1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu Đặc Điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng thông ba lá tại bqlrph Đại ninh tại huyện Đức trọng tỉnh lâm Đồng

61 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng thông ba lá tại ban quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh – huyện Đức Trọng – tỉnh Lâm Đồng
Tác giả Nguyễn Thanh Huy
Người hướng dẫn ThS. Võ Minh Hoàn
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp - Phân Hiệu Đồng Nai
Chuyên ngành Quản Lý Tài Nguyên Rừng
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 2,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Đặt vấn đề (9)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (10)
    • 2.1. Mục tiêu tổng quát (10)
    • 2.2. Mục tiêu cụ thể (10)
  • CHƯƠNG 1 (11)
    • 1.1. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu (11)
      • 1.1.1. Khái niệm cháy rừng (11)
      • 1.1.2. Phân loại cháy rừng (11)
      • 1.1.3. Dự báo cháy rừng (12)
    • 1.2. Ca ́c nghiên cứu về vâ ̣t liê ̣u cháy (13)
      • 1.2.1. Nghiên cứu trên thế giơ ́ i (13)
      • 1.2.2. Nghiên cứu ở Việt Nam (13)
      • 1.2.3. Nghiên cứu vật liệu cháy dưới tán rừng trồng Thông (15)
    • 1.3. Nhâ ̣n đi ̣nh chung (16)
  • CHƯƠNG 2 (18)
    • 2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (18)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (18)
      • 2.1.2. Phạm vi nghiên cứu (18)
    • 2.2. Nôi dung nghiên cứu (18)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (18)
      • 2.3.1. Phương pháp kế thừa tài liệu (18)
      • 2.3.2. Phương pháp nghiên cứu thực địa (19)
      • 2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu (21)
  • CHƯƠNG 3 (23)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (23)
      • 3.1.1. Vị trí địa lí (23)
      • 3.1.2. Địa hình (23)
      • 3.1.3. Khí hậu (23)
      • 3.1.4. Thủy văn (24)
      • 3.1.5. Tài nguyên rừng (24)
    • 3.2. Điều kiê ̣n kinh tế - xã hô ̣i (25)
      • 3.2.1. Dân số, dân tộc, trình độ (25)
      • 3.2.2. Nông nghiệp (25)
      • 3.2.3. Lâm nghiệp (26)
      • 3.2.4. Du lịch (26)
      • 3.2.5. Thu Nhập (26)
      • 3.2.6. Y tế (26)
      • 3.2.7. Giao thông (26)
      • 3.2.8. Thủy lợi (27)
      • 3.2.9. Giáo dục (27)
    • 3.3. Khái quát về công tác PCCCR (27)
      • 3.3.1. Những nguy cơ cháy rừng xảy ra (27)
      • 3.3.2. Thực trạng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (28)
      • 3.3.3. Các giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng đang áp dụng (28)
      • 3.3.4. Công tác tuyên truyền (29)
      • 3.3.5. Công tác cũng cố lực lượng PCCCR (30)
    • 3.4. Đánh giá chung (31)
      • 3.4.1. Thuận lợi (31)
      • 3.4.2. Khó khăn (31)
  • CHƯƠNG 4 (32)
    • 4.1. Hiện trạng cháy rừng giai đoạn 2014 – 2019 (32)
    • 4.2. Một số đặc trưng lâm phần rừng trồng Thông (35)
    • 4.3. Đặc điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng Thông (36)
      • 4.3.1. Đặc điểm khối lượng VLC (36)
      • 4.3.2. Đặc điểm thành phần VLC dưới tán rừng (39)
      • 4.3.3. Đăc điểm phân bố và sự chất đống VLC (41)
      • 4.3.4. Đặc điểm độ ẩm VLC (42)
      • 4.3.5. Hệ số bắt cháy và đặc điểm cháy của vật liệu cháy (42)
      • 4.3.6. So sánh đặc điểm VLC ở 3 vị trí rừng trồng thông (43)
      • 4.3.7. Phân cấp cháy rừng theo VLC (44)
    • 4.4. Đề xuất giải pháp điều tiết VLC dưới tán rừng (45)
    • 1. Kết luận (49)
    • 2. Tồn tại (49)
    • 3. Kiến nghị (50)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (51)
  • PHỤ LỤC (52)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - PHÂN HIỆU ĐỒNG NAI KHOA TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG NGUYỄN THANH HUY NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VẬT LIỆU CHÁY DƯỚI TÁN RỪNG TRỒNG THÔNG THÔNG BA LÁ Pinus kesiya TẠI B

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu này nhằm xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất các giải pháp hiệu quả để nâng cao công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh, Đức Trọng, Lâm Đồng.

Mục tiêu cụ thể

Đề tài xác đi ̣nh các mục tiêu cụ thể sau:

- Đánh giá được hiện trạng cháy rừng và công tác PCCCR tại đơn vi ̣

- Xác đi ̣nh được đặc điểm của VLC dưới tán rừng trồng Thông ba lá

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa cháy rừng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh, cần đề xuất các biện pháp điều tiết VLC dưới tán rừng Những biện pháp này sẽ giúp quản lý và bảo vệ rừng tốt hơn, giảm thiểu nguy cơ cháy rừng và bảo tồn hệ sinh thái.

Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Cháy rừng là hiện tượng cháy xảy ra trong khu vực rừng, gây ra thiệt hại cho hệ sinh thái và tiêu diệt sinh vật sống trong đó Quá trình này diễn ra một cách không kiểm soát, dẫn đến việc phá hủy các vật liệu và tài nguyên của rừng.

Theo FAO, cháy rừng được định nghĩa là sự xuất hiện và lan truyền của các đám cháy trong rừng mà không có sự kiểm soát của con người, dẫn đến những tổn thất nghiêm trọng về tài nguyên, của cải và môi trường.

Cháy rừng có thể xảy ra ở ba tầng phân bố vật liệu chính trong rừng: dưới mặt đất, sát mặt đất và trên tán rừng Theo thống kê từ các vụ cháy rừng thực tế, người ta phân loại cháy rừng thành ba loại chính: cháy dưới tán (cháy mặt đất), cháy tán rừng và cháy ngầm (cháy lớp thảm mục dày dưới mặt đất, cháy than bùn) Việc phân loại này dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

Cháy dưới tán rừng là hiện tượng cháy xảy ra trên bề mặt đất rừng, nơi ngọn lửa lan rộng, tiêu hủy lớp thảm mục, cành khô, lá rụng, cỏ khô và cây bụi Loại cháy này thường xảy ra nhiều nhất, với lửa lan nhanh nhưng không vươn lên tán cây, chủ yếu xảy ra dưới đoạn phân cành và ảnh hưởng đến gốc cây cũng như rễ cây nổi trên mặt đất.

Cháy tán rừng, hay còn gọi là cháy trên ngọn, là hình thức cháy bắt đầu từ dưới tán và lan lên tán rừng Khi lửa bùng phát dưới tán, nó sẽ làm nóng và sấy khô các tán cây, sau đó lan qua thảm cây bụi và cây tái sinh, cuối cùng dẫn đến việc cháy lên tán rừng Ngọn lửa sẽ tiếp tục lan từ tán này sang tán khác, tạo ra một cuộc cháy lớn trong khu vực rừng.

Cháy tán rừng thường xảy ra ở những khu rừng có mật độ tán dày của cây chứa dầu, đặc biệt trong điều kiện gió mạnh và thời tiết nắng nóng kéo dài Có hai loại cháy tán rừng: cháy ổn định, tức là cháy toàn bộ tán rừng, và cháy lướt nhanh.

Cháy ngầm là hiện tượng cháy diễn ra dưới mặt đất, nơi ngọn lửa lan rộng và tiêu hủy lớp mùn, than bùn cùng các vật liệu hữu cơ tích lũy dưới lớp đất mặt trong nhiều năm.

Cháy ngầm là hiện tượng cháy lan xuống các tầng hữu cơ từ 0,8 m đến vài mét, với tốc độ lan truyền chậm từ 0,5 đến 5,0 m/ngày Loại cháy này thường âm ỉ, không có ngọn lửa rõ ràng và chỉ bùng lên khi có gió, ít khói và khó phát hiện Cháy ngầm thường xảy ra ở khu rừng Tràm vùng Tây Nam bộ, điển hình là hai vụ cháy lớn tại U Minh Thượng và U Minh Hạ trong mùa khô 2001 – 2002, gây thiệt hại lần lượt 2.712 ha và 2.703 ha.

Dự báo và cảnh báo nguy cơ cháy rừng là biện pháp phòng cháy quan trọng, dựa trên mối quan hệ giữa các yếu tố thời tiết, khí hậu và thuỷ văn với nguồn VLC rừng Tại Việt Nam, hệ thống dự báo cháy rừng được phân thành 5 cấp theo Quyết định số 127/2000/QĐ-BNN-KL Để tổ chức hiệu quả các biện pháp phòng cháy chữa cháy, cần nghiên cứu và dự báo cháy rừng tại các địa phương nhằm giảm thiệt hại do cháy rừng gây ra.

Dự báo cháy rừng là quá trình dựa vào mối quan hệ giữa yếu tố thời tiết, khí hậu thủy văn và đặc tính của vật liệu cháy để đánh giá khả năng xuất hiện cũng như mức độ nguy hiểm của cháy rừng Việc này đóng vai trò quan trọng trong việc đề ra các biện pháp phòng ngừa và chữa cháy rừng hiệu quả nhất.

Cháy rừng là hiện tượng phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và điều kiện khác nhau, khiến cho việc dự báo trở nên khó khăn Để nâng cao độ chính xác trong dự báo cháy rừng, cần áp dụng các phương pháp mô phỏng khoa học, kết hợp nhiều ảnh hưởng thông qua các hàm tương quan cho từng khu vực cụ thể Điều này sẽ tạo cơ sở vững chắc để xây dựng các cấp độ nguy hiểm về cháy rừng.

Dự báo khả năng xuất hiện cháy rừng gọi tắt là dự báo cháy rừng Dự báo cháy rừng bao gồm các bước công việc:

- Xác định mùa cháy rừng và phân vùng trọng điểm cháy rừng

- Dự báo nguy cơ cháy rừng cho từng vùng, loại rừng

-Thông tin về dự báo cháy rừng các địa phương.

Ca ́c nghiên cứu về vâ ̣t liê ̣u cháy

1.2.1 Nghiên cứu trên thế giơ ́ i

Tại Trung Quốc, Vương Tiến Hải đã nghiên cứu thành phần hóa học của thực vật trong VLC và phân loại chúng thành các nhóm có nguy cơ cháy cao, thấp, trung bình và ít khả năng bén lửa V.Bêlốp (1982) xác định rằng các nguyên tố chính như C, H, O, N và các khoáng chất có vai trò quan trọng trong quá trình cháy của một số loài cây ôn đới như Thông, Dẻ, Bạch Dương Nghiên cứu của Weitmann (1918) chỉ ra rằng khi hàm lượng nước của VLC đạt 25% trở lên, sẽ không xảy ra cháy rừng, trong khi hàm lượng nước từ 10-15% lại dễ dẫn đến cháy rừng (Dẫn Theo Hoàng Ngọc Hải, 2017, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Lâm nghiệp).

Theo nghiên cứu của Theo P.P Kulatxki (dẫn theo Bế Minh Châu và Phùng Văn Khoa, 2002), tính chất của vật liệu cháy (VLC) có ảnh hưởng lớn đến sự xuất hiện và lan truyền của đám cháy VLC được chia thành các nhóm chính như thảm khô, thảm mục, cỏ và cây bụi tươi, cây tái sinh, cây đổ, và cành gãy Cường độ cháy rừng phụ thuộc vào tình trạng và số lượng VLC trong rừng, trong đó độ ẩm tới hạn của các nhóm VLC là yếu tố quan trọng trong việc xác định nguy cơ cháy rừng Mặc dù việc phân chia nhóm VLC là hợp lý khi cháy rừng xảy ra, nhưng trước khi cháy bắt đầu, cỏ, cây bụi tươi, cây tái sinh, cành lá và cây gỗ còn tươi không phải là vật liệu cháy Các vật không cháy khác như đất và đá có vai trò quan trọng trong kỹ thuật phòng cháy, chữa cháy rừng.

Việc xác định ảnh hưởng của khối lượng và độ ẩm VLC dưới tán rừng đến khả năng cháy và hệ số bắt cháy là rất quan trọng để giảm thiểu VLC trước mùa cháy Các giá trị ẩm độ VLC đã được đối chiếu với bảng tra cấp dự báo cháy rừng, cho thấy có hai phương pháp chính để phân cấp mức độ nguy cơ cháy rừng Phương pháp đầu tiên phát triển mô hình dự đoán dựa trên biến đổi khí hậu, trong khi phương pháp thứ hai dựa vào khối lượng vật liệu cháy.

Nhiều chuyên gia và tác giả đã chú trọng đến việc áp dụng và tìm hiểu đặc điểm của vật liệu cháy để xây dựng các biện pháp phòng chống cháy rừng (PCCCR) Một ví dụ điển hình là luận văn thạc sĩ của Lê Văn Hương năm 2012, với đề tài "Nghiên cứu thành phần vật liệu cháy của rừng Thông ba lá".

Tại VQG Bidup – Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng, tác giả đã tiến hành đốt thử nghiệm và kiểm tra hệ số bén lửa của các loại, nhóm VLC dưới tán các loại rừng Kết quả nghiên cứu này góp phần đề xuất các giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng hiệu quả.

Nghiên cứu các biện pháp phòng chống cháy rừng chủ yếu tập trung vào việc giảm ba thành phần của tam giác lửa Để giảm nguồn lửa, cần tuyên truyền không mang lửa vào rừng, dập tắt tàn than sau khi sử dụng lửa, và thực hiện các biện pháp dọn dẹp vật liệu cháy như làm băng, đào rãnh sâu, hoặc chặt cây theo dải để ngăn cách đám cháy Ngoài ra, việc đốt trước một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô khi chúng còn ẩm cũng giúp giảm khối lượng vật liệu cháy trong thời kỳ khô hạn Cuối cùng, sử dụng chất dập cháy như nước, đất, hoặc cát có thể giảm nhiệt lượng của đám cháy và ngăn cách vật liệu cháy với ôxy không khí.

Phó Đức Đỉnh (1997) trong nghiên cứu “Biện pháp kỹ thuật đốt dọn VLC trong giai đoạn chăm sóc nuôi dưỡng rừng thông non ở Lâm Đồng” đã phân tích mùa cháy rừng và điều chỉnh phù hợp với thời tiết địa phương Ông phân chia các giai đoạn thông non, phân tích kết cấu VLC và xác định khối lượng vật liệu cháy Qua việc thử nghiệm đốt trước VLC vào các thời điểm thích hợp, tác giả đề xuất các biện pháp kỹ thuật để phát dọn thảm cỏ, thực hiện kỹ thuật đốt VLC và tổ chức công tác phòng cháy chữa cháy rừng thông ba lá.

Từ khi áp dụng biện pháp đốt dọn VLC cho rừng non trong giai đoạn chăm sóc và nuôi dưỡng cũng như rừng tự nhiên thông ba lá lớn, tỉnh Lâm Đồng đã ghi nhận sự giảm đáng kể trong số vụ cháy rừng Mức độ thiệt hại do cháy rừng gây ra hiện nay không còn nghiêm trọng như trước đây.

1.2.3 Nghiên cứu vật liệu cháy dưới tán rừng trồng Thông

Thông là một trong những loài cây trồng rừng chủ yếu tại Việt Nam, đặc biệt tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, nơi có diện tích rừng trồng Thông phục vụ sản xuất và phòng hộ Dự án 5 triệu ha của chính phủ đã giúp tăng tỷ lệ che phủ rừng từ 38% năm 2000 lên 43% năm 2015, trong đó Thông ba lá (Pinus kesiya) được trồng rộng rãi Loài cây này chủ yếu phân bố tự nhiên ở vùng Đà Lạt – Lâm Đồng, ở độ cao từ 1000 – 1800m, với cấu trúc rừng dễ cháy Trong quản lý rừng Thông, cháy rừng được xem là nguyên nhân gây thiệt hại lớn nhất, và một trong những điều kiện dẫn đến cháy rừng là sự hiện diện của vật liệu cháy (VLC) cả về số lượng lẫn tính chất.

2001) Do đó, các nghiên cứu về vật liệu cháy hiệu quả luôn là đề tài quan tâm của các nhà quản lý cũng như các nha khoa học

Việc xác định ảnh hưởng của khối lượng và độ ẩm của vật liệu cháy dưới tán rừng đến khả năng cháy và hệ số bắt cháy là rất quan trọng để áp dụng các biện pháp giảm thiểu vật liệu cháy trước mùa cháy Nguyễn Đình Thành (2005) đã so sánh giá trị ẩm độ vật liệu cháy (W%) với bảng dự báo cháy rừng, trong khi Bế Minh Châu (1995 - 1997) đã phân chia thành 5 cấp độ nguy cơ cháy rừng dựa trên độ ẩm tuyệt đối của vật liệu cháy Tổng quan về phương pháp dự báo cháy rừng cho thấy có hai cách phân cấp mức độ nguy cơ cháy rừng.

Huyện Đức Trọng không chỉ nổi bật với diện tích rừng tự nhiên mà còn có diện tích lớn rừng trồng Thông Cây Thông được lựa chọn trồng chủ yếu để lấy gỗ và bảo vệ môi trường, phù hợp với khí hậu và địa hình đặc trưng của khu vực này.

Dựa trên nghiên cứu của Phó Đức Đỉnh và tổng kết thực tiễn trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng giai đoạn 1995-2006, Chi cục kiểm lâm Lâm Đồng đã đề xuất UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành quy định kỹ thuật nhằm giảm thiểu nguy cơ cháy rừng trong công tác phòng cháy rừng trồng.

Quy định số 31/2007/QĐ-UBND ngày 10/9/2007 tại Lâm Đồng là cơ sở cho việc xây dựng và thực hiện phương án phòng cháy chữa cháy rừng Tuy nhiên, quy định này còn một số hạn chế, như việc xác định đối tượng xử lý vật liệu cháy (VLC) không dựa trên khối lượng thực tế mà theo năm trồng hoặc chu kỳ xử lý trước đó Hơn nữa, chưa có cơ sở định lượng cho mức độ cháy của vật liệu hay thời điểm đốt phù hợp trong ngày Đặc biệt, việc nghiên cứu đặc điểm vật liệu cháy dưới tán rừng Thông chưa được quan tâm nhiều Thực tế tại huyện Đức Trọng cho thấy rừng Thông có nguy cơ cháy cao, nhưng mức độ nguy cơ này thay đổi theo độ tuổi của rừng, do đặc điểm lâm phần ảnh hưởng đến VLC dưới tán rừng.

Nhâ ̣n đi ̣nh chung

Dựa trên việc tổng hợp các nghiên cứu về đặc điểm của VLC cũng như các nghiên cứu liên quan đến VLC dưới tán rừng và tán rừng trồng Thông trên toàn cầu, tác giả đưa ra một số nhận định quan trọng về tình hình VLC tại Việt Nam và khu vực nghiên cứu.

Nghiên cứu về đặc điểm của VLC rất đa dạng, với các kết quả chỉ ra rõ ràng các đặc điểm, phương pháp phân loại và hệ thống phân loại dựa trên nguồn gốc, phân bố và đặc tính Nhiều công trình nghiên cứu cũng đã trình bày chi tiết về cách thức và đặc điểm của các nhóm loại VLC khác nhau.

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm ứng dụng đặc điểm của vật liệu cháy để cải thiện công tác dự báo cháy rừng và phát triển các giải pháp kỹ thuật hiệu quả trong công tác phòng chống cháy rừng (PCCCR).

Nghiên cứu đã chỉ ra vai trò quan trọng của VLC trong việc hình thành cháy rừng, đồng thời làm rõ mối quan hệ đa chiều giữa VLC và các yếu tố khác liên quan.

Nghiên cứu cho thấy việc hiểu rõ các đặc điểm và tính chất của VLC là yếu tố then chốt để xác định các giải pháp và biện pháp hiệu quả trong công tác phòng chống cháy, chữa cháy rừng (PCCCR).

VLC dưới tán rừng Thông ở Việt Nam đã được nghiên cứu sơ bộ, cho thấy các đặc điểm cơ bản của loại hình này.

Nghiên cứu về đặc trưng lâm phần Thông tại Ban quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng vẫn còn hạn chế Việc mô tả và phân tích các tính chất của VLC trong các lâm phần rừng trồng thông chưa được thực hiện một cách chi tiết và tỉ mỉ.

Với thực trạng sản xuất lâm nghiệp tại Ban quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, việc đáp ứng yêu cầu phòng hộ cho các lâm phần rừng thông đang trở nên cấp bách Công tác PCCCR nơi đây gặp nhiều khó khăn do thiếu thông tin và cơ sở khoa học, lý luận trong nghiên cứu sinh thái lửa rừng Do đó, cần thiết phải nghiên cứu kỹ lưỡng các đặc điểm của VLC dưới tán rừng trồng thông để xây dựng các biện pháp PCCCR hiệu quả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Vâ ̣t liê ̣u cháy của lâm phần rừng trồng Thông ba lá từ 4-7 năm tuổi (Pinus kesiya) tại Ban quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh – huyện Đức Trọng – tỉnh Lâm Đồng

- Không gian: Tiểu khu 353, Ban quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh – huyện Đức

- Thời gian: Đề tài tập trung khảo sát, mô tả đặc điểm, tính chất vật liệu cháy từ tháng 2/2020 – 4/2020).

Nôi dung nghiên cứu

(1) Hiện trạng cháy rừng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh – huyện Đức Trọng – tỉnh Lâm Đồng

(2) Một số đặc trưng lâm phần rừng trồng Thông tại Ban quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh – huyện Đức Trọng – tỉnh Lâm Đồng

(3) Đặc điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng Thông tại Ban quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh – huyện Đức Trọng – tỉnh Lâm Đồng

(4) Đề xuất các giải pháp điều tiết vật liệu cháy tại Ban quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh – huyện Đức Trọng – tỉnh Lâm Đồng.

Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu

- Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng và số liệu hiện trạng tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu

- Bản đồ phân vùng trọng điểm cháy của khu vực nghiên cứu

- Các số liêu, kết quả nghiên cứu liên quan đến công tác quản lý cháy rừng trên thế giới và ở Việt Nam

- Phương án và báo cáo công tác PCCCR giai đoạn 2015-2020

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu thực địa Để thu thâ ̣p số liê ̣u đặc trưng lâm phần và VLC của lâm phần rừng trồng Thông đề tài sử du ̣ng phương pháp lập Ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời Sau khi lựa chọn được lâm phần đại diện, tiến hành lập 6 Ô tiêu chuẩn trên 3 vị trí địa hình khác nhau gồm chân đồi, sườn đồi và đỉnh đồi, mỗi vị trí 2 Ô tiêu chuẩn có diện tích 1000 m 2 (40m x 25m) Trong mỗi OTC lập ra 5 ô dạng bản ODB1 (cấp 1) đại diện cho OTC, mỗi ODB có diện tích 4m 2 (kích thước 2m x 2m) để đo đếm các chỉ số liên quan đến VLC tươi: Loài cây, chiều cao, khối lượng, khả năng bắt lửa (nhanh, trung bình, chậm) Trong ODB1 lập 1 ODB2 kích thước 1 m 2 (ô cấp 2) như để điều tra độ dầy VLC khô gồm VLC tinh, VLC thô, khối lượng VLC khô để xác định thời gian cháy VLC khô, mức độ bén lửa của VLC khô (hình 2.1)

Hình 2.1 Bố trí ô tiêu chuẩn và ô dạng bản

Trong khu vực OTC 1000 m², chúng tôi đã thu thập dữ liệu về tầng cây cao dựa trên các chỉ tiêu cơ bản như D1.3, Hvn, Hdc, Dt, mật độ và sinh trưởng Các cấp chất lượng được đánh giá với các tiêu chuẩn tốt, xấu và trung bình Kết quả điều tra được trình bày trong biểu 2.1.

Bảng 2.1: MẪU BIỂU ĐIỀU TRA TẦNG CÂY CAO ÔTC số Kinh độ

Trạng thái rừng Vĩ độ

Ngày điều tra Người điều tra Địa điểm: S ô tiêu chuẩn: 1000m2

Chu vi C.13 (cm) Đường kính tán Dt(m)

Hvn Hdc Tốt TB Xấu

Trong ODB Cấp 1, tiến hành mô tả và phân loại toàn bộ VLC tươi, bao gồm việc chặt và gom để xác định các đặc điểm và khối lượng của VLC Kết quả của quá trình này được trình bày chi tiết trong biểu 2.2.

Mẫu biểu 2.2 Biểu điều tra khối lượng vật liệu cháy tươi ÔTC số Kinh độ S ÔDB: 1m 2

Trạng thái rừng Vĩ độ Ngày điều tra

Vị trí Độ cao Người điều tra

Hướng dốc Độ dốc Địa điểm:

Khối lượng vật liệu cháy tươi (kg)

Khối lượng vật liệu cháy tươi

Khối lượng vật liệu cháy tươi dễ cháy

Khối lượng vật liệu cháy tươi khó cháy

Trong ODB cấp 2, việc đo độ dày phân bố đều và không đều được thực hiện, đồng thời thu gom toàn bộ vật liệu cháy khô ở dạng thô và tinh Khối lượng trung bình từ 5 ô được cân và xác định Kết quả điều tra được ghi nhận trong biểu 2.3.

Mẫu Biểu 2.3 Biểu điều tra khối lượng vật liệu cháy khô ÔTC số Kinh độ S ÔDB: 1m2

Trạng thái rừng Vĩ độ Ngày điều tra

Vị trí Độ cao Người điều tra

Hướng dốc Độ dốc Địa điểm:

Khối lượng vật liệu cháy (kg)

Khối lượng vật liệu khô

Khối lượng vật liệu khô dễ cháy (tinh)

Khối lượng vật liệu khô khó cháy (thô)

Phương pháp xác định độ ẩm vật liệu cháy

Vào khoảng thời gian từ 11 đến 13 giờ, chúng tôi tiến hành thu thập mẫu vật liệu cháy khô từ các ô cấp 2 Các mẫu này được trộn đều từ 5 ÔDB, sau đó cân lấy khối lượng 200g Mỗi mẫu được cho vào túi nilon buộc kín và dán nhãn riêng, sau đó được phơi khô và cân lại.

3 lần nếu kết quả không thay đổi thì lấy kết quả cuối Kết quả điều tra được ghi nhận trong biểu 2.4 sau:

Mẫu Biểu 2.4 Biểu điều tra độ ấm vật liệu cháy

Khối lượng VLC trước khi sấy

Khối lượng VLC khô kiệt Độ ẩm tương đối Độ ẩm tuyệt đối

Phương pháp xác định khả năng bén lửa và đặc điểm cháy của VLC

Tiến hành đốt có kiểm soát vật liệu cháy trong ODB cấp 2 tại các vị trí nghiên cứu nhằm thu thập thông tin quan trọng như thời gian bén lửa, độ cao ngọn lửa và thời gian cháy hết.

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

* Phương pháp xác định các đặc trưng lâm phần

Xác định đường kính trung bình D1,3 = C1,3/3,14

Xác định mật độ cây trên một ha: N/ha = (nô /Sô)*10.000

Xác định thể tích trung bình: VTB = 3,14/4*(D1,3TB) 2 *HTB*f1.3

Với: + D1,3TB: đường kính trung bình

+ HTB: chiều cao trung bình

Xác định trữ lượng rừng trên một ha (M/ha): M = N*VTB (m 3 )

Trong đó: + N là số cây trong ÔTC

+ VTB là thể tích trung bình

Xác định độ tàn che: Dtc= TổngDi/100, trong đó Tổng Di là tổng số điểm đo tính ở 100 điểm trong OTC

* Phương pháp tính toán độ ẩm vật liệu cháy

- Dựa vào kết quả sấy mẫu, sử dụng công thức tính độẩm của Phạm Ngọc Hưng

(2004) để xác định độẩm vật liệu cháy

- Độ ẩm tương đối VLC tính bằng công thức:

W = (M1-M2)/M1)x100) Trong đó: W là độẩm tương đối VLC (%)

M1: là khối lượng VLC trước khi sẩy

M2: là khối lượng VLC sau khi sấy

Đối chiếu giá trị phần trăm ẩm độ của vật liệu cháy với bảng tra cấp dự báo cháy rừng giúp xác định khả năng phát sinh cháy rừng.

Bảng 2.5 Phân cấp nguy cơ cháy rừng theo độ ẩm vật liệu cháy

Cấp cháy Độ ẩm VLC (%) Biến đổi của tốc độ cháy Phân cấp nguy cơ chá y rừng

I 35 - 45 Không cháy Ít nguy cơ cháy

III 15 - 25 Tương đối nhanh Trung bình

Điều kiện tự nhiên

Ban quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh thuộc huyện Đức Trọng là huyện nằm ở vùng giữa của Lâm Đồng, có độ cao từ 600 – 1000 m so với mực nước biển

- Phía Bắc giáp thành phố Đà Lạt

- Phía Nam giáp huyện Di Linh và tỉnh Bình Thuận

- Phía Đông giáp huyện Đơn Dương

- Phía Tây giáp huyện Lâm Hà

Diện tích tự nhiên: 90.180 ha, chiếm 9,23% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Lâm Đồng

3.1.2 Địa hình Địa hình chủ yếu là bình sơn nguyên, núi cao và dốc hình thành những thung lũng ven sông, vùng đất tiếp giáp giữa cao nguyên Lang Biang (Lâm Viên) và cao nguyên Di Linh; tạo nên những nét khác biệt và những cảnh quan kỳ thú cho Đức Trọng với những thác nước nổi tiếng như Liên Khương, Gougah, Pongour rất hấp dẫn đối với du khách

Hồ Nam Sơn được quy hoạch thành điểm du lịch và hoạt động văn hóa - thể thao Địa hình nơi đây phù hợp cho việc xây dựng nhiều hồ chứa, nhưng việc sử dụng nước hồ để tưới tự chảy bị hạn chế do địa hình chia cắt Do đó, cần kết hợp hài hòa các biện pháp công trình như hồ chứa, đập dâng, trạm bơm và đào giếng để mở rộng diện tích tưới, đặc biệt cho các loại cây trồng như cà phê, rau và lúa nước.

Huyện Đức Trọng có khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng, nhưng với độ cao trên 900 m so với mặt nước biển, nơi đây sở hữu những nét khí hậu độc đáo và khác biệt.

Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt khoảng 21°C với biên độ dao động nhiệt giữa ngày và đêm lớn, cùng với lượng nắng dồi dào và độ ẩm không khí trung bình 79% Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loại cây á nhiệt đới và nhiều loại cây trồng vùng ôn đới, mang lại tiềm năng năng suất cao và chất lượng sản phẩm tốt.

Vùng nhiệt đới gió mùa tạo ra hai mùa rõ rệt mỗi năm: mùa mưa và mùa nắng Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, trong đó tháng 8 thường có lượng mưa giảm và xuất hiện các đợt hạn ngắn.

Mùa thu hoạch vụ hè thu diễn ra thuận lợi từ tháng 5 đến tháng 8, trong khi mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Dù mùa khô ở khu vực này dài hơn Bảo Lộc, mức độ mất cân đối độ ẩm ít gay gắt hơn và lượng nước tưới cũng thấp hơn so với Đơn Dương, Buôn Ma Thuột và các tỉnh Miền Đông.

Huyện Đức Trọng chủ yếu sử dụng nguồn nước mặt từ hệ thống sông Đa Nhim, cùng với khả năng khai thác nước từ sông Đa Dâng ở khu vực phía Tây Nam Hệ thống sông Đa Nhim bao gồm sông chính Đa Nhim và hai nhánh Đa Tam, Đa Queyon, với mật độ sông suối dày đặc (0,52-1,1 km/km2) và lưu lượng dòng chảy trung bình từ 23-28 lít/s/km2, có sự biến đổi theo mùa Mùa mưa chiếm tới 80% tổng lượng nước hàng năm, trong khi mùa khô chỉ còn 20%, với lưu lượng dòng chảy mùa kiệt rất thấp (0,25-9,1 lít/s/km2), đạt mức thấp nhất vào tháng 3 Để đảm bảo nguồn nước cho sản xuất, cần xây dựng các hồ chứa, và nếu giữ được 30% lượng nước trong mùa mưa, sẽ đủ nước tưới cho toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của huyện Nước ngầm tại Đức Trọng đa dạng, được chứa trong nhiều loại đất và đá, với trữ lượng và độ tinh khiết khác nhau, chia thành ba địa tầng chứa nước.

Tầng chứa nước lỗ hổng có bề dày tối đa 10m, thường nằm ven sông suối với lưu lượng từ 0,1 đến 0,14 lít/s Thành phần hóa học của tầng nước này thuộc kiểu Bicarbonnát Clorua, với độ khoáng hóa dao động từ 0,07 đến 0,33 g/lít.

Tầng chứa nước lỗ hổng khe nứt tại Đức Trọng có bề dày từ 10-100m, với lưu lượng trung bình từ 0,1-1,0 lít/s Nguồn nước ngầm ở đây chủ yếu không áp và thuộc loại nước nhạt, với mức độ khoáng hóa từ 0,01-0,1 g/lít, phù hợp cho sinh hoạt Khả năng khai thác nước cho sản xuất được đánh giá ở mức độ trung bình, nhưng hiện tại đã được sử dụng phổ biến để tưới cà phê và rau.

Tầng chứa nước khe nứt có nhiều loại khác nhau, nhưng thường có lưu lượng nước nghèo và khả năng khai thác cho sản xuất bị hạn chế.

- Hệ thực vật rừng: với khí hậu vùng cao ẩm, á nhiệt đới nên hệ thực vật khá phong phú, phát triển thành các kiểu rừng như sau:

+ Rừng lá rộng thường xanh: thành phần chủ yếu là các loài cây họ Ngọc lan

(Magnoliaceae), họ Sồi (Fagaceae),họ Cà phê (Rubiaceae), họ Long não (Lauraceae)… chiếm tới 45% diện tích vùng dự án

+ Rừng lá kim: với loài Thông ba lá (Pinus kesiya) thuộc họ Thông (Pinaceae) là chủ yếu

Rừng cây rụng lá, hay còn gọi là rừng khộp, bao gồm các loài cây thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Bàng (Combretaceae) và họ Đậu (Fabaceae), chiếm khoảng 25% diện tích của vùng dự án Bên cạnh đó, kiểu rừng lồ ô là quần thể chủ yếu gồm lồ ô, có thể là thuần loài hoặc hỗn giao với các loại gỗ khác, với chiều cao trung bình từ 10-12 m, được xem là loại rừng thứ sinh nhân tạo.

- Hệ động vật rừng: Heo rừng, khỉ, nhím, chồn và các loài chim

Điều kiê ̣n kinh tế - xã hô ̣i

3.2.1 Dân số, dân tộc, trình độ

Tính đến ngày 01/12/2009, tổng dân số của khu vực là 171.330 người, chiếm 14% tổng dân số của toàn tỉnh, đứng thứ hai sau thành phố Đà Lạt Mật độ dân số trung bình đạt 182 người/km², xếp vào hàng thứ.

3 so với 12 đơn vị hành chánh cấp huyện của tỉnh Lâm Đồng

Dân cư sống tập trung theo Thôn, Bản gần rừng, ven rừ ng và trong rừng có trên

Tại khu vực này, có 24 dân tộc chủ yếu, bao gồm các đồng bào dân tộc thiểu số như Cil, Kơho, Churu, RăcLay, Tày, Nùng, cùng với những người đã đến xây dựng vùng kinh tế mới Đặc biệt, phần lớn diện tích rừng dễ cháy, bao gồm rừng thông tự nhiên và rừng thông trồng, cũng như rừng khộp, tập trung gần các khu dân cư Các khu vực này kéo dài từ Thị trấn D’ran đến xã Tu Tra, nằm dọc theo phía Nam của tuyến đường.

Khu vực 412, 413 và YaHoa chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Người dân tộc tại đây thường có thói quen đốt nương làm rẫy, chăn thả gia súc trong rừng, cũng như lấy củi và đốt than, điều này tạo ra nguy cơ cao gây cháy rừng.

- Đất sản xuất Nông Nghiệp có diện tích: 16.817 ha:

+ Đất trồng cây hằng năm: 14.559,39 ha

+ Đất trồng cây lâu năm: 2.243,982 ha

Huyện Đức Trọng nổi bật với các loại cây trồng chủ yếu như cà phê, trà, tiêu và dâu tằm, thuộc nhóm cây công nghiệp Ngoài ra, nơi đây còn nổi tiếng với các loại rau, củ quả đặc sản và đặc trưng của Đà Lạt, mang lại giá trị kinh tế cao cho địa phương.

- Rừng và đất Lâm Nghiệp: 41.055 ha

+ Đất chưa có rừng: 6.397 ha

- Ngành nghề lâm nghiệp: sản xuất sản phẩm gỗ và lâm sản, sản xuất giường, tủ, bàn, ghế

Đức Trọng, nằm trên cao nguyên với khí hậu mát mẻ và cảnh quan rừng núi tươi đẹp, sở hữu nhiều tiềm năng phát triển du lịch xanh và du lịch sinh thái Tuy nhiên, ngành du lịch tại đây vẫn chưa phát triển, chưa mang lại thu nhập cho người dân địa phương.

Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 15,7%, vượt mục tiêu kế hoạch từ 15-16% Ngành nông, lâm, thủy sản ghi nhận mức tăng 9,2%, trong khi ngành công nghiệp - xây dựng tăng 20,7% Đáng chú ý, giá trị gia tăng của ngành dịch vụ tăng mạnh 24%, gần đạt kế hoạch 25%.

- GDP bình quân đầu người 35,9 triệu đồng/người/năm

- Tổng thu ngân sách địa phương: 99,383 tỷ đồng

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội: 1.261 tỷ đồng

- Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ đạt 2.087 tỷ đồng

- Nông Nghiệp: Sản lượng một số cây trồng chủ yếu:

+ Sản lượng cây lúa 19.479 tấn

+ Sản lượng cây rau thương phẩm 734.599 tấn

Có 1 Trung tâm y tế Huyện và trạm xá trên địa bàn các xã

Dọc theo phía Nam Sông Đa Nhim, trục đường liên xã kết nối các xã thuộc Huyện Đơn Dương và Huyện Đức Trọng, góp phần tăng cường khả năng giao lưu kinh tế, văn hóa và xã hội giữa hai huyện.

- Đường hàng không: sân bay Liên Khương về hướng Nam nối liền đường bộ qua đoạn Quốc lộ 20 (Ngã ba Liên Khương - Ngã ba Phi Nôm)

Toàn huyện có 32 công trình thủy lợi, bao gồm 19 hồ, 10 đập, 2 đường dẫn nước tưới và 1 trạm bơm

Huyện có trung tâm học tập cộng đồng và hệ thống trường phổ thông các cấp, đáp ứng nhu cầu học tập của người dân tại Thị Trấn và các xã.

Khái quát về công tác PCCCR

Ban QLRPH Đại Ninh tọa lạc tại vùng cao nguyên Nam Trung Bộ với địa hình phức tạp, bao gồm nhiều khe, suối và độ dốc lớn Độ cao tuyệt đối từ 850 đến 1500m, với độ dốc bình quân từ 15 đến 30 độ Một số khu vực có độ dốc nhỏ đã được người dân định cư và phát triển nông nghiệp Tuy nhiên, địa hình này gây khó khăn cho công tác bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong mùa khô Diện tích rừng và đất rừng do Ban QLRPH Đại Ninh quản lý trải rộng trên 12 xã và một thị trấn, bao gồm Thị Trấn Liên Nghĩa và xã Hiệp.

Các xã An, Hiệp Thạnh, Liên Hiệp, N’Thol Hạ, Phú Hội, Tân Hội, Tân Thành, Bình Thạnh, Ninh Gia, Tà Hine, Ninh Loan và Đà Loan thuộc huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Khu vực này giáp ranh với huyện Di Linh, huyện Đơn Dương, huyện Lâm Hà, Thành phố Đà Lạt và tỉnh Bình Thuận Diện tích rừng tự nhiên, chủ yếu là rừng thông, chiếm trên 70% tổng diện tích rừng tự nhiên, với hơn 2000 ha rừng trồng thông 3 lá thuần loài, có nguy cơ cháy cao.

3.3.1 Những nguy cơ cháy rừng xảy ra

Dựa vào đặc điểm tài nguyên rừng cùng với tình hình dân sinh và kinh tế - xã hội, có thể nhận thấy rằng có nhiều nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến cháy rừng.

Rừng Ban QLRPH Đại Ninh quản lý trải dài trên 13 xã và thị trấn, nơi cư dân sinh sống xen kẽ với diện tích rừng Sự hiện diện của các nương rẫy gần rừng làm tăng nguy cơ cháy lan, đặc biệt khi người dân xử lý vật liệu cháy từ nương rẫy.

Khu vực quản lý của đơn vị có nhiều điểm du lịch, do đó, nguy cơ cháy rừng từ các hoạt động du lịch của người dân là rất cao.

Diện tích rừng tại khu vực này chủ yếu là thực bì cấp II và cấp III, với độ dốc ở nhiều nơi trên 30%, khiến cho rừng dễ bị cháy khi gặp nguồn lửa.

+ Diện tích rừng đơn vị quản lý, nhiều nơi giáp với khu dân cư nên nguy cơ cháy rừng cũng rất cao

3.3.2 Thực trạng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng

1 Tình hình cháy rừng: Trong 5 năm vừa qua trước khi vào mùa khô đơn vị đều xây rừng phương án PCCCR, nhờ thực hiện tốt các hạng mục trong phương án PCCCR hàng năm nên trên địa bàn đơn vị quản lý trong các năm vừa qua không để xảy ra vụ cháy rừng nào gây thiệt hại đến tài nguyên rừng, các vụ cháy chỉ là cháy thảm cỏ không gây thiệt hại Khi có các vụ cháy xảy ra đơn vị đã thực hiện tốt phương châm 4 tại chỗ nên đã dập tắt ngay các đám lửa mới phát sinh

2 Lực lượng, phương tiện, thiết bị, công cụ phòng cháy chữa cháy rừng hiện có:

Lực lượng phòng cháy, chữa cháy bao gồm 32 cán bộ viên chức và người lao động, cùng với đội ngũ giao khoán dịch vụ môi trường rừng, nhằm đảm bảo công tác bảo vệ và chữa cháy rừng hiệu quả.

Năm 2019, khu vực này có 24 tổ và 9 hộ gia đình với tổng cộng 220 hộ, trong đó có 120 hộ người Kinh và 100 hộ đồng bào dân tộc thiểu số Trong số 24 tổ nhận khoán, có 5 tổ trực tại các chòi quản lý bảo vệ rừng, với tổng số 18 người thường xuyên túc trực tại các tiểu khu 667, 668, 669, 670 xã Ninh Gia và tiểu khu 268 xã Hiệp An Khi có cháy rừng xảy ra, lực lượng này sẽ nhanh chóng tiếp cận hiện trường để dập tắt đám lửa ngay từ khi mới phát sinh Các lực lượng khác, bao gồm lực lượng kiểm lâm và các xã lân cận, cũng được huy động để tham gia công tác dập lửa, đảm bảo an toàn cho khu vực rừng.

Phương tiện phòng cháy chữa cháy rừng bao gồm một xe ô tô chuyên dụng, có khả năng chở người cùng với các thiết bị và công cụ cần thiết để ứng phó kịp thời khi xảy ra cháy rừng.

- Thiết bị, công cụ phòng cháy chữa cháy rừng gồm: bình bơm nước, cào, cuốc, dao phát, can đựng nước,…

3.3.3 Các giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng đang áp dụng

1 Tổ chức hội nghị tổng kết công tác PCCCR mùa khô năm 2018 – 2019 và phương hướng, mục tiêu, giải pháp thực hiện công tác PCCCR mùa khô năm 2019 –

Tổ chức hội nghị tổng kết để đánh giá thực hiện công tác PCCCR mùa khô 2018-

Năm 2019, cần đánh giá các điểm mạnh đã đạt được, rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong mùa khô 2019-2020.

2.Thực hiện các công trình PCCCR: a Làm giảm vật liệu cháy ở vùng trọng điểm

Đối với rừng trồng trong giai đoạn chăm sóc, đơn vị đã ký hợp đồng với các hộ dân và tổ chức để thực hiện công tác chăm sóc trên diện tích 120,0 ha Công việc này bao gồm việc giảm thiểu vật liệu cháy theo đúng quy trình đã được cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt và hoàn thành trước ngày 25/12/2019.

- Làm giảm vật liệu cháy có điều khiển rừng trồng giai đoạn II (trồng năm 2009 – 2015): Diện tích 216,6 ha, trong đó:

+ Thực bì cấp II: 150,80 ha

+ Thực bì cấp III: 20,8 ha

Trong giai đoạn II của chương trình giảm vật liệu cháy, diện tích 10,50 ha rừng trồng từ năm 2010 – 2012 đã được xử lý thực bì có điều khiển trong 3 năm liên tiếp Tuy nhiên, do vị trí của diện tích này thuộc tiểu khu 268, 277A xã Hiệp An và 277B xã Liên Hiệp, nằm dọc theo đường cao tốc Liên Khương với thực bì cấp II, cấp III và địa hình dốc dưới 30%, nguy cơ cháy rừng rất cao Việc tiếp cận các khu vực rừng trồng gặp khó khăn, nhiều lô rừng không có đường xe máy, dẫn đến việc huy động lực lượng dập lửa sẽ rất khó khăn nếu xảy ra cháy Do đó, trong mùa khô 2019 – 2020, đơn vị vẫn tiếp tục thực hiện xử lý vật liệu cháy có điều khiển cho những diện tích này Đồng thời, chương trình PCCC rừng trồng cũng đang thực hiện khoán bảo vệ diện tích 1.858,89 ha.

Để xử lý vật liệu cháy trong rừng trồng lớn mà không đầu tư vào biện pháp giảm thiểu vật liệu cháy, cần thực hiện xử lý thực bì theo băng (đốt da báo) và thiết lập các băng cản lửa trên các lô rừng trong thời gian cho phép Đặc biệt, đối với PCCCR tự nhiên lớn, diện tích gần 4.00 ha cần được chú trọng trong công tác phòng cháy chữa cháy.

Tùy thuộc vào vị trí và từng lô rừng, cần áp dụng các biện pháp xử lý khác nhau để phòng cháy Đối với những diện tích có mật độ cây tái sinh cao, việc tạo băng cản lửa xung quanh là cần thiết để bảo vệ và không xử lý đốt trước Ngược lại, những khu rừng tự nhiên không có cây tái sinh nên được xử lý bằng biện pháp đốt trước, sử dụng phương pháp đốt dạng da báo trong thời gian cho phép.

Đánh giá chung

- Đất badan diện tích rộng, màu mỡ, thích hợp cho các loài cây rừng phát triển xanh tốt

- Khí hậu cận xích đạo, nhiệt lượng dồi dào cùng với nguồn nước phong phú, là điều kiện thuận lợi để rừng phát triển

- Kinh tế và dân trí phát triển mạnh nên nhà nước đầu tư nhiều vào rừng, việc bảo vệ và phát triển rừng ngày càng mạnh

- Giao thông phát triển thuận lợi cho công tác tuần tra rừng

- Mùa khô kéo dài nên dễ dẫn thiếu nước cây sinh trưởng chậm, dễ gây ra cháy rừng

- Mùa mưa thì dễ gây ra sói mòn nhất là những nơi mất lớp phủ thực bì

- Điều kiện kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn, người dân chủ yếu là người đồng bào nên nhận thức về rừng còn nhiều hạn chế

- Một số khu vực ranh giới với các Huyện như Ninh Sơn công tác quản lý bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn

- Bên cạnh việc giao thông phát triển cũng là điều kiện cho việc buôn bán,vận chuyển lâm sản

Hiện trạng cháy rừng giai đoạn 2014 – 2019

Từ năm 2014 đến 2019, Ban Quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh đã ghi nhận 8 vụ cháy rừng, với thông tin chi tiết được trình bày trong bảng 4.1.

Bảng 4.1 Tình hình cháy rừng giai đoạn 2014-2019 Thời gian cháy

Diện tích Địa điểm cháy

Xử lý sau khi cháy

Không xác định được nguyên nhân Đội KL

CC trưởn g CCK L; Hạt trưởn g HKL

Biên bản xác minh vụ cháy; báo cáo

Không xác định được nguyên nhân

Hạt Kiểm lâm; chủ rừng; hộ nhận khoán

Biên bản xác minh; báo cáo cháy

Hạt Kiểm lâm; chủ rừng; hộ

25 nguyên nhân nhận khoán báo cáo cháy

(Nguồn: Ban quản lý rừng Đại Ninh 2019)

Từ năm 2014 đến 2019, tình hình cháy rừng diễn ra với sự biến động về số lượng và quy mô Năm 2014-2015 ghi nhận diện tích rừng bị cháy lớn nhất với 33.64 ha, trong khi năm 2018-2019 có 3.59 ha bị cháy, và năm 2016-2017 là thấp nhất với 3.43 ha Đặc biệt, các năm 2015-2016 và 2017-2018 không xảy ra vụ cháy rừng nào Về địa điểm, vụ cháy rừng năm 2014-2015 xảy ra tại tiểu khu 283, năm 2018-2019 tại tiểu khu 276, và năm 2016-2017 tại tiểu khu 271.

* Các nguyên nhân gây cháy rừng

Các nhân tố khí tượng như nhiệt độ và lượng mưa đóng vai trò quan trọng trong việc xác định khả năng xảy ra cháy rừng ở từng vùng rừng khác nhau Để phát triển các giải pháp hiệu quả cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng, cần nghiên cứu kỹ lưỡng các đặc trưng của hai nhân tố này.

Nhiệt độ không khí là yếu tố khí tượng quan trọng ảnh hưởng đến cháy rừng, khi nhiệt độ tăng, độ ẩm của vật liệu dễ cháy (VLC) giảm và gần đạt đến điểm bén cháy Sự gia tăng nhiệt độ trong một khoảng thời gian nhất định cũng làm khô các loại thực vật thân thảo và cành khô, dẫn đến tăng khối lượng VLC Nhiệt độ không khí thường đạt đỉnh vào khoảng từ 12 đến 14 giờ trong ngày, cho thấy ảnh hưởng tổng hợp và toàn diện của nhiệt độ đến đặc điểm của VLC.

Lượng mưa có ảnh hưởng trực tiếp đến độ ẩm của VLC, độ ẩm không khí và độ ẩm của đất Trong mùa mưa, độ ẩm của đám VLC cao giúp ngăn chặn nguy cơ cháy rừng, trong khi vào mùa khô, mưa có thể cải thiện độ ẩm của VLC trong vài ngày tiếp theo Ngoài ra, lượng mưa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định thời điểm xử lý vật liệu cháy.

Thảm thực vật rừng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các vùng sinh thái lửa rừng khác nhau Các kiểu rừng như rừng thưa cây lá kim nhiệt đới và rừng trồng có khả năng cháy cao, trong khi những kiểu rừng khác lại khó bị cháy Khi các kiểu rừng dễ cháy này bị lửa tàn phá, chúng có thể gây ra sự lan rộng và làm cháy các kiểu rừng khác.

- Nguyên nhân chủ quan Để xác định các nguyên nhân chủ quan gây cháy rừng tại Ban quản lý rừng Đại Ninh được thể hiện bảng 4.2

Bảng 4.2 Nguyên nhân gây cháy rừng

TT Nguyên nhân gây cháy rừng Diện tích bị cháy (ha)

2 Đốt rừng do mâu thuẫn cá nhân 1,4 3 12,88

3 Đốt trảng cỏ cháy lan 1,57 1 15,56

4 Sử dụng lửa rừng bừa bãi 0,96 1 9,51

5 Do thời tiết khô hạn, thực bì phát dọn chưa phân hủy hết

Kết quả nghiên cứu ở bảng 4.2 cho thấy có 3 nhóm nguyên nhân gây ra cháy rừng là con người, thiên nhiên và nguyên nhân khác

Nguyên nhân cháy rừng do con người chiếm tỷ lệ lớn cả về số vụ và diện tích bị ảnh hưởng Các nguyên nhân chính bao gồm: đốt rừng làm rẫy với 2 vụ, diện tích 5.7 ha (46.58%); đốt trảng cỏ gây cháy lan với 1 vụ, diện tích 1.57 ha (15.56%); đốt rừng do mâu thuẫn cá nhân với 3 vụ, diện tích 1.4 ha (12.88%); và sử dụng lửa rừng bừa bãi với 1 vụ, diện tích 0.96 ha (9.51%) Để phòng ngừa cháy rừng, cần tăng cường tuyên truyền giáo dục về tầm quan trọng của công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), huy động lực lượng trực cháy trong mùa khô và khoanh vùng sản xuất nương rẫy.

Nhóm nguyên nhân do thiên nhiên là do thời tiết khô hạn, thực bì phát dọn chưa phân hủy với 1 vụ, diện tích rừng bị cháy là 0.8 ha chiếm 7.93%

Một vụ cháy rừng không rõ nguyên nhân đã xảy ra, gây thiệt hại cho 0.76 ha rừng, chiếm 7.54% tổng diện tích Các nguyên nhân gây cháy rừng còn lại chủ yếu liên quan đến vấn đề kỹ thuật Để hạn chế tình trạng cháy rừng từ nhóm nguyên nhân này, cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện kỹ thuật quản lý lửa rừng phù hợp với từng vùng sinh thái khác nhau.

Một số đặc trưng lâm phần rừng trồng Thông

Các đặc trưng về đường kính 1.3 (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính tán (Dt) được thể hiện ở bảng 4.3

Mật độ cây Thông trong các OTC ở vị trí địa hình chân sườn đỉnh rừng trồng cho thấy sự khác biệt rõ rệt Cụ thể, mật độ cao nhất được ghi nhận ở vị trí chân đồi với 36 cây/OTC, tiếp theo là vị trí sườn đồi với 31 cây/OTC, trong khi vị trí đỉnh đồi có mật độ thấp nhất, chỉ với 19 cây/OTC.

Bảng 4.3 Một số đặc trưng lâm phần rừng Thông

TT Đặc trưng thống kê

Vị trí địa hình nghiên cứu

Mật độ rừng trồng Thông ở các vị trí địa hình chân sườn đỉnh có sự khác biệt rõ rệt Cụ thể, mật độ cao nhất được ghi nhận ở vị trí chân đồi với 360 cây/ha, tiếp theo là vị trí sườn đồi với 305 cây/ha, trong khi vị trí đỉnh đồi có mật độ thấp nhất, chỉ đạt 235 cây/ha.

Chỉ tiêu sinh trưởng đường kính 1.3 m (D1.3) trung bình ở rừng trồng Thông tại khu vực nghiên cứu dao động từ 15.66 ± 0.38 cm đến 20.73 ± 0.37 cm Sinh trưởng đường kính lớn nhất được ghi nhận ở vị trí chân đồi với giá trị 20.73 ± 0.37 cm, tiếp theo là vị trí sườn đồi với 17.59 ± 0.32 cm, trong khi sinh trưởng đường kính thấp nhất là ở vị trí đỉnh đồi với 15.66 ± 0.38 cm.

Chỉ tiêu sinh trưởng chiều cao vút ngọn (Hvn) trung bình có sự khác biệt rõ rệt giữa các vị trí địa hình, với chiều cao dao động từ 10.44 ± 0.18 m đến 11.79 ± 0.17 m Cụ thể, chiều cao Hvn cao nhất được ghi nhận ở vị trí chân đồi với 11.79 ± 0.17 m, tiếp theo là vị trí sườn đồi với chiều cao 11.43 ± 0.14 m, trong khi chiều cao thấp nhất là ở vị trí đỉnh đồi với 10.44 ± 0.18 m.

Đường kính tán của rừng trồng thông ở các vị trí địa hình khác nhau có sự khác biệt rõ rệt, với giá trị biến động từ 2.43 ± 0.08 m đến 2.71 ± 0.05 m Cụ thể, đường kính tán lớn nhất được ghi nhận tại vị trí chân đồi với kích thước 2.71 ± 0.05 m, tiếp theo là sườn đồi với 2.52 ± 0.06 m, trong khi vị trí đỉnh đồi có đường kính tán thấp nhất là 2.43 ± 0.08 m.

Phân tích các chỉ tiêu sinh trưởng D1.3, Hvn, Dt và mật độ lâm phần cho thấy rằng vị trí chân đồi rừng trồng Thông có sự sinh trưởng và phát triển tốt nhất, tiếp theo là vị trí sườn đồi, trong khi vị trí đỉnh đồi có sự phát triển kém nhất Những chỉ tiêu này ảnh hưởng đến vật liệu lâm sản dưới tán rừng thông thông qua vật rơi rụng, từ đó tác động đến khối lượng vật liệu lâm sản tươi, vật liệu lâm sản khô, thành phần vật liệu lâm sản tươi và độ dày của vật liệu lâm sản khô Điều này cũng ảnh hưởng đến khả năng bén lửa và thời gian cháy của vật liệu lâm sản dưới tán rừng trồng Thông.

Độ tàn che ở rừng trồng Thông cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các vị trí, với độ tàn che lớn nhất tại chân đồi đạt 0.48 ± 0.035 m, tiếp theo là sườn đồi với 0.39 ± 0.031 m, và thấp nhất ở đỉnh đồi với 0.34 ± 0.029 m Độ tàn che này kết hợp với đường kính tán cây có ảnh hưởng lớn đến các chỉ số VLC, bao gồm khối lượng VLC khô, VLC tinh và độ dày VLC Ngoài ra, độ tàn che cũng tác động đến khối lượng VLC tươi của lâm phần rừng trồng Thông.

Trữ lượng lâm phần rừng trồng Thông cho thấy sự sinh trưởng tốt nhất ở vị trí chân đồi, tiếp theo là sườn đồi, và thấp nhất ở đỉnh đồi Các chỉ tiêu sinh trưởng như đường kính 1.3 và chiều cao vút ngọn đều phản ánh quy luật giảm dần về trữ lượng lâm phần theo vị trí địa hình từ chân, sườn đến đỉnh đồi.

Đặc điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng Thông

4.3.1 Đặc điểm khối lượng VLC

4.3.1.1 Đặc điểm khối lượng VLC tươi

Khối lượng VLC tươi có ảnh hưởng đáng kể đến nguy cơ cháy rừng Bảng 4.4 tổng hợp kết quả xác định đặc điểm khối lượng VLC tươi dưới tán rừng Thông ở các vị trí địa hình khác nhau.

Dữ liệu từ bảng 4.4 chỉ ra rằng tổng khối lượng vật liệu cháy ở rừng thông tại ba vị trí khác nhau là 5194.00kg/ha ở chân đồi, 4914.00kg/ha ở sườn đồi và 4892.67kg/ha ở đỉnh đồi Kết quả này cho thấy rằng mặc dù các khu rừng đều có cùng tuổi, khối lượng vật liệu cháy giảm dần khi vị trí càng cao, với khối lượng cao nhất được ghi nhận ở vị trí chân đồi.

Bảng 4.4 Khối lượng VLC tươi dưới tán rừng ở các vị trí khác nhau

Cành, lá khô 1363,33±24,49 1414,00±16,64 1418,67±13,45 Thảm tươi 2453,33±54,05 2197,33±30,68 2158,00±24,26 Thảm mục 1377,33±22,83 1302,67±15,75 1316,00±11,54 Tổng 5194,00±62,66 4914,00±45,55 4892,67±33,39

Số liệu từ bảng 4.4 cho thấy sự phân bố không đồng đều của VLC tươi theo các nhóm thành phần Cụ thể, khối lượng VLC ở cành và lá khô tại vị trí chân đồi là 1363,33 kg/ha, thấp hơn so với vị trí sườn (1414 kg/ha) và đỉnh (1418,67 kg/ha), điều này có thể do độ cao và ánh nắng chiếu trực tiếp nhiều hơn ở sườn và đỉnh Ngoài ra, độ tàn che giảm dần từ chân lên đỉnh, dẫn đến lượng ánh sáng tăng dần tại các vị trí này Ngược lại, khối lượng VLC thảm tươi cao nhất ở chân đồi với 2453,33 kg/ha, so với 2197,33 kg/ha ở sườn.

Sản lượng trung bình đạt 2158 kg/ha, điều này được lý giải bởi địa hình đồi dốc và độ che phủ của tán rừng Lượng ánh sáng dưới tán rừng giảm dần từ đỉnh, sườn đến chân đồi, dẫn đến thảm thực vật dưới tán rừng trồng Thông phát triển tốt hơn ở các vị trí đỉnh và sườn so với chân đồi.

Thảm mục hình thành từ quá trình phân hủy hợp chất hữu cơ như cành khô và lá rụng cho thấy sự khác biệt về khối lượng tại các vị trí khác nhau: chân đồi đạt 1377,33 kg/ha, sườn đồi 1302,67 kg/ha và đỉnh đồi 1316,00 kg/ha Sự chênh lệch này được lý giải bởi thời gian tích lũy thảm mùn ở vị trí chân đồi lâu hơn, dẫn đến hàm lượng thảm mục cao nhất và nguy cơ cháy rừng tại đây cũng cao nhất Nếu không có biện pháp giảm thiểu vật liệu cháy, thảm cỏ tươi trong mùa mưa và đầu mùa khô sẽ dễ dàng chuyển hóa thành vật liệu cháy tinh, làm tăng nguy cơ cháy rừng.

4.3.1.2 Đặc điểm khối lượng VLC khô

Theo số liệu từ bảng 4.5, tổng khối lượng VLC khô ở rừng Thông lần lượt là 3474,67 kg/ha tại vị trí chân, 3220,00 kg/ha ở vị trí sườn và 3172,00 kg/ha tại vị trí đỉnh.

Nghiên cứu cho thấy rằng khối lượng vật liệu cháy giảm dần khi lên cao, với khối lượng vật liệu thảm cỏ tươi và cây bụi phát triển mạnh hơn ở vị trí chân đồi so với sườn và đỉnh Cụ thể, khối lượng cành, lá khô (VLC) ở chân đồi là 1342,67 kg/ha, thấp hơn so với sườn (1394,67 kg/ha) và đỉnh (1997,33 kg/ha) Điều này chứng tỏ rằng khối lượng vật liệu cháy tăng dần theo độ cao.

Bảng 4.5 Khối lượng VLC khô dưới tán rừng Thông ở các vị trí khác nhau

TT Nhóm VLC Vị trí kg/ha

Khối lượng VLC thảm tươi tại ba vị trí rừng cho thấy sự khác biệt rõ rệt, với vị trí chân rừng đạt khối lượng cao nhất là 1356 kg/ha, tiếp theo là vị trí sườn với 1123,33 kg/ha và vị trí đỉnh rừng chỉ đạt 1058 kg/ha Tổng khối lượng VLC thảm tươi là 3474,67±62,49 kg/ha, cho thấy sự phân bố không đồng đều của thảm thực vật trong khu vực rừng.

Quá trình phơi kéo dài từ 3-5 ngày dẫn đến sự giảm sút khối lượng so với khối lượng ban đầu Kết quả cho thấy khối lượng thảm mục sau khi phơi tại vị trí chân đồi đạt cao nhất với 776 kg/ha, tiếp theo là 702 kg/ha ở vị trí đỉnh và 716.67 kg/ha ở vị trí sườn Điều này chứng tỏ rằng khối lượng tại vị trí chân đồi luôn vượt trội hơn so với các vị trí khác như sườn và đỉnh.

Thành phần chính của VLC bao gồm cành lá cây khô và vỏ cây khô, với sự phân bố không đa dạng trên bề mặt và xuất hiện quanh năm Trong khi đó, VLC tươi chủ yếu chứa các thành phần như cỏ tranh, dương xỉ, đót và dây leo, thường xuất hiện từ đầu mùa mưa đến cuối mùa mưa, khoảng từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm.

Một số nhược điểm khi thực hiện cân đo VLC tại khu vực nghiên cứu là do đã xảy ra cháy dưới tán trước thời điểm nghiên cứu, dẫn đến số liệu thu được chỉ có tính chất tương đối.

4.3.2 Đặc điểm thành phần VLC dưới tán rừng

4.3.2.1 Đặc điểm thành phần VLC tươi

Kết quả khảo sát về thành phần VLC dưới tán rừng trồng thông ở 3 vị trí tại được thể hiện ở bảng 4.6

Bảng 4.6 Thành phần VLC tươi xuất hiện dưới tán rừng thông

TT Tên Chiều cao TB (cm) Chu kỳ sống

3 Cỏ lá tre 0,20 – 0,49 Cây thảo 2 -3 năm

4 Cỏ sâu róm 0,05 – 0,25 Cỏ nhiều năm

5 Cỏ mần trầu 0,20 – 0,47 Nhiều năm

7 Dây leo : Hà thủ ô 0,50 - 1,25 Nhiều năm

Vật liệu cháy (VLC) trong rừng thông bao gồm các vật rụng từ cây như lá, cành và quả khô, cùng với thảm thực vật dưới tán rừng VLC được chia thành hai loại: vật liệu tinh và thô, nhưng nghiên cứu này chỉ tập trung vào việc khảo sát và định lượng VLC tinh, với đường kính của thân và cành khô nhỏ hơn 6 cm Nhiều tác giả đã chỉ ra rằng VLC đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến mức độ, nguy cơ và quá trình cháy trong rừng.

Danh mục, độ cao trung bình và dạng sống của thành phần VLC tươi ở bảng 4.6 cho thấy có khoảng 13 loài thực vật tham gia vào VLC dưới tán rừng thông, bao gồm các thân thảo, cây bụi và cỏ, với tuổi thọ từ một năm đến nhiều năm Trong số các loài thực vật này, có những loài phát triển mạnh mẽ.

Cỏ mỹ, sim, cỏ tranh và đót là những loài thực vật phát triển mạnh trong mùa mưa, đặc biệt tại các khu rừng thông chưa có tán cây dày Vào mùa khô, hầu hết các loài này chuyển sang trạng thái VLC tinh, cho thấy khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu khắc nghiệt Những thành phần này đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng, góp phần duy trì đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường.

Trong mùa khô, việc tăng cường khối lượng vật liệu lâm sinh (VLC) là một vấn đề quan trọng Nhiều lâm phần không cho phép người dân thực hiện nông lâm kết hợp dưới tán rừng, dẫn đến việc ít áp dụng các biện pháp xử lý để giảm khối lượng VLC Điều này làm cho các loại VLC như cỏ tranh, đót, cỏ mỹ và cói, với chiều cao trung bình lớn, tích tụ nhiều và có nguy cơ gây ra cháy rừng Những loại cây này đóng vai trò cầu nối giữa VLC dưới tán và VLC trên tán, cần được quản lý chặt chẽ để giảm thiểu nguy cơ cháy.

Do vậy có nguy cơ cháy dưới tán bùng phát hình thành cháy tán có nguy cơ khá cao

4.3.2.2 Đặc điểm thành phần VLC khô

VLC là thảm khô, cành lá khô rơi rụng, thảm muc, cỏ khô dưới tán 3 vị trí rừng thông tại khu vực nghiên cứu được thể hiện bảng 4.7

Bảng 4.7 Thành phần VLC khô xuất hiện dưới tán rừng thông

TT Nhóm vật liệu khô Thành phần chủ yếu Thời gian xuất hiện

1 Cành khô - lá rộng Lá, cành, thân của thông Tháng 9 – tháng 3

2 Thảm mục Lá, cành, thân của thông; thân, lá cỏ bị hoại mục Quanh năm

3 Cỏ khô Cói, cỏ mỹ, cỏ lá tre, đót, cỏ tranh, sim Tháng 10 – tháng 5

Đề xuất giải pháp điều tiết VLC dưới tán rừng

Khối lượng vật liệu dễ cháy trong rừng trồng thông rất cao, đặc biệt ở vị trí đỉnh Để giảm nguy cơ cháy rừng, cần thực hiện các biện pháp xử lý như phát dọn thực bì, bao gồm thảm cỏ và cây chết, trước mùa khô Hàng năm, toàn bộ thực bì cần được phát và phơi khô cho đến khi độ ẩm đạt 30%-35% trước khi tiến hành đốt kiểm soát Phương pháp đốt phải đảm bảo chỉ tạo khói mà không phát sinh ngọn lửa, tránh làm chết cây thông non Thời gian đốt nên diễn ra vào buổi tối hoặc gần sáng, tránh giữa trưa nắng Trong quá trình đốt, nếu có gió lớn, cần dập tắt ngay và lùi thời gian đốt lại Cần đốt xung quanh lô trước để tạo băng trắng ngăn cách và sau đó đốt dần vào trong, bắt đầu từ đỉnh dốc xuống chân dốc, và châm lửa ngược theo chiều gió Cuối cùng, trước khi rời khỏi khu vực, phải kiểm tra và dập tắt hoàn toàn các đống lửa Toàn bộ công việc này cần hoàn tất vào giữa tháng 1.

Nghiên cứu cho thấy sự chất đống và liên kết VLC giữa các tán rừng trong khu vực nghiên cứu là cao Do đó, ở lâm phần rừng thông vị trí 3, cần thực hiện phát bụi cỏ và dây leo để ngăn ngừa cháy lan và hình thành cháy tán khi xảy ra cháy mặt đất.

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống cháy rừng, cần tăng cường cảnh báo và dự báo cháy rừng, thường xuyên kiểm tra và kiểm soát lửa trong mùa khô Cần bố trí nhân lực để quan sát và phát hiện cháy rừng tại các chòi canh, đồng thời xây dựng hệ thống biển báo nguy cơ cháy rừng Ngoài ra, trang bị một số phương tiện chữa cháy tại chỗ là điều cần thiết, đặc biệt là tại các khu vực rừng trồng thông.

Dựa trên những đặc điểm của VLC và tình hình cháy rừng, cùng với kinh nghiệm và bài học từ công tác PCCCR, chuyên đề này đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm giảm thiểu VLC hiệu quả.

Phương pháp xử lý theo băng:

Khả năng cháy rừng chỉ xảy ra khi vật liệu cháy (VLC) đạt các chỉ tiêu nhất định về khối lượng, độ ẩm, hệ số khả năng bắt cháy và sự phân bố trong không gian Việc đốt một phần VLC có thể giảm khối lượng của chúng xuống mức không tạo ra đám cháy Xử lý theo băng giúp giảm khối lượng VLC đến mức yêu cầu, với các băng được bố trí thuận tiện cho việc thực hiện.

Phương pháp bố trí cây trồng theo băng với khoảng cách giữa các hàng là 3.0m giúp tạo ra khoảng trống giữa các hàng, từ đó có thể gom vật liệu cháy lại và đốt Nhờ vậy, mức độ ảnh hưởng của lửa đối với cây trồng sẽ được giảm thiểu.

Phương pháp xử lý theo băng là kỹ thuật hiệu quả để giảm thiểu vật liệu cháy trong rừng trồng thông qua các bước cụ thể Đầu tiên, cần luỗng phát toàn bộ hoặc 3/4 thảm cỏ trong lô rừng, sau đó tiếp tục luỗng phát các cặp cảnh sát gốc Tiếp theo, cào dọn vật liệu ra giữa băng trồng và chọn thời điểm thích hợp để đốt Cuối cùng, thực hiện biện pháp giới hạn đường băng đốt trước khi tiến hành đốt vật liệu.

Biện pháp làm đường băng ngăn lửa:

- Người ta tiến hành đốt trước vật liệu cháy khi đám cháy lan đến thì chỉ còn lại khoảng trống Chiều rộng mỗi băng từ 15-30m

Việc xác định vị trí hai băng phụ thuộc vào sự lan tràn của đám cháy là rất quan trọng, nhằm đảm bảo rằng công tác thi công hoàn thành trước khi đám cháy lan tới Trong các loại rừng dễ cháy như rừng thông, tốc độ lan truyền của lửa có thể rất nhanh nhưng vẫn có thể kiểm soát được Do đó, sử dụng biện pháp giới hạn đám cháy bằng cách tạo các băng đốt trước là một giải pháp hiệu quả Bên cạnh đó, việc tận dụng địa hình tự nhiên như sông, suối, và các tuyến đường giao thông cũng giúp giới hạn đám cháy, đảm bảo thi công nhanh chóng và đạt hiệu quả cao.

Biện pháp giới hạn đám cháy bằng các đường băng đốt trước: Đây là biện pháp khá hiệu quả và được áp dụng ở nhiều nơi

Phương pháp xử lý kết hợp với chăm sóc rừng trồng

Các nghiên cứu đã chỉ ra sự biến thiên trong cấu trúc vật liệu cháy theo từng giai đoạn chăm sóc Những hiểu biết này có thể áp dụng để kết hợp xử lý vật liệu cháy với việc chăm sóc rừng Dựa trên sự biến thiên theo mùa, việc chăm sóc hàng năm cho rừng trồng từ 1-2 năm tuổi và 3-4 năm tuổi nên được thực hiện vào tháng 9-10 hàng năm Đối với năm đầu tiên, việc chăm sóc cần được thực hiện vào thời điểm tháng 9.

10 tức là sau khi trồng từ 1đến 3 tháng(thời vụ trồng rừng từ tháng 6 đến tháng 9)

+ Rừng trồng năm thứ 1 đến năm 2 vun xới gốc cây rộng 1m và xử lý thực bì toàn diện

+ Rừng trồng năm thứ 3 và năm thứ 4 xử lý thực bì toàn diện kết hợp với luỗng những cặp cành sát gốc đạt 1/3 chiều cao thân cây

+ Gom toàn bộ thực bì đã phát ra giữa băng trồng và rải đều đợi quá trình phân hủy

+ Vào thời điểm tháng 11-01 năm sau đốt phần vật liệu cháy còn lại như kỹ thuật đốt theo băng

Biện pháp đốt trước vật liệu cháy, hay còn gọi là đốt trước có điều kiện, là phương pháp giảm thiểu nguy cơ cháy rừng bằng cách chủ động đốt trước những vật liệu dễ cháy ở các khu vực có nguy cơ cao Hành động này thường được thực hiện trước mùa cháy và cần có sự kiểm soát chặt chẽ từ con người Để thực hiện biện pháp này hiệu quả, việc chuẩn bị kỹ lưỡng về lượng vật liệu và phương tiện dập lửa là rất quan trọng Khi tiến hành đốt trước, cần chú ý đến các yếu tố an toàn và môi trường xung quanh.

- Loại rừng dễ cháy như rừng thông thì nên sử dụng biện pháp đốt trước vật liệu cháy, chu kì đốt từng năm

- Diện tích đốt trước từ 15 đến 30% diện tích rừng trọng điểm dễ cháy

Thời gian đốt lý tưởng là vào đầu mùa khô, cụ thể là từ 7-9 giờ sáng hoặc 16-18 giờ chiều Trong khoảng thời gian này, nhiệt độ không khí giảm, giúp ngọn lửa trở nên dễ kiểm soát hơn.

Chuẩn bị tiến hành đốt trước:

Trước khi tiến hành, cần thực hiện đốt thử nghiệm vật liệu cháy để đánh giá khả năng cháy, chiều cao ngọn lửa và tốc độ lan tỏa Việc giảm chiều cao của vật liệu cháy đến mức tối thiểu là rất quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ cháy tán rừng Có thể áp dụng phương pháp đốt theo dải hoặc theo đám với khoảng cách nhất định.

Để giảm thiệt hại do cháy rừng ở khu vực dễ cháy, biện pháp đốt trước vật liệu cháy là rất cần thiết Trung bình hàng năm, khu vực này ghi nhận khoảng 5-7 vụ cháy lớn nhỏ, vì vậy việc thực hiện biện pháp này sẽ giúp hạn chế tối đa thiệt hại khi cháy rừng xảy ra.

Trước mùa khô hàng năm, Hạt kiểm lâm có trách nhiệm thực hiện vệ sinh rừng bằng cách loại bỏ vật liệu cháy ra khỏi khu vực rừng Hành động này nhằm giảm thiểu đáng kể số lượng vật liệu dễ cháy, góp phần bảo vệ môi trường và hạn chế nguy cơ cháy rừng.

Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân về phong cháy và chữa cháy

Từ những đặc điểm của VLC kết hợp với tình hình cháy rừng, kinh nghiệm và bài học trong công tác PCCC

Kết luận

Sau khi thực hiện đề tài "Nghiên cứu đặc điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng thông tại Ban quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh - Lâm Đồng", chúng tôi đã rút ra được những kết luận quan trọng về tính chất và sự phân bố của vật liệu cháy trong khu vực nghiên cứu Những phát hiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ rừng, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống cháy rừng tại địa phương.

Nguyên nhân con người (đốt nương làm rẫy, do mâu thuẫn, đốt trảng cỏ, ) gây ra nhiều vụ cháy rừng nhất và quy mô cháy rừng cũng lớn nhất

Về một số đặc trung lâm phần thì độ tàn che ảnh hưởng rõ nét nhất đến VLC dưới tán rừng

Thành phần VLC dưới tán rừng thông bao gồm nhiều loại cây bụi và cây thân leo phát triển mạnh như cỏ mỹ, cỏ tranh, và lạc tiên Độ ẩm VLC tại các vị trí khác nhau trong rừng là 34% ở sườn, 33% ở chân, và 35% ở đỉnh đồi Theo tiêu chí phân cấp nguy cơ cháy rừng, các vị trí sườn và đỉnh đồi đều có nguy cơ cháy cao.

VLC có khả năng bén lửa tại vị trí đỉnh là 3,00±0,58 giây, tại chân là 3,00±0,00 giây và tại sườn là 4,00±0,00 giây Tốc độ cháy của VLC khác nhau tùy thuộc vào nguồn gốc từ ba trạng thái rừng khác nhau, nhưng tốc độ cháy ở trạng thái rừng thông tại các vị trí chân, sườn và đỉnh không có sự khác biệt lớn Một số biện pháp điều tiết VLC đã được đề xuất cho các lâm phần rừng thông tại các vị trí khác nhau.

Tồn tại

Mặc dù đề tài đã đạt được một số kết quả nhất định dưới sự hướng dẫn của GVHD, vẫn còn tồn tại những hạn chế như: các đặc điểm và tính chất của VLC dưới tán rừng chỉ được điều tra và mô tả hiện trạng, mà chưa tiến hành nghiên cứu động thái biến đổi của VLC theo không gian và thời gian Đề tài chỉ dừng lại ở việc mô tả hiện trạng mà chưa tìm hiểu nguyên nhân và cơ chế hình thành VLC, do đó những nhận định chỉ dựa vào kinh nghiệm và quan sát thực tế cá nhân.

Các giải pháp đề xuất mới là định hướng mà chưa được thử nghiệm kiểm chứng

Kiến nghị

Sau khi thực hiện đề tài song có một có một số kiến nghị như sau:

Cần tiếp tục nghiên cứu và khắc phục những vấn đề còn tồn tại của đề tài trong thời gian tới, nhằm cung cấp những đặc tính, đặc điểm và động thái một cách đầy đủ hơn.

Tiến hành thực hiện các giải pháp và thử nghiệm trước khi đưa vào thực hiện

Ngày đăng: 06/03/2025, 17:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bế Minh Châu và Phùng Văn Khoa, (2002) “Lửa rừng” nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội, giáo trình Đại Học Lâm Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lửa rừng
Tác giả: Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa
Nhà XB: nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
2. Phó Đức Đỉnh (1997), “Biện pháp kỹthuật đốt dọn VLC trong giai đoạn chăm sóc nuôi dưỡng rừng Thông non ở Lâm Đồng”, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Biện pháp kỹthuật đốt dọn VLC trong giai đoạn chăm sóc nuôi dưỡng rừng Thông non ở Lâm Đồng”
Tác giả: Phó Đức Đỉnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
3. Đặng Anh Tuấn (2006), Nghiên cứu phân loại rừng theo nguy cơ cháy cho huyện Hoành Bồ và huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ, Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phân loại rừng theo nguy cơ cháy cho huyện Hoành Bồ và huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Đặng Anh Tuấn
Nhà XB: Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2006
4. Hoàng Ngọc Hải (2017), “Nghiên cứu đặc điểm Vật liệucháy dưới tán rừng trồng Keo tại BQL rừng phòng hộ Núi Vọng Phu –huyện M’Đrăk), Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm Vật liệucháy dưới tán rừng trồng Keo tại BQL rừng phòng hộ Núi Vọng Phu –huyện M’Đrăk)
Tác giả: Hoàng Ngọc Hải
Năm: 2017
5. Phạm Ngọc Hưng (2001) “Thiên tai khô hạn cháy rừng và giải pháp khô hạn cháy rừng ở Việt Nam” nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên tai khô hạn cháy rừng và giải pháp khô hạn cháy rừng ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Ngọc Hưng
Nhà XB: nhà xuất bản Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
6. Phạm Ngọc Hưng (1986), “Nghiên cứu đặc điểm VLC dưới tán rừng Thông ở Quảng Ninh”, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm VLC dưới tán rừng Thông ở Quảng Ninh
Tác giả: Phạm Ngọc Hưng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1986
7. Lê Văn Hương (2012) “Nghiên cứu thành phần vật liệu cháy của rừng Thông ba lá (Pinus kesyia) ở VQG Bidup – Núi bà, tỉnh Lâm Đồng”, luận văn Thạc sỹ, Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thành phần vật liệu cháy của rừng Thông ba lá (Pinus kesyia) ở VQG Bidup – Núi bà, tỉnh Lâm Đồng
Tác giả: Lê Văn Hương
Nhà XB: Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2012
8. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cục Kiểm lâm (2005), Sổ tay kỹ thuật phòng cháy chữa cháy rừng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay kỹ thuật phòng cháy chữa cháy rừng
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Cục Kiểm lâm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Bố trí ô tiêu chuẩn và ô dạng bản - Nghiên cứu Đặc Điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng thông ba lá tại bqlrph Đại ninh tại huyện Đức trọng tỉnh lâm Đồng
Hình 2.1. Bố trí ô tiêu chuẩn và ô dạng bản (Trang 19)
+ f13: hình số 1,3 (rừng trồng: 0.5) - Nghiên cứu Đặc Điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng thông ba lá tại bqlrph Đại ninh tại huyện Đức trọng tỉnh lâm Đồng
f13 hình số 1,3 (rừng trồng: 0.5) (Trang 22)
Bảng 4.1. Tình hình cháy rừng giai đoạn 2014-2019  Thời gian - Nghiên cứu Đặc Điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng thông ba lá tại bqlrph Đại ninh tại huyện Đức trọng tỉnh lâm Đồng
Bảng 4.1. Tình hình cháy rừng giai đoạn 2014-2019 Thời gian (Trang 32)
Bảng 4.2. Nguyên nhân gây cháy rừng - Nghiên cứu Đặc Điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng thông ba lá tại bqlrph Đại ninh tại huyện Đức trọng tỉnh lâm Đồng
Bảng 4.2. Nguyên nhân gây cháy rừng (Trang 34)
Bảng 4.3. Một số đặc trưng lâm phần rừng Thông - Nghiên cứu Đặc Điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng thông ba lá tại bqlrph Đại ninh tại huyện Đức trọng tỉnh lâm Đồng
Bảng 4.3. Một số đặc trưng lâm phần rừng Thông (Trang 35)
Bảng 4.4. Khối lượng VLC tươi dưới tán rừng ở các vị trí khác nhau - Nghiên cứu Đặc Điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng thông ba lá tại bqlrph Đại ninh tại huyện Đức trọng tỉnh lâm Đồng
Bảng 4.4. Khối lượng VLC tươi dưới tán rừng ở các vị trí khác nhau (Trang 37)
Bảng 4.7. Thành phần VLC khô xuất hiện dưới tán rừng thông - Nghiên cứu Đặc Điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng thông ba lá tại bqlrph Đại ninh tại huyện Đức trọng tỉnh lâm Đồng
Bảng 4.7. Thành phần VLC khô xuất hiện dưới tán rừng thông (Trang 40)
Bảng 4.8. Đặc điểm phân bố VLC theo chiều thẳng đứng - Nghiên cứu Đặc Điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng thông ba lá tại bqlrph Đại ninh tại huyện Đức trọng tỉnh lâm Đồng
Bảng 4.8. Đặc điểm phân bố VLC theo chiều thẳng đứng (Trang 41)
Bảng 4.11. Đặc điểm VLC dưới tán 3 vị trí rừng thông - Nghiên cứu Đặc Điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng thông ba lá tại bqlrph Đại ninh tại huyện Đức trọng tỉnh lâm Đồng
Bảng 4.11. Đặc điểm VLC dưới tán 3 vị trí rừng thông (Trang 44)
BẢNG ĐIỀU TRA VLC VÀ ĐỘ ẨM  khối lượng m1(chưa phơi - Nghiên cứu Đặc Điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng thông ba lá tại bqlrph Đại ninh tại huyện Đức trọng tỉnh lâm Đồng
kh ối lượng m1(chưa phơi (Trang 54)
BẢNG ĐỘ DÀY VÀ ĐỘ CHE PHỦ - Nghiên cứu Đặc Điểm vật liệu cháy dưới tán rừng trồng thông ba lá tại bqlrph Đại ninh tại huyện Đức trọng tỉnh lâm Đồng
BẢNG ĐỘ DÀY VÀ ĐỘ CHE PHỦ (Trang 56)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm