Phương pháp nghiên cứu khoa học câu hỏi ngắn và trả lời Phương pháp nghiên cứu khoa học câu hỏi ngắn và trả lời Phương pháp nghiên cứu khoa học câu hỏi ngắn và trả lời Phương pháp nghiên cứu khoa học câu hỏi ngắn và trả lời
Trang 1PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Câu 1: Trình bày chức năng của nghiên cứu khoa học, đặc điểm của hoạt động nghiêncứu khoa i học, ý nghĩa rút ra đối với hoạt động của anh chị 2
Câu 2: Trình bày các loại hình nghiên cứu khoa học và mối quan
hệ của các loại hình nghiên cứu khoa học với thực tiễn 4
Câu 3: Phân tích các phương pháp thẩm định về vấn đề nghiên cứu, kết quả của quá trình thẩm định vấn đề nghiên cứu và các phương án xử lý tương ứng 7
Câu 4: Phân tích những căn cứ để nhà khoa học lựa chọn một đề tài nghiên cứu 8
Câu 7: anh/chị trình bày những yêu cầu cơ bản của phương pháp nghiên cứu tài liệu 10
Câu 8: Trình bày phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu khoa học nêu ví dụ minh họa 13
Câu 9 Trình bày yêu cầu cơ bản của phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 16
Câu 10: Xây dựng cơ sở lý thuyết cho một đề tài nghiên cứu khoa học mà anh chị dự định thực hiện 18
Câu 11: Anh/ chị hãy trình bày các phương pháp suy luận cơ bản
để xây dựng một giả thuyết nghiên cứu cho ví dụ minh họa 22 Câu 12: Trình bày các yêu cầu cơ bản của quá trình kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu 25
Câu 13 Anh/chị hãy trình này các phương pháp nhận thức khoa học 27
Câu 14: Xây dựng cơ sở lý thuyết cho một đề tài nghiên cứu khoa học mà anh chị dự định thực hiện 29
Trang 2Câu 1: Trình bày chức năng của nghiên cứu khoa học, đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học, ý nghĩa rút ra đối với hoạt động của anh chị
Trình bày chức năng của nghiên cứu khoa học
Chức năng mô tả
Nhà khoa học thường bắt đầu công việc nghiên cứu bằng việc mô tả đóng, chính xác, khách quan những diễn biến, những biểu hiện bên ngoài của đói tượng, vấn đề nghiên cứu Bởi vì, chúng ta sẽ không thể hiểu nội dung, bản chất của sự vật nếu không bắt đầu từ việc tìm hiểu cái hình thức, cái hiện tượng của nó
- Có cùng một đối tượng quan sát, nhiều nhà khoa học đang nghiên cứu nhiều đề tài khác nhau, thì sự mô tả của các nhà khoa học đó về đối tượng quan sát có giống nhau hay không ?
- Lưu ý, trong quá trình quan sát phải đặc biệt chú ý để phát hiện xem có gì mâu thuẫn với vốn hiểu biết của chúng ta hay không ?
Chức năng giải thích
Nghiên cứu khoa học không chỉ dừng lại ở chức năng mô tả mà quan trọng hơn là nắm bắt những vấn đề, những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình mô tả, cần trả lời được những cấu hỏi vì sao ? như thế nào ? chức năng giải thích chính là làm các nhiệm vụ này
- Người nghiên cứu phải tiến hành trả lời sơ bộ về những mâu thuẫn
đã được phát hiện trong mô tả
- Giải thích về nguyên nhân xuất hiện mâu thuẫn, các yếu tố ảnh hướng đến mâu thuẫn là các yếu tố nào ?
Chức năng sáng tạo
Trên cơ sở những giải thích ban đầu người nghiên cứu tiến hành đưa
ra những nhận định khái quát nhằm bổ sung, hoàn thiện nhận thức của mình và đồng nghiệp
Đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học,
Tính hướng mới
Mọi công trình nghiên cứu khoa học đều phải tìm tòi, khám phá và đưa ra một giá trị tri thức mới nào đó.Tính mới của khoa học bao giờ còng trên hai cơ sở: Kế thừa và tổng kết thực tiễn
ý nghĩa: Với người nghiên cứu, luôn khám phá ra tri thức mới và luôn có tính hoài nghi khoa học.Với người quản lý: Tôn trọng ý tưởng mới, tạo điều kiện cho họ thẩm định và thực hiện ý tưởng đó
Tính thông tin
Trang 3Nghiên cứu khoa học suy cho cùng là một quá trình gồm ba bước: Thu thập thông tin; xử lý thông tin; đóng gói và chuyển giao thông tin.Thông tin trong nghiên cứu khoa học phải đảm bảo:
Đủ để xử lý
Mang tính khách quan trong phương pháp thu thập để xử lý
Thông tin phải trung thực Tuy nhiên, thông tin có thể trung thực nhưng không khách quan
Thông tin phải có nguồn gốc, xuất sứ rõ ràng
Với người quản lý: Phải đáp ứng đủ thông tin cho người nghiên cứu; quản lý và khai thác tốt nhất nguồn thông tin bên ngoài
Tính mạnh dạn, mạo hiểm
Vì sao nghiên cứu khoa học lại có tính này ? Vì nghiên cứu khoa học
có thể thành công và không thành công
- Bản thân hoạt động nghiên cứu khoa học có tính hướng mới nên không phải lúc nào còng thành công khi nghiên cứu
- Những rủi ro có thể có trong quá trình thu thập và xử lý thông tin
- Với người nghiên cứu cần cân nhắc kỹ sự cân đối giữ nhu cầu nghiên cứu với năng lực và trình độ chuyên môn tránh những trường hợp rủi ro sảy ra trong nghiên cứu
- Với người quản lý, sớm phát hiện nhu cầu nghiên cứu của các nhà
khoa học để thảo mãn ở mức cơ bản nhu cầu nghiên cứu
ý nghĩa rút ra đối với hoạt động của anh chị (tự phân tích)
(gợi ý: Trong bối cảnh khoa học trở thành động lực cơ bản, “sức
mạnh” và “lực lượng sản xuất trực tiếp”, quyết định sự thành công trong quá trình phát triển của dân tộc, việc nắm bắt những hiểu biết về “phương pháp luận nghiên cứu khoa học” chính là một trong những tiền đề xuất phát quan trọng nhất để phát huy tiềm năng trí tuệ Việt, để thực hiện thành công chủ trương “khoa học và giáo dục là quốc sách hàng đầu” cho mục tiêu “đi trước đón đầu”, xây dựng “xã hội văn minh, hiện đại” Vì vậy nhận thức đóng, đủ và sâu sắc các nội dung của phương pháp luận nghiên
cứu khoa học là một việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách Vì vậy đối với bản thân bộ môn phương pháp luận nghiên cứu khoa học
sẽ rút ra: thứ nhất, vai trò của tri thức khoa học trong đời sống của xã hội
và của con người hiện đại; thứ hai, ý nghĩa mang tính quyết định của phương pháp khoa học trong việc sản xuất ra tri thức khoa học; thứ ba,
phương pháp và qui trình triển khai một công trình nghiên cứu khoa học,
Hiểu rõ cách thức nghiên cứu tài liệu, phương pháp)
Trang 4Câu 2: Trình bày các loại hình nghiên cứu khoa học và mối quan
hệ của các loại hình nghiên cứu khoa học với thực tiễn
a Nghiên cứu cơ bản
- Là loại hình nghiên cứu có mục tiêu chính là sáng tạo ra các tri thức mới về bản chất đối tượng khảo sát
- Kết quả nghiên cứu của loại hình này thưêng là những phát minh, hoặc các khái niệm, phạm trù, định luật
- Đây là loại hình nghiên cứu đóng vai trò là tiền đề, điểm xuất phát cho các nghiên cứu tiếp theo
- Nghiên cứu cơ bản có hai loại hình nghiên cứu chính: Nghiên cứu
cơ bản thuần tuý và nghiên cứu cơ bản định hướng
Nghiên cứu cơ bản thuần tuý
Là nghiên cứu cơ bản tự do, nghiên cứu cơ bản chưa định hướng Mục đích nghiên cứu: Nâng cao trình độ nhận thức về bản thân sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan; Nghiên cứu tìm hiểu tầng bản chất sâu hơn của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan
Nghiên cứu cơ bản định hướng
Là những nghiên cứu cơ bản đó dự kiến trước mục đích ứng dụng Vi dụ: Các hoạt động điều tra cơ bản về tài nguyên, kinh tế, xó hội…
Nghiên cứu cơ bản định hướng phân thành hai loại: Nghiên cứu nền tàng và nghiên cứu chuyên đề
Nghiên cứu nền tảng - Background research: Là những nghiên cứu
về qui luật tổng thể của một hệ thống sự vật
Nghiên cứu chuyên đề - Thematic research: Là nghiên cứu về một
hiện tượng đặc biệt của sự vật Sản phẩm của loại hình nghiên c ứu này không chỉ là cơ sở để xây dựng hệ thống lý thuyết mới mà còn dẫn đến những ứng dụng có ý nghĩa thực tiễn
b Nghiên cứu ứng dụng
Là những nghiên cứu dựa trên các kết quả của nghiên cứu cơ bản , nhằm sáng tạo ra các giỏ trị tri thức mới về các giải pháp tác động, các nguyên lý vận dụng qui luật, các nguyên lý công nghệ, nguyên lý chế tạo sản phẩm mới
Giải pháp ở Đây được hiểu theo nghĩa rộng: Có thể giải pháp quản lý
tổ chức; Giải pháp về công nghệ;
Lưu ý: Gọi là nghiên cứu ứng dụng nhưng sản phẩm của nghiên cứu này lại chưa được ứng dụng trực tiếp vào hoạt động sản xuất vật chất của con người Để có thể ứng dụng cần phải có một loại hình nghiên cứu tiếp theo là triển khai - thực nghiệm
c Nghiên cứu triển khai thực nghiệm
Trang 5Là những nghiên cứu dựa trên kết quả nghiên cứu của loại hình nghiên cứu ứng dụng từ đó sáng tạo ra những tri thức về công nghệ mới Giải pháp kỹ thuật mới, các qui định cụ thể về phương pháp cách thức tác động mới vào đối tượng
Sản phẩm của triển khai thực nghiệm trong lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật được cấp bằng sáng chế (Invention) Bằng sáng chế được bảo hộ quyền tác giả và có sở hữu
Mặc dự là sản phẩm của loại hình nghiên cứu triển khai thực nghiệm nhưng khi đưa vào sản xuất đại trà chúng ta phải tính đến các yếu tố khác khả thi như: Yếu tố tài chính, môi trường, xó hội
Nghiên cứu triển khai – thực nghiệm lại được chia làm hai loại: nghiên cứu triển khai trong phòng và sản xuất thử (triển khai bán đại trà)
Triển khai trong phòng
Là nghiên cứu nhằm khẳng định kết quả nghiên cứu bằng việc cho ra đời bằng được sản phẩm mà chưa tính đến qui mô áp dụng ngoài thực tế
Ví dụ: Trong ngành công nghiệp, khi lai tạo một giống lúa mới người ta thưêng làm trong phòng thí nghiệm, trong nhà kính trước khi cho thực nghiệm ngoài hiện trường
Tuy nhiên, ngay cả những nghiên cứu thử nghiệm đó thành công, sản
phẩm cuối cùng của nghiên cứu đó có thể đạt tới trình độ một sáng chế, một hình mẫu công nghệ, có hai trường hợp vẫn có thể xảy ra:
Thứ nhất, kỹ thuật chưa được làm chủ, khi triển khai áp dụng trong
phạm vi rộng lại không thành công
Thứ hai, ngay cả khi thử nghiệm thành công thì vẫn không thể đi đến
áp dụng vì một nguyên nhân xó hội nào đó
Sản xuất thử
Là một dạng triển khai nhằm kiểm chứng giả thuyết về hình mẫu trên một qui mô nhát định Ví dụ: Việc triển khai trường thực nghiệm cấp 1 dạy học theo phương pháp mới trước khi cho áp dụng dạy toàn quốc
MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC LOẠI HÌNH Nghiên CỨU KHOA HỌC VÀ HOẠT ĐỘNG Nghiên CỨU KHOA HỌC VỚI HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN Lí KHOA HỌC
1 Mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu khoa học
Việc xem xét mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu khoa học là xem xét chúng nằm trong một chỉnh thể của qui trình nghiên cứu khoa học
Với cách xem xét này, giữa các loại hình có mối quan hệ biện chứng, loại hình này làm điều kiện, tiền đề cho loại hình kia được tiếp tục nghiên cứu và phát triển
Trang 62 Mối quan hệ giữa hoạt động nghiên cứu khoa học với hoạt động sản xuất và quản lý
Như đó trình bày, khi “vấn đề mới” xuất hiện, cung cấp và đòi hỏi người nghiên cứu phải bắt đầu nghiên cứu để đáp ứng nhu cầu hiểu biết và nhu cầu xó hội Câu hỏi đặt ra là, họ bắt đầu xác định loại hình nghiên cứu cho phù hợp với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Dự bắt đầu nghiên cứu từ loại hình nào, nhà khoa học còng cần đặc biệt lưu ý: Sản phẩm của nghiên cứu khoa học khi áp dụng vào thực tiễn phải là sản phẩm của loại hình nghiên cứu khoa học R - D; Khi vấn đề mới nảy sinh, bao giờ còng phải bắt đầu từ nghiên cứu F – R và vấn đề này được coi như là đơn đặt hàng với hoạt động nghiên cứu khoa học
Trang 7Câu 3: Phân tích các phương pháp thẩm định về vấn đề nghiên cứu, kết quả của quá trình thẩm định vấn đề nghiên cứu và các phương án xử lý tương ứng
1 Mục tiêu của thẩm định vấn đề nghiên cứu
Và câu hỏi nghiên cứu là tính huống mâu thuẫn giữa nhu cầu muốn nhận thức và sự hạn chế về hiểu biết, về trình độ bản thân nhà nghiên cứu
Vì vậy, sau khi có vấn đề nghiên cứu cần thẩm định lại nhằm khẳng định vấn đề nghiên cứu có tồn tại thực hay không ?
2 Các phương thức thẩm định vấn đề nghiên cứu
- Thay đổi phương thức quan sát
- Thu thập thêm tài liệu để tìm hiểu
- Tiến hành trao đổi với đồng nghiệp hoặc những người mà mình cho là có hiểu biết
- Mở rộng phạm vi quan sát nhằm thu thập thêm thông tin để khẳng định vấn đề
3 Kết quả thu được sau khi thẩm định vấn đề nghiên cứu
3.1 Không có vấn đề: Vấn đề đó đó được giới khoa học nhận thức,
người nghiên cứu thoả món với những nhận thức đó, công việc nghiên cứu trở nên không cần thiết.Vì vậy, không cần và không thể có nghiên cứu tiếp theo
3.2 Có vấn đề nghiên cứu hay tồn tại vấn đề nghiên cứu: Những
nhận thức của đồng nghiệp có thể chưa có hoặc đó có nhưng người nghiên cứu không đồng tình với các kiến giải đó có nên vẫn tiếp tục nghiên cứu
3.2.Giả vấn đề: Về bản chất, vấn đề nghiên cứu vẫn tồn tại nhưng kết
quả sơ bộ khi thẩm định vấn đề nghiên cứu cho thấy các nguyên nhân của vấn đề nằm ngoài hướng tiếp cận ban đầu Một hướng tiếp cận mới có thể được đưa ra lại nằm ngoài chuyên môn của nhà nghiên cứu Vì vậy, công việc nghiên cứu tiếp theo sẽ được thực hiện theo hai cách: Chuyển hướng nghiên cứu hay chuyển cho đồng nghiệp phù hợp chuyên môn nghiên cứu
Trang 8Câu 4: Phân tích những căn cứ để nhà khoa học lựa chọn một đề tài nghiên cứu
1 Căn cứ mục đích sáng tạo:
- thực nghiệm thăm dò và thực nghiệm kiểm chứng + Thực nghiệm thăm dò: Nhằm phát hiện, thẩm định các tình huống cần nghiên cứu hoặc xây dựng giả thuyết nghiên cứu
+ thực nghiệm kiểm chứng: tìm kiếm các luận cứ, chứng minh tính chính xác của luận cứ -> chứng minh giả thuyết
- thực nghiệm song hành và thực nghiệm đối nghịch:
+ thực nghiệm song hành: áp dụng cho các đối tượng có các đặc trưng khác nhau trong cùng một điều kiện như nhau
+ Thực nghiệm đối nghịch: áp dụng cho các đối tượng có đặc trưng giống nhau trong điều kiện đối nghịch nhau
- thực nghiệm đối chứng: Áp dụng cho 2 hay nhiều đối tượng có đặc trưng tương tự nhau Đối tượng còn lại được sử dụng để phân tích đối chứng
Thống nhất kế hoạch thực nghiệm với đội ngũ cán bộ
Phân công cộng tác viên giám sát và thu nhận các thông tin trong quá trình thực nghiệm theo đúng yêu cầu trong kế hoạch và đúng với các công
cụ, chương trình quan sát
Điều chỉnh kịp thời những sơ xuất xảy ra
+ Kết thúc thực nghiệm:
Kiểm tra lại các số liệu thực nghiệm
Viết báo cáo kết quả thực nghiệm
Tổ chức hội thảo đánh giá kết quả thực nghiệm, có sự tham gia của cộng tác viên ở cơ sở thực nghiệm
Lưu ý: Trong thời gian thực nghiệm, chỉ có nhóm nhà nghiên cứu mới được trực tiếp, toàn quyền tiến hành thực nghiệm Không hỗ trợ các phương tiện, nguồn lực cho cơ sở thực nghiệm ngoài các phương tiện + những hỗ trợ đã được tính toán trong quá trình thực nghiệm
Trang 9Câu5: Nêu tên một đề tài khoa học và xác định khách thể nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, và xác định nội dung của đề tài ấy
(Đây chính là phần mở đầu của tiểu luận mọi người làm nộp cho thầy/cô (phụ lục kèm mẫu))
Câu 6 Anh chị nêu tên một đề tài khoa học, luận cứ tính cấp thiết của đề tài, xác định mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đối tượng nghiên cứu, đối tượng khỏa sát và phân tích các điều kiện, nhân tố ảnh hưởng đến nghiên cứu của đề tài ấy
(Đây chính là phần mở đầu của tiểu luận mọi người làm nộp cho thầy/cô (phụ lục kèm mẫu))
Trang 10Câu 7: anh/chị trình bày những yêu cầu cơ bản của phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Là phương pháp thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản tài liệu đó có, thông qua các thao tác tư duy logic để rút ra những kết luận khoa học cần thiết
Mục đích của nghiên cứu tài liệu là nhằm nhận dạng sơ bộ quy luật chung của đối tượng nghiên cứu Những quy luật này đó được trình bày trong những tài liệu của các nhà nghiên cứu trước Nhà nghiên cứu có thể thu thập, tổng hợp chúng theo một trình tự logic nhất định để làm tỏi hiện những quy luật đó
Bản chất của phương pháp nghiên cứu tài liệu là nghiên cứu các tư liệu đó tích luỹ trong quá khứ, đúc kết, tìm kiếm thông tin về quy luật diễn
ra trong quá khứ, dựa trên quy luật của quá khứ để tiên đoán tương lai Thực chất là nhà nghiên cứu tiến hành nghiên cứu tìm kiếm những thông tin được rút ra từ các tài liệu đó có có ích đối với vấn đề nghiên cứu
Đối với một đề tài nghiên cứu khoa học xó hội và nhân văn, phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng phổ biến và có vị trí vai trò quan trọng trong việc tạo cơ sở lý luận cho một vấn đề nghiên cứu
Đặc trưng của nhóm phương pháp này là người nghiên cứu không có bất cứ một quan sát trực tiếp nào lên đối tượng Song phương pháp nghiên cứu tài liệu lại đòi hỏi nhà nghiên cứu phải có lý thuyết “nền”làm căn cứ xuất phát như thế giới quan, quan điểm, lập trường, các tư tưởng, các
khuynh hướng và trường phái để từ đó kế thừa và phát triển
Phương pháp thu thập và phân loại tài liệu:
a Thu thập tài liệu là bước đầu tiên nhà nghiên cứu phải thực hiện
khi bắt tay nghiên cứu một đề tài khoa học Căn cứ vào giả thuyết khoa học đưa ra, nhà nghiên cứu tiến hành xác định nguồn tài liệu, tìm kiếm và lựa chọn những tài liệu cần thiết nhằm làm sáng rõ những vấn đề lý luận
và thực tiễn, chứng minh cho giả thuyết khoa học của mình
b.Phân loại tài liệu:
Phân loại tài liệu được tiến hành sau khi thu thập tài liệu để chuẩn bị cho quá trình đọc khai thác nội dung
Phân loại tài liệu là phương pháp sắp xếp tài liệu khoa học thành hệ thống logic chặt chẽ theo từng mặt, từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề khoa học có cùng dấu hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển
Mục đích của phân loại tài liệu là làm cho tài liệu khoa học từ chỗ
có kết cấu phức tạp trong nội dung sắp xếp theo một trật tự nhất định theo mục đích sử dụng của người nghiên cứu
Trang 11Các hình thức phân loại phổ biến hiện nay là phân loại theo tên tác giả, Phân loại theo thời gian công bố, Phân loại theo hình thức công bố Ngoài ra còn nhiều cách phân loại khác mà nhà nghiên cứu có thể tuỳ theo mục đích nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu tiến hành phân loại tài liệu cho phù hợp
a Phân tích tài liệu:
Phân tích là phương pháp phân chia sự vật hiện tượng, thuộc tính hay
ra thành các yếu tố cấu thành, sau đó nghiên cứu các yếu tố đó một cách riêng rẽ
Phân tích tài liệu là phương pháp nghiên cứu tài liệu về một chủ đề bằng cách tách chúng thành từng bộ phận, từng mặt theo lịch sử thời gian
để hiểu chúng một cách đầy đủ toàn diện Tìm những thông tin quan trọng phục vụ vấn đề nghiên cứu
Phân tích tài liệu nhằm xác định độ tin cậy, tính khách quan, tính cập nhật của tài liệu, giới hạn và phạm vi của vấn đề mà tài liệu đề cập đến Mục đích của việc phân tích tài liệu là thông qua phân tích hình thức và nội dung tài liệu, người nghiên cứu xác định tính hữu ích của tài liệu và phạm vi kế thừa nội dung tài tài liệu đối với đề tài.Thông qua việc phân tích hình thức tài liệu, xác định nguồn tài liệu, tác giả tài liệu, thời gian và bối cảnh công bố tài liệu, hình thức công bố tài liệu Trên cơ sở phân tích tài liệu, nhà nghiên cứu xác định mức độ phải xử lý tài liệu theo mục tiêu
và nhiệm vụ nghiên cứu của mình
b Tổng hợp tài liệu:
Tổng hợp là xác định những cỏi chung, các quy luật liên hệ, tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành…kết hợp chúng với nhau thành một chỉnh thể cố kết Tổng hợp bao giờ còng được thực hiện trên cơ sở phân tích
Tổng hợp tài liệu là phương pháp liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin từ các tài liệu đó thu thập được nhằm tạo ra một cạch hiểu mới đầy đủ và sâu sắc về chủ đề nghiên cứu Tổng hợp tài liệu được thực hiện trên nhiều tài liệu phong phỳ về đối tượng Tổng hợp tài liệu cho nhà nghiên cứu những thông tin toàn diện và khái quát hơn về vấn đề nghiên cứu dựa trên những tài liệu đó có Tổng hợp tài liệu là thao tác thực hiện dựa trên các kết quả phân tích tài liệu
Phương pháp đọc và ghi chộp tài liệu
Đọc và ghi chộp tài liệu là một công đoạn trong phương pháp nghiên cứu tài liệu Cách thức đọc và ghi chộp tài liệu nói lên rằng: nhà nghiên cứu sẽ sử dụng, tiếp thu, chế biến ghi nhớ thông tin của tài liệu đó như thế nào
Trang 124 Phương pháp thực hiện tóm tắt khoa học
Tóm tắt khoa học thưêng được thực hiện sau khi nhà nghiên cứu tiến hành đọc và ghi chộp tài liệu Bản tóm tắt thực hiện trên cơ sở các kết quả thu được của việc đọc và ghi chộp tài liệu
Mục đích của việc thực hiện tóm tắt khoa học đối với tài liệu là nhằm loại bỏ những thông tin không cần thiết trong những tài liệu đó thu thập được, cụ đọng và làm bật lên nội dung của tài liệu mà thích ứng và cần thiết với vấn đề nghiên cứu Đây còng là công việc xử lý thông tin cần thiết, tích luỹ tri thức cho nhà nghiên cứu
Tuỳ theo nội dung vấn đề nghiên cứu, tuỳ theo nội dung thông tin trong từng tài liệu mà nhà nghiên cứu có thể tiến hành tóm tắt tài liệu theo từng mức độ khác nhau: về độ dài, mức độ chi tiết, có đánh giá, phê phán hay không, tóm tắt toàn bộ tài liệu hay từng phần tài liệu
- Tóm tắt lược thuật là văn bản do nhà nghiên cứu thực hiện nhằm
ghi chộp lại một cách trung thực, cụ đọng thông tin về các kết quả nghiên cứu của một hay một nhóm tài liệu đó được phân loại có liên quan trực tiếp đến mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện của một đề tài nghiên cứu
Bản lược thuật là văn bản đúc kết một cách cụ đọng nội dung của tài liệu Trong đó phải nêu bật được Nội dung chủ đề của tài liệu, Thời gian, bối cảnh, địa điểm của sự việc, sự kiện, Các phương pháp được tác giả tài liệu sử dụng, những kết luận và triển vọng của những vấn đề tác giả tài liệu nêu lên
Bản lược thuật đạt trình độ khách quan, khoa học làm căn cứ tin cậy của đề tài khi được thực hiện theo tiêu chuẩn sau: Vấn đề mà tài liệu nêu lên phải được lược thuật đầy đủ theo trình tự thời gian, đảm bảo tính lịch
sử, tính logic Tránh lược thuật các vấn đề bằng cách tách rời, cụ lập vấn
đề đó khái bối cảnh tồn tại của nó Bản lược thuật tài liệu cần ngắn gọn súc tích về nội dung, đảm bảo tính chính xác của các thuật ngữ mà tài liệu trình bày
Trang 13Câu 8: Trình bày phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu khoa học nêu ví dụ minh họa
Thực nghiệm là những nghiên cứu dựa trên một phần đối tượng thực hoặc sự mô phỏng các quá trình thực trong qui mô lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn quá trình thực được mô phỏng
Thực nghiệm còng là để quan sát nhưng lại quan sát trên một hiện trường giả, hoặc còng được mô phỏng với một quá trình gần sát với quá trình diễn ra trong thực tế
Trong nghiên cứu, bao giờ người nghiên cứu còng phải làm hai lần thực nghiệm: Lần một, thực nghiệm để tìm ra bản chất của sự vật, hiện tượng để xây dựng giả thuyết nghiên cứu Lần hai, thực nghiệm để kiểm chứng tính đúng đắn, khoa học của giải thuyết nghiên cứu
Dựa vào phương thức và nội dung thực nghiệm, các phương pháp thực nghiệm được phân biệt khác nhau
1 Phân loại theo mục đích thực nghiệm:
1.1 Thực nghiệm thăm dò:
Là những thực nghiệm nhằm phát hiện vấn đề, củng cố vấn đề, thẩm định vấn đề, hình thành và củng cố giả thuyết
1.2 Thực nghiệm kiểm chứng:
Là phương pháp thực nghiệm nhằm mục đích tìm ra các luận cứ
và chứng minh tính chính xác của các luận cứ
1.3 Thực nghiệm song hành:
Là phương pháp thực nghiệm được tiến hành với hai đối tượng khác nhau nhưng có cùng một điều kiện thực nghiệm được khống chế như nhau nhằm rút ra kết luận về ảnh hưởng của thực nghiệm trên các đối tượng khác nhau
1.4 Thực nghiệm đối nghịch:
Là phương pháp thực nghiệm trên hai đối tượng như nhau nhưng với hai điều kiện thực nghiệm khác nhau về thông số tác động nhằm quan sát ảnh hưởng của các phương thức tác động của các điều kiện thí nghiệm trên
1.5 Thực nghiệm đối chứng:
Là phương pháp thực nghiệm được tiến hành đối với một trong hai đối tượng giống nhau, đối tượng còn lại được chọn làm đối chứng
2 Căn cứ theo diễn trình thời gian thực nghiệm:
Tuỳ theo tính chất và đặc điểm của đối tượng được thực nghiệm, người nghiên cứu có thể lựa chọn phương pháp, địa điểm thực nghiệm trong một số đơn vị thời gian nhất định Có thể chi làm ba loại thực nghiệm theo diễn trình thời gian
2.1 Thực nghiệm cấp diễn (thời gian thực nghiệm ngắn):
Trang 14Là phương pháp thực nghiệm với một thời gian ngắn để xác định sự tác dụng của các giải pháp tác động hoặc ảnh hưởng của các tác nhân lên đối tượng nghiên cứu trong một thời gian ngắn
2.2 Thực nghiệm trường diễn:
Là phương pháp thực nghiệm với một thời gian lâu dài, liên tục để xác định sự tác dụng của các giải pháp tác động hoặc ảnh hưởng của các tác nhân lên đối tượng nghiên cứu trong một thời gian dài
2.3 Thực nghiệm bán cấp diễn:
Là phương pháp thực nghiệm nằm trung gian giữa thực nghiệm cấp diễn và thực nghiệm trường diễn
3 Căn cứ vào địa điểm thực nghiệm:
Người nghiên cứu có thể thực nghiệm trên ba địa điểm chủ yếu sau Đây:
3.1 Thực hiện phương pháp thực nghiệm trong quần thể xó hội:
Thực nghiệm này được tiến hành trong một cộng đồng người với tất cả những điều kiện sống của họ Để thực nghiệm, người nghiên cứu thay đổi những điều kiện sinh hoạt của họ, tác động vào đó những yếu
tố cần được kiểm chứng trong nghiên cứu
Phương pháp thực nghiệm này chủ yếu được sử dụng trong khoa học
xó hội, y học và khoa học quản lý
3.2 Phương pháp thực nghiệm tại hiện trường:
Phương pháp này được thực nghiệm trong một môi trường thực Tại môi trường thực nghiệm này, người nghiên cứu được tiếp cận mọi tham số và những điều kiện hoàn toàn thực nhưng lại bị hạn chế về khả năng khống chế các tham số và các điều kiện tham dự vào quá trình nghiên cứu
3.3 Phương pháp thực nghiệm trong phòng thí nghiệm:
Đây là môi trường nghiên cứu mà người nghiên cứu được hoàn toàn chủ động tạo dựng mô hình nghiên cứu và khống chế các thông số nhưng người nghiên cứu sẽ không thể tạo ra được đầy đủ những yếu tố của môi trường thực
4 Căn cứ vào mô hình thực nghiệm:
Trang 15pháp này cho phép người nghiên cứu tiến hành nghiên cứu trên những mô hình lớn hơn, nhỏ hơn hoặc bằng đối tượng nghiên cứu thực
Mô hình hóa là phương pháp xây dựng và nghiên cứu khách thể trên các mô hình của nó Thực chất của phương pháp này là tỏI tạo các thuộc tính và các quan hệ của các khách thể nhận thức trên mô hình của nó, nhờ qua nghiên cứu mô hình sẽ thu được những thông tin về khách thể
Cơ sở của phương pháp mô hình hóa là sự tương tự giữa khách thể
nhận thức và mô hình của nó
Nhiệm vụ của mô hình hóa là: tìm ra sự tương tự, phù hợp khách
quan giữa mô hình và khách thể nhận thức về mặt cấu trúc, thuộc tính, chức năng và các qui luật hoạt động
4.2 Phân loại các phương pháp mô hình hóa
Tổng thể có hai loại mô hình chính: Mô hình vật chất và mô hình tư tưởng tưởng Mô hình vật chất trong thực nghiệm có thể triển khai trên nhiều loại mô hình: Mô hình kinh tế – xó hội; mô hình vật lý; mô hình sinh học, mô hình toán học…
Ví dụ: Mô hình vật lý làm mô hình con tàu thu nhỏ Mô hình tư tưởng không tỏi tạo những kết cấu tự nhiên của khách thể nghiên cứu mà chỉ phản ánh những khách thể trong kết cấu tư tưởng, sơ đồ lý thuyết Nó được sử dụng rộng rói trong các khoa học lý thuyết
Căn cứ vào tính chất của mô hình thực nghiệm, người ta có thể chia ra: Mô hình thực tiễn, mô hình lý thuyết; mô hình ảo…
4.3 Nguyên tắc khi thực nghiệm mô hình:
- Khi xây dựng mô hình phải đảm bảo những nguyên tắc về tính tương ứng, trước hết là tính tương ứng về cấu trúc, thuộc tính, chức năng, cơ chế vận hành
- Xây dựng mô hình thực nghiệm cần tuân thủ nguyên tắc đẳng cấu: Tức là cần có sự tương ứng giữa mô hình và thực tế, mỗi một biến đổi trong thực tế cần tương ứng với mối liên hệ và biến đổi trong mô hình và ngược lại Tuy nhiên, nguyên tắc này còng chỉ mang tính tương đối
Trang 16Câu 9 Trình bày yêu cầu cơ bản của phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi vốn là một phương pháp của khoa học xó hội học nhưng được áp dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực
Về mặt kỹ thuật phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi có ba loại công việc chủ yếu:
- Giai đoạn chuẩn bị điều tra
- Giai đoạn điều tra
- Xử lý kết quả điều tra
a Giai đoạn chuẩn bị điều tra: Bao gồm việc chọn mẫu, xác định
số lượng mẫu cần khảo sát, thiết kế bảng hỏi Trong trường hợp cần huy động nhiều điều tra viên thì cần tổ chức tập huấn cán bộ đIều tra
- Yêu cầu của việc chọn mẫu: Việc chọn mẫu phải đảm bảo vừa
mang tính ngẫu nhiên và vừa mang tính đại diện, tránh sa vào ý kiến chủ quan của người nghiên cứu Có một số cách chọn mẫu như:
+ Lấy mẫu ngẫu nhiên (Random sampling): là quá trình chọn mẫu sao cho mỗi đơn vị mẫu trong cấu trúc có một cơ hội hiện diện trong mẫu bằng nhau
Kỹ thuật này dễ làm, đơn giản nhưng sự biến thiên của đối tượng nghiên cứu rời rạc, những đơn vị chọn lấy mẫu có thể rải đều trên một địa bàn rộng, do vậy quá trình lấy số liệu sẽ gặp nhiều khoa khăn
+ Lấy mẫu hệ thống (Systematic random sampling): một đối tượng nghiên cứu gồm nhiều đơn vị được đánh số thứ tự Chọn một đơn
vị ngẫu nhiên có số thứ tự bất kỳ, lấy một số bất kỳ làm khoảng cách mẫu, cộng vào số thứ tự của mẫu đầu tiên Ví dụ: Trong một địa bàn khảo sát là một phố, người nghiên cứu lấy số thứ tự bất kỳ của đơn vị phố đó là 10, sau đó cộng với một số tự nhiên bất kỳ là 4 Như vậy cứ cách 4 nhà thì điều tra viên phát phiếu khảo sát một nhà
Ngoài hai lọai lấy mẫu chủ yếu này còn có lấy mẫu tự nhiên phân tầng, lấy mẫu hệ thống phân tầng, lấy mẫu theo cụm
- Thiết kế bảng hỏi: Có hai nội dung cần quan tâm trong khi người
nghiên cứu thiết kế bảng hỏi là: Các loại câu hỏi và trật tự logic giữa các câu hỏi đó
+ Các loại câu hỏi:
Yêu cầu: Các loại câu hỏi cần phải đảm bảo khia thác cao nhất ý kiến
của cỏ nhân từng người được hỏi Phương án tốt nhất là đặt các câu hỏi cụ thể, gần gũi với cỏ nhân mỗi người, tránh những câu hỏi trõu tượng, có tính khái quát cao
Thông thưêng có 4 loại câu hỏi: