Trường Đại học Kinh tế Quốc dânViện đào tạo Tiên tiến, CLC & POHE BÀI TẬP LỚN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN Đề tài số 2: Quan niệm duy vật biện chứng về ý thức và vai trò của ý thức trong thực t
Trang 1Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Viện đào tạo Tiên tiến, CLC & POHE
BÀI TẬP LỚN
TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Đề tài số 2:
Quan niệm duy vật biện chứng về ý thức và vai trò của ý thức trong thực tiễn, từ đó phân tích vai trò của ý thức trong thực tiễn phát triển kinh tế (hoặc kinh doanh) ở Việt Nam hiện nay.
Họ và tên: Lê Phương Linh
Mã sinh viên: 11236651 Lớp: Digital Marketing CLC 65C Khóa: 65
Hà Nội - 2023
Trang 2Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU 1
A Khái niệm Ý thức 2
1 Ý thức là gì 2
2 Nguồn gốc của ý thức 3
3 Bản chất của ý thức 3
4 Mối liên hệ giữa vật chất và ý thức 3
5 Ý nghĩa phương pháp luận 4
B Vai trò của ý thức trong thực tiễn 5
C Vai trò của ý thức trong kinh tế và kinh doanh 7
LỜI KẾT 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Sau 1986, Việt Nam ta đã bắt đầu có những chính sách đổi mới cho nền kinh tế để đất nước ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội Để bắt đầu thời đại kinh tế mới, Đảng ta bắt đầu tư duy đổi mới Trước hết Đảng bắt đầu sự đổi mới từ sự “tư duy kinh tế” rồi sau đó là hội nhập quốc tế khi tham gia các tổ chức quốc tế như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); Tổ chức Liên Hợp quốc (UN), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) … và đã có những thành tựu nhất định Vào những năm 1990s, Việt Nam dù đã có những dấu hiệu phát triển tích cực nhưng vẫn được coi là quốc gia nông nghiệp vì nông nghiệp chiếm hơn 50% tỷ trọng trong cơ cấu kinh
tế nước ta Vì thế mà Việt Nam bị lạc hậu và bị tụt hậu so với các cường quốc có nền kinh tế vững mạnh như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản …
Để bắt kịp với sự phát triển của các cường quốc lớn trong thời đại công nghệ 4.0 này, Việt Nam tiến vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tận dụng công nghệ vào sản xuất Khi đại dịch Covid hoành hành toàn thế giới, chỉ có Việt Nam là số ít quốc gia duy trì được nền kinh
tế tăng trưởng và nền kinh tế nước ta vẫn tiếp tục phát triển đến tận năm 2023, khi mà tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ đã tăng trưởng đáng kể trong cơ cấu kinh tế Việt Nam Các quốc gia lớn cũng như Nhật Bản, Hoa Kỳ sẵn sàng đầu tư tỷ USD vào Việt Nam, chứng tỏ rằng Việt Nam có
vị trí rất tiềm năng để phát triển kinh doanh của các công ty nước ngoài Chúng ta có thể thấy rằng Việt Nam đang ngày càng khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc tế và được ví như “con rồng Châu Á”
Xuyên suốt 37 năm đổi mới, hội nhập và phát triển, Việt Nam từ một quốc gia nhỏ bé có sự phát triển đi chậm so với thế giới trở thành một quốc gia có nền kinh tế liên tục đi lên và có sức hút rất lớn với các nhà đầu tư nước ngoài Để nước ta có triển vọng phát triển như trên, Đảng và nhà nước ta đã không ngừng thay đổi tư duy và chính sách mới để Việt Nam có được như ngày hôm nay mà vẫn được lòng nhân dân ta Đó là 37 năm đi đúng hướng trong “tư duy kinh tế” Để có chính sách đúng với thực trạng của Việt Nam, ý thức đóng vai trò rất quan trọng và thiết thực
trong tư duy của Đảng và nhà nước ta Chính vì thế, đề tài: “Quan niệm duy vật biện chứng về
ý thức và vai trò của ý thức trong thực tiễn, từ đó phân tích vai trò của ý thức trong thực tiễn phát triển kinh tế (hoặc kinh doanh) ở Việt Nam hiện nay” sẽ giúp sinh viên như em hiểu
được vì sao Việt Nam lại có những đường lối phát triển kinh tế phù hợp và đúng hướng như vậy
Trang 4NỘI DUNG CHÍNH
1 Ý thức là gì?
Con người chúng ta có 2 loại khả năng
o Về cảm xúc: Con người luôn có cảm xúc hoặc là tích cực hặc là tiêu cực Nếu
chúng ta quan tâm, chú ý hay có cảm xúc tích cực với vật chất đó thì cảm xúc đó được gọi là yêu thích Tuy nhiên, nếu chúng ta có cảm xúc ngược lại thì nó được goi
là sự ghét bỏ => Dù yêu hay ghét thì chúng ta có một cách gọi chung cho những cảm xúc này là “tình cảm - hình thái cảm xúc phản ánh mối quan hệ giữa người và thế giới khách quan”
o Về tri thức, tri thức là sự hiểu biết của con người về lĩnh vực khoa học hay lý thuyết
nào đó, và tri thức có tính đúng sai
o Khi con người vận động tri thức và cảm xúc sẽ sinh ra các phương thức như ý chí,
niềm tin, khát vọng Và chúng ta sử dụng ngôn ngữ (tính ảo) để tái hiện, mô tả lại tri thức, cảm xúc ý chí hay khát vọng của con người Tất cả những điều này được hiểu
là “Ý thức”
Trong phạm trù triết học, ý thức dùng để chỉ toàn bộ đời sống tinh thần của con người; được cấu thành từ nhiều yếu tố như tri thức, tinh cảm, ý chí…; là sự phản ánh năng động sáng tạo với hiện thực khách quan
Xét theo chiều sâu nội tâm con người, ý thức gồm các yếu tố là: tiềm thức, vô thức và tự nhận thức
o Tiềm thức là tri thức con người vốn có trong ý thức của họ, tuy nhiên chỉ khi nào có
điều kiện thích hợp cần đến tri thức nào thì tri thức đó mới được bộc lộ ra và được con người vận dụng trong thế giới khách quan
Ví dụ: Học sinh cấp 3 vốn có kiến thức Toán học trong bộ não của chúng, nhưng khi vào tiết Toán hoặc khi làm bài thi thì tri thức Toán học của họ sinh mới được bộc lộ
ra => Kiến thức Toán chính là tiềm thức của học sinh
o Vô thức là bản năng của con người khi học vô tình học được hành vi qua sự lặp đi
lặp lại của hành vi đó mà không bị lý trí điều khiển; con người học được hành vi đó
mà không hề có chú đích học hành vi đó
Ví dụ: Một đứa trẻ 3 tuổi nhìn bố thường xuyên đỡ đần mẹ việc nhặt rác và một ngày khi bố không có nhà bé tự đứng lên nhặt rác trong nhà => Ý thức được việc nhặt rác là vô thức của một đứa trẻ 3 tuổi
o Tự ý thức là ý thức hướng về nhận thức bản thân trong mối quan hệ về thế giới
khách quan; là ý thức tự nhận ra được nó luôn; trong quá trình tự nhận thức, con người có thể tự nhận ra luôn hoạt động suy nghĩ của mình ngay khi đang thực hiện hành vi hay suy nghĩ đó
Trang 5Ví dụ: Khi một người đang có mong muốn khởi nghiệp mà ngay khi người đó có mong muốn khởi nghiệp mà tâm họ biết là mình có mong muốn => Người đó tự nhận thức được mong muốn của mình
2 Nguồn gốc của ý thức
Ý thức có 2 nguồn gốc, tiền đề quan trọng: nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
o Nguồn gốc tự nhiên: là hoạt động của bộ não con người trong giới tự nhiên; từ đó
phản ánh lại vật chất tự nhiên và sự vật khách quan
o Nguồn gốc xã hội: gồm lao động và ngôn ngữ Lao động đáp ứng như cầu vật chất,
giao tiếp và tồn tại của con người Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức và là phương thức để ý thức tồn tại với tư cách là sản phẩm xã hội
3 Bản chất của ý thức
Ý thức là “hình ảnh” về hiện thực khách quan trong bộ óc con người => Ý thức phụ thuộc vào hiện thực khách quan
Ý thức là hình ảnh chủ quan, bị chi phối bởi tính ảo; nhưng ý thức phản ánh lại khách quan Vật chất bên ngoài di chuyển vào não người và được con người cải biến tùy thuộc vào điều kiện xã hội, điều kiện năng lực => Ý thức phản ánh lại thế giới khách quan
Ý thức có tính sáng tạo: từ tri thức về bản chất, thông tin mà đưa ra được các mô hình lý thuyết hoặc khoa học công nghệ (sáng tạo chỉ có ở con người)
Ý thức có tính xã hội vì nó được hình thành từ chính nguồn gốc xã hội
4 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Vật chất và ý thức tác động qua lại lẫn nhau (hoặc biện chứng lẫn nhau) và đặc biệt là phải
thông qua thực tiễn1
Suy đến cùng, vất chất luôn quyết định ý thức trước Vật chất quyết định nội dung, sự biến đổi phát triển, khả năng sáng tạo và điều kiện của ý thức
Vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động trở lại vật chất thông qua thực tiễn Từ đó
ý thức xác định được phương hướng của thực tiễn, xây dựng các phương pháp thực tiễn và
là cơ sở sáng tạo ra “giới tự nhiên nhân tính hóa”
Ý thức phản ánh vật chất có thể là tác động tích cực nhưng cũng có thể là tác động tiêu cực Điều này phụ thuộc vào việc ý thức có phản ánh đúng với thực tiễn và vật chất tại thời điểm hiện tại Nếu ý thức phản ánh đúng điều kiện thực tế thì sẽ có tác động tích cực, còn nếu phản ánh không đúng điều kiện thực tế thì sẽ có tác động ngược lại Bên cạnh việc phản ánh đúng với thực tiễn thì cũng còn những yếu tố khác như trình độ sáng tạo hay điều kiện vật chất để ý thức có thể có tác động tích cực lên thế giới quan
5 Ý nghĩa phương pháp luận
1 “Thực tiễn”: Tất cả những hoạt động vật chất của con người diễn ra trong thế giới khách quan nhắm mục đích cải biến tự
nhiên-xã hội và từ đó đáp ứng nhu cầu tồn tại phát triển của con người Thực tiễn có 3 loại hình cơ bản: Lao động sản xuất vật chất; Thực tiễn chính trị-XH; Thực nghiệm kha học
Trang 6 Từ lý luận duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức cho thấy: “Phương pháp luận chung cho việc giải quyết vấn đề cần phải trước tiên là xuất phát từ thực tế khách quan đồng thời phát huy nhân tố chủ quan trên cơ sở khách quan” Thực chất vấn là
sự thống nhất giữa khách quan và sáng tạo trong nhận thức và thực tiễn
Mọi vấn đề trước khi được giải quyết thì luôn xuất phát từ thực tế khách quan Cần đầu tư thời gian, cơ sở vật chất hay tiền bạc để nghiên cứu; từ đó mới phát hiện điều kiện và nguồn lực thuận lợi trong thực tế mà chủ thể có giải quyết vấn đề co thể có trong điều kiện phát hiện được và có kế hoạch sử dụng những điều kiện, thuận lợi phát hiện được trong việc giải quyết vấn đề
Sau khi có được những nguồn lực hay điều kiện trong thực tế mà phù hợp để giải quyết vấn đề đó, chủ thể mới tiếp tục nghiên cứu nhằm tìm ra nhân tố chủ quan như tri thức, khoa học công nghệ; từ đó có thể tận dụng tri thức và khả năng tư duy sáng tạo để khai thác, huy động và sử dụng vào giải quyết vấn đề
Khi giải quyết bất kỳ một vấn đề gì, bước đầu tiên luôn luôn là xác định được vấn đề cần giải giải quyết cũng như những điều kiện khách quan, chủ quan mà có thể tận dụng được cho việc giải quyết vấn đề đó Chủ thể tuyệt đối không nên chỉ dựa vào nhân tố chủ quan
đề giải quyết vấn Những ai giải quyết vấn đề mà không xuất phát từ thực tế khách quan sẽ dẫn đến bệnh chủ quan duy ý chí và chỉ quan giáo điều Điều này sẽ khiến cho vấn đề không được giải quyết và thất bại Tuy nhiên, nếu chỉ giải quyết vấn đề dựa trên thực tại khách quan mà thiếu mất nhân tố chủ quan thì tính sáng tạo của ý thức sẽ không được tận dụng và vấn đề được giải quyết sẽ thiếu hiệu quả
Trang 7B Vai trò của “Ý thức” trong thực tiễn
Ý thức dù chỉ là nhân tố chủ quan và là tính ảo nhưng nó lại có vai trò chi phối sự phát triển của thế giới khách quan Thế giới khách quan phát triển đến mức độ, trình độ nào thì cốt lõi nằm ở ý thức là chính Vì vậy mà không thể phủ nhận rằng ý thức có vai trò rất quan trọng trong thực tiễn
1 Ý thức tạo nên điểm khác biêt giữa con người và những động vật khác
Con người, con mèo hay con hổ thì đều có một cách gọi chung là “động vật” Con người cũng là động vật không khác gì con gà, con vịt hay bất kỳ những động vật khác Vậy điều
gì lại khiến cho loài người chúng ta trở nên khác biệt và vượt trội hơn những loài vật khác? Chính ý thức khiến cho loài người khác biệt so với bất kỳ sinh vật nào khác đã và đang tồn tại trên thế giới khách quan
Con người là loài vật duy nhất có thể tư duy, có thể sáng tạo và có thể linh hoạt trong thực tiễn Cũng chỉ có loài người có thể dựa vào thực tế khách quan mà đưa ra suy nghĩ ý tưởng mới phù hợp với thực tế và biến vật chất trở nên tốt hơn và phát triển hơn
Chính ý thức đã khiến cho loài người vượt trội hơn bất kỳ những loài vật khác
Ví dụ : Loài người đã trải qua hàng triệu năm trong chế độ cộng sản nguyên thủy và tiến hóa từ loài tinh tinh, vượn thành người Loài người trải qua cuộc sống xã hội từ săn bắt, ăn sống đến sản xuất lửa, vũ khí săn bắn, ăn chín cho đến xã hội sản xuất có tổ chức hơn, văn minh hơn Để có được những sự phát triển xã hội từ thô sơ đến văn minh này là hàng triệu năm sáng tạo và đổi mới bằng ý thức, mà sự tiến hóa này không thể thấy được ở những loài vật khác trên Trái Đất
2 Ý thức khẳng định rằng vật chất là nguồn gốc để sinh ra ý thức
Trong thực tế, nếu con người va vào cái bàn thì họ kêu “đau” Từ “đau” đó là hoàn toàn ảo,
từ đó không phải vật chất mà chỉ là ngôn ngữ mà con người nghĩ ra để miêu tả cái cảm giác khi va vào cái bàn
Tất cả những tính ảo như cảm giác đau hay cảm xúc buồn đều được con người mô tả bằng ngôn ngữ mà hoàn toàn ảo trong thế giới quan, và quan trọng hơn hết là chúng
luôn cần có tồn tại khách quan làm tiền đề cho ý thức (những cái ảo)
Chính vì vậy, C Mác và Ph Ăng ghen khẳng định rằng vật chất luôn có trước và quyết định ý thức
Ví dụ : Bạn A nếm thử cái bánh và thấy bánh có vị ngọt Bánh là vật chất tồn tại được là từ bột mỳ, đường, trứng, sữa… trong khi đó ngọt là cái ảo (không có vị trí hay cấu trúc gì) Nhưng để có cái vị ngọt thì bạn A phải ăn cái bánh thì mới có vị ngọt, chứng tỏ răng vật chất là cái bánh là cái có trước rồi mới có vị mà được mô tả bằng ngôn ngữ là ngọt đó Vật chất luôn luôn có trước ý thức, có vật chất thì mới có ý thức
3 Ý thức có vai trò tác động trở lại vật chất
Vật chất là tiền đề để quyết định ý thức, còn ý thức sẽ tác động trở lại vật chất thông qua thực tiễn Từ đó phản ánh kết quả dựa trên thực tiễn
Trang 8 Thực tế khách quan vẫn luôn tồn tại trong không gian và thời gian, nhưng thế giới thay đổi như thế nào: phát triển hay thụt lùi hay dẫm chân tại chỗ thì là do ý thức con người quyết định Chỉ khi ý thức con người phản ánh đúng thực tế và quy luật khách quan thì mới có
sự phát triển tích cực Dù cho con người có sáng tạo để vật chất hóa ý thức hay có điều kiện vật chất tốt đến bao nhiêu mà đặt trong điều kiện thực tế sai lệch thì sẽ không thể cho
ra kết quả tích cực
Ví dụ: Nước Việt Nam tồn tại trên Thế giới này, nhưng để nước Việt Nam phát triển và trở thành con rồng Chấu Á được các nhà đầu tư nước ngoài săn đón như ngày nay thì cần chính lòng yêu nước và ý chí vươn lên để từ đó Đảng và Nhà nước mới nghĩ được những đường lỗi phát triển kinh tế đúng đắn cho đất nước từ năm 1986-nay Lòng yêu nước và ý chí vươn lên là ý thức và đã tác động trở lại nước Việt Nam ta với kết quả tích cực hơn
4 Phát huy khả năng sáng tạo của con người
Ý thức có tính sáng tạo rất lớn Điều này có thể được thây khi con người biết vận dụng tri thức, khoa học đã được chứng minh từ nhưng nhà khoa học trước rồi sau đó sáng tạo và vận dụng tri thức đó để có được nhưng phát minh đột phá trong lịch sử nhân loại
Tri thức là nòng cốt để ý thức được phát huy tính sáng tạo của nó Tuy nhiên, tính năng động sáng tạo của ý thức khi giả quyết vấn đề vẫn phải xuất phát từ thực tế khách quan rồi
từ đó mới phát huy yếu tố chủ quan Từ lý luận duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức cho thấy: “Phương pháp luận chung cho việc giải quyết vấn đề cần phải xuất phát từ thực tế khách quan đồng thời phát huy nhân tố chủ quan trên cơ sở khách quan”
Nếu ý thức chỉ dựa vào nhân tố chủ qua để giải quyết vấn đề thì rất dễ rơi vào chủ quan
duy ý chí 2 hoặc chủ quan giáo điều 3 dẫn đến thất bại Tuy nhiên, nếu chỉ dựa dựa vào mỗi sự khách quan để giải quyết vấn đề mà thiếu đi nhân tố chủ quan thì vấn đề sẽ không được giải quyết hiệu quả vì cách giải quyết vấn đề chỉ dựa vào khách quan bị thiếu mất tính sáng tạo
Ví dụ : Thế kỷ 18, cách mạng công nghiệp tại Anh Quốc diễn ra mạnh mẽ Với nguồn vốn, nhân công và kỹ thuật sẵn có, các nhà phát minh đã ra đời từ máy kéo sợi, máy dệt đến máy chạy bằng hơi nước Phát minh sau có cải tiến hơn so với phát minh trước Các nhà phát minh khi đó tận dụng phát minh tri thức có sẵn để có những phát minh sau tốt hơn và tối ưu hơn Chính sự sáng tạo trong ý thức của các nhà phát minh mới có thể có được những phát minh tuyệt vời và có ích cho sản xuất và đời sống nhân dân như vậy
2 “Chủ quan duy ý chí”: Sự thể hiện về trình độ của chủ thể nhận thức mà người ta không thể có được tư duy biện chứng khoa học khi trình độ khoa học chưa đạt đến một chuẩn mực cần có
3 “Chủ quan giáo điều”: Khi chủ thể giải quyết vấn đề nhưng bằng tri thức và thực tiễn không đúng với thời điểm hiện tại của vấn đề
Trang 9C Vai trò của “Ý thức” trong kinh tế và kinh doanh
Ngày này, Việt Nam được đánh giá là một quốc gia có đầy tiềm năng để đầu tư và phát triển kinh
tế Quay ngược trở lại năm 1986, khi Việt Nam mới hòa bình bình trở lại và có nền kinh tế còn khá nghèo nàn và lạc hậu so với phương Tây Trong một giai đoạn thì toàn cầu hóa trở thành một
xu hướng tất yếu đối sự phát triển kinh tế cộng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ
3 diễn ra rất mạnh mẽ, Việt Nam khi đó bắt buộc phải theo kịp nhịp độ phát triển nhanh chóng
và liên tục của khoa học kỹ thuật Và để có thể bắt kịp với thế giới và sánh ngang được với các cường quốc năm châu, Đảng và Nhà nước Việt Nam giống như các quốc gia khác, phải điều chỉnh các chính sách cải cách nền kinh tế nước nhà nhằm nâng cao sức cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Trước thực tiễn là nền kinh tế thế giới đang phát triển với tốc độ rất nhanh chóng thì Đảng và nhà nước ta cần phải vận dụng ý thức của mình để giải quyết bài toán kinh tế của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam để nước ta thoát khỏi nền kinh tế nghèo nàn và kém phát triển Đấy là giai đoạn mà nhũng người đứng đầu Nhà nước vận dụng ý thức và khả năng tư duy của họ trong công cuộc cải cách và đổi mới đất nước
Trong khoảng thời gian từ sau khi thống nhất đất nước đến trước năm 1986 cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp và mô hình công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa kiểu Xô Viết đã được áp dụng rộng rãi trên cả nước Tuy nhiên, việc áp dụng quá lâu và cứng nhắc máy móc cơ chế này trong khi bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước đã có nhiều thay đổi (điển hình là chế độ Xã hội Chủ nghĩa ở Liên Xô tan rã năm 1991) làm cho tình hình kinh tế trong nước trở nên khó khăn Nguồn viện trợ của bên ngoài, các nguồn vốn và hàng hoá vật tư, nguyên liệu và hàng hoá tiêu dùng đã bị cắt giảm đáng kể, lại thêm bao vây cấm vận của Hoa Kỳ ngăn cản Việt Nam bình thường hoá quan hệ với thế giới Trước bối cảnh khó khăn này, các địa phương đã tìm lối thoát và đổi mới kinh tế với khoán trong nông nghiệp, điều chỉnh kế hoạch và mở rộng quyền tự chủ cho xí nghiệp công nghiệp quốc dân… song vẫn chưa thể thay đổi thực trạng của nền kinh tế khủng hoảng vẫn rất trầm trọng, chứng tỏ rằng những đường lối địa phương đưa ra chưa phù hợp với thực tại khách quan trên thế giới Trong khi thế giới khi đó đang trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3, thì những ý tưởng chủ quan của địa phương tập trung vào phát triển nông nghiệp Như vậy thì ý thức đã phản ánh sai lệch với vật chất khách quan, nên lối đổi mới này không hiệu quả là một điều không thể tránh khỏi
Trước tình trạng đường lối đổi mới nhưng lại đi sai với xu hướng thế giới, vì thế nên trong Đại
hội VI (1986) Cố Tổng Bí thư Trường Chinh bấy giờ đã nhận định rằng: nền kinh tế bấy giờ “
đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý năng động có khả năng bãi bỏ tập trung quan liêu, bảo thủ, trì trệ và bao cấp tràn lan” và Đảng phải “kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng để từng bước cùng với tập thể Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung Ương khóa V xác lập nên mô hình mới, cơ chế mới, đặt nền tảng lý luận cho đường lối đổi mới toàn diện tại Đại hội Đảng VI”
Với nhận định như vậy, cố Tổng Bí thư đã đặt nền móng cho đường lối cải cách của mình:
“chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư (trong đó ưu tiên tập trung làm hàng xuất khẩu, hàng tiêu dùng thay vì hàng công nghiệp; bỏ, hoãn các dự án lớn nhưng không hiệu quả…”.
Nếu như tại Đại hội V (1982), Đảng chỉ xác định “Ưu tiên mở rộng sự hợp tác toàn diện giữa
Trang 10nước ta với Liên Xô và các nước trong Hội đồng tương trợ kinh tế” thì đến Đại hội Đảng VI
(1986) Đảng đã xác định quan hệ kinh tế quốc tế giai đoạn này không chỉ tập trung vào Liên xô
và các nước trong cùng hệ thống xã hội chủ nghĩa mà phải mở rộng quan hệ với các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, đôi bên cùng có lợi Các đại hội sau Đại hội VI đều có quan điểm phát triển theo chiều hướng đa dạng hóa quan hệ với các quốc gia, hội nhập kinh tế thế giới để đi đúng hơn với thực tế khách quan về
xu hướng kinh tế toàn cầu Trong suốt hơn 30 năm, Đảng và Nhà nước đã hợp tác quốc tế với rất nhiều quốc gia bên cạnh nước XHCN như Anh, Pháp, Đức, Hàn… và tham gia các tổ chức quốc
tế như ASEAN, WTO hay APEC Những hướng đi này của Đảng và Nhà nước ta đã phản ánh đúng với thực tại của thế giới, khiến cho Việt Nam nhận được kết quả tích cực sau hơn 30 năm Đường lối mới này đã mở ra một trang mới cho hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước ta, điều này cho ta thấy cái nhìn rất chính xác về thực tiễn và cả việc vận tri thức về kinh tế của các nhà lãnh đạo của nước ta vào sự hội nhập và phát triển của nước ta như năm 2023
Đâu chỉ là nền kinh tế, mà trong kinh doanh, ý thức cũng được những chủ doanh nghiệp tận dụng để thu về lợi nhuận khổng lồ cho công ty Cũng nhờ chính sách mở cửa đối ngoại mà các doanh nghiệp có cơ hội hợp tác với các công ty nước ngoài, hay chính những thương hiệu đình đám trên thế giới như Apple, Samsung hay Lotte kinh doanh trên thị trường Việt Nam Bên cạnh một thực tiễn là nền kinh tế mở và hội nhập, các doanh nhân còn biết được rằng Việt Nam là một thị trường mà người dân có nhu cần sử dụng sản phẩm của họ Với điều kiện tốt như vậy, các doanh nghiệp có thể lên được các chiến lược quảng bá và bán sản phẩm của công ty với người tiêu dùng Các doanh nghiệp ngoại quốc đã vận dụng tri thức và cầu để cung cấp sản phẩm đến thị trường mà giúp họ tạo ra lợi nhuận, và cuộc sống xã hội của người Việt cũng được cải thiện đáng kể Đâu chỉ bán những những sản phẩm nước ngoài sản xuất, chính phủ Việt Nam cũng có thể nhìn ra tiềm năng của nước mình mà quảng bá đến nước ngoài (điển hình là du lịch) Việt Nam trên thực tế có rất nhiều danh lam thắng cảnh như Vịnh Hạ Long, Phong Nha Kẻ Bàng hay bãi biển trải dài Với tri thức về dịch vụ du lịch, các công ty du lịch, khách sạn có những chiến dịch, những gói dịch vụ thu hút du khách nhằm gia tăng doanh thu cho công ty Kết quả là du khách phương Tây đổ dồn về Việt Nam du lịch với số lượng ngày càng tăng
Bên cạnh nền tri thức về kinh doanh và kinh tế, tri thức khoa học kỹ thuật cũng đóng vai trò thiết yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh Nhờ có sự lĩnh hội tri thức vè công nghệ và tận dụng được nó trong công việc mà Việt Nam ó thể dần bắt kịp với kinh tế Thế giới từ lúc bắt đầu công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay Đến nay thì công nghệ đã tác động rất tích cực trong những hoạt động phát triển kinh doanh, kinh tế tại Việt Nam Đầu tiên, khoa học và công nghệ cùng với quá trình chuyển đổi số tạo nên nhu cầu, điều kiện, tiền đề và là nhân tố cơ bản giúp cho quá trình tri thức hóa lực lượng lao động ở Việt Nam, làm thay đổi cơ cấu lao động theo hướng tăng
tỷ trọng lao động công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp; tăng lao động có trình độ văn hóa cao, giảm bớt những lao động thủ công nặng nhọc Khi lao động có trình độ trí thức cao hơn và ít phải lao động thủ công nặng nhọc thì tự động kéo theo sự gia tăng trong năng suất lao động và sản xuất Thứ hai là việc tìm kiếm việc làm của người lao động thuận lợi hơn, đồng thời người lao động dễ dàng hơn trong tìm kiếm môi trường làm việc phù hợp với chuyên môn đào tạo thông qua hệ thống các công nghệ truyền thông, các phương tiện giao tiếp hiện đại