1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỐI CHIẾU ĐẶC TRƢNG NGÔN NGỮ CÁC BIỂU NGỮ MIÊU TẢ VẺ ĐẸP VỀ VÓC DÁNG NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

104 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đối Chiếu Đặc Trưng Ngôn Ngữ Các Biểu Ngữ Miêu Tả Vẻ Đẹp Về Vóc Dáng Người Phụ Nữ Trong Truyện Ngắn Tiếng Việt Và Tiếng Anh
Tác giả Hồ Thị Kim Ngân
Người hướng dẫn TS. Trần Quang Hải
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học So Sánh Đối Chiếu
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2024
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2,45 MB
File đính kèm LUẬN vĂn hỒ thỊ kim ngÂn k44 ssdc.zip (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. MỞ ĐẦU (11)
    • 1.1. Lí do chọn đề tài (11)
    • 1.2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu (14)
      • 1.2.1. Mục đích (14)
      • 1.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu (14)
    • 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (0)
    • 1.4. Câu hỏi nghiên cứu (15)
    • 1.5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu (15)
    • 1.6. Bố cục của đề tài (16)
  • Chương 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN (16)
    • 2.1. Tổng quan nghiên cứu (17)
      • 2.1.1. Tổng quan nghiên cứu trong nước (17)
      • 2.1.2. Tổng quan nghiên cứu ở nước ngoài (19)
    • 2.2. Cơ sở lý luận (20)
      • 2.2.1. Từ (21)
        • 2.2.1.1. Khái niệm về từ (21)
        • 2.2.1.2. Cấu tạo từ (23)
        • 2.2.1.3. Từ xét về nghĩa (25)
      • 2.2.2. Ngữ (26)
        • 2.2.2.1. Khái niệm về ngữ (26)
        • 2.2.2.2. Chức năng và đặc điểm của ngữ (29)
        • 2.2.2.3. Phân loại ngữ (29)
      • 2.2.3. Đặc điểm lớp từ tiếng Việt (29)
      • 2.2.4. Câu (32)
        • 2.2.4.1. Khái niệm về câu (32)
        • 2.2.4.2. Các phương diện sử dụng câu (34)
      • 2.2.5. Quan điểm về vẻ đẹp (36)
      • 2.2.6. Quan điểm về vóc dáng người phụ nữ (38)
    • 2.3. Tiểu kết (38)
  • Chương 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (17)
    • 3.1. Phương pháp luận nghiên cứu (39)
      • 3.1.1. Phương pháp miêu tả (39)
      • 3.1.2. Phương pháp thống kê (39)
      • 3.1.3. Phương pháp phân tích – tổng hợp (39)
      • 3.1.4. Phương pháp so sánh - đối chiếu (39)
    • 3.2. Đối tượng khảo sát (0)
    • 3.3. Xác định mẫu, cách chọn mẫu (40)
    • 3.4. Thu thập dữ liệu (40)
    • 3.5. Phân tích dữ liệu (40)
    • 3.6. Tiểu kết (40)
  • Chương 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN (39)
    • 4.1. Vẻ đẹp toàn thể (vẻ đẹp ngoại hình) (42)
      • 4.1.1. Vẻ đẹp ngoại hình của phụ nữ Việt (42)
      • 4.1.2. Vẻ đẹp ngoại hình của phụ nữ Anh (45)
      • 4.1.3. Điểm tương đồng trong việc sử dụng các biểu ngữ miêu tả vẻ đẹp ngoại hình của phụ nữ Việt và Anh (49)
      • 4.1.4. Điểm dị biệt trong việc sử dụng các biểu ngữ miêu tả vẻ đẹp ngoại hình của phụ nữ Việt và Anh (49)
    • 4.2. Vẻ đẹp bộ phận (50)
      • 4.2.1. Khuôn mặt đẹp (50)
        • 4.2.1.1. Khuôn mặt đẹp của phụ nữ Việt (50)
        • 4.2.1.2. Khuôn mặt đẹp của người phụ nữ Anh (51)
        • 4.2.1.4. Điểm dị biệt trong việc sử dụng các biểu ngữ miêu tả khuôn mặt đẹp của phụ nữ Việt và Anh (53)
      • 4.2.2. Tóc đẹp (54)
        • 4.2.2.1. Tóc đẹp của phụ nữ Việt (54)
        • 4.2.2.2. Tóc đẹp của phụ nữ Anh (56)
        • 4.2.2.3. Điểm tương đồng trong việc sử dụng các biểu ngữ miêu tả tóc đẹp của phụ nữ Việt và Anh (58)
        • 4.2.2.4. Điểm dị biệt trong việc sử dụng các biểu ngữ miêu tả tóc đẹp của phụ nữ Việt và Anh (58)
      • 4.2.3. Dáng người đẹp (59)
        • 4.2.3.1. Dáng người đẹp của phụ nữ Việt (59)
        • 4.2.3.2. Dáng người đẹp của phụ nữ Anh (61)
        • 4.2.3.3. Điểm tương đồng trong việc sử dụng các biểu ngữ miêu tả dáng người đẹp của phụ nữ Việt và Anh (63)
        • 4.2.3.4. Điểm dị biệt trong việc sử dụng các biểu ngữ miêu tả dáng người đẹp của phụ nữ Việt và Anh (64)
      • 4.2.4. Mắt đẹp (64)
        • 4.2.4.1. Mắt đẹp của phụ nữ Việt (64)
        • 4.2.4.2. Mắt đẹp của phụ nữ Anh (66)
        • 4.2.4.3. Điểm tương đồng trong việc sử dụng các biểu ngữ miêu tả đôi mắt đẹp của phụ nữ Việt và Anh (70)
        • 4.2.4.4. Điểm dị biệt trong việc sử dụng các biểu ngữ miêu tả đôi mắt đẹp của phụ nữ Việt và Anh (71)
      • 4.2.5. Miệng và nụ cười đẹp (71)
        • 4.2.5.1. Miệng và nụ cười đẹp của phụ nữ Việt (71)
        • 4.2.5.2. Miệng và nụ cười đẹp của phụ nữ Anh (72)
      • 4.2.6. Làn da đẹp (74)
        • 4.2.6.1. Làn da đẹp của phụ nữ Việt (74)
        • 4.2.6.2. Làn da đẹp của phụ nữ Anh (75)
        • 4.2.6.3. Điểm tương đồng trong việc sử dụng các biểu ngữ miêu tả làn da đẹp của phụ nữ Việt và Anh (78)
        • 4.2.6.4. Điểm dị biệt trong việc sử dụng các biểu ngữ miêu tả làn da đẹp của phụ nữ Việt và Anh (78)
      • 4.2.7. Cổ đẹp (78)
        • 4.2.7.1. Cổ đẹp của phụ nữ Việt (78)
        • 4.2.7.2. Cổ đẹp của phụ nữ Anh (79)
        • 4.2.7.3. Điểm tương đồng trong việc sử dụng các biểu ngữ miêu tả cổ đẹp của phụ nữ Việt và Anh (79)
      • 4.2.8. Tay chân đẹp (79)
        • 4.2.8.1. Tay chân đẹp của phụ nữ Việt (79)
        • 4.2.8.2. Tay chân đẹp của phụ nữ Anh (81)
        • 4.2.8.3. Điểm tương đồng trong việc sử dụng các biểu ngữ miêu tả tay chân đẹp của phụ nữ Việt và Anh (82)
    • 4.3. Tiểu kết chương 4 (83)
  • Chương 5. KẾT LUẬN ........................................................................................... 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO (42)
  • PHỤ LỤC (93)

Nội dung

Vẻ đẹp vóc dáng của người phụ nữ luôn là nguồn cảm hứng bất tận trong nghệ thuật và văn hóa. Từ thời xa xưa, những hình tượng người phụ nữ đã được tôn vinh qua các tác phẩm điêu khắc, hội họa và văn chương. Vóc dáng thon thả, uyển chuyển với những đường cong mềm mại không chỉ thể hiện vẻ đẹp tự nhiên mà còn phản ánh sự khỏe mạnh và năng động. Chiếc eo thon gọn, đôi chân dài và đôi vai thanh mảnh tạo nên một sự cân đối hài hòa, toát lên sự duyên dáng và nữ tính. Bên cạnh đó, làn da mịn màng, sáng bóng cũng góp phần làm nổi bật thêm nét quyến rũ và tươi trẻ. Mỗi người phụ nữ đều mang trong mình một vẻ đẹp riêng biệt, không ai giống ai, điều này làm nên sự đa dạng và phong phú trong vẻ đẹp nữ giới. Liệu rằng tiêu chuẩn đánh giá vẻ đẹp vóc dáng phụ nữ của người phương Đông, đại diện là người Việt Nam, có khác gì so với quan điểm đánh giá vẻ đẹp phụ nữ của người phương Tây, đại diện là người Anh hay không. Việc nghiên cứu đề tài “đối chiếu đặc trưng ngôn ngữ các biểu ngữ miêu tả vẻ đẹp về vóc dáng người phụ nữ trong truyện ngắn tiếng Việt và tiếng Anh” được thực hiện với mục đích chính là để giải đáp vướng mắc nêu trên. Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, dữ liệu để chúng tôi tiến hành phân tích luôn đảm bảo tính hợp lệ. Hơn nữa, độ tin cậy của các mẫu chủ yếu được lấy từ các nguồn sách của các nhà ngôn ngữ học uy tín tại Việt Nam. Các ví dụ trích dẫn từ các truyện ngắn và một số tiểu thuyết của các nhà văn Việt Nam và nhà văn nước Anh dựa theo nhiều nguồn khác nhau: bản sách in giấy, bản ebooks hoặc các trang web uy tín phù hợp với nội dung nghiên cứu. Thông qua việc áp dụng phương pháp định tính, chúng tôi tiến hành phân tích, thống kê và mô tả các mẫu khác nhau để tìm ra các đặc trưng ngôn ngữ các biểu ngữ miêu tả vẻ đẹp về vóc dáng người phụ nữ trong truyện ngắn tiếng Việt và tiếng Anh. Với kết quả tìm được, chúng tôi hi vọng sẽ cung cấp một số thông tin kiến thức hữu dụng giúp người đọc tham khảo và áp dụng hiệu quả, linh hoạt khi sử dụng biểu ngữ để miêu tả vẻ đẹp vóc dáng người phụ nữ trong từng tình huống, ngữ cảnh khác nhau.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tổng quan nghiên cứu

2.1.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước

Vẻ đẹp vóc dáng phụ nữ luôn là chủ đề thu hút sự quan tâm và bàn luận từ xưa đến nay, đặc biệt tại Việt Nam Nhiều công trình nghiên cứu, bao gồm luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ, đã được thực hiện liên quan đến vấn đề này Bên cạnh đó, nhiều bài viết trên các tạp chí và báo chí cũng đề cập đến vẻ đẹp và ý nghĩa của vóc dáng phụ nữ.

Luận văn Thạc sĩ của Lê Thị Thanh Tùng (2011) mang tên “Nghiên cứu thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt miêu tả vẻ ngoài của con người” đã khám phá và phân tích các thành ngữ trong cả hai ngôn ngữ Tác giả đã chỉ ra các đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của những thành ngữ này, góp phần làm rõ cách mà ngôn ngữ phản ánh sự mô tả về ngoại hình con người.

In her 2013 master's thesis, Nguyễn Thái Mỹ Iên conducted a study on the linguistic features of adjectives that describe women's characteristics in English and Vietnamese The research highlights the syntactic, semantic, and contextual aspects of these adjectives, revealing both similarities and differences between the two languages This comparative analysis provides valuable insights into how women's traits are linguistically represented in English and Vietnamese.

Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Vũ (2008) mang tên “Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận” đã hệ thống hóa các đặc trưng văn hóa ngữ nghĩa của thành ngữ liên quan đến bộ phận cơ thể trong tiếng Việt và tiếng Anh Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các ẩn dụ và hoán dụ ý niệm, từ đó làm nổi bật sự khác biệt và tương đồng trong cách sử dụng thành ngữ giữa hai ngôn ngữ.

Luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Mỹ Yến (2015) với đề tài “Đối chiếu chuyển dịch Việt-Anh thành ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể người để biểu đạt thái độ, tình cảm” đã phân tích các thành ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể người thể hiện thái độ và tình cảm Tác giả đã so sánh và chuyển dịch những thành ngữ này sang tiếng Anh, nêu rõ sự tương đồng và khác biệt trong ngữ nghĩa giữa hai ngôn ngữ.

“Ẩn dụ ý niệm về vẻ đẹp ngoại hình của con người trong tiếng Việt”, tác giả Lê

Lâm Thi (2017) đã phân tích sâu sắc về sự chiếu xạ trong các ẩn dụ ý niệm, từ những miền nguồn khác nhau đến miền đích là vẻ đẹp ngoại hình của con người Bài viết này cung cấp cái nhìn toàn diện về cách mà các ẩn dụ hình thành và ảnh hưởng đến cách chúng ta cảm nhận vẻ đẹp.

Bài viết “Nét đẹp của người phụ nữ xưa và nay thay đổi ra sao!?” của tác giả Yến

Theo Trần (2017), quan niệm về vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam đã có sự biến đổi lớn và khác biệt qua từng giai đoạn.

Bài viết "Nét đẹp phụ nữ xưa và nay" của tác giả Giang Nam (2021) khám phá sự thay đổi trong quan niệm về vẻ đẹp phụ nữ Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử Tác phẩm mang đến cái nhìn tổng quan về sự biến đổi này, giúp độc giả hiểu rõ hơn về văn hóa và xã hội Việt Nam trong từng thời kỳ.

Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào hệ thống hóa việc tìm hiểu các biểu ngữ miêu tả vẻ đẹp vóc dáng phụ nữ trong truyện ngắn tiếng Việt và tiếng Anh Tác giả Lê Thị Thanh Tùng chỉ phân tích ngữ pháp và ngữ nghĩa của các thành ngữ mô tả ngoại hình con người Nguyễn Thái Mỹ Iên tập trung vào cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ cảnh của tính từ mô tả phụ nữ Nguyễn Ngọc Vũ phân tích các thành ngữ chỉ bộ phận cơ thể qua ẩn dụ và hoán dụ Phạm Thị Mỹ Yến nghiên cứu các thành ngữ có yếu tố bộ phận cơ thể thể hiện thái độ tình cảm Lê Lâm Thi chỉ nghiên cứu vẻ đẹp ngoại hình trong tiếng Việt mà không so sánh với tiếng Anh Hai tác giả Yến Trần và Giang Nam đề cập đến sự thay đổi tiêu chuẩn về vẻ đẹp qua các giai đoạn thời gian.

2.1.2 Tổng quan nghiên cứu ở nước ngoài

Trên thế giới, chủ đề “vẻ đẹp vóc dáng người phụ nữ” cũng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

Cuốn sách "Lịch sử vẻ đẹp con người" của Arthur Marwick (2004) khám phá khái niệm về cái đẹp qua các thời kỳ lịch sử Marwick phân tích cách mà các nền văn hóa và xã hội khác nhau đã xác định và cảm nhận vẻ đẹp, từ nền văn minh cổ đại cho đến thời hiện đại Cuốn sách cũng xem xét nhiều yếu tố tác động đến tiêu chuẩn sắc đẹp, bao gồm nghệ thuật, thời trang, chính trị và những thay đổi xã hội.

Trong bài viết "Bí ẩn của vẻ đẹp," Cathy Newman (2000) đã phân tích những khía cạnh phức tạp của khái niệm vẻ đẹp và cách mà các nền văn hóa khác nhau cảm nhận về nó Tác giả cũng bàn luận về sự biến đổi của các tiêu chuẩn vẻ đẹp trên toàn cầu và ảnh hưởng của chúng đến cá nhân, đặc biệt là phụ nữ Qua đó, Newman nêu bật sự phức tạp và đa chiều của cái đẹp trong xã hội hiện đại.

Cuốn sách "The Atlas of Beauty" của Mihaela Noroc (2017) giới thiệu chân dung của 500 phụ nữ từ hơn 50 quốc gia, thể hiện sự đa dạng về vẻ đẹp trong các nền văn hóa khác nhau Mỗi bức chân dung đi kèm với những câu chuyện cá nhân, tạo nên bối cảnh phong phú cho những hình ảnh Tác phẩm này mang đến một cái nhìn mới về cuộc sống của phụ nữ trên toàn cầu và tôn vinh sự đa dạng của vẻ đẹp nữ giới xung quanh chúng ta.

Bài viết của Amber Petty (2021) mang tên "Những kiểu cơ thể 'Hoàn hảo' của phụ nữ đã thay đổi như thế nào trong suốt lịch sử" khám phá sự biến đổi của tiêu chuẩn vẻ đẹp nữ giới qua các thời kỳ Petty chỉ ra rằng mỗi thời đại và nền văn hóa đã định hình những tiêu chuẩn cơ thể riêng, từ thân hình đầy đặn của thời Phục Hưng, vóc dáng mảnh mai của thập niên 1920 đến cơ bắp săn chắc của phụ nữ hiện đại Bài viết nhấn mạnh sự thay đổi liên tục trong quan niệm về cái đẹp, phản ánh các giá trị và bối cảnh xã hội của từng thời kỳ.

Bài viết "Phụ nữ và sắc đẹp trong các vở kịch của Noordin Hassan" của tác giả Rohani Md (2013) phân tích cách Noordin Hassan khắc họa hình ảnh phụ nữ và cái đẹp trong các tác phẩm của mình Tác giả chỉ ra rằng Hassan thường sử dụng nhân vật nữ để phản ánh các giá trị văn hóa và tôn giáo trong xã hội Malaysia Bài viết cũng xem xét các quan niệm về cái đẹp và vai trò của phụ nữ, từ đó làm nổi bật sự phức tạp và đa chiều của chủ đề này trong các vở kịch của Hassan.

Bài viết "Nghệ thuật làm đẹp: Ngoại hình phụ nữ trong thế kỷ 19" của tiến sĩ Michelle J Smith (2016) nghiên cứu những quan niệm về vẻ đẹp nữ giới trong thế kỷ 19, phân tích ảnh hưởng của các tiêu chuẩn thẩm mỹ đến quan điểm và hành vi của phụ nữ Tác giả nhấn mạnh rằng các tiêu chuẩn này không chỉ tập trung vào vẻ đẹp ngoại hình mà còn liên quan đến các phẩm chất đạo đức và xã hội Việc tuân thủ các chuẩn mực về cái đẹp đã trở thành một phần quan trọng trong vai trò và địa vị của phụ nữ trong xã hội thời kỳ này.

Cơ sở lý luận

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, người nghiên cứu đã nghiên cứu cơ sở lý luận, bao gồm các kiến thức lý thuyết cơ bản liên quan đến nội dung chính của đề tài Đồng thời, người nghiên cứu cũng đã tìm hiểu và chọn lọc những quan điểm tiêu biểu từ các nhà ngôn ngữ học uy tín trong và ngoài nước.

Từ là khái niệm cơ bản trong ngôn ngữ học, dùng để chỉ tên sự vật và hiện tượng trong đời sống, đồng thời mang các thuộc tính về ngữ âm, ngữ nghĩa, và ngữ pháp Đến nay, đã có hơn 300 định nghĩa khác nhau về từ, với mỗi nghiên cứu nhấn mạnh một khía cạnh riêng tùy theo mục đích nghiên cứu.

Trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, Mai Ngọc Chừ (1997) định nghĩa từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có cấu trúc âm thanh bền vững và có chức năng gọi tên, có thể sử dụng độc lập trong câu Nguyễn Như Ý (1998) trong “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học” đã nêu ra 36 quan niệm về từ và từ tiếng Việt, cho thấy rằng mặc dù các định nghĩa đều có giá trị, nhưng vẫn chưa đầy đủ.

Nguyễn Văn Tu (1978: 155) định nghĩa từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất và độc lập, mang hình thức vật chất thông qua vỏ âm thanh Từ không chỉ có nghĩa mà còn thể hiện tính chất biện chứng và lịch sử trong ngữ nghĩa của nó.

Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có khả năng hoạt động độc lập và mang đầy đủ ngữ âm, ý nghĩa, cũng như chức năng ngữ pháp.

- Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (1997: 334) chủ biên lại đưa ra khái niệm:

Từ là đơn vị ngôn ngữ cơ bản, đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp và tư duy Nó có hai mặt: mặt hình thức và mặt ý nghĩa Mặt hình thức bao gồm các thành phần như ngữ âm (hay còn gọi là ngoại biểu), cấu tạo (cấu trúc của từ) và ngữ pháp.

Từ có những đặc điểm nổi bật như sau: nó được định nghĩa qua nhiều quan điểm của các nhà ngôn ngữ học, cho thấy sự đa dạng và phong phú trong cách hiểu về từ.

Từ là đơn vị ngôn ngữ cơ bản, có nghĩa hoàn chỉnh và cấu trúc ổn định, được sử dụng để tạo câu Nó không chỉ là tên gọi cho sự vật, hoạt động, trạng thái và tính chất mà còn là công cụ biểu đạt khái niệm của con người về thực tại Từ cũng là đối tượng nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực như cấu tạo từ, hình thái học, cú pháp học, ngữ âm học và phong cách học, phản ánh cội nguồn lịch sử của ngôn ngữ Để làm rõ hơn về vai trò của từ trong ngôn ngữ, chúng ta có thể xem xét một số ví dụ cụ thể.

- Từ làm tên gọi của sự vật:

Cây là một thuật ngữ hoàn chỉnh chỉ về một loại thực vật Từ này có cấu trúc ổn định và thường được sử dụng trong các câu như "Cây đang ra hoa" hay "Cây bị gãy".

- Từ làm tên gọi của hoạt động:

Chạy là hoạt động di chuyển nhanh bằng chân, thể hiện sự nhanh nhẹn và năng động Câu như "Anh ấy chạy rất nhanh" minh họa khả năng vận động, trong khi "Chạy là một cách rèn luyện sức khỏe" nhấn mạnh lợi ích của việc chạy đối với sức khỏe.

- Từ làm tên gọi của trạng thái:

Buồn là một trạng thái cảm xúc tiêu cực, thể hiện sự không vui Ví dụ, bạn có thể nói "Cô ấy buồn vì thất nghiệp" hoặc "Trời mưa làm tôi cảm thấy buồn".

- Từ làm tên gọi của tính chất:

Đẹp là một thuật ngữ thể hiện tính chất hình thức hoặc thẩm mỹ, mang ý nghĩa rõ ràng và có thể sử dụng trong các câu như "Cô ấy rất đẹp".

"Phong cảnh nơi đây thật đẹp"

Từ có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như:

Ví dụ: nhà, mẹ, ăn Đây là những từ có nguồn gốc từ tiếng Việt cổ, không chịu ảnh hưởng từ các ngôn ngữ khác

Ví dụ: học sinh, gia đình, bác sĩ Đây là những từ có gốc từ tiếng Hán, được Việt hóa về phát âm và nghĩa

Nhiều từ trong tiếng Việt như "xe buýt", "tivi" và "cà phê" là những từ mượn từ tiếng Anh và tiếng Pháp, đã được Việt hóa để phù hợp với ngôn ngữ và văn hóa địa phương.

Ví dụ: bàn, ghế, trường học

Danh từ dùng để chỉ người, vật, hiện tượng, khái niệm

Ví dụ: chạy, học, ngủ Động từ dùng để chỉ hành động, trạng thái, quá trình

Ví dụ: đẹp, cao, nhanh

Tính từ dùng để chỉ đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng

Ví dụ: rất, thường, nhanh chóng

Trạng từ dùng để bổ nghĩa cho động từ, tính từ hoặc một trạng từ khác

2.2.1.2 Cấu tạo từ Đặc điểm cấu tạo: “cấu tạo từ là những vận động trong lòng một ngôn ngữ để sản sinh ra các từ cho ngôn ngữ” (Đỗ Hữu Châu, 2005, tr.480) Trong tiếng Việt, các yếu tố cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất, tức hình vị Để tạo ra các từ, tiếng Việt sử dụng các phương thức cấu tạo (cách thức ngôn ngữ tác động vào hình vị để cho ta các từ) sau đây:

⁕ Từ đơn: là những từ được cấu tạo bằng một tuyến độc lập Từ đơn được dùng làm đơn vị để tạo ra từ láy và từ ghép

Ví dụ: đẹp, cuốn, xinh

Xét về lịch sử, hầu hết các từ đơn đều có nguồn gốc lâu đời, bao gồm cả từ thuần Việt và từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Hán.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng khảo sát

3.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU

Do tính chất và nhiệm vụ khoa học của đề tài, người nghiên cứu áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu tổng hợp để đạt được kết quả hiệu quả.

Nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc miêu tả cách thức sử dụng các biểu ngữ liên quan đến vẻ đẹp vóc dáng của người phụ nữ trong tiếng Việt và tiếng Anh.

Mục đích của phương pháp này là thống kê tất cả các biểu ngữ liên quan đến việc miêu tả vẻ đẹp vóc dáng người phụ nữ trong tiếng Việt và tiếng Anh, nhằm tạo tư liệu cho quá trình nghiên cứu.

3.1.3 Phương pháp phân tích – tổng hợp

Nghiên cứu sẽ áp dụng phương pháp phân tích để tìm hiểu sự thay đổi trong cách sử dụng biểu ngữ mô tả vẻ đẹp vóc dáng phụ nữ từ thế kỷ 20 đến nay Sau khi thực hiện phân tích, người nghiên cứu sẽ tổng hợp các đặc điểm chung, đặc thù, phổ biến và quy luật vận dụng khi miêu tả vẻ đẹp vóc dáng phụ nữ trong văn viết của người Việt và người Anh.

3.1.4 Phương pháp so sánh - đối chiếu Đây là một phương pháp không thể thiếu để tìm ra những tương đồng và dị biệt trong văn hoá, lối sống, tư duy của người Việt và người Anh Như Nguyễn Đức Tồn (2008:20) đã nói: “Chỉ có sự tiếp xúc với các nền văn hóa khác, so sánh cái của mình với cái của người khác mới cho phép coi những yếu tố nào đó của một nền văn hóa có địa vị đặc trưng khu biệt”

Các phương pháp này đều có vai trò quan trọng và được áp dụng liên tục trong luận văn, với mục đích duy nhất là giải quyết vấn đề mà luận văn đã đề ra.

Bài luận cũng áp dụng các phương pháp hỗ trợ từ tâm lý học và xã hội học nhằm làm rõ hơn vấn đề được trình bày.

3.2 ĐỐI TƢỢNG KHẢO SÁT Đối tượng nghiên cứu bao gồm các tất cả các biểu ngữ trong một số truyện ngắn từ thế kỉ 20 đến nay có liên quan đến việc miêu tả vẻ đẹp vóc dáng người phụ nữ trong tiếng Việt và tiếng Anh.

Xác định mẫu, cách chọn mẫu

Dữ liệu được nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ các biểu ngữ trong các truyện ngắn tiếng Việt và tiếng Anh, trải dài từ thế kỷ 20 đến hiện tại.

Thu thập dữ liệu

Để có thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài, người nghiên cứu đã thực hiện các bước thu thập dữ liệu như sau:

Tìm kiếm và đọc các tài liệu liên quan đến cái đẹp trong truyện ngắn tiếng Việt và tiếng Anh từ thế kỷ 20 đến nay qua nhiều nguồn, bao gồm sách in, ebooks và các trang web uy tín.

- Chọn lọc các biểu ngữ đề cập đến việc miêu tả vẻ đẹp vóc dáng người phụ nữ từ nguồn thông tin đã chọn.

Phân tích dữ liệu

- Người nghiên cứu khi hoàn thành xong việc thu thập dữ liệu sẽ tiến hành thống kê và tổng hợp dữ liệu

Bài viết sẽ áp dụng phương pháp phân tích và miêu tả để khám phá những nét đặc trưng và tiêu biểu trong các truyện ngắn thế kỷ 20, so sánh với hiện tại, nhằm làm nổi bật vẻ đẹp vóc dáng của người phụ nữ Việt Nam và Anh.

Dữ liệu được so sánh để xác định sự tương đồng và khác biệt trong cách miêu tả vẻ đẹp vóc dáng người phụ nữ qua các truyện ngắn tiếng Việt và tiếng Anh từ thế kỷ 20 đến nay.

Ngày đăng: 04/03/2025, 12:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w