Nhất là vào thời kỳ Pháp thuộc, đạo Thiên Chúa được lan truyền với tốc độ nhanh, đồng nghĩa với nó là các công trình Nhà thờ Thiên Chúa giáo được xây dựng ở nhiều nơi, mang nhiều đặc đi
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIÊN TRÚC HÀ NOL
VU MINH QUAN
GIAO XAY DUNG TREN DIA BAN HA NOI
THỜI PHÁP THUỘC
LUẬN VĂN THAC SY KIEN TRÚC
Hà Nội - 2015
Trang 2
TRUONG DAI HQC KIEN TRÚC HÀ NỘI
VU MINH QUAN KHOA: 2013-2015
DAC DIEM KIEN TRUC NHA THO THIEN CHUA
GIAO XAY DUNG TREN DIA BAN HA NOI
THOI PHAP THUOC
Chuyên ngành: Kiến trúc
Mã số: 60.58.01.02
LUẬN VĂN THAC SY KIEN TRÚC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS.KTS NGUYEN TRÍ THÀNH
2015 | PDF | 98 Pages
buihuuhanh@gmail.com
Hà Nội - 2015
Trang 3
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy TS.KTS Nguyễn
Trí Thành đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Sau đại học - trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội đã truyền đạt kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội, Ban chủ nhiệm khóa học đã giúp tôi hoàn thành khóa học
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các tác giả những bài viết, luận văn,
luận án, tài liệu có liên quan đến đề tài mà tôi đã được tham khảo đề tiếp thu kiến thức
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã cổ
vũ, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận
văn
Xin chan trọng cảm ơn.
Trang 4Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn
là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIÁ LUẬN VĂN:
Vai Minh Quân
Trang 5Lời cam đoan
* Đối tượng, phạm vi và mục tiêu nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp nghiên cứu
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
* Cấu trúc luận văn
PHAN NOI DUNG
CHƯƠNG I TONG QUAN VE NHA THO THIEN CHUA GIAO XAY DUNG
TREN DIA BAN HA NOI THOI PHAP THUOC
1.1 Quá trình phát triển của Đạo Thiên Chúa trên Thể giới và Việt Nam
1.1.1 Lược khảo quá trình phát triển của Đạo Thiên Chúa trên thế giới
1.1.2 Lược khảo quá trình phát triển của Đạo Thiên Chúa tại Việt Nam
1.2 Sơ lược sự phát triển Nhà thờ Thiên Chúa giáo tại Việt Nam
1.2.1 Các giai đoạn phát triển
1.2.2 Bảng thống kê các công trình Nhà thờ Thiên Chúa giáo tiêu biểu tại Việt Nam
1.3 Tổng quan về kiến trúc Nhà thờ Thiên Chúa giáo tại Hà Nội thời Pháp thuộc
Trang 61.3.4 Hiện trạng kiến trúc của Nhà thờ Thiên Chúa giáo trên địa bàn Hà Nội thời
2.1.2 Phân loại Nhà thờ Thiên Chúa giáo theo bố cục mặt bằng 38
2.1.3 Phân loại Nhà thờ Thiên Chúa giáo theo phong cách kiến trúc 39
2.2 Các yếu tố cơ bản tác động đến kiến trúc Nhà thờ Thiên Chúa giáo tại Hà Nội
thời Pháp thuộc 6
2.2.1 Ảnh hướng từ bố cục điển hình trong kiến trúc Nhà thờ Thiên Chúa giáo 64 2.2.2 Ảnh hưởng từ điều kiện tự nhiên của Hà Nội 65 2.2.3 Ảnh hướng từ phát triển đô thị (thông qua sự phát triển khu phố Pháp tại Hà
Nội thời Pháp thuộc) 65 2.2.4 Ảnh hưởng tư tưởng phương Tây - văn hóa Pháp 66
CHUONG III BAC DIEM NHAN DANG CUA KIEN TRUC NHA THO THIEN CHUA GIAO XAY DUNG TREN DIA BAN HA NOI THO! PHAP THUOC 68
3.1 Đặc điểm chung về Nhà thờ Thiên Chúa giáo tại Hà Nội thời Pháp thuộc 68
3.1.1 Đặc điểm phân bồ, quy mô, khối tích và tông thể công trình 68 3.1.2 Đặc điểm vẻ hình đạng bố cục, cấu trúc mặt bằng và tổ chức chức năng
trong nhà thờ, 68
3.1.3 Đặc điểm về vật liệu và kỹ thuật xây dựng 69 3.2 Đặc điểm nhận dạng của kiến trúc Nhà thờ về không gian trong đô thị Hà Nội 69 3.3 Đặc điểm vẻ phong cách kiến trúc Nhà thờ Thiên Chúa giáo tại Hà Nội thời
Pháp thuộc a
3.3.2 Phong cách kiến trúc ảnh hướng phương Đông 76 3.4 Đặc điểm riêng về Nhà thờ Thiên Chúa giáo tại Hà Nội thời Pháp thuộc T8
3.4.1 Đặc điểm riêng về chiều cao Cung Thánh và Tháp chuông 78
Trang 73.5 Tổng kết các đặc điểm nhận dạng của Nhà thờ Thiên Chúa giáo tại Hà Nội thời Pháp thuộc 82
Trang 8DANH MUC CAC BANG, BIEU
thuộc
Bảng 3.1 | Đặc điểm theo bố cục mặt bằng và phọng cách kiến trúc 72
Bang 3.2 Chiễu cao Cùng thánh và Thập chuông 78 Bảng 3.3 So sánh NT Chính tòa HIN với NT Kẻ Sở 79
Trang 9
Tình 1.1 | Bản đồ Hà 1 Tình 1.2 | Bản đồ Hà 1 Tình 1.3 | Bản đồ Hà Tổ Hình 1.4 | Bản đồ trung tâm Hà Nội năm 1926 15 Hinh 1.5 | Bản đồ Hà Nội năm 1936 Tổ Tình 1.6 | Nhà thờ Thạch Bích 19 Tình 1.7 | Nhà thờ Hà Đông 20 Hinh 1.8 | Nha the Ha Hoi 20 Hinh 1.9 | Nhà thờ Hưng Yên 21 Tình 1.10 | Nhà thờ Ngọc Châu 2 Tình I.IT | Nhà thờ Vĩnh Phúc 2 Hinh 1.12 | Nhà thờ Hải Dương 2 Tình 1.13 | Nhà thờ Kẻ Sặt 2 Hình 1.14 | Nhà thờ Trác Bút (Bút Đông) 2 Hình 1.15 | Nhà thờ Kẻ Sở 24 Hình 1.16 Bản đỗ phân ầ thờ xây dựng tại Hà Nội thời Pháp thuộc |_ 26 Hình 1.17 | Nhà thờ Chính Tòa Hà Nội 2 Hin 1.18 | Nhà thờ Hàm Long 30 Tình 1.19 | Nhà thờ Của Bắc 37 Tình 1.20 | Nhà thờ Thịnh Liệt 3 Tình 1.21 | Nhà thờ An Thái 3 Hình 1.22 | Nhà thờ Thượng Thụy 34 Hình 1.23 | Nha tho Phiing Khoang 35 Hinh 2.1 | Nha tho Hagia Sophia 4 Hình 2.2 | Nội thắt nha tho Hagia Sophia 4
Trang 10
Hình 2.3 [ Nhà thờ San Vitale B Hinh 24 | Nhà thờ St Mark 4 Hình 2.5 | Nhà thờ ở Knechisteden 46 Tình 2.6 | Nhà tha Cluny +9 Hình 2.7 | Nhà thờ Saint Sernin +9 Hình 2.8 | Nhà thờ Saint Foy +9 Tình 2.9 | Nha tho Saint Etienne 30 Hình 2.10 | Nhà thờ Worms 3 Hình 2.11 | Quân thé ton giáo Pisa 4 Hình 2.12 | Nhà thờ Xens $6
Hình 2.14 | Vom mai nhà tho Gothich 58 Tình 2.15 | Chỉ tiết trang trí Nha tho Gothich 9 Hình 2.16 | Nhà thờ Đức Bà Paris 9 Hinh 2.17 | Thánh đường St Patrick — New York 52 Tình 2.18 | Một số Nhà thờ hiện đại 6 Hình 2.19 | Một số Nhà thờ hiện đại 4 Hinh 3.1 Ouy mô nhà thờ 68 Hinh 3.2 Khong gian xung quanh Nhà thờ trên địa bàn Hà Nội hiện nay |_ 70 Hình 3.3 Không gian xung quanh Nhà thờ trên địa bàn Hà Nội hiện nay |_ 70 Tình 3.4 Đặc điểm nhận dạng Nhà thờ trong không gian đô thi 7 Hình 3.5 Nhà thờ Chính tòa Hà Nội 73 Hình 3.6 74 Hình 3.7 75 Hình 3.8 77 Hình 3.9 | Chỉ tiết cửa s 30 Hinh 3.10 | Chỉ tiết trang trí trên cửa đi chính a7 Hình 3.11 | Các chỉ tiết hoa văn của Nhà thờ Của Bắc 37
Trang 11
(1533) cùng tồn tại và gắn liền với lịch sử cận đại Việt Nam Cùng với sự xuất kiện
của đạo Thiên Chúa, nhà thờ Thiên Chúa giáo cũng xuất hiện trong cảnh quan đời
sống tôn giáo Việt Nam, trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, kiến trúc
Nha thờ đã định hình được với bản sắc văn hóa, nhiều công trình đã trở thành di sản
văn hóa - kiến trúc, mang lại dấu ấn cho một vùng, miền
Hà Nội là một giáo phận lớn và lâu đời Nhà thờ Thiên Chúa giáo cũng đóng
góp một phần không nhỏ trong quá trình lịch sử tồn tại và phát triển của thành phó Nhất là vào thời kỳ Pháp thuộc, đạo Thiên Chúa được lan truyền với tốc độ nhanh,
đồng nghĩa với nó là các công trình Nhà thờ Thiên Chúa giáo được xây dựng ở
nhiều nơi, mang nhiều đặc điểm riêng biệt Đó là sự pha trộn tỉnh tế giữ kiến trúc Nhà thờ cơ bản phương Tây với các yếu tố kiến trúc truyền thống phương Đông Vì vậy Hà Nội mang trong mình những giá trị về lịch sử, kiến trúc, văn hóa cần được lưu giữ, bảo tồn và phát huy
Đã có một số đề tài khoa học, một số luận văn nghiên cứu về các công trình kiến trúc xây dựng ở Hà Nội thời Pháp thuộc, nhưng đều tập trung vào các dạng,
công trình biệt thự, trụ sở, bảo ting hay nhà hát, hoặc đơn lẻ một công trình Nhà thờ
mà chưa có sự tông hợp, đánh giá chung về kiến trúc Nhà thờ Thiên Chúa giáo
được xây dựng ở Hà Nội thời Pháp thuộc
Đề tài của luận văn này được lựa chọn xuất phát từ những phân tích khách quan trên
* Đối tượng, phạm vi và mục tiêu nghiên cứu của đề tài
+ Đối tượng nghiên cứu: Các công trình kiến trúc Nhà thờ Thiên Chúa giáo
xây dựng trên địa bàn Hà Nội thời Pháp thuộc
+ Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển Nhà thờ Thiên Chúa giáo trên
thế giới và tại Việt Nam
Trang 12Khảo sát hệ thống và đánh giá đặc điểm kiến trúc các công trình Nhà thờ
Thiên Chúa giáo tại Hà Nội thời Pháp thuộc
+ Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá giá trị đặc điểm kiến trúc các công trình kiến trúc Nhà thờ Thiên
Chúa giáo tại Hà Nội thời Pháp thuộc Là cơ sở để nhìn nhận sự cần thiết phải bảo
tồn và gìn giữ các công trình kiến trúc Nhà thờ Thiên Chúa giáo, một phần của di sản kiến trúc tại Hà Nội
* Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập các tài liệu có liên quan đến để tài (tài liệu trong nước và nước
ngoài)
- Khao sát thực tế, chụp ảnh, vẽ ghi hiện trạng các công trình
- Sử dụng các tư liệu thu thập được để lập cơ sở phân tích
~ Phân tích và xây dựng các cơ sở khoa học đề rút ra các đặc điềm kiến trúc
- Phân tích dựa trên các đặc điểm để rút ra các kết luận và đề xuất
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Thiên Chúa giáo là một thành phần của hệ thống tôn giáo trên lãnh thổ Việt Nam Về tính chất của Thiên Chúa giáo cũng không hề thua kém các tô chức tôn giáo khác, cũng đều hướng con người đến sự lương thiện, bình đăng, đạo đức và đề cao tinh thương yêu đồng loại Tuy vậy Việt Nam vốn là một đất nước phương, Đông vốn chịu ảnh hưởng nhiều của Phật giáo, Nho giáo trong một quá trình lịch sử dài bốn nghìn năm xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Thiên Chúa giáo tuy gia nhập sau, nhưng bằng những giáo lý, tư tưởng riêng cũng đã thiết lập được một vị trí vững chắc trong hệ thống tôn giáo chung Nhiều công trình Nhà thờ do đó được xây dựng, trên toàn cõi lãnh thô, quy mô khác nhau Góp phần làm phong phú nền văn hóa của
nước bản địa Các công trình có sự độc đáo riêng, kết hợp sự tỉnh túy của hai nền
văn hóa Đông - Tây đã tạo ra bức tranh đầy màu sắc của kiến trúc Thiên Chúa giáo
ở Việt Nam nói chung, Hà Nội thời Pháp thuộc nói riêng
Trang 13CHƯƠNG I: Tông quan về Nhà thờ Thiên Chúa giáo xây dựng trên địa bàn
Hà Nội thời Pháp thuộc
CHƯƠNG II Cơ sở khoa học để nhận dạng Nhà thờ Thiên Chúa giáo xây dựng trên địa bàn Hà Nội thời Pháp thuộc
CHƯƠNG III Đặc điểm nhận dạng của kiến trúc Nhà thờ Thiên Chúa giáo
xây dựng trên địa bàn Hà Nội thời Pháp thuộc.
Trang 14PHAN NOI DUNG CHUONG I TONG QUAN VE NHÀ THỜ THIÊN CHÚA GIÁO XÂY DỰNG 'TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI THỜI PHÁP THUỘC
1.1 Quá trình phát triển của Đạo Thiên Chúa trên Thế
1.1.1 Lược khảo quá trình phát triển của Đạo Thiên Chúa trên thế giới
lệt Nam
Thiên Chúa giáo là một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới (Hồi giáo, Phật
giáo, Thiên Chúa giáo) Thiên Chúa giáo mang những đặc tính của tôn giáo thế giới
vì sự phát triển của nó luôn gắn liền với những biến chuyển vĩ đại của nhân loại Thiên Chúa giáo là một trong số ít những tôn giáo nhất thần luận có khả năng, truyền bá rất rộng rãi tới hầu hết các quốc gia trên thế giới
Thiên Chúa giáo (hay còn gọi là Cơ đốc giáo xuất hiện đầu Công nguyên với
tư cách là tôn giáo của những người nô lệ, những người được phóng thích thuộc các
thị tộc bị Đề chế La Mã chinh phục, nhưng tiền thân của nó là Do Thái giáo cớ từ
hơn hai nghìn năm trước Công Nguyên.[26]
Trong bốn thế kỷ đầu, sứ điệp của Kito đã bao trùm khắp Địa Trung Hải Nam 313 sau Công Nguyên, dưới Đế chế La Mã, Hoàng đế Congstantine đã xác nhận vị trí hợp pháp của Thiên Chúa giáo và trở thành quốc giáo của La Mã Tới thế
kỷ thứ V, khi Đề quốc La Mã suy yếu thì Hội Thánh đã được thiết lập ở ba khu vực
văn hóa lớn; Latinh phương Tây, khu vực phía Đông Hy Lạp, và khu vực Syri Từ
ba trung tâm trên Thiên Chúa giáo lan sang miễn Lưỡng Hà (Mesopotamie) Ba Tư,
Án Độ, đồng thời tràn qua Alexandry và Bắc Phi.[26]
Do xã hội La Mã có hai vùng Đông — Tây khác nhau nên trong sự phát triển của đạo Cơ Đốc cũng hình thành hai khuynh hướng phương Tây và phương Đông
Giáo hội Thiên Chúa La Mã (Catholieism) thuộc phần đắt phía Tây Đề chế La Mã được coi là chính thống và mạnh mẽ nhất (đạo Thiên Chúa giáo du nhập vào Việt Nam chủ yếu là chỉ phái này)
Cuộc ly khai đầu tiên giữa Giáo hội Phương Đông với Roma vào khoảng 974
— 984 Chính thống giáo của phương Đông ra đời ở Bizanxo, phản ánh sự đối trọng,
của Constantinople với Roma, tuy gọi là "Chính Thống giáo” song nó chỉ có tính
Trang 15Cuộc ly khai thứ hai trong giáo hội Roma là của những người Tin Lành
(Protestantism) vào năm 1520 Giáo lý của đạo Tin Lành tiếp thu các nghỉ lễ cầu phước và lễ rửa tội, bãi bỏ các nghỉ lễ phiền toái, cho phép các mục sư được lấy vợ Đạo Tin Lành phát triển ở Tây Âu và Bắc Mỹ và được xem như đạo của người giàu Sau đó lan qua một số nước ở Đông Nam Á như Trung Quốc, Nhật Bản nhưng không được dân bản xứ tiếp ứng một cách nông nhiệt.[26]
Cuộc ly khai thứ ba của Anh giáo (Anglicamidme) tách ra vào năm 1531 ~ với
sự lớn mạnh của Giáo hội Calvin chống lại cơ cấu La Mã Một Giáo hội sinh hoạt thoải mái, tách khỏi nhà nước, không còn quá nhiều quyên lực kinh tế vốn là những
cơ sở tồn tại của Kito giáo.[26]
Sự phân biệt đó tạo thêm sự đa dạng của bức tranh lịch sử Thiên Chúa giáo
trong mấy chục thế kỷ nay Tuy có sự phân hóa, cạnh tranh giữa Chính Thống giáo,
Tin Lành, Anh giáo với Giáo hội Thiên Chúa La Mã, nhưng đó là sự xung đột thống
nhất, đặc biệt từ sau Cộng Đồng Vatican II (1962 - 1965)
1.1.2 Lược khảo quá trình phát triển của Đạo Thiên Chúa tại Việt Nam
a, Thoi ki khai sinh (1533 - 1659)
Cuối thế ky 16, đầu thế ky 17, Việt Nam bắt đầu giao thương với các nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Anh, Pháp và cả Nhật Bản ở châu Á để trao đổi
hàng hóa và vũ khí quân sự Thời gian này, Công giáo cũng phát động cuộc truyền
giáo quy mô lớn đi đến khắp nơi trên thế giới, trong đó có miền Viễn Đông Á châu
Có thể kể đến các nhà thừa sai như Phanxico Xavie (1541), Matteo Ricci đến Án
Độ và Trung Hoa nhưng họ không đặt được kết quả đáng kế.[10]
Trong bộ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục được soạn thảo dưới
triều Tự Đức có nói đến chỉ dụ cắm đạo Công giáo (khi đó gọi là đạo Gia-tô, phiên
âm từ chữ Giê-su trong tiếng Hán) chú thích như sau:
Trang 16“Gia-t6, da luc, Lé Trang Tông, Nguyên Hoà nguyên niên, tam nguyệt nhật,
Dương nhân I-nê-khu tiềm lai Nam Chân chỉ Ninh Cường, Quần Anh, Giao Thủy
chỉ Tra Lil Am dĩ Gia-tô tả đạo truyền giáo"
Theo linh myc Marcos Gispert, O.P., nhà sử học Dòng Anh Em Thuyết
Giáo đã sống tại Việt Nam 34 năm, sau Inekhu còn một số nhà truyền giáo khác
như:
Linh mục Gaspar de S.Cruz: năm 1550 từ Malacca đỗ bộ lên Hà Tiên, và sau
đó từ cửa biển Bà Rịa đi Quảng Đông
Hai lĩnh mục Lopez va Acevedo: năm 1558 đã tới giảng vùng Cao Miên trong 10 năm
Hai linh muc Luis de Fonseca, 0.P (Bồ Đào Nha) và Grégoire de la Motte,
©O.P (Pháp) cũng từ Malacca tới, suốt 6 năm đi truyền giáo tại Quảng Nam trong
thời Chúa Nguyễn Hoàng (1580-1586)
Tiếp tục công cuộc đã có rất nhiều nhà truyền giáo thuộc nhiều dòng tu và
hội thừa sai khác đã đến Việt Nam Vì thế, nhiều nhà sử học Thiên Chúa giáo Việt
Nam đã chọn năm 1533 là năm khởi đầu cho đạo Thiên Chúa giáo tại Việt Nam
Những nỗ lực truyền giáo đầu tiên thực tế chỉ là những sự dò dẫm, chuẩn bị
cho giai đoạn khai phá chính thức kéo dài từ năm 1615-1665 với các vị thừa
sai Dòng Tên Cùng thời điểm, lãnh thổ Việt Nam bị chia cắt thành hai miễn Nam Bắc, lấy sông Gianh làm ranh giới Phía Nam gọi là Đàng Trong, do các chúa Nguyễn cai quản Phía Bắc gọi 1a Dang Ngoàido vua Lê,chúa Trịnh nắm
quyền [10]
Các linh mục Dòng Tên theo chân Phanxicộ Xaviê truyền giáo tại Nhật
Ban nam 1549, bị Nhật hoàng DaifiIsama trục xuất khỏi đất Phù Tang năm 1614, đã tập trung tại Macao (được xem như một đầu cầu thành lập từ năm 1564) Từ kinh nghiệm truyền giáo ở Trung Quốc và Nhật Bản, các thừa sai rất quan tâm đến việc học ngôn ngữ, phong tục Việt và giảng đạo bằng tiếng Việt.[10]
Các linh mục Dòng Tên ở lại Việt Nam cho tới năm 1788 được giáo hội Việt
Nam yêu cầu trở lại năm 1957, để ngày 13 tháng 9 năm 1958 nhận trách nhiệm điều
Trang 17
1649), và ngày 5/2/1651 quyển này được Linh mục F.Piccolomineus Bề Trên Cả
Dòng Tên cho phép xuất bản Từ điển Việt - Bồ - La được biên soạn nghiêm túc,
công phu theo lối từ điển Châu Âu thời Phuc Hung, diy 645 trang, là quyền từ điễn
quý đánh dấu sự hiện diện chính thức của chữ quốc ngữ Chữ Quốc ngữ ban đầu phải cạnh tranh với chữ Nôm - vốn có một chỗ đứng nhất định trong văn hóa Việt Nam Kho tàng văn chương Hán - Nôm Công giáo cũng rất lớn, tuy nhiều giáo sĩ chỉ có thể nói tiếng Việt (qua cách học chữ Quốc ngữ phiên âm) mà không thể viết
chữ Nôm Chỉ riêng giáo sĩ Girolamo Majorica, trong khoảng 1632-1656, đã viết 45
tác phẩm lớn nhỏ bằng chữ Nôm, nỗi tiếng nhất là cuỗn Các Thánh Truyện viết năm
1646 Nhiều tác phẩm bị hư hỏng và mắt mát do thời gian, chiến tranh và bách hại
tôn giáo.[23]
Ngày 3 tháng 7 năm 1645, linh mục Alexandre de Rhodes rời Việt Nam
về Roma để báo cáo cho Tòa Thánh về những tiến triển mau chóng trong việc truyền đạo tại Việt Nam, nhất là xin gửi một số Giám mục đến truyền giáo tại Việt Nam, nơi mà ông gọi là "cánh đồng truyền giáo phì nhiêu" để củng cố nền móng
cho Giáo hội tại nước này Ông được Tòa Thánh cho phép đi khắp nước Pháp đi tìm
kiếm những linh mục sẵn sàng xung phong và tiếp tục công việc đã khởi sự với nhiều thành quả may mắn Tại đây mới có Hội Thừa sai Paris (Missions Etrangéres
de Paris), ra đời năm 1658 và được chấp nhận năm 1664 dưới thời Giáo hoàng Alexandé VIL[26]
b Thời kì hình thành (1659 1802)
Ngày 9 tháng 9 năm 1659, Giáo hoàng Alexanđê VII qua Sắc chỉ Super
Cathedram quyết định thiết lập ở Việt Nam hai giáo phận tách ra từ giáo phận
Macao, và chọn hai người thừa sai thuộc Hội Thừa sai Paris làm Đại điện Tổng
Tòa Giáo phận Đàng Trong từ sông Gianh trở vào Nam, gồm cả phần đất Chiêm
Thành, Chân Lạp do Giám mục Pierre Lambert de la Motte cai quản Giáo phận
Trang 18Đàng Ngoài từ sông Gianh trở ra Bắc, bao gồm cả Lào và 5 tinh mién Nam Trung
Quốc do Giám mục Francois Pallu cai quản.[26]
Nam 1669, Lambert tới Phố Hiến (Hưng Yên) và đầu năm 1670, ông truyền chức linh mục cho 7 thầy, chủ toạ công đồng đầu tiên ở Phố Hiến, lập Dòng Mến
Thánh Giá tại Kiên Lao (Bai Chu) và Bái Vàng (Ha Tay)
Nam 1679, Giáo hoàng Innocenxio XI lai chia giáo phận Đàng Ngoài thành hai giáo phận: Tây Đàng Ngoài (từ sông Hồng tới ranh giới Ai Lao) trao cho Hội Thừa sai Paris dưới quyền quản nhiệm của Giám mục Bourges, và Đông Đảng
Ngoài (từ tả ngạn sông Hồng chạy ra biển), ban đầu cũng do Giám mục Deydier của
Hội Thừa sai Paris phụ trách nhưng năm 1693, Giám mục Deydier qua đời, Giám mục De Bourges xin Tòa Thánh trao giáo phận này cho Dòng Đa Minh, vì từ 20
tháng 8 năm 1679 tat cả số nhân sự của dòng đó đã tập trung về đây [25]
291 năm sau ngày 18 tháng 3 năm 1967 (1676 - 1967), Linh mục bể trên
Téng quyền Aniceto Fernandez thành lập Tỉnh dong Anh Em Thuyết Giáo riêng tại
Việt Nam với danh hiệu Tỉnh dòng Nữ vương Các Thánh Tử đạo Việt Nam [25] Giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc), đại diện Tông tòa Đăng Trong
(1771 - 1799), đã hết lòng giúp đỡ Nguyễn Phúc Ánh, khi ông đang bị khốn đồn
bởi cuộc vây hãm của quân Tây Sơn Giám mục này đã đưa hoàng tử Nguyễn Phúc
Cảnh (lúc bấy giờ mới lên 4 tuổi) sang Pháp và vận động người Pháp giúp đỡ tàu chiến, vũ khí để Nguyễn Phúc Ánh chống Tây Sơn và chúa Trịnh Tâm định của các
vị thừa sai và của Giám mục Bá Đa Lộc là muốn cho người Công giáo Việt Nam được an thân giữ đạo và đạo Chúa được mở rộng Nhưng Bá Đa Lộc chết ngày 9
tháng 10 năm 1799 và hoàng tử Cảnh chết năm 1801 làm dập tắt hi vọng của người Công giáo Việt Nam về một thời kì tự do truyền đạo.[26]
c Thời kì thử thách (1802 ~ 1885)
Nam 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua,
đầu tiên của nhà Nguyễn đóng đô ở Phú Xuân, Huế Nhớ ơn Giám mục Bá Đa Lộc,
Gia Long cho phép tự do truyền bá đạo Công giáo Nhà vua có thiện cảm với đạo
ấy hiệu là Gia Long, triều đại
nhưng không muốn theo đạo vì thấy luật lệ đạo quá nghiêm khắc đối với tục đa thê
Trang 19
này, người Công giáo bắt đầu gặp nhiều cuộc cấm đạo kẻ từ triều vua Minh Mạng
Đặc biệt là Phong trào Văn Thân với khẩu hiệu "Bình Tây sát Tả" vào những năm 1867-1868, 1873-1874 và 1883-1885 Sự kiện này còn được ghỉ chép lai bing
những bức tranh cỡ lớn họa lại quang cảnh nhiều cuộc hành quyết vào những năm
1838 — 1840 Những Sắc Chỉ Cấm Đạo đều có nói tới việc Thiên Chúa giáo xuất xứ:
từ Tây Phương và do những vị Thừa Sai ngoại quốc đem vào Việt Nam [19]
Mặc dù vậy, dưới thời các vua Nguyễn, Thiên Chúa giáo vẫn có những bước phát triển, vào những năm 1§84 - 1885 ở Việt Nam đã có 8 giáo phận gồm 3 ở
Đảng Trong và 5 ở Đăng Ngoài [19]
d Thời kì phát triển (1885 ~ 1960)
Khi triều đình Huế ký Hiệp ước Giáp Thân 1884 với Pháp, công nhận sự bảo
hộ của Pháp thì Công giáo Việt Nam lúc đó mới thật sự được tự do, công khai hoạt động Giáo dân tăng nhanh, cơ sở tôn giáo như: nhà thờ, tu viện, tòa giám mục, trường học, viện dưỡng lão, viện cô nhỉ được xây dựng khắp nơi Các giáo phận
được chia nhỏ lại Miền Bắc gồm các giáo phận: Hà Nội, Phát Diệm, Hưng Hoá,
Vinh, Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh và một Phủ doăn Tông Tòa là Lạng Sơn
Miền Nam gồm các giáo phận: Sài Gòn, Quy Nhơn, Huế, và một phần của giáo
phân Nam Vang Tổng cộng là 12 giáo phận Năm 1925, Téa Thánh lập Tòa khâm
sứ ở Đông Dương, đặt tại Phủ Cam (Huế) Ngày 10 tháng 01 năm 1933, Giáo hoàng
Piô XI ra sắc lệnh bỗ nhiệm linh mục Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng làm Giám mục Hiệu tòa Sozopoli, giữ chức Giám mục phó với quyền kế vị giáo phận Phát
Diệm Ông là vị Giám mục người Việt Nam đầu tiên [20]
Sau cuộc di cư Việt Nam 1954, Thiên Chúa giáo ở miền Bắc bị xáo trộn còn
Thiên Chúa giáo ở miền Nam bị thay đổi cấu trúc, giáo phận Cần Thơ thành lập,
tách ra từ giáo phận Nam Vang; giáo phận Nha Trang thành lập, tách ra từ giáo phân Quy Nhơn.
Trang 2010
e, Thời kì trưởng thành (1960 đến nay)
Với sự di cư của gần 1 triệu giáo dân từ Bắc vào Nam, có 2 đời tổng thống là
giáo dân Thiên Chúa giáo tại miền Nam Việt Nam có những bước phát triển mạnh
mẽ Cuối năm 1959, Tòa thánh cho thành lập Tòa Khâm sứ mới tại miỀn Nam Việt Nam Ngày 24 tháng 11 năm 1960, Giáo Hoàng Gioan XXII thiết lập hàng Giáo phẩm Thiên Chúa giáo Việt Nam với 3 giáo tỉnh Hà Nội, Huế và Sài Gòn Ngày 22 tháng 8 năm 1961, Thánh địa La Vang được tôn phong là Vương cung Thánh đường Một năm sau, ngày 13 tháng 11 năm 1962, Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn cũng được Tòa Thánh tôn phong lên hàng Vương Cung Thánh đường [26]
1.2 Sơ lược sự phát triển Nhà thờ Thiên Chúa giáo tại Việt Nam
1.2.1 Các giai đoạn phát triển
a Giai đoạn tiền kỳ (TK XVI ~ 1858)
Trong giai đoạn khai mỡ này, lịch sử không ghỉ nhận rõ ràng về những ngôi
Nhà thờ đầu tiên được xây dựng ở Việt Nam như thế nào, theo sử sách thì vào khoảng năm 1613 - 1635 ở Hải Phố và Quảng Nam đã xây cất hai ngôi Nhà thờ đầu tiên với số giáo dân là 300 Ở Quy Nhơn, tháng 7 năm 1618 một ngôi Nhà thờ bằng
gỗ đã được xây dựng Như vậy chúng ta có thê xác định những ngôi Nhà thờ đầu
tiên được xây dựng ở miễn Nam Việt Nam Những ngôi Nhà thờ này có quy mô nhỏ, đơn giản, sử dụng vật liệu xây dựng địa phương, và thường không tồn tại lâu
dai vì sự cắm đoán của các triều đại phong kiến lúc bấy giờ.[10]
b Giai đoạn thực dân (thời Pháp thuộc 1858 - 1945)
Với sự mở rộng và phát triển xây dựng hạ tầng và việc thành lập nhiều cơ sở tôn giáo ở các địa phận mới, nhiều Nhà thờ được xây dựng, phát triển mạnh mẽ nhất
là ở vùng Thiên Chúa giáo phía Bắc, nhiều Nhà thờ thô sơ được thay thế bằng,
loặc bằng gạch đá có kiểu mẫu sao chép từ Châu Âu
những ngôi Nhà thờ kiên
Các thừa sai khởi công xây cất nhiều Thánh đường nguy nga đồ sộ theo phong cách
Roman hoặc Gothich tiêu biểu như những Nhà thờ Kẻ Sở, Nhà thờ chính tòa Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình Hoặc theo kiến trúc Á Đông như Nhà thờ Phát Diệm (1877 ~ 1895) Đặc biệt ở các đô thị lớn Nhà thờ được xây dựng ở những vị trí có
Trang 21quy hoạch và tầm nhìn đẹp như các quảng trường, tạo nên nét đặc trưng của thành
phố [6]
Cuối thế kỉ XIX tại miền Nam Việt Nam các xóm đạo Thiên Chúa giáo được
hình thành rất nhiều, đặc biêt là tại Thành phé Sai Gòn như Cầu Kho, Chợ Quan,
Tan Dinh, Xóm Chiếu, Chợ Đũi, đi cùng với nó là những Nhà thờ mới được xây cắt
theo phong cách thuần Pháp như Nhà thờ Đức Bà (1880), Nhà thờ Huyễn Sỹ
¢ Giai đoạn 1945 - 1975
Giai đoạn này Việt Nam chia thành hai miền với hai thê chế chính trị và xã
hội khác nhau nên sự phát triển của Thiên Chúa giáo cùng với việc mở mang các Nhà thờ cũng khác nhau
Miền Bắc: do có nhiều sự kiện lịch sử to lớn diễn ra trong thời kì chia cắt đất nước và tiếp theo đó là cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước kéo dài suốt 30 năm nên nền kinh tế, khoa học ở trong tình trạng lạc hậu Đây là giai đoạn khó khăn của Giáo hội miền Bắc Giáo hội miền Bắc kế thừa một hệ thống Nhà thờ đã được xây dựng từ đầu thế kỷ dưới thời thuộc địa Pháp Do điều kiện kinh tế lúc đó còn yếu kém nên một số Nhà thờ bị tản phá, hư hại trong chiến tranh không có điều kiện
được phục hồi.[20]
Miền Nam: do sự viện trợ của Mỹ nhằm xây dựng hệ thống căn cứ quân sự vững chắc và lâu dài nhằm chia cắt đất nước làm hai, trong thời gian này nhiều trung tâm đã được hình thành, tốc độ đô thị hóa nhanh, nhất là những năm 60 Nhiều Giáo phận và Giáo xứ mới được hình thành cùng với sự lớn mạnh về cơ bản vật chất, nhiều Nhà thờ, tu viện, học đường được đầu tư xây dựng Nhà thờ được
xây dựng đã phần nào tách ra khỏi hình thức xây dựng Nhà thờ theo phong cách
chính thống phương Tây Trong thập kỷ 60, một số Nhà thờ được thiết kế và xây dựng theo phong cách hiện đại có giá trị về mặt thâm mỹ như Nhà thờ Dòng Chúa
Cứu Thế ở Huế, hoặc một vài Nhà thờ ở Hồ Nai (Biên Hòa) [20]
Những phân tích trên cho thá
giai đoạn này sự phát triển Nhà thờ ở miền
Nam diễn ra mạnh mẽ hơn ở miền Bắc
d Giai đoạn 1975 đến nay
Trang 22những tìm tòi trong kiến trúc truyền thống dân tộc Chính sách mở cửa của nhà
nước ta đã làm thay đổi diện mạo nền kinh tế đất nước, đời sống vật chất được cải
thiện, các tôn giáo được tự do phát triển do đó nhiều công trình tôn giáo được khôi phục và xây dựng mới Ngoài Bắc nhiều công trình hư hại do chiến tranh được tôn tạo và phục hồi, đa phần là ở Ninh Bình, Nam Định, Thanh Hóa Trong miền Nam
phong cách Nhà thờ được xây mới phát triển mạnh mẽ, nhiều Nhà thờ đã chú ý đến
hình thức kiến trúc và các giải pháp mới phù hợp với nhu cầu của cuộc sống mới [6]
1.2.2 Bảng thống kê các công trình Nhà thờ Thiên Chúa giáo tiêu biểu tại Việt
Nam
Bảng 1.1 ~ Một số công trình Nhà thờ tiêu biểu tại Việt Nam.[12]
& hoàn thành Nhà thờ Chính tòa Hà Nội Hà Nội 1882-1886 Gothique Nhà thờ Cửa Bắc Hà Nội 1927-1931 | Đông Dương Nhà thờ Phùng Khoang Hà Nội 1910- Roman Nhà thờ Thịnh Liệt (Kẻ Sé0) Hà Nội -I911 Roman Nhà thờ Thạch Bích Ha Tay “1917 Roman Nhà thờ Hà Đông Ha Tay “1912 Roman Nhà thờ Sâm Dương Hã Tây - Baroque Nhà thờ Bằng Sở Ha Tay “1912 Roman Nhà thờ Đại Ơn Hà Tây - Roman Nhà thờ Bái Xuyên Hà Tây -1938 Gothique Nhà thờ Chăm Hạ Ha Tay “1922 Gothique Nhà thờ Phủ Lý Hi Nam 1908-1911 Roman
Trang 23
Nhà thờ Phú Đa Hã Nam “1911 Roman Nhà thờ Nam Định Nam Định 1895- Gothique Nhà thờ Trình Xuyên Nam Định ˆ Roman Nhà thờ Mỹ Tục Nam Định 1936- Gothique Nhà thờ Trại Mới Nam Định 1932- Roman Nhà thờ Bảo Long Nam Định 1908- Gothique Nhà thờ Chính tòa Bic Ninh |~ Bic Ninh 1892- Roman Nhà thờ Chính tòa Hải Phong |~ Hai Phòng 1890- Gothique Nhà thờ An Toàn Hai Phòng 1937- Baroque Nhà thờ Hải Dương, Hai Duong 1942- Baroque Nhà thờ Kẻ Sặt Hai Duong 1872- Gothique Nhà thờ Chính toà Thai Binh | Thai Bình 1906- Gothique Nhà thờ Sa Cát Thai Bình 1901- Gothique Nhà thờ Chính tòa Thanh Hóa | Thanh Hóa 1926-1930 Gothique Nhà thờ Phú Cam Huế 1961-1962 Hiện đại Nhà thờ tu viện Thiên An Huế -1943 -
Trang 26
Pháp bắt đầu kiểm soát Nam Kỳ từ năm 1860, và tiến đến quá trình bảo hộ
Bắc Kỳ và Trung Kỳ vào năm 1884 Vì những lý do địa lý và nhu cầu tạm thời chỉ
còn tồn tại rất ít dấu ấn kiến trúc trong giai đoạn đầu của quá trình Đông Dương Giai đoạn này được gọi tên kiến trúc tiền thực dân Các công trình kiến trúc mang, đậm dấu ấn có thê kẻ tên như khách sạn Vận Chuyên Hàng Hải xây dựng năm 1862
tai Sai Gon va cu x4 Tan Dinh xây dựng năm 1874 tại Hà Nội Cả hai công trình
đều thê hiện sự kết hợp phân nào giữa tư tưởng kiến trúc Tây phương và khai thác đơn giản một số yếu tố địa phương, không gian trên tầng được bao bọc bởi hành lang nhằm tránh nóng và những cơn mưa, mái được thiết kế đốc và sử dụng ngói sản xuất tại bản địa, họa tiết trang trí đơn giản truyền thống cho thấy ở giai đoạn đầu
những công trình cơ bản được xây dựng bởi nhân công Việt Nam.[5]
Hình thái kiến trúc tiền thực dân đặt nặng về mặt công năng Nó thể hiện những dấu ấn lịch sử đầu tiên ảnh hưởng của kiến trúc Pháp tại Việt Nam Được phát triển chủ yếu bởi những kỹ sư Pháp đâu tiên ở Việt Nam
Với nhu cầu xây dựng ngày càng nhiều, người Pháp thê hiện tham vọng biến đổi bộ mặt Đông Dương ngày càng lớn thông qua việc áp đặt hình thái kiến trúc trang trí mặt tiền Họ bắt đầu sử dụng những phong cách hàn lâm thịnh hành tại Pháp vào Việt Nam Phong cách kiến trúc Tân Cô điển đặc trưng cho giai đoạn này Các nghệ sĩ xử dụng những chủ đẻ khác nhau, từ hình thái, chỉ tiết Phục Hưng,
Trang 27mỹ thuật Pháp lúc bấy giờ Nhiều thiết kế được áp đặt nguyên mẫu như những công
trình sẵn có ở Pháp như mặt tiền Tòa án Chính Phú Hà Nội sử dụng lại đúng họa tiết của mà kiến trite su Louis Due da làm cho vành đai quảng trường Dauphine ở Pháp [26]
Mặc dù li kiến trúc Tân cô điền cưỡng bức, áp đặt, cũng như không phủ
hợp, thích nghỉ với khí hậu, văn hóa bản địa, tách rời với những không gian kiến
trúc tông thể đô thị, nhưng công trình ở giai đoạn này đã mang lại một dấu ấn kiến
trúc đậm nét Pháp tách biệt trong lòng Việt Nam
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất Người Pháp tiếp tục việc khai thác Đông Dương Giới cầm quyền muốn phát triển rộng hơn quá trình đô thị trong tiến trình
khai hóa Một nhân vật quan trọng của thời kỳ nảy là kiến trúc sư Emest Hébrad,
người được bỗ nhiệm làm giám đốc trung tâm kiến trúc và đô thị vào năm 1923 Về mặt lý thuyết, ông chỉ trích những công trình của kiến trúc Tân Cô điền và bắt đầu
hệ thống hóa lại những dữ liệu khí hậu, văn hóa bản địa trong việc sáng tác Từ
quan điểm đó ông đưa ra một biến thê mới của kiến trúc thuộc địa: kiến trúc Đông,
Dương [5]
Sự phát triển của phong cách kiến trúc Đông Dương được áp dụng đầu tiên cho những công trình văn hóa như Bảo Tang Viễn Đông Bác Cổ ( 1932) cho đến cả
những công trình như Đại Học Đông Dương (1926) Sở tài chính (1930) [18]
Trong những năm 40 phong cách kiến trúc Đông Dương được khuyến khích bởi chính quyền sở tại Kiến trúc Đông Dương dù vẫn còn mang theo mình phong, cách xu hướng Pháp lúc bấy giờ nhưng từ nội tạng đã có một sự thay đôi tìm tòi
trong vật liệu cũng như không gian nhằm thích nghỉ với khí hậu cũng như văn hóa
bản địa hơn.[18] Phong cách kiến trúc Đông Dương được theo đuổi sau này bởi một số kiến trúc sư Pháp cũng như Việt Nam Nó tôn vinh phần nào giá trị bản sắc
dân tộc vào sáng tác
Đồng thời với sự phát triển của kiến trúc Đông Dương, phong cách kiến trúc
hiện đại cũng từng bước du nhập Năm 1925, danh họa Vietor Tardieux sáng lập nên trường cao đẳng mỹ thuật Đông Dương Trường nhanh chóng tạo nên một bước
Trang 28nhưng vẫn chưa thực sự cụ thể.[26]
Trong giai đoạn này chỉ có một số lượng nhỏ kiến trúc sư Việt Nam như Nguyễn Bá Lăng, Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp, Tạ Mỹ Duật được đảo
tạo tại trường cao đẳng mỹ thuật Đông Dương và làm việc trong những vị trí quan
trọng trong hệ thống quản lý công trình dân dụng Giới kiến trúc sư Việt Nam
thường làm việc với những tầng lớp tư sản đã bị ảnh hưởng bởi văn hóa phường Tây, vì vậy các khu dân cư nội thành Hà Nội được bao phủ bởi những dinh thự hiện
đại, thế hệ kiến trúc sư này cũng thử nghiệm việc kết hợp giữa hiện đại và truyền thống để kế thừa lại quá trình phát triển kiến trúc giai đoạn sau 1954.[26]
Nhìn lại thời điểm hiện tại, kiến trúc thuộc địa đã tạo nên những ảnh hưởng
lớn trong tiến trình phát triển lịch sử kiến trúc Việt Nam Ảnh hưởng đó diễn ra theo
trình tự, quy luật song song với giai đoạn chính trị 1859 - 1954 Những thành quả
để lại của nó tạo nên một qũy di sản kiến trúc cũng như kiến thức lớn mang ý nghĩa lịch sử Tự nội trạng kiến trúc thuộc địa đã thay đổi để thích ứng hơn với môi trường, và nó phát triển được nhờ vào việc ứng dụng những giá trị truyền thống Cần bảo tồn cũng như sử dụng, quy hoạch hợp lý những quỹ di sản này.|Š]
Bảng 1.2 - Bảng thống kê một số công trình kiến trúc lớn tại Hà Nội xây
dựng trong thời Pháp thuộc [26]
'Công trình Năm XD Công dụng hiện tại
Ga đường sắt 1901 |GaHà Nội
Phủ toàn quyên Đông Dương | 1907 | Phu Cha tich Việt Nam
Dinh thông sứ Bắc Kỳ 1919 [ Nhà khách Chính phủ Việt Nam Toa an 1906 _ | Tòa án Nhân dân Tôi cao Việt Nam
Trang 29
Tru so quân đội Pháp 1877 _ | Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
Sở bưu điện 1922 | Bưu điện Hà Nội
Trường trung học Albert 929 | TnH 30 Bàn chấp hành Trùng ương Sarraut Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà hát thành phố TOI | Nha hat Ton Ha NOL
Bao ting Louis Finot 1931 | Bao tng Lich sử Việt Nam
Sở thuế 1903 | Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
Ngân hàng Đông Dương 1930 [Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
1.3.2 Một số Nhà thờ Thiên Chúa giáo tại khu vực Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương,
Trang 3020
sau nhà thờ có hình vòng cung Nhà thờ còn có một số công trình phụ như đài Đức
Mẹ theo phong cách A Đông, mang y phục cô truyền Việt Nam.[ 12]
b Nhà thờ Hà Đông (Hà Tây)
¬
Hinh 1.7 Nhà thờ Hà Đông [12]
Nhà thờ có kiến trúc Roman, được khánh thành vào năm 1912 Mặt tiền nhà
thờ được trang trí khá tỉ mi, bên trên cửa chính có ghi tên thánh bổn mạng của nhà
thờ: Thánh Phanxico Xavie Nhà thờ có chiều dài khoảng 20m, chiều rộng 10m,
Trang 31Nhà thờ được khánh thành vào năm 1903 Nhà thờ Hà Hồi, bên ngoài theo
kiến trúc phương Tây, bên trong lại theo phong cach A Đông với bốn hàng cột lim
11 cặp về đối được treo trên 22 cây cột trong lòng nhà thờ và trên cung thánh.[12]
d Nhà thờ Hưng Yên (thị xã Hưng Yên)
được nguyên vẹn nét kiến trúc độc đáo mà ít thánh đường có được
e Nhà thờ Ngọc Châu (xã Vĩnh Qui, huyện Ân Thi)
Trang 3222
Nha thờ kiến trúc theo lối Gothique với một tháp chuông cao mái nhọn,
thanh thoát Nhà thờ cao 16m, rộng 14,5m, dài 42m Nội thất uy nghỉ hoành tráng
với đường nét Gothique hài hòa làm nỗi bật bàn thờ cỗ sơn son thếp vàng lộng lẫy, với những nét hoa văn tinh tế sang trọng [12] Qua những thăng trầm lịch sử, giáo
họ đã nhiều lần xây xựng và tái sửa chữa nhà thờ
£ Nhà thờ Vĩnh Phúc (xã Đồng Thanh, huyện Kim Động)
giảng đàn theo kiểu các nhà thờ cỗ của Châu Âu.[12]
g Nha thờ Hải Duong (tp Hai Duong)
Trang 33Nhà thờ được xây dựng vào năm 1942, mang dang dap kién tric Baroque,
rng 14m, đài 20m, cao 10m.[12] Mặt chính cũng như nội thất bên trong nhà thờ được chia làm ba nhịp, nhịp giữ có kích thước lớn hơn hai nhịp biên là nơi tập trung
giáo dân trong các buổi làm lễ
h Nhà thờ Kẻ Sặt (Bình Giang, Hải Dương)
Tình 1.13 Nhà thờ Kẻ Sặt [12]
Nha thé Ke Sat lúc đầu ở khu Thượng sau đó được dời về vị trí trung tâm
của làng từ năm 1872 theo kiến trúc Gothique Nội thất nha thờ được chia thành ba
nhịp, nhịp giữ lớn hơn hai nhịp biên Hệ thống cửa số cuốn nhọn được lấp đầy bởi các bức tranh Thánh bằng kính màu làm cho không gian nội thất thêm huyền ảo
Nha thờ có khuôn viên rộng lớn, tháp chuông đứng độc lập như một điểm nhắn đặc biệt trong cụm các công trình của nhà thờ Năm 1927, nhà thờ được trùng tu.[12]
¡ Nhà thờ Trác Bút (Bút Đông) (huyện Duy Tiên, Hà Nam)
Trang 3424
Nhà thờ Trác Bút, còn được gọi là nhà thờ Bút Đông, được xây dựng vào
năm 1920 Nhà thờ được xây theo phong cách Roman Đầu cột và các vòm đều có
hoa văn nỗi rất tỉ mi.[12] Là một giáo xứ lớn với hơn 4000 tín hữu và được mệnh danh là cái nôi của các Linh Mục,
k Nhà thờ Kẻ Sở (huyện Thanh Liêm, Hà Nam)
về Hà Nội (1933): Nhà thờ do giám mục Puginier-Phước khởi công xây năm 1877
theo phong cách Gothique và hoàn tất năm 1882 Bốn hàng cột chia lòng nhà thờ
thành 5 gian đọc, dài 67m, rộng 3Im, cao 23m, có thể chứa từ 4000 đến 5000
người, không có ghế Cửa số lắp kính mâu Bàn thờ sơn son thếp vàng, vách cung, thánh bằng gỗ chạm trồ tỉnh vi.[12]
Trang 351.3.3 Sự phân bố của Nhà thờ Thiên Chúa giáo tại Hà Nội thời Pháp thuộc
Bang 1.3- Các Nhà thờ Thiên Chúa giáo xây dung tai Ha No thời Pháp thuộc
Phién | Hang Bot | 1925 162 Tôn Đức Thắng Giáo xứ 1962
Marie Tk19
Tin Lanh - 61 Lý Thái Tổ _NXB Âm nhạc
Xanh Pén - 72 Nguyén Thái Học Bénh vién
'Đề tài nghiên cứu 7 nhà thờ trên (đánh số 1->7).
Trang 3626
TìHộï nghị x
PES seal 2 J SÁCH KHoA Thứ
ROYALCITY Ttng oy PHUONG MAI”
Trang 391.3.4 Hign trạng kiến trúc của Nhà thờ Thiên Chúa giáo trên địa bàn Hà Nội thời Pháp thuộc
do Đức Giám mục Puginier-Phước xây từ năm 1882 và ngày 24 tháng 12 năm 1886, nhà thờ được khánh thành Nhà thờ dài 5Sm, rộng khoảng 20m, cao khoảng 20m,
Trang 4030
được xây dựng theo kiến trúc Gothich Trần nhà thờ được làm bằng nan tre đan vào với nhau như thuyền nan [12] Ở tòa gian chính có tượng thánh Giuse bằng đất nung cao hơn 2m Năm 1886, nhà thờ được trang bị một chiếc đồng hồ lớn và một
bộ chuông gồm bón chuông nhỏ và một chuông lớn Đặc biệt là chiếc đồng hồ lớn gắn giữa mặt tiền nhà thờ Đồng hồ có báo khắc, báo giờ, hệ thống chuông báo
được liên kết với 5 quả chuông treo trên hai tháp Trung tâm quảng trường phía trước nhà thờ có đài Đức Mẹ được làm bằng kim loại, xung quanh nhà thờ có đường kiệu, bồn hoa, phía sau có hang đá.[26]
Thời gian trôi qua, người dân Hà thành đã quen thuộc và chấp nhận hình ảnh của Nhà thờ lớn như một biểu tượng văn hoá mới Nhà thờ Chính tòa Hà Nội nay đã trở thành một phần không thể tách rời của Hà Nội, trở thành địa chỉ quen thuộc không chỉ của những con chiên ngoan đạo mà còn của mọi tằng lớp dân cư Hà thành [26]