ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC NGUYỄN THÀNH LÂM KHẢO SÁT KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ THỰC HÀNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG COVID-19 CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT TRẦN QUANG KHẢI TỈ
TỔNG QUAN
Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm đại dịch Đại dịch có thể được định nghĩa "là dịch bệnh xuất hiện trên toàn cầu hoặc trên một khu vực rộng lớn xuyên qua biên giới quốc gia, và thường ảnh hưởng đến rất nhiều người" [4]
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phân chia đại dịch thành 6 giai đoạn, mô tả quá trình lây nhiễm của virus cúm mới Giai đoạn đầu tiên bắt đầu từ sự lây nhiễm ở động vật, sau đó có một vài ca lây nhiễm từ động vật sang người Tiếp theo, virus bắt đầu lây lan trực tiếp giữa người với người, và cuối cùng, đại dịch xảy ra khi sự lây nhiễm diễn ra trên toàn cầu.
1.1.2 Khái niệm đại dịch covid 19 Đại dịch COVID-19 [6, 7, 8] là một đại dịch bệnh truyền nhiễm với tác nhân là virus SARS-CoV-2 (virus Corona 2 gây ra hội chứng hô hấp cấp tính nặng), đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu [9] Khởi nguồn vào cuối tháng 12 năm 2019 với tâm dịch đầu tiên được ghi nhận tại thành phố Vũ Hán thuộc miền Trung Trung Quốc, bắt nguồn từ một nhóm người mắc viêm phổi không rõ nguyên nhân Giới chức y tế địa phương xác nhận rằng trước đó họ đã từng tiếp xúc, chủ yếu với những thương nhân buôn bán và làm việc tại chợ bán buôn hải sản Hoa Nam Các nhà khoa học Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu và phân lập được một chủng corona virus mới, được Tổ chức Y tế Thế giới lúc đó tạm thời gọi là 2019-nCoV, là một loại virus RNA sợi đơn cảm nhận dương tính với tế bào biểu mô và hệ hô hấp, có trình tự gen giống với SARS-CoV trước đây với mức tương đồng lên tới 79,5% Giống như người tiền nhiệm của nó, SARS-CoV, SARS-CoV-2 cũng thuộc chi beta- coronavirus cùng với MERS-CoV và thuộc họ Coronaviridae [10, 11, 12]
Các ca nghi nhiễm đầu tiên ở Vũ Hán được báo cáo vào ngày 31 tháng
12 năm 2019 Trường hợp tử vong do SARS-CoV-2 đầu tiên xảy ra ở Vũ Hán
Vào ngày 9 tháng 1 năm 2020, các ca nhiễm virus COVID-19 đầu tiên bên ngoài Trung Quốc đã được xác nhận, bao gồm hai người phụ nữ ở Thái Lan và một người đàn ông ở Nhật Bản Các triệu chứng lâm sàng của COVID-19 đã bắt đầu xuất hiện ở những bệnh nhân này.
Bệnh này có triệu chứng bao gồm sốt, mệt mỏi, ho khan, khó chịu và khó thở, với tỷ lệ mắc và tử vong cao Sự lây nhiễm virus từ người sang người đã được xác nhận, cùng với tỷ lệ bùng phát dịch tăng nhanh vào giữa tháng 1 năm 2020.
Vào ngày 23 tháng 1 năm 2020, chính phủ Trung Quốc đã quyết định phong tỏa thành phố Vũ Hán, dẫn đến việc tạm ngưng toàn bộ hệ thống giao thông công cộng cũng như các hoạt động xuất - nhập khẩu.
Ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ra tuyên bố gọi "COVID-19" là "Đại dịch toàn cầu" [21]
1.1.3 Các biến chủng hiện nay của covid 19
Các vi-rút như SARS-CoV-2 liên tục tiến hóa thông qua các đột biến gen trong quá trình sao chép bộ gen Dòng vi-rút là nhóm các biến thể có mối liên hệ di truyền chặt chẽ, xuất phát từ một hình thức sơ khai chung Mỗi biến thể có những đột biến riêng biệt, khác biệt với các biến thể khác của vi-rút SARS-CoV-2.
Lược đồ phân loại biến thể SIG (Nhóm liên ngành về SARS-CoV-2 của chính phủ Hoa Kỳ) xác định bốn loại biến thể SARS-CoV-2:
- Biến thế đang được theo dõi (VBM)
- Biến thể đáng quan tâm (VOI)
- Biến thể đáng lo ngại (VOC):
+ Delta (B.1.617.2 và các dòng AY) + Omicron (B.1.1.529 và dòng BA)
- Biến thể có hậu quả nghiêm trọng (VOHC) [22].
Bệnh vi-rút corona (COVID-19)
Sự khởi phát ca bệnh đầu tiên của COVID-19 vào ngày 8 tháng 12 năm 2019 được cho là có liên quan đến một chợ hải sản ở Vũ Hán, Trung Quốc, nơi buôn bán hải sản, động vật sống, gia cầm và động vật hoang dã Một nghiên cứu từ Pháp đã phát hiện SARS-CoV-2 trong mẫu lưu trữ từ một bệnh nhân viêm phổi vào cuối năm 2019, cho thấy virus có thể đã lây lan sớm hơn so với thời điểm bùng phát chính thức Do đó, có ý kiến cho rằng chợ hải sản ở Vũ Hán không phải là nguồn lây nhiễm ban đầu của SARS-CoV-2 Tuy nhiên, báo cáo này vẫn cần nhiều nghiên cứu xác thực hơn để làm rõ nguồn gốc của virus.
Theo thống kê, mọi lứa tuổi đều có khả năng nhiễm COVID-19 với mức độ từ nhẹ đến nặng Đã có báo cáo về các ca bệnh liên quan đến sự lây nhiễm COVID-19.
19 qua nhau thai từ mẹ sang con [25]
Các triệu chứng phổ biến của COVID-19 bao gồm sốt, ho và khó thở, trong khi các triệu chứng ít phổ biến hơn như đau đầu, tiêu chảy, buồn nôn, nôn, đau ngực và ớn lạnh cũng đã được ghi nhận Tại Ý, có báo cáo về các ca bệnh gặp triệu chứng rối loạn khứu giác và vị giác Khi khởi phát, COVID-19 thường gây sốt và tổn thương đường hô hấp, trong trường hợp nặng có thể dẫn đến viêm phổi và tổn thương nhiều cơ quan khác, đặc biệt ở những bệnh nhân có bệnh nền, có thể dẫn đến tử vong.
COVID-19 lây lan dễ dàng từ người sang người qua tiếp xúc với dịch cơ thể của bệnh nhân Virus cũng có thể lây truyền khi ai đó chạm vào vật dụng mà người bệnh đã chạm vào, rồi đưa tay lên miệng, mũi hoặc mắt Những người chăm sóc bệnh nhân có nguy cơ phơi nhiễm virus khi xử lý chất thải của họ.
Tùy thuộc vào mức độ lây lan của chủng virus, việc ho, hắt hơi hay bắt tay có thể khiến người xung quanh bị phơi nhiễm
COVID-19 lây lan chủ yếu qua tiếp xúc gần gũi giữa người với người, đặc biệt là trong khoảng cách 2 mét (6 feet).
Những người bị nhiễm bệnh nhưng không biểu hiện triệu chứng cũng có thể lây virus sang người khác [27]
COVID-19 lây lan dễ dàng giữa người với người, với mức độ lây lan hiệu quả hơn bệnh cúm nhưng kém hơn so với bệnh sởi, một trong những virus dễ lây lan nhất đối với con người.
COVID-19 lây lan phổ biến nhất khi tiếp xúc gần:
+ Những người ở gần (trong vòng 6 feet=2m) một người bị bệnh hoặc tiếp xúc trực tiếp với người đó có nguy cơ lây nhiễm cao nhất
Khi người bệnh ho, hắt hơi, hát, nói chuyện hoặc hít thở, họ tạo ra các giọt đường hô hấp có kích thước khác nhau, từ những giọt lớn có thể nhìn thấy đến những giọt nhỏ hơn Những giọt nhỏ này có thể nhanh chóng khô lại trong không khí và hình thành các hạt.
+ Nhiễm trùng xảy ra chủ yếu do tiếp xúc với các giọt đường hô hấp khi một người tiếp xúc gần với người có COVID-19
Các giọt đường hô hấp có thể gây nhiễm trùng khi chúng được hít vào hoặc tích tụ trên các màng nhầy, như bên trong mũi và miệng.
Khi các giọt đường hô hấp từ người bệnh di chuyển xa, nồng độ của chúng giảm dần Các giọt lớn hơn sẽ rơi xuống đất do tác động của trọng lực, trong khi các giọt và hạt nhỏ hơn tiếp tục phát tán trong không khí.
+ Theo thời gian, số lượng virus lây nhiễm trong các giọt đường hô hấp cũng giảm dần
COVID-19 đôi khi có thể lây lan qua đường truyền trong không khí:
Một số bệnh nhiễm trùng có thể lây lan qua virus tồn tại dưới dạng giọt và hạt nhỏ trong không khí, kéo dài từ vài phút đến hàng giờ Virus này có khả năng lây nhiễm cho những người ở khoảng cách hơn 6 feet hoặc ngay cả sau khi người nhiễm đã rời khỏi không gian đó.
Lây truyền qua đường không khí là một phương thức quan trọng trong việc lây lan các bệnh nhiễm trùng, bao gồm bệnh lao, bệnh sởi và thủy đậu.
Dữ liệu cho thấy virus gây ra COVID-19 lây lan chủ yếu qua tiếp xúc gần gũi với người nhiễm bệnh, thay vì lây truyền qua không khí.
COVID-19 ít lây lan hơn khi tiếp xúc với các bề mặt bị ô nhiễm:
Các giọt hô hấp có thể rơi xuống bề mặt và đồ vật, khiến cho người dùng có nguy cơ nhiễm virus khi chạm vào những bề mặt này và sau đó chạm vào miệng, mũi hoặc mắt của mình.
+ Lan truyền từ các bề mặt chạm vào không được cho là cách phổ biến khiến dịch bệnh lây lan
COVID-19 hiếm khi lây lan giữa người và động vật:
Virus có thể lây lan từ người sang động vật, và CDC đã ghi nhận một số ít vật nuôi, bao gồm mèo và chó, bị nhiễm virus gây ra COVID-19 Sự lây nhiễm này chủ yếu xảy ra sau khi các động vật tiếp xúc gần với những người mắc COVID-19.
+ Tại thời điểm này, nguy cơ lây lan COVID-19 từ động vật sang người được coi là thấp [29]
1.2.3 Triệu chứng và biến chứng
Đại dịch COVID-19 gây ra nhiều triệu chứng đa dạng, với các biểu hiện khác nhau giữa các bệnh nhân Các triệu chứng phổ biến thường xuất hiện từ 2 đến 14 ngày sau khi tiếp xúc với virus, bao gồm sốt, đau cơ, đau đầu, ho, đau họng và mất vị giác Trong trường hợp nghiêm trọng, nhiễm trùng phổi có thể dẫn đến các dấu hiệu cấp cứu như khó thở do viêm phổi.
- Các triệu chứng phổ biến nhất của COVID-19 là sốt, ho khan và mệt mỏi
Một số nghiên cứu liên quan đến kiến thức, thực hành về phòng chống dịch bệnh COVID – 19
Nghiên cứu của Maria F Alves và nhóm tác giả Bồ Đào Nha thực hiện trên 1996 học sinh từ 16 tuổi ở Cabo Verde vào tháng 3 năm 2020 cho thấy 82% học sinh trả lời đúng 9/11 câu hỏi về COVID-19 Đặc biệt, 76,15% có thái độ rất tích cực đối với đại dịch và tin tưởng vào khả năng kiểm soát dịch bệnh Hơn nữa, 96,48% học sinh thực hiện việc không tụ tập và tránh những nơi đông người, trong khi 86,37% đã thay đổi thói quen khi ra ngoài bằng cách đeo khẩu trang và sát khuẩn tay.
Nghiên cứu của tác giả Ronald Olum và các cộng sự từ ngày 13 đến 19 tháng 04 năm 2020 đã thu thập dữ liệu từ 741 sinh viên tại một trường đại học ở Uganda Kết quả cho thấy 671 sinh viên (91%) có kiến thức tốt về COVID-19, với 95% nhận diện sốt, 85% ho và 88% khó thở là các triệu chứng chính Sinh viên năm cuối có kiến thức tốt hơn so với sinh viên năm nhất, trong khi 74% có thái độ tích cực đối với việc phòng ngừa COVID-19 Tuy nhiên, sinh viên nữ thể hiện thái độ tiêu cực hơn đáng kể.
Nghiên cứu cho thấy rằng nam sinh viên có khả năng phòng ngừa COVID-19 thấp hơn so với nữ sinh viên, với tỷ lệ KTC 95% là 0,7 (0,5-1,0; P = 0,04) Hầu hết người tham gia đều đồng ý sẽ đi kiểm tra tại cơ sở y tế nếu tiếp xúc với bệnh nhân nhiễm COVID-19 Đặc biệt, 80% sẵn sàng tham gia điều trị bệnh nhân COVID-19 khi được kêu gọi, trong khi chỉ có 57% (n = 426) thực hành tốt các biện pháp phòng ngừa COVID-19.
Nghiên cứu của Angelo A.T và cộng sự năm 2020 tại một trường THPT ở Ý cho thấy trong số 2380 sinh viên tham gia, 40,7% là nam và 59,3% là nữ Mức độ hiểu biết về đặc điểm di truyền của COVID-19 giữa các giới là tương đương Học sinh nắm vững kiến thức về biểu hiện lâm sàng, nguyên tắc vệ sinh cơ bản, phương thức lây truyền và biện pháp bảo vệ chống lại virus Tuy nhiên, kiến thức về quy mô đại dịch và mối tương quan khoa học với COVID-19 vẫn còn khó hiểu Nguồn thông tin chính về COVID-19 chủ yếu đến từ truyền hình, trong khi trường học đóng vai trò ít hơn Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhiều học sinh có thực hành phù hợp và thái độ tích cực đối với COVID-19 trong bối cảnh bùng phát Do đó, cần tăng cường giáo dục cho học sinh về ý nghĩa sinh học của bệnh và các biện pháp phòng ngừa trong tương lai.
Hiện tại ở Việt Nam, các nghiên cứu tìm hiểu kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống dịch COVID 19 hiện tại chủ yếu là khảo sát với người trên
18 tuổi như sinh viên, nhân viên y tế, hoặc người đã đi làm,…, khảo sát trên lứa tuổi học sinh còn hạn chế
Nghiên cứu của tác giả Lê Phương Thảo về "Kiến thức, thái độ thực hành về biện pháp phòng chống COVID-19 của học sinh trường THPT tỉnh Thái Bình năm 2020" đã khảo sát 1182 học sinh trường THPT Nguyễn Trãi Kết quả cho thấy phần lớn học sinh có kiến thức cơ bản tốt về nhận biết và phòng ngừa COVID-19, với tỷ lệ đạt 77,2% cho 22/33 điểm kiến thức Đặc biệt, 84,3% học sinh đã trả lời đúng về đường lây truyền qua giọt bắn, trong khi 71,19% sinh viên biết cách vệ sinh đúng cách.
Giới thiệu về địa điểm NC
Để phòng ngừa COVID-19 hiệu quả, 64,4% sinh viên đã nắm rõ thông điệp 5K của Bộ Y Tế Đáng chú ý, 93,8% sinh viên thể hiện thái độ tích cực trong việc thực hiện các biện pháp phòng chống dịch Tỷ lệ sinh viên thực hành tốt các biện pháp phòng chống COVID-19 đạt 75,5%.
Nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Ánh về "thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của sinh viên Trường đại học Y Dược – ĐHQGHN về phòng chống dịch bệnh COVID-19 năm 2020" đã khảo sát 653 sinh viên khối ngành khoa học sức khỏe Kết quả cho thấy 94,03% sinh viên có kiến thức ở mức khá trở lên và không có sự khác biệt trong hiểu biết giữa nam và nữ Đáng chú ý, 98,16% sinh viên thường xuyên cập nhật thông tin về dịch bệnh, với 100% sinh viên thể hiện thái độ tích cực, sẵn sàng thực hiện các biện pháp an toàn theo khuyến cáo và khai báo cách ly theo quy định Tỉ lệ sinh viên được đánh giá có thực hành tốt, khá và trung bình lần lượt là 89,74%; 9,04%; và 1,23%.
Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Trang về “ Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng chống COVID-19 của học sinh trường THCS Bình Nghĩa tỉnh
Nghiên cứu "Hà Nam năm 2021" trên 367 học sinh THCS cho thấy 71,1% học sinh có kiến thức về triệu chứng và biện pháp phòng chống, 94,3% hiểu biết về đường lây truyền và nhóm đối tượng có nguy cơ cao Về thái độ, 67,2% đạt mức độ chấp nhận, trong đó 51,4% ở mức khá và 15,8% ở mức cao Tỉ lệ điểm thực hành đạt mức 64,8%, với 56,6% ở mức khá và 8,2% ở mức cao, đặc biệt nhóm học sinh cuối cấp có điểm thực hành cao hơn nhóm còn lại.
1.4 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu
1.4.1 Giới thiệu chung về Nhà trường
Trường THPT Trần Quang Khải, được thành lập vào năm 2001 theo Quyết định số 38/QĐ-UB của UBND tỉnh Hưng Yên, đã chính thức ra mắt vào ngày 20/12/2001 Ngôi trường vinh dự mang tên vị tướng tài ba Trần Quang Khải, thể hiện sự tôn trọng đối với những đóng góp của ông cho lịch sử dân tộc.
Triều đại nhà Trần, được xây dựng trên diện tích 14.000m 2 trên địa bàn xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu – tỉnh Hưng Yên
1.4.2 Tổng quan về sơ đồ tổ chức:
Nhà trường hiện có 27 lớp học được chia đều cho ba khối 10, 11 và 12 Mỗi khối lớp bao gồm các lớp chuyên Tự nhiên, tập trung vào các môn học như toán, lý, hóa, sinh, và các lớp chuyên Xã hội, chú trọng vào văn, sử, địa, GDCD Việc sắp xếp lớp học dựa trên thành tích thi vào THPT của từng học sinh.
Hiện tại, trường có 3 cán bộ quản lý, 64 giáo viên và công nhân viên, với tổng số 800 học sinh đang theo học Dù mới được thành lập năm 2001, trường đã xây dựng được đội ngũ giảng dạy chuyên nghiệp, tài năng và tận tâm, giúp chất lượng học sinh luôn nằm trong top đầu các trường cấp 3 trong khu vực Được đầu tư về truyền thông và công nghệ hiện đại, giáo viên và học sinh tại trường luôn tiếp cận được những kiến thức mới mẻ, vượt ra ngoài chương trình học chính thức.
1.4.3 Khu vực địa lý kinh tế
Trường THPT Trần Quang Khải tọa lạc tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, khu vực nổi bật với hoạt động buôn bán sầm uất và nhiều chợ đầu mối cung cấp hàng hóa cho thủ đô Hà Nội Gần bờ sông Hồng, nơi đây còn có nhiều hoạt động kinh doanh giải trí phong phú, thu hút sự quan tâm của người dân và du khách.
Với vị trí địa lý thuận lợi gần thủ đô Hà Nội, khu vực này thu hút một lượng lớn người lao động, thương nhân và dịch vụ, tạo nên sự nhộn nhịp trong hoạt động kinh tế.
Với tinh thần trách nhiệm cao và các chính sách hiệu quả từ bộ máy lãnh đạo, khu vực trường và tỉnh Hưng Yên đã ghi nhận ca mắc COVID-19 đầu tiên muộn hơn so với các địa phương khác, đồng thời ít khi nằm trong danh sách các tỉnh thành có số ca nhiễm COVID-19 cao.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Các học sinh từ khối 10 đến khối 12 thuộc tất cả phân ban (Tự nhiên, xã hội, tổng hợp) đang học tập tại Trường THPT Trần Quang Khải- Hưng Yên
Các học sinh đồng ý tham gia điền vào biểu mẫu trực tuyến sau khi được giới thiệu và giải thích về nghiên cứu
Sinh viên không đồng ý tham gia nghiên cứu
Sinh viên đã thôi học tại Trường
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu Địa điểm thực hiện nghiên cứu tại Trường THPT Trần Quang Khải tỉnh Hưng Yên
Thời gian nghiên cứu từ tháng 05/2021 đến tháng 05/2022
Phương pháp nghiên cứu và thu thập số liệu
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Toàn bộ học sinh đang học tập tại học tập tại Trường THPT Trần Quang Khải đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Cỡ mẫu đã thu thập được là 765 trên tổng số 800 học sinh
Phương pháp chọn mẫu được thực hiện bằng cách sử dụng mẫu thuận tiện, trong đó tất cả học sinh đủ điều kiện tham gia nghiên cứu sẽ được lựa chọn Bộ câu hỏi đã được gửi đến tất cả các lớp học đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu.
2.2.3 Công cụ thu thập số liệu
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp thu thập dữ liệu qua khảo sát trực tuyến, sử dụng mẫu phiếu điện tử thiết kế bằng Google Form Khảo sát được thực hiện từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2021.
2.2.4 Các biến số nghiên cứu
Bảng 2.1 Một số biến số nghiên cứu
STT Biến số Định nghĩa Phương pháp thu thập Thông tin nhân khẩu học
1 Giới tính Giới tính nam hoặc nữ theo thông tin CMND
2 Khối Khối lớp đang theo học
3 Phân ban Ban tự nhiên và ban xã hội theo danh sách của nhà trường
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ của học sinh trường THPT Trần Quang Khải về phòng chống dịch bệnh COVID – 19 năm 2020
4 Kiến thức về tác nhân gây bệnh COVID-19
Tác nhân chính gây bệnh
5 Kiến thức về triệu chứng của COVID - 19
Các triệu chứng phổ biến bào gồm Sốt, ho và khó thở
6 Kiến thức về đường lây nhiễm COVID - 19
Những con đường lây truyền gồm: giọt bắn, tiếp xúc trực
20 tiếp, đường không khí và tiếp xúc bề mặt
7 Kiến thức về các biện pháp phòng ngừa
Các biện pháp phòng ngừa
COVID-19 theo khuyến cáo của Bộ
8 Tỉ lệ trả lời đúng quy tắc 5K
Quy tắc 5K theo ban hành của bộ Y Tế
9 Mức độ thường xuyên cập nhật tin tức về
6 bước rửa tay theo ban hành của Bộ Y
2 Mô tả thực trạng thực hành của học sinh trường THPT Trần Quang Khải về phòng chống dịch bệnh COVID – 19 năm 2020
11 Mức độ đeo khẩu trang khi đi ra ngoài
5 mức độ : Không bao giờ, thỉnh thoảng, không thường xuyên và luôn luôn
12 Mức độ thường xuyên rửa tay bằng xà phòng đúng cách
Rửa tay đúng cách 6 bước và 5 thời điểm Mẫu phiếu điện tử
13 Mức độ mang theo nước rửa tay cá nhân khi ra ngoài
Lọ rửa tay cá nhân có thể mang theo bên người
14 Mức độ súc miệng, súc họng
Súc miệng họng bằng nước muối hoặc nước súc miệng chuyên dụng
15 Mức độ thực hành về tránh đi lại, tập trung nơi đông người và giữ khoảng cách 2m
5 mức độ : Không bao giờ, thỉnh thoảng, không thường xuyên và luôn luôn
16 Mức độ thực hành các biện pháp nâng cao sức khỏe: tập thể dục, ăn uống chín
Các biện pháp nâng cao sức khỏe cá nhân nói chung
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp thu thập số liệu online thông qua Google form (từ tháng 10/2021 đến hết tháng 12/2021)
Số liệu được thu thập, làm sạch, phân tích bằng phần mềm SPSS 26
Kháo kiến thức, thái độ và thực hành của sinh viên Trường THPT Trần Quang Khải về phòng chống dịch bệnh COVID-19 năm 2021
Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ của sinh viên Trường THPT Trần Quang Khải về phòng chống dịch bệnh COVID – 19 năm 2021
Mục tiêu của nghiên cứu là mô tả thực trạng thực hành phòng chống dịch bệnh COVID-19 của sinh viên Trường THPT Trần Quang Khải trong năm 2021 Đối tượng nghiên cứu bao gồm các học sinh từ khối 10 đến khối 12 Nghiên cứu sẽ đánh giá ý thức và hành động của học sinh trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả phòng chống dịch bệnh trong môi trường học đường.
12 thuộc tất cả các phân ban (Tự nhiên, Xã hội) đang học tập tại
Trường THPT Trần Quang Khải
Chúng tôi đã chọn mẫu thuận tiện và gửi bộ câu hỏi trực tuyến đến tất cả các lớp sinh viên đáp ứng tiêu chuẩn nghiên cứu Kết quả thu được là 765 đối tượng tham gia khảo sát.
Báo cáo kết quả nghiên cứu
Xử lí số liệu
Dữ liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 26 để đánh giá hiểu biết chung về COVID-19 Mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm, trong khi câu trả lời sai không được điểm Bài kiểm tra gồm 6 câu hỏi trắc nghiệm, với tổng điểm tối đa là 6 Cụ thể, nếu đạt từ 5 điểm trở lên, người tham gia được coi là có mức độ hiểu biết tốt; từ 3 đến 4 điểm là mức hiểu biết khá; và dưới 3 điểm là mức độ hiểu biết trung bình Mục tiêu là đánh giá mức độ thực hành các biện pháp phòng chống COVID-19.
Chúng tôi quy định mức độ thực hành các biện pháp như sau: 5 điểm cho mức độ Rất tốt/hàng ngày, 4 điểm cho mức độ Khá tốt/khá thường xuyên, 3 điểm cho mức độ không thường xuyên, 2 điểm cho mức độ Có để ý nhưng chưa thực hiện, và 1 điểm cho mức độ Không tốt/chưa quan tâm Có tổng cộng 6 câu hỏi về thực hành các biện pháp với các mức độ điểm trên Tổng điểm tối đa là 30; từ 25 điểm trở lên được xem là thực hành tốt, từ 20 đến 24 điểm là thực hành khá, và dưới 20 điểm được coi là mức độ thực hành trung bình.
Bảng 2.2: Bảng điểm quy ước đánh giá mức độ hiểu biết kiến thức về COVID – 19 và mức độ thực hành các biện pháp phòng chống dịch bệnh
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã được sự chấp thuận của Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và Văn phòng Đoàn Học sinh Trường THPT Trần Quang Khải, Tỉnh Hưng Yên để tiến hành thực hiện.
Trước khi tham gia nghiên cứu, tất cả các đối tượng sẽ nhận được thông tin rõ ràng về mục tiêu và nội dung của nghiên cứu Họ có quyền tự nguyện quyết định tham gia, và mọi thông tin thu thập được sẽ chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, hoàn toàn được giữ bí mật Dữ liệu thu thập đảm bảo tính khoa học, tin cậy và chính xác.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng kiến thức, thái độ của học sinh trường THPT Trần Quang Khải về phòng chống dịch bệnh COVID – 19 năm 2020
3.1.1 Đặc điểm thông tin chung
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu Thông tin chung Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
Trong số 765 học sinh, có 307 học sinh Nam chiếm tỉ lệ 40,1%, còn lại
458 học sinh nữ chiếm tỉ lệ 59,9% Đối tượng tham gia nghiên cứu nhiều nhất thuộc khối lớp 10 (36,7%), sau đó lần lượt là khối 12 (35,3%), và khối 11 (28,0%) Số học sinh thuộc
25 phân Ban tự nhiên là 425 (55,6%), phân ban xã hội là 328 (42,9%) còn lại thuộc các phân ban khác (1,6%)
Trong kì học gần nhất, có 290 học sinh đạt loại Giỏi, chiếm 37,9% tổng số học sinh, trong khi 432 học sinh đạt loại Khá, tương đương 56,5% Phần còn lại là những học sinh có học lực Trung bình và Yếu, chiếm 5,6%.
3.1.2 Thực trạng kiến thức của học sinh
Bảng 3.2 Kiến thức về tác nhân và các triệu chứng chính của
Câu hỏi Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
Tác nhân gây bệnh COVID-19
Triệu chứng chính phổ biến hay gặp
3 Ho, đau cơ, đau đầu 50 6,5
4 Ho, đau đầu, tiêu chảy 29 3,8
5 Sốt, đau đầu, tiêu chảy 20 2,6
6 Không có triệu chứng gì 9 1,2
Theo khảo sát, 90,6% học sinh nhận biết đúng rằng tác nhân gây bệnh COVID-19 là virus Corona, trong khi chỉ 6% cho rằng đó là virus cúm.
Hiểu biết về các triệu chứng chính của COVID 19: 56,9 % học sinh biết
3 triệu chứng chính là sốt, ho, khó thở; 29% học sinh cho rằng triệu chứng chính là sốt, ho và đau họng
Bảng 3.3 Kiến thức về đường lây và các biện pháp phòng ngừa
COVID - 19 COVID 19 lây qua những con đường nào sau đây ?
1 Đường máu; do muỗi đốt; uống nước bẩn
2 Đường giọt bắn; không khí; tiếp xúc trực tiếp với nguồn bệnh; chạm tay vào bề mặt mang mầm bệnh
3 Đường máu; không khí; ăn thực phẩm bẩn; uống nước bẩn
4 Đường giọt bắn; không khí; tiếp xúc trực tiếp với nguồn bệnh; do muỗi đốt
Các biện pháp giúp phòng ngừa COVID – 19?
1 Rửa tay đúng cách; đeo khẩu trang; hạn chế ra ngoài; đốt bồ kết
2 Rửa tay đúng cách, đeo khẩu trang; hạn chế ra ngoài; ăn tỏi
3 Rửa tay đúng cách, đeo khẩu trang, giữ khoảng cách an toàn; hạn chế ra ngoài
4 Rửa tay đúng cách, giữ khoảng cách an toàn, hạn chế ra ngoài, đốt bồ kết, ăn tỏi
Nghiên cứu cho thấy 93,3% học sinh đã nắm rõ các con đường lây truyền của COVID-19, bao gồm: lây qua giọt bắn, không khí, tiếp xúc trực tiếp với nguồn bệnh và chạm tay vào bề mặt mang mầm bệnh.
Hiểu biết về các biện pháp phòng ngừa COVID 19: 94,8% học sinh biết các biện pháp chính để phòng ngừa COVID 19 là rửa tay đúng cách, đeo khẩu
Trong bối cảnh dịch bệnh, 27 trang khuyến cáo người dân giữ khoảng cách an toàn và hạn chế ra ngoài Đáng chú ý, 5,2% học sinh cho rằng các biện pháp như đốt bồ kết và ăn tỏi cũng có thể giúp phòng tránh dịch bệnh hiệu quả.
Bảng 3.4 Tỉ lệ trả lời đúng quy tắc 5K và thứ tự 6 bước rửa tay
Câu hỏi Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
Sắp xếp đúng các bước theo thứ tự về 6 bước rửa tay của Bộ Y Tế
Trả lời đúng quy tắc 5K
Có 302 học sinh (39,5%) sắp xếp đúng 6 bước rửa tay, 604 học sinh ( 79,0%) trả lời đúng về quy tắc 5K của Bộ Y tế
Biểu đồ 3.1 Mức độ hiểu biết chung về COVID – 19
Trong một cuộc khảo sát về hiểu biết chung về COVID-19, có 421 học sinh (55%) được đánh giá có mức độ hiểu biết tốt, 320 học sinh (41,8%) đạt mức khá, và chỉ 24 học sinh (3,2%) có mức độ hiểu biết trung bình.
Bảng 3.5 Mức độ hiểu biết chung về COVID – 19 của học sinh theo giới tính Kiến thức
Chung 421 55,0 320 41,8 24 3,2 a: Kiểm định Chi- square
Tỉ lệ hiểu biết ở mức tốt giữa sinh viên nam và sinh viên nữ là 51,8% và 57,2%; mức khá là 43,0% và 41,0%; mức trung bình là 5,2% và 1,7 %
Trong nghiên cứu này, p=0,017< 0,05 cho thấy sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê
Bảng 3.6 Mức độ hiểu biết chung về COVID – 19 của học sinh theo khối lớp Kiến thức
Chung 421 55,0 320 41,8 24 3,2 a: Kiểm định Chi- square
Khối 10 có tỉ lệ học sinh hiểu biết ở mức tốt là 52,3%, khối 11 là 57,5%, khối 12 là 55,9% Trong nghiên cứu này p=0,591>0,05 cho thấy sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
Bảng 3.7 Mức độ hiểu biết chung về COVID – 19 theo các phân ban Kiến thức
Chung 421 55,0 320 41,8 24 3,2 a: Kiểm định Chi- square
Học sinh lớp Tự nhiên có tỷ lệ hiểu biết đạt mức Tốt, Khá và Trung bình lần lượt là 54,8%, 41,9% và 3,3% Tương tự, học sinh lớp Xã hội có tỷ lệ này là 54,9%, 42,4% và 2,7% Kết quả nghiên cứu cho thấy p=0,669 > 0,05, điều này chỉ ra rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm học sinh.
Bảng 3.8 Mối liên quan quan giữa mức độ hiểu biết chung các kiến thức về COVID – 19 với xếp loại học lực Kiến thức
Chung 421 55,0 320 41,8 24 3,2 a: Kiểm định Chi- square
Học sinh xếp loại Giỏi có tỷ lệ hiểu biết mức Tốt cao nhất, đạt 62,8%, tiếp theo là học sinh loại Khá với 52,5% Trong khi đó, học sinh có học lực Trung bình và yếu chỉ đạt 27,9% ở mức hiểu biết Tốt Nghiên cứu cho thấy sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
3.1.3 Thực trạng thái độ của sinh viên Trường THPT Trần Quang Khải về phòng chống dịch bệnh COVID-19 năm 2021
Bảng 3.9 Mức độ cập nhật thông tin về COVID – 19 của học sinh
Mức độ Số lượng(n) Tỉ lệ (%)
Theo bảng kết quả, 32% học sinh luôn cập nhật tin tức về dịch bệnh, 50,8% thường xuyên theo dõi, 16,7% thỉnh thoảng mới cập nhật, và chỉ 0,6% học sinh không quan tâm đến thông tin về dịch bệnh.
Bảng 3.10 Thái độ của học sinh với dịch bệnh COVID 19
Câu hỏi Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
Tôi lo lắng về việc thành viên trong gia đình mắc COVID - 19
Nếu bị mắc bệnh tôi sẵn sàng khai báo trung thực và cách ly theo quy định
Tôi sẵn sàng thực hiện các biện pháp an toàn để phòng chống COVID –
Tôi mong muốn chia sẻ thông tin chính xác đến người thân và cộng đồng về COVID – 19
Tôi tự giác khai báo,chia sẻ thông tin về lịch trình di chuyển của bản thân với nhân viên y tế khi có dấu hiệu nhiễm bệnh
Tôi sẵn sàng chấp nhận tiêm vaccine Covid-19?
Đa số học sinh thể hiện thái độ tích cực trước đại dịch COVID-19, với 25,6% đồng ý và 64,1% hoàn toàn đồng ý về việc tự giác khai báo khi có dấu hiệu nhiễm bệnh Về việc chấp nhận tiêm vaccine phòng COVID-19, tỷ lệ này là 19% đồng ý và 71,2% hoàn toàn đồng ý Tuy nhiên, tỷ lệ lo lắng về việc thành viên trong gia đình mắc COVID-19 lại thấp hơn, chỉ đạt 67%.
Mô tả thực hành của học sinh Trường THPT Trần Quang Khải về phòng chống dịch bệnh COVID – 19 năm 2020
Bảng 3.11 Thực hành các biện pháp phòng chống COVID – 19 của học sinh Mức độ
1 Không tốt/ chưa quan tâm
2 Có để ý nhưng chưa thực hiện
4 Khá tốt/ khá thường xuyên
5 Rất tốt/ hàng ngày n % n % n % n % n % Đeo khẩu trang khi đi ra ngoài 1 0,1 3 0,1 6 0,8 61 8,0 694 90,7
Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng/ dung dịch sát khuẩn
Mang theo nước rửa tay cá nhân 34 4,4 123 16,1 145 19,0 194 25,4 269 35,2 Súc miệng, súc họng thường xuyên 13 0,7 42 5,5 125 16,3 188 24,6 397 51,9
Tránh đi lại, tập trung nơi đông người và giữ khoảng cách tối thiểu 2m
Giữ ấm cơ thể, tập thể dục, ăn chín, uống chín
Theo khuyến cáo về biện pháp phòng chống dịch COVID-19, việc đeo khẩu trang khi ra ngoài được thực hiện tốt bởi 98,7% học sinh Biện pháp giữ ấm cơ thể và ăn uống đứng thứ hai với tỷ lệ trên 90% Các biện pháp như rửa tay đúng cách, súc miệng, súc họng và hạn chế đi lại cũng đạt tỷ lệ trên 80% học sinh thực hiện tốt Tuy nhiên, biện pháp mang theo nước rửa tay cá nhân có tỷ lệ thực hành thấp nhất, chỉ khoảng 60% học sinh thực hiện tốt.
Biểu đồ 3.2 Mức độ thực hành chung các biện pháp phòng chống dịch COVID – 19 tốt khá Trung bình
Tỉ lệ học sinh có mức độ thực hành đạt mức tốt là 67,6%, mức Khá là 28,0% và 4,4 % học sinh vẫn thực hành ở mức trung bình
Bảng 3.12 Mức độ thực hành chung các biện pháp phòng chống dịch COVID – 19 của học sinh với giới tính Thực hành
Chung 517 67,6 214 28,0 34 4,4 a: Kiểm định Chi- square
Tỉ lệ thực hành mức tốt giữa học sinh nam và nữ 63,5% và 70,3% Trong nghiên cứu này p=0,143> 0,05 cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Bảng 3.13 Mức độ thực hành chung các biện pháp phòng chống
COVID – 19 của học sinh với khối lớp Thực hành
Tỉ lệ học sinh thực hành ở mức tốt ở khối 10, 11 và 12 lần lượt là 70,8%; 65,0% 66,3% Trong nghiên cứu này, p=0,333 >0,05 cho thấy sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
Bảng 3.14 Mức độ thực hành chung các biện pháp phòng chống dịch COVID – 19 của học sinh với các phân ban
Học sinh thuộc các lớp ban tự nhiên có tỉ lệ thực hành ở mức tốt và khá là 67,3% và 28,2%; tỉ lệ này ở lớp ban xã hội 67,4% và 28,0%
Bảng 3.15 Mức độ thực hành chung các biện pháp phòng chống dịch COVID – 19 của học sinh với xếp loại học lực
Chung 517 67,6 214 28,0 34 4,4 a: Kiểm định Chi- square
Học sinh có học lực giỏi có tỉ lệ thực hành mức tốt và khá đạt 71,7% và 26,9%, trong khi học sinh khá có tỉ lệ tương ứng là 66,2% và 30,6% Đối với học sinh trung bình yếu, tỉ lệ này giảm xuống còn 53,5% và 9,3% Kết quả nghiên cứu cho thấy p=0,010