
ra các nước khác Do đó, các mẫu xe cũng sẽ được thiết kế để đáp ứng nhu cầucủa khách hàng và điều kiện hoạt động ở mỗi quốc gia
Thực hiện kế hoạch đề ra, công ty đã chính thức mở bán hai dòng ô tô điệnthông minh là VF e35 và VFe36 trên toàn thế giới vào tháng 03/2022 Songhành với việc mở rộng thị trường, VinFast cũng thúc đẩy hợp tác quốc tế đểnâng tầm chất lượng cũng như đẳng cấp sản phẩm của mình Các đối tác chiếnlược của công ty đều là những hãng có tên tuổi thuộc top đầu trong ngành công