1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc không phân biệt Đối xử trở thành nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế

29 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên Tắc Không Phân Biệt Đối Xử Trở Thành Nguyên Tắc Cơ Bản Trong Thương Mại Quốc Tế
Người hướng dẫn PGS, TS. Trần Thị Thu Phương, TS. Phùng Thị Bích Ngọc
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Luật Thương Mại Quốc Tế
Thể loại Bài Thảo Luận
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 291,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong nhữngnguyên tắc nền tảng và cốt lõi là nguyên tắc không phân biệt đối xử, được thể hiện rõtrong các hiệp định thương mại và cam kết của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.Nguyên t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

KHOA LUẬT

BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN: LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Đề tài:

Bình luận về nhận định: “Nguyên tắc không phân biệt đối xử trở thành

nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế”

Giảng viên hướng dẫn: PGS, TS Trần Thị Thu Phương

TS Phùng Thị Bích Ngọc

Mã lớp học phần: 241_PLAW3111_02

Hà Nội, 2024

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng,các nguyên tắc điều chỉnh thương mại quốc tế trở nên vô cùng quan trọng nhằm đảmbảo sự công bằng, minh bạch và hiệu quả cho mọi quốc gia tham gia Một trong nhữngnguyên tắc nền tảng và cốt lõi là nguyên tắc không phân biệt đối xử, được thể hiện rõtrong các hiệp định thương mại và cam kết của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).Nguyên tắc này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra một sân chơi công bằng giữacác quốc gia, giúp thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh, và đảmbảo quyền lợi cho tất cả các bên trong quan hệ thương mại quốc tế

Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử cũng đối mặt vớinhiều thách thức, từ sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế đến các yếu tố chính trị,văn hóa và pháp luật của mỗi quốc gia Vì vậy, việc tìm hiểu, phân tích và bình luận vềnguyên tắc không phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế không chỉ giúp ta hiểu rõhơn ý nghĩa và vai trò của nó mà còn mang đến những góc nhìn sâu sắc về những khókhăn, hạn chế cũng như triển vọng trong quá trình thực thi nguyên tắc này

Đề tài “Bình luận nguyên tắc không phân biệt đối xử là nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế” sẽ đi sâu vào phân tích vai trò, ý nghĩa, và những thách

thức mà nguyên tắc này gặp phải, từ đó đưa ra các nhận xét và đề xuất nhằm hoànthiện và phát huy tối đa giá trị của nguyên tắc này trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hóahiện nay

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4

1.1 Khái niệm nguyên tắc không phân biệt đối xử 4

1.1.1 Nguyên tắc tối huệ quốc 4

1.1.2 Nguyên tắc đối xử quốc gia 4

1.2 Nội dung của nguyên tắc không phân biệt đối xử 4

1.2.1 Nội dung của nguyên tắc tối huệ quốc 4

1.2.2 Nội dung của nguyên tắc đối xử quốc gia 9

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 12

2.1 Phân tích vụ kiện DS246 và DS371 12

2.1.1 Vụ kiện DS246 về Nguyên tắc tối huệ quốc 12

2.1.2 Vụ kiện DS371 về Nguyên tắc đối xử quốc gia 14

2.2 Phân tích nguyên tắc không phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế qua hai vụ kiện DS246 và DS371 16

2.2.1 Sự cần thiết trong việc áp dụng nguyên tắc không phân biệt đối xử 16

2.2.2 Áp dụng ngoại lệ đối với nguyên tắc không phân biệt đối xử 17

2.2.3 Tầm quan trọng của nguyên tắc đối với hai bản án 18

2.2.4 Tác động của phán quyết đến thực tiễn thương mại quốc tế 19

CHƯƠNG 3 BÌNH LUẬN NGUYÊN TẮC KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ .21 3.1 Vai trò của nguyên tắc 21

3.2 Mối quan hệ giữa ngoại lệ và tính cơ bản của nguyên tắc không phân biệt đối xử 23

3.3 Thách thức trong việc áp dụng và duy trì nguyên tắc không phân biệt đối xử trong thực tiễn 24

3.4 Dự đoán và đề xuất cải thiện nguyên tắc không phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế 26

KẾT LUẬN 28

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

Trang 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Khái niệm nguyên tắc không phân biệt đối xử

Nguyên tắc không phân biệt đối xử là một trong những nền tảng cơ bản của hệthống thương mại quốc tế, đặc biệt trong các hiệp định và tổ chức như Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO) Nguyên tắc này yêu cầu các quốc gia thành viên phảiđối xử công bằng và bình đẳng giữa các đối tác thương mại, không thiên vị bất kỳquốc gia nào trong việc áp dụng các chính sách thương mại Mục tiêu của nguyên tắckhông phân biệt đối xử là thúc đẩy một môi trường thương mại công bằng và bìnhđẳng, từ đó khuyến khích tăng trưởng kinh tế toàn cầu

Nguyên tắc không phân biệt đối xử được chia thành hai nguyên tắc chính:Nguyên tắc tối huệ quốc và Nguyên tắc đối xử quốc gia

1.1.1 Nguyên tắc tối huệ quốc

Tối huệ quốc (tiếng Anh là Most favoured nation, viết tắt là MFN), là nguyên

tắc pháp lý quan trọng nhất của WTO Tối huệ quốc đòi hỏi một quốc gia phải bảođảm dành cho tất cả các quốc gia đối tác một chế độ ưu đãi thương mại thuận lợi nhưnhau Cụ thể là trong các điều ước quốc tế về thương mại cũng như luật thương mạiquốc gia, đãi ngộ tối huệ quốc thường được thể hiện dưới dạng quy định cho các sảnphẩm hàng hóa dịch vụ có xuất xứ từ một quốc gia đối tác được hưởng chế độ thươngmại “không kém ưu đãi hơn chế độ ưu đãi nhất” mà quốc gia sở tại dành cho cácnhững sản phẩm hàng hóa dịch vụ tương tự của bất kỳ quốc gia nào khác

1.1.2 Nguyên tắc đối xử quốc gia

Nguyên tắc đối xử quốc gia (tiếng Anh là National Treatment, viết tắt là NT),

quy định tại Điều III Hiệp định GATT, Điều 17 GATS và Điều 3 TRIPS, Điều 2TRIMS

Nguyên tắc đối xử quốc gia là quy chế yêu cầu các quốc gia thực hiện nhữngbiện pháp nhằm đảm bảo cho sản phẩm nước ngoài và cả nhà cung cấp những sảnphẩm đó được đối xử trên thị trường nội địa không kém ưu đãi hơn các sản phẩm nộiđịa và nhà cung cấp nội địa

1.2 Nội dung của nguyên tắc không phân biệt đối xử

1.2.1 Nội dung của nguyên tắc tối huệ quốc

Nguyên tắc tối huệ quốc được hiểu là dựa trên cam kết thương mại, một nướcdành cho nước đối tác ưu đãi có lợi nhất mà nước đó đang và sẽ dành cho nước thứ bakhác trong tương lai Nguyên tắc MFN trong WTO được áp dụng cho lĩnh vực hànghóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ

Trang 5

Nguyên tắc MFN trong thương mại hàng hoá được quy định trong khoản 1

Điều 1 của GATT như sau: “Với mọi khoản thuế quan và khoản thu thuộc bất cứ loại

nào nhằm vào hay có liên hệ tới nhập khẩu và xuất khẩu hoặc đánh vào các khoản chuyển khoản để thanh toán hàng xuất nhập khẩu, hay phương thức đánh thuế hoặc

áp dụng phụ thu nêu trên, hay với mọi luật lệ hay thủ tục trong xuất nhập khẩu và liên quan tới mọi nội dung đã được nêu tại khoản 2 và khoản 4 của Điều III, mọi lợi thế,

ưu đãi, đặc quyền hay quyền miễn trừ được bất kì bên kí kết nào dành cho bất cứ một sản phẩm có xuất xứ từ hay được giao tới bất kì một nước nào khác sẽ được áp dụng cho sản phẩm tương tự có xuất xứ từ hay giao tới mọi bên kí kết khác ngay lập tức và

vô điều kiện.”

Cũng giống như các nghĩa vụ không phân biệt đối xử nói chung, mục đíchchính của nghĩa vụ đối xử MFN là bảo đảm sự bình đẳng về cơ hội trong việc nhậpkhẩu hay xuất khẩu hàng hoá đến và đi từ các thành viên WTO

Trong thương mại quốc tế, mặc dù nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) là nguyêntắc quan trọng nhằm đảm bảo sự đối xử bình đẳng giữa các quốc gia thành viên,GATT 1947 cũng ghi nhận một số ngoại lệ cần thiết để các quốc gia linh hoạt trongquá trình thực thi Một trong những ngoại lệ quan trọng là quyền thành lập các thỏathuận thương mại khu vực, được quy định tại Điều XXIV của GATT Theo đó, cácquốc gia thành viên có thể tham gia các thỏa thuận như khu vực thương mại tự do hoặcliên minh thuế quan, nơi mà họ có quyền ưu đãi thương mại nội khối mà không phải

áp dụng các ưu đãi này cho các quốc gia ngoài khu vực Điều này giúp các thành viênthúc đẩy thương mại và tăng cường quan hệ kinh tế nội bộ, như trường hợp của Liênminh châu Âu (EU) hay Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (USMCA)

Hiệp định GATT 1947 (General Agreement on Tariffs and Trade) cho phépcác quốc gia thành viên có quyền không áp dụng tất cả các điều khoản trong Hiệp địnhđối với một hoặc một số thành viên khác thông qua các điều khoản ngoại lệ Điều nàyđược thể hiện trong Điều 1 của GATT 1947, trong đó quy định nguyên tắc tối huệquốc (MFN) là các quốc gia phải đối xử bình đẳng với tất cả các thành viên của GATTtrong việc áp dụng các biện pháp thương mại, nhưng có một số trường hợp, các quốcgia thành viên có thể từ chối áp dụng nguyên tắc này đối với một hoặc một số quốc giathành viên khác Thực tiễn của ngoại lệ này là là trường hợp Hoa Kỳ và Cuba Mặc dùCuba là thành viên sáng lập của GATT 1947, Hoa Kỳ đã không áp dụng nguyên tắcMFN đối với Cuba Hoa Kỳ đã áp dụng các biện pháp cấm vận thương mại đối vớiCuba trong suốt nhiều thập kỷ, bao gồm việc không cho phép nhập khẩu hàng hóa từCuba hoặc cung cấp các ưu đãi thuế quan mà các quốc gia khác được hưởng

Trang 6

Hiệp định GATT 1947 có hai đối xử đặc biệt và ưu đãi hơn đối với các nướcđang phát triển và chậm phát triển so với các thành viên khác Một trong những ưu đãiquan trọng mà GATT hỗ trợ các quốc gia đó là Hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP) GSPcho phép các nước phát triển cung cấp ưu đãi thuế quan đặc biệt cho các nước đangphát triển và chậm phát triển mà không áp dụng cùng một mức thuế cho các nước pháttriển khác Bằng cách này, các nước đang phát triển có thể dễ dàng tiếp cận thị trườngcủa các nước phát triển, giúp tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống của người dân.

Có thể thấy ở Liên minh Châu Âu, nơi các quốc gia phát triển áp dụng các mức thuếquan giảm hoặc miễn thuế cho hàng hóa xuất khẩu từ các quốc gia có thu nhập thấp vàđang phát triển Điều này không chỉ giúp gia tăng cạnh tranh của sản phẩm từ các quốcgia này mà còn giúp các quốc gia đó hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế toàn cầu.Bên cạnh Hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP) là Quyết định của Đại hội đồng GATT về

“Đàm phán thương mại giữa các nước đang phát triển” Quyết định cho phép các nướcnày có quyền đàm phán, ký kết những hiệp định thương mại dành cho nhau những ưuđãi hơn về thuế quan và không có nghĩa vụ phải áp dụng cho hàng hóa đến từ các nướcphát triển thực tiễn của Quyết định này là các hiệp định thương mại trong khuôn khổHiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Các quốc gia thành viên của ASEAN

đã ký kết những thỏa thuận ưu đãi thương mại đặc biệt giữa nhau, cho phép họ có thể

áp dụng mức thuế quan thấp hơn đối với hàng hóa xuất khẩu của các quốc gia trongkhu vực mà không cần phải áp dụng những điều kiện tương tự đối với các quốc giangoài ASEAN, bao gồm cả các quốc gia phát triển Mục tiêu của những thỏa thuậnnày là tạo ra một thị trường chung giữa các quốc gia ASEAN, giúp các quốc gia thànhviên tăng trưởng kinh tế và cải thiện khả năng cạnh tranh quốc tế

Bên cạnh đó, các thỏa thuận song phương giữa các nước có chung biên giớicũng là một ngoại lệ cho nguyên tắc MFN, nhằm thúc đẩy thương mại và quan hệ kinh

tế giữa các nước láng giềng Những thỏa thuận này cho phép các nước áp dụng các ưuđãi thương mại đặc biệt với các quốc gia giáp biên mà không cần mở rộng cho tất cảthành viên WTO Việt Nam đã áp dụng những điều kiện ưu đãi hơn cho hàng hóa nhậpkhẩu từ Lào để hỗ trợ thương mại và phát triển kinh tế của hai quốc gia láng giềng

Ngoài ra, Điều XIX của GATT cho phép các quốc gia áp dụng biện pháp khẩncấp đối với việc nhập khẩu các sản phẩm nhất định khi phải đối mặt với tình trạng giatăng nhập khẩu đột ngột, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành công nghiệp trongnước Đây là một ngoại lệ giúp các quốc gia bảo vệ nền kinh tế trong nước trước áp lựccạnh tranh bất ngờ từ hàng hóa nhập khẩu, bằng cách tăng thuế hoặc hạn chế nhậpkhẩu đối với các sản phẩm này Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp tự vệ phải tuânthủ nghiêm ngặt các quy định để tránh lạm dụng

Trang 7

Điều XX của GATT quy định các ngoại lệ chung cho phép các quốc gia thànhviên áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ lợi ích công cộng như sức khỏe, an ninh

và môi trường mà không vi phạm nguyên tắc MFN Một quốc gia có thể cấm nhậpkhẩu sản phẩm có hại cho sức khỏe cộng đồng hoặc áp dụng quy định nghiêm ngặt đểbảo vệ các loài động vật quý hiếm Điều này cho phép các quốc gia có quyền bảo vệcác giá trị cốt lõi và lợi ích thiết yếu của mình, ngay cả khi những biện pháp đó có thểảnh hưởng đến các cam kết thương mại

Trong lĩnh vực dịch vụ, nguyên tắc MFN được hiểu là nguyên tắc đối xử khôngkém thuận lợi hơn đối xử mà một thành viên dành cho nhà dịch vụ và nhà cung cấpdịch vụ của một nước so với dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự của nước thứ

ba Điểm khác biệt giữa MFN trong hàng hóa và MFN trong dịch vụ thể hiện ở điểmđối với trường hợp thứ nhất đối tượng nhắm tới chỉ là hàng hóa (không bao gồm chủthể sản xuất ra hàng hóa) thì ở trường hợp thứ hai MFN lại áp dụng đối với cả dịch vụlẫn chủ thể cung cấp dịch vụ

Nguyên tắc MFN của GATS được đưa vào cam kết chung của một thành viêndành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của các thành viên khác sự đối xử côngbằng Nguyên tắc MFN ngày càng trở nên phổ biến và được chấp nhận rộng rãi trongquan hệ thương mại quốc tế, nó đặt ra cho các thành viên nghĩa vụ bảo đảm bình đẳng

về các điều kiện cạnh tranh trong cùng dịch vụ giữa các nhà cung cấp dịch vụ của cácthành viên Nội dung của nguyên tắc MFN của GATS được xác định theo các yếu tốsau đây:

Thứ nhất, một quốc gia thành viên có thể sử dụng các biện pháp tác động đếnthương mại dịch vụ dưới hình thức luật pháp, quy định, quy tắc, thủ tục, quyết định,hoạt động quản lý hoặc bất kỳ một hình thức nào được xác lập bởi chính quyền trungương, khu vực hoặc địa phương và các cơ quan phi chính phủ trong việc thực thiquyền hạn được chính quyền trung ương giao cho Các biện pháp đó có thể bao gồm:(i) việc mua, thanh toán hay sử dụng dịch vụ; tiếp cận hay sử dụng các dịch vụ gắn liềnvới việc cung cấp dịch vụ mà các dịch vụ được các thành viên yêu cầu phải đưa raphục vụ công chúng một cách phổ biến; (iii) sự hiện diện, bao gồm cả thương mại, củanhững người thuộc một thành viên để cung cấp dịch vụ trên lãnh thổ của một thànhviên viên khác

Thứ hai, một thành viên phải dành chế độ đãi ngộ MFN ngay lập tức và vô điềukiện cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ nước thành viên nào Điều đó cónghĩa là một thành viên có nghĩa vụ dành sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn cả vềhình thức và thực tiễn cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự của tất cả thành

Trang 8

viên ngay khi thành viên đã dành sự đãi ngộ đó cho bất kỳ thành viên nào mà khôngđòi hỏi thêm bất kỳ điều kiện nào khác ngoài những điều kiện đã quy định và áp dụngcho một thành viên nhằm đảm bảo cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ trong cùngmột phân ngành dịch vụ và cùng phương thức cung cấp dịch vụ của tất cả các thànhviên đều được hưởng điều kiện cạnh tranh tương tự tại một quốc gia thành viên Tuynhiên, điều này không làm cản trở quyền của một thành viên tự đặt ra các điều kiệnliên quan đến bản thân dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ phù hợp với hoàn cảnh kinh tế

- xã hội và pháp luật quốc gia, miễn là các điều kiện do thành viên đó đặt ra được ápdụng chung cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của tất cả các thành viên

Tuy nhiên, GATS cũng đưa ra một số ngoại lệ cho thành viên không phải cónghĩa vụ áp dụng MFN như cho phép một thành viên có thể duy trì các biện phápkhông phù hợp với nguyên tắc không phân biệt đối xử với điều kiện là các biện pháp

đó đáp ứng 3 điều kiện: (i) các miễn trừ MFN không được vượt quá thời hạn 10 năm;(ii) trong mọi trường hợp, các ngoại lệ MFN phải được xem xét lại theo định kỳ 5 nămtại các vòng đàm phán tiếp theo; (iii) các miễn trừ MFN thuộc phạm vi đàm phán về tự

do hoá thương mại Bên cạnh đó, các ngoại lệ phải được quy định tại Phụ lục về miễntrừ tại Điều II; hoặc cho phép một thành viên được miễn trừ quy chế MFN khi thànhviên đó dành cho các nước lân cận những thuận lợi nhằm thúc đẩy sự trao đổi dịch vụđược cung cấp và tiêu thụ trong phạm vi giới hạn của vùng biên giới; hoặc cho phépmột thành viên gia nhập hoặc tham gia một hiệp định tự do hoá thương mại dịch vụđược ký với một hoặc một số thành viên khác, trong đó các thành viên cùng nhau thoảthuận những cơ chế và biện pháp tự do hoá thương mại dịch vụ giữa các thành viên kýkết hiệp định này ở mức độ cao hơn các cam kết trong WTO; hoặc cho phép một thànhviên có thể liệt kê trong Phụ lục của GATS các biện pháp liên quan đến dịch vụ tàichính, viễn thông cơ bản, vận tải đường biển trái với Điều II (1) trong một thời giannhất định

Như vậy, với nguyên tắc tối huệ quốc các quốc gia sẽ được bảo đảm rằng quốcgia đối tác thương mại của mình sẽ không dành cho quốc gia khác chế độ thương mại

ưu đãi hơn, qua đó triệt tiêu lợi thế cạnh tranh tự nhiên của họ đối với sản phẩm hànghóa dịch vụ cụ thể trong cạnh tranh với các quốc gia liên quan đó

1.2.2 Nội dung của nguyên tắc đối xử quốc gia

Giống như nguyên tắc tối huệ quốc, nguyên tắc đối xử quốc gia lúc đầu chỉđược áp dụng trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, sau khi WTO ra đời thì nó được

mở rộng sang cả thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại và

Trang 9

các lĩnh vực khác, tuy vậy mức độ áp dụng của quy tắc này trong các lĩnh vực là khácnhau.

Trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, nguyên tắc đối xử quốc gia được quyđịnh trong Điều III của Hiệp định GATT 1994 Nguyên tắc này yêu cầu các quốc giathành viên không phân biệt đối xử giữa hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa nội địa saukhi hàng hóa đã qua thủ tục nhập khẩu Cụ thể, các quốc gia thành viên không được ápdụng thuế quan hoặc các biện pháp thương mại khác đối với hàng hóa nhập khẩu màkhông áp dụng cho các sản phẩm trong nước tương tự Điều này giúp bảo vệ các sảnphẩm nội địa không bị áp dụng các biện pháp phân biệt có thể gây bất lợi cho thươngmại quốc tế Theo Điều III, các quốc gia không thể đối xử kém thuận lợi hơn hơn đốivới hàng hóa nhập khẩu so với hàng hóa sản xuất trong nước về các biện pháp thuếquan và không thể áp dụng các biện pháp nội địa nhằm hạn chế khả năng cạnh tranhcủa hàng hóa nhập khẩu Mục đích của nguyên tắc này là bảo đảm sự công bằng trongviệc nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa, đồng thời tạo ra một thị trường nơi mọi sảnphẩm đều có cơ hội cạnh tranh bình đẳng

Trong những lĩnh vực thương mại dịch vụ, mỗi thành viên phải dành cho dịch

vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác sự đối xử không kémthuận lợi hơn sự đối xử mà thành viên đó dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụcủa mình Nguyên tắc NT của GATS được xác định theo 4 tiêu chí sau đây: (i) mộtthành viên có đưa ngành hoặc phân ngành dịch vụ đang gây tranh cãi vào danh mụccam kết của mình hay không và theo các tiêu chuẩn hay điều kiện gì; (ii) các biện pháptác động đến việc cung cấp dịch vụ; (iii) xác định dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụtương tự; và (iv) dành sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn sự đãi ngộ dành cho dịch

vụ và người cung cấp dịch vụ trong nước Khác với nguyên tắc MFN, GATS khôngđưa ra ngoại lệ trong việc áp dụng nguyên tắc NT Điều XVII (2 và 3) đưa ra nhữnggiải thích rõ hơn việc việc áp dụng sự đối xử không kém thuận lợi bao gồm sự đối xửtương tự về hình thức hoặc khác biệt về hình thức mà một thành viên dành cho dịch vụhoặc nhà cung cấp dịch vụ của mình trong cùng điều kiện cạnh tranh Mặc dù khi gianhập GATS, bất kỳ thành viên nào cũng phải đưa ra các cam kết về không phân biệtđối xử đối với dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của các thành viên khác, tuy nhiêntrong một số hoàn cảnh cụ thể, GATS cho phép các thành viên duy trì các biện phápkhông phù hợp với các nghĩa vụ chung và nghĩa vụ riêng về không phân biệt đối xửcủa họ theo GATS nhằm: (i) bảo vệ đạo đức công cộng hoặc duy trì trật tự công cộng;(ii) bảo vệ cuộc sống và sức khỏe của con người và động vật, thực vật; (iii) bảo đảmtuân thủ luật pháp hoặc quy định không trái với các quy định của Hiệp định, kể cả cácbiện pháp chống lại các hành vi lừa dối, gian lận hoặc để lại hậu quả của việc khôngthanh toán hợp đồng dịch vụ; bảo vệ bí mật đời tư của những cá nhân trong việc xử lý

Trang 10

hoặc phổ biến những thông tin cá nhân và đảm bảo tính bảo mật và an toàn lý lịch hoặctài khoản cá nhân; hoặc các thành viên có thể đưa ra các biện pháp phân biệt miễn là

sự đối xử khác biệt nhằm: (i) đảm bảo thực hiện việc đánh thuế hoặc thu thuế trực tiếpmột cách công bằng và hiệu quả đối với dịch vụ hoặc người cung cấp dịch vụ của cácthành viên khác; hoặc (ii) với điều kiện sự đối xử khác biệt là kết quả của một hiệpđịnh về tránh đánh thuế hai lần, có giá trị ràng buộc đối với thành viên đó

Trong lĩnh vực đầu tư quốc tế, WTO chưa có một hiệp định đầu tư đa biên, chỉ

có Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư Liên quan đến Thương mại (TRIMs) với phạm

vi hạn chế, chủ yếu điều chỉnh các biện pháp thuế quan và các quy định thương mạiliên quan đến đầu tư Tuy nhiên, nguyên tắc đối xử quốc gia vẫn được áp dụng trongcác cam kết của WTO, yêu cầu các quốc gia thành viên đối xử công bằng với nhà đầu

tư nước ngoài giống như nhà đầu tư trong nước

Lĩnh vực sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 3 của Hiệp định TRIPS (Hiệpđịnh về Các Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Liên Quan Thương Mại) Theo đó, các quốc giathành viên WTO phải đối xử với quyền sở hữu trí tuệ của công dân nước ngoài khôngkém thuận lợi hơn so với quyền sở hữu trí tuệ của công dân trong nước Điều này baogồm bản quyền, sáng chế, nhãn hiệu và các quyền sở hữu trí tuệ khác Nguyên tắc đối

xử quốc gia trong TRIPS đảm bảo rằng các nhà sáng chế, tác giả và doanh nghiệp cóthể bảo vệ quyền lợi của mình ở bất kỳ quốc gia nào mà không bị phân biệt đối xử.Đây là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo rằng các sản phẩm sáng tạo và côngnghệ có thể được bảo vệ một cách bình đẳng và công bằng trên toàn cầu Các quốc giaphải công nhận quyền sở hữu trí tuệ của các quốc gia thành viên khác và đảm bảo rằngcác quyền này được bảo vệ và thi hành theo các tiêu chuẩn quốc tế

Phạm vi áp dụng của nguyên tắc NT đối với các lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ, sởhữu trí tuệ và đầu tư là không giống nhau Đối với hàng hóa và sở hữu trí tuệ việc ápdụng nguyên tắc NT là một nghĩa vụ chung (general obligation), có nghĩa là hàng hóa

và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài sau khi đã đóng thuế quan hoặc được đăng ký bảo

vệ hợp pháp phải được đối xử bình đẳng như hàng hóa và quyền sở hữu trí tuệ trongnước đối với thuế và lệ phí nội địa, các quy định về mua, bán, phân phối, vận chuyển.Đối với dịch vụ, nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với những lĩnh vực, ngành nghề đãđược mỗi nước đưa vào trong danh mục cam kết cụ thể của mình và mỗi nước cóquyền đàm phán đưa ra những ngoại lệ (exception) Trong lĩnh vực đầu tư, Điều 2 củaHiệp định TRIMS khẳng định nghĩa vụ của các thành viên phải áp dụng Hiệp địnhTRIMS không được trái với nguyên tắc đối xử quốc gia được quy định tại Điều 3 củaGATT hoặc Điều XI của GATT 1994

Trang 11

Nguyên tắc đối xử quốc gia cùng với MFN là hai nguyên tắc nền tảng quantrọng nhất của hệ thương mại đa phương mà ý nghĩa thực sự là bảo đảm việc tuân thủmột cách nghiêm túc những cam kết về mở cửa thị trường mà tất cả các nước thànhviên đã chấp nhận khi chính thức trở thành thành viên của WTO Nếu nguyên tắc "tốihuệ quốc" nhằm mục tiêu tạo sự công bằng, không phân biệt đối xử giữa hàng hóa,dịch vụ của các thành viên nhập khẩu vào lãnh thổ của một thành viên, thì nguyên tắcđãi ngộ quốc gia tạo ra sự công bằng, không phân biệt đối xử giữa hàng hóa, dịch vụtrong nước với hàng hóa, dịch vụ nước ngoài trên thị trường của nước đó Sự kết hợpcủa hai nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các thành viên của WTO.

Trang 12

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1 Phân tích vụ kiện DS246 và DS371

2.1.1 Vụ kiện DS246 về Nguyên tắc tối huệ quốc

Bối cảnh và Nguyên nhân Khởi kiện

Vụ kiện DS246 bắt đầu từ những bất đồng liên quan đến chương trình Hệ thống

Ưu đãi Phổ cập (GSP) của Liên minh Châu Âu GSP là một công cụ phổ biến được cácquốc gia phát triển sử dụng để cung cấp các ưu đãi thuế quan cho các quốc gia đangphát triển Chương trình này giúp các nước đang phát triển tăng khả năng cạnh tranhxuất khẩu, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo Tuy nhiên, trong trườnghợp của Liên minh Châu Âu, chương trình GSP không chỉ bao gồm các ưu đãi thôngthường mà còn có một thỏa thuận đặc biệt gọi là "Thỏa thuận về chống ma túy." Thỏathuận này cung cấp các ưu đãi thuế quan đặc biệt cho một số quốc gia được EC xem làđang nỗ lực chống lại sản xuất và buôn bán ma túy Những nước như Pakistan đượchưởng lợi từ thỏa thuận này, nhưng các nước đang phát triển khác, bao gồm Ấn Độ,không được áp dụng các ưu đãi tương tự

Ấn Độ đã phản đối cách thức mà EC áp dụng chương trình GSP, cho rằng việccung cấp ưu đãi chỉ cho một số quốc gia nhất định, dựa trên tiêu chí chống ma túy, là

vi phạm nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) của Hiệp định GATT 1994 Theo Ấn

Độ, nguyên tắc MFN yêu cầu các ưu đãi trong thương mại quốc tế phải được áp dụngcông bằng và đồng đều cho tất cả các quốc gia thành viên Khi EC ưu đãi thuế quanđặc biệt chỉ cho một số quốc gia, Ấn Độ cho rằng điều này tạo ra sự phân biệt đối xửkhông công bằng Do đó, Ấn Độ đã đưa vụ việc này lên WTO để yêu cầu làm rõ tínhhợp pháp của chương trình ưu đãi đặc biệt của EC

Lập luận của hai bên

Đối với Ấn Độ, lập luận chính tập trung vào việc EC vi phạm Điều I:1 củaGATT 1994, quy định về nguyên tắc đối xử tối huệ quốc Ấn Độ cho rằng tất cả cácquốc gia đang phát triển đều phải được đối xử một cách công bằng trong khuôn khổchương trình GSP, và việc EC dành ưu đãi đặc biệt chỉ cho một số nước là vi phạmnguyên tắc này Ngoài ra, Ấn Độ lập luận rằng việc phân biệt đối xử này không đápứng các yêu cầu “không phân biệt đối xử” của Điều khoản cho phép (EnablingClause), một điều khoản cho phép các nước phát triển áp dụng ưu đãi thương mại chocác nước đang phát triển mà không phải vi phạm GATT Theo Ấn Độ, các ưu đãi của

EC chỉ dành cho các nước đáp ứng tiêu chí chống ma túy là một sự phân biệt khôngcông bằng

Trang 13

Liên minh Châu Âu đã đưa ra những lập luận để bảo vệ chính sách GSP củamình EC lập luận rằng việc áp dụng các ưu đãi đặc biệt cho một số quốc gia chống matúy là cần thiết nhằm khuyến khích các nước này tham gia vào các hoạt động chốngbuôn lậu ma túy, từ đó đảm bảo an ninh và phát triển kinh tế bền vững EC cũng chorằng Điều khoản cho phép của WTO cho phép các quốc gia phát triển có quyền thiếtlập các ưu đãi đặc biệt cho các nước đang phát triển mà không vi phạm nguyên tắc đối

xử tối huệ quốc, miễn là các ưu đãi này có mục tiêu hỗ trợ sự phát triển của các nướcthụ hưởng EC nhấn mạnh rằng họ có quyền áp dụng các ưu đãi khác biệt để đạt đượcmục tiêu của chương trình, và rằng chương trình của họ đáp ứng các yêu cầu của Điềukhoản cho phép

Phán quyết của Hội đồng WTO

Hội đồng WTO, bao gồm Ban Hội thẩm và sau đó là Cơ quan Phúc thẩm, đãtiến hành xem xét kỹ lưỡng các lập luận của hai bên Ngày 1/12/2003, Ban Hội thẩmkết luận rằng EC đã vi phạm nguyên tắc đối xử tối huệ quốc theo Điều I:1 của GATT

1994 Ban Hội thẩm cũng nhận thấy rằng EC đã không chứng minh được rằng chươngtrình GSP của mình đáp ứng các yêu cầu “không phân biệt đối xử” trong Điều khoảncho phép Theo Ban Hội thẩm, các ưu đãi chỉ dành cho các nước đáp ứng tiêu chíchống ma túy là không phù hợp và tạo ra sự phân biệt đối xử

Ngày 7/4/2004, Cơ quan Phúc thẩm WTO đồng tình với kết luận của Ban Hộithẩm rằng EC vi phạm Điều I:1 của GATT 1994 Tuy nhiên, Cơ quan Phúc thẩm đãsửa đổi một số kết luận pháp lý và yêu cầu EC phải đảm bảo tính không phân biệt đối

xử giữa các quốc gia trong chương trình GSP Cơ quan Phúc thẩm yêu cầu rằng cácquốc gia phát triển khi áp dụng GSP phải đảm bảo rằng tất cả các quốc gia thụ hưởng

có “nhu cầu phát triển, tài chính và thương mại” tương tự nhau đều phải được đối xửmột cách công bằng, không phân biệt Cuối cùng, Cơ quan Phúc thẩm kết luận rằng

EC không thể chứng minh rằng các ưu đãi trong chương trình GSP đáp ứng các yêucầu của Điều khoản cho phép và do đó vi phạm các quy định của WTO

Ý nghĩa pháp lý

Phán quyết trong vụ kiện DS246 mang lại ý nghĩa pháp lý sâu rộng đối với cảWTO và hệ thống thương mại quốc tế Phán quyết này củng cố nguyên tắc khôngphân biệt đối xử, nhấn mạnh rằng các quốc gia thành viên phải áp dụng các chươngtrình ưu đãi thương mại một cách công bằng, không phân biệt đối xử giữa các quốc giađang phát triển có điều kiện tương tự Vụ kiện này đã khẳng định rằng các quốc giaphát triển khi áp dụng các chương trình ưu đãi đặc biệt như GSP phải đảm bảo tínhminh bạch và không được tạo ra các tiêu chí gây phân biệt đối xử không công bằnggiữa các nước đang phát triển

Trang 14

2.1.2 Vụ kiện DS371 về Nguyên tắc đối xử quốc gia

Bối cảnh và Nguyên nhân Khởi kiện

Vụ kiện DS371 giữa Thái Lan và Philippines tại WTO bắt nguồn từ nhữngtranh chấp về việc áp thuế hải quan đối với sản phẩm thuốc lá nhập khẩu Cụ thể, vàotháng 2 năm 2008, Philippines đã đưa Thái Lan ra WTO với cáo buộc Thái Lan viphạm quy định của WTO khi áp dụng các biện pháp hải quan không công bằng đối vớisản phẩm thuốc lá nhập khẩu từ Philippines, đặc biệt là các sản phẩm từ công ty PhilipMorris Philippines Theo Philippines, Thái Lan đã áp dụng mức thuế và quy định hảiquan không công bằng, gây ra sự phân biệt đối xử và làm giảm khả năng cạnh tranhcủa các sản phẩm thuốc lá nhập khẩu từ Philippines so với thuốc lá sản xuất trongnước

Philippines cho rằng Thái Lan đã vi phạm Điều III và Điều X của GATT 1994.Theo Điều III, các sản phẩm nhập khẩu phải được đối xử công bằng và không bị phânbiệt so với các sản phẩm nội địa Điều X quy định các quốc gia phải duy trì tính minhbạch và công khai trong các thủ tục hải quan, nhằm đảm bảo tính công bằng cho tất cảcác nước thành viên WTO Với cáo buộc này, Philippines đã yêu cầu WTO thành lậpBan Hội thẩm để giải quyết tranh chấp, nhằm đảm bảo rằng Thái Lan phải tuân thủ cácquy định của WTO trong việc áp dụng thuế và quy định hải quan

Lập luận của các bên

Trong vụ kiện này, cả Philippines và Thái Lan đều đưa ra các lập luận nhằmbảo vệ lợi ích và lập trường của mình Philippines lập luận rằng Thái Lan đã vi phạmĐiều III:2 và Điều III:4 của GATT 1994 khi áp đặt các biện pháp thuế quan khác nhaucho các sản phẩm thuốc lá nhập khẩu và thuốc lá nội địa Philippines cho rằng các sảnphẩm thuốc lá nhập khẩu từ Philippines đã phải chịu các mức thuế cao hơn và các thủtục kiểm tra hải quan phức tạp, trong khi sản phẩm nội địa lại được ưu tiên, gây ra sựbất công và hạn chế thương mại Bên cạnh đó, Philippines cho rằng Thái Lan đãkhông tuân thủ Điều X của GATT 1994 khi thiếu minh bạch trong việc áp dụng cácthủ tục hải quan và thuế suất

Ngược lại, Thái Lan bảo vệ quan điểm rằng các biện pháp hải quan của mìnhhoàn toàn tuân thủ các quy định của WTO Thái Lan lập luận rằng các quy định về hảiquan và thuế suất được áp dụng nhằm bảo vệ lợi ích công cộng và để kiểm soát cácvấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng Theo Thái Lan, việc kiểm soát chặt chẽ đốivới sản phẩm thuốc lá là cần thiết nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực đến sức khỏecủa người tiêu dùng Thái Lan cũng cho rằng các biện pháp hải quan của họ không tạo

Ngày đăng: 23/02/2025, 22:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w