Nổi tiếng nhất hiện nay là loài vi khuẩn tụ cầu vàng Staphylococcus aureus kháng methicillin MRSA gây đề kháng thuốc với các nhóm kháng sinh điều trị phổ biến nhất như nhóm penicillin,ce
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
TRƯỜNG Y – DƯỢC
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT, THÓI QUEN SỬ DỤNG KHÁNG SINH CỦA SINH VIÊN NGÀNH DƯỢC TRƯỜNG Y DƯỢC – TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH NĂM 2024 VÀ VẤN ĐỀ ĐỀ KHÁNG KHÁNG
SINH
TRÀ VINH - 2024
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại kháng sinh theo cấu trúc hóa học
Bảng 1.2 Khả năng thấm ưu tiên của một số kháng sinh vào các cơ quan, tổ chứcBảng 1.3 Những tương tác bất lợi khi phối hợp kháng sinh
Bảng 1.4 Tổng hợp một số nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Tiếng Việt
BHYT Bảo hiểm y tế
TYSDKS Tự ý sử dụng kháng sinh
Tiếng Anh
ARI Nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính
(Acute Respiratory Infections)ADR Phản ứng có hại của thuốc
(Adverse Drug Reaction)AMR Đề kháng kháng sinh
(Antimicrobial resistance)CDDEP Trung tâm Động lực Bệnh, Kinh tế và Chính sách
DDD Liều hằng ngày được xác định
(Defined Daily Dose)GRAM Dự án Nghiên cứu Toàn cầu về Kháng thuốc Kháng sinhGLASS Hệ thống giám sát sử dụng và kháng kháng sinh toàn cầuCDC Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh tật
(Centers for Disease Control and Prevention)KAP Kiến thức – Thái độ – Hành vi
(Knowledge – Attitude – Practice)EARSNet Mạng lưới giám sát kháng kháng sinh châu Âu
(The European Antimicrobial Resistance Surveillance Network)
MRSA Tụ cầu vàng kháng methicillin
(Methicillin-Resistant Staphylococcus aureus)MIC Nồng độ tối thiểu kiềm khuẩn
(Minimum Inhibitory Concentration)
Trang 5PK/PD Chỉ số liên kết đặc tính Dược động học/Dược lực học của thuốc
(Pharmacokinetics/Pharmacodynamics)ESBL Enterobacteriaceae sản xuất beta-lactamase phổ rộngVRSA Tụ cầu vàng có khả năng kháng kháng sinh glycopeptide vancomycin
(Vancomycin-resistant Staphylococcus aureus)WHO Tổ chức Y tế Thế giới
(World Health Organization)
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Tổng lượng sử dụng kháng sinh tăng lên, giai đoạn 2000–2015
Hình 1.2 Tiêu thụ kháng sinh toàn cầu theo phân loại thu nhập quốc gia từ năm 2000-2015
Hình 1.3 DDD trên 100 giường ngày của các loại kháng sinh giai đoạn 2009
2008-Hình 1.4 Phân tích ABC về số lượng thuốc kháng khuẩn được mua tính bằng DDD và giá cả
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Kháng sinh là một trong những phát minh quan trọng nhất trong y học, đóng vai trò thiết yếu trong điều trị nhiều bệnh nhiễm khuẩn nguy hiểm, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và tăng tuổi thọ của con người Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh không đúng cách và lạm dụng kháng sinh đã dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng, trong đó đáng lo ngại nhất là sự gia tăng tình trạng kháng kháng sinh Đây là hiện tượng mà vi khuẩn phát triển khả năng chống lại tác động của kháng sinh, khiến việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn trở nên khó khăn hơn và đôi khi không thể điều trị được
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã cảnh báo rằng kháng kháng sinh là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe cộng đồng hiện nay Hàng năm, có hàng triệu ca tử vong liên quan đến nhiễm khuẩn do vi khuẩn kháng thuốc, và con số này có thể tiếp tục gia tăng nếu không có các biện pháp khắc phục kịp thời Kháng kháng sinh không chỉ làm giảm hiệu quả của các phương pháp điều trị mà còn kéo dài thời gian điều trị, gia tăng chi phí y tế và làm tăng nguy cơ lây lan các bệnh nhiễm khuẩn khó điều trị [20][33]
Tại Việt Nam, tình trạng lạm dụng và sử dụng kháng sinh bừa bãi diễn ra phổ biến, không chỉ trong cộng đồng mà cả trong hệ thống y tế Một trong nhữngnguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là thiếu kiến thức về việc sử dụng kháng sinh đúng cách và thực hành không hợp lý, dẫn đến việc kháng sinh bị sử dụng quá mức hoặc không đúng liều lượng Hậu quả là sự xuất hiện ngày càng nhiều các chủng vi khuẩn kháng thuốc, đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng và tạo gánh nặng cho hệ thống y tế
Sinh viên ngành dược – những người sẽ trực tiếp tham gia vào công tác chăm sóc sức khỏe và tư vấn sử dụng thuốc trong tương lai – đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn tình trạng kháng kháng sinh Việc đào tạo và trang bị cho sinh viên những kiến thức đúng đắn và thực hành hợp lý về kháng sinh là vô cùng cần thiết Điều này không chỉ giúp họ sử dụng kháng sinh một cách an toàn
Trang 8và hiệu quả trong công việc tương lai mà còn có khả năng hướng dẫn, tư vấn cho bệnh nhân, góp phần giảm thiểu vấn đề kháng kháng sinh trong cộng đồng.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn tồn tại những khoảng trống trong việc nhận thức và thực hành sử dụng kháng sinh ở sinh viên ngành dược tại nhiều trường đại học Tại trường Đại học Trà Vinh, chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể về mức
độ hiểu biết và thực hành của sinh viên đối với việc sử dụng kháng sinh và tình trạng kháng kháng sinh Điều này đặt ra nhu cầu cấp thiết về việc khảo sát, đánh giá kiến thức và thực hành của sinh viên dược tại đây, từ đó đề xuất các biện pháp giáo dục, nâng cao ý thức về việc sử dụng kháng sinh an toàn và phòng ngừa kháng kháng sinh
Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu “Khảo sát hiểu biết và thói quen
sử dụng kháng sinh và vấn đề đề kháng kháng sinh ở sinh viên ngành Dược trường Y- Dược Đại học Trà Vinh năm 2024” được thực hiện nhằm tìm hiểu thựctrạng và đề xuất các biện pháp cải thiện kiến thức, nâng cao hành vi sử dụng kháng sinh đúng đắn, qua đó góp phần hạn chế tình trạng kháng kháng sinh trongtương lai với các mục tiêu:
Mục tiêu chung: Khảo sát hiểu biết và thói quen sử dụng kháng sinh và vấn đề
đề kháng kháng sinh ở sinh viên ngành Dược trường Y- Dược Đại học Trà Vinh năm 2024
Mục tiêu 1: Đánh giá sự hiểu biết và thói quen sử dụng kháng sinh và đề kháng
kháng sinh của sinh viên ngành Dược trường Y- Dược Đại học Trà Vinh năm 2024
Mục tiêu 2: Xác định các yếu tố liên quan đến việc sử dụng kháng sinh của sinh
viên ngành Dược trường Y-Dược Đại học Trà Vinh năm 2024 và vấn đề đề kháng kháng sinh
Trang 9CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về kháng sinh
1.1.1 Định nghĩa kháng sinh
Kháng sinh (antibiotics) là các hợp chất kháng khuẩn (antibacterial
substances) có khả năng tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi khuẩn Chúng được sử dụng trong y học để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn Kháng sinh có thể cónguồn gốc từ vi sinh vật (như penicillin từ nấm Penicillium) hoặc được tổng hợp hóa học Các kháng sinh có thể hoạt động bằng cách phá hủy thành tế bào vi khuẩn, ức chế quá trình tổng hợp protein, hoặc can thiệp vào quá trình sao chép
và phiên mã của vi khuẩn.[21][36]
Kháng sinh không có bất kì tác dụng nào trên các bệnh do virut gây ra chẳng hạn như: cảm lạnh, cảm cúm, ho, đau họng, viêm họng (trừ khi do liên cầukhuẩn Streptococcus gây ra) Nếu virut là nguyên nhân gây ra bệnh, dùng kháng sinh để điều trị có thể gây hại cho cơ thể nhiều hơn là lợi ích Mỗi khi dùng kháng sinh, vi khuẩn trong cơ thể lại có cơ hội gia tăng khả năng đề kháng thuốc.Sau đó chúng ta có thể bị nhiễm trùng do các loài vi khuẩn kháng thuốc mà kháng sinh không còn khả năng điều trị được nữa Nổi tiếng nhất hiện nay là loài
vi khuẩn tụ cầu vàng Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA) gây đề kháng thuốc với các nhóm kháng sinh điều trị phổ biến nhất như nhóm
penicillin,cephalosporin,…
Ngoài ra gần đây cũng có sự xuất hiện của siêu vi khuẩn gây đề kháng vớivancomycin (VRSA)- là một kháng sinh dùng để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn nặng, được dùng sau cùng khi mà các kháng sinh khác không còn tác dụng Qua
đó cho thấy tình trạng đề kháng kháng sinh hiện nay đang ở mức báo động [12] [30]
Khi sử dụng đúng cách, kháng sinh có thể cứu sống con người Việc dùng kháng sinh cần tuân theo đúng hướng dẫn điều trị Điều quan trọng là phải hoàn thành toàn bộ liệu trình kháng sinh, ngay cả khi tình trạng bệnh đã cải thiện Nếu
Trang 10ngừng sử dụng quá sớm, một số vi khuẩn có thể còn tồn tại và gây tái phát bệnh Không nên giữ lại kháng sinh sau khi kết thúc một đợt điều trị hoặc dùng kháng sinh theo đơn của người khác.[12] [30].
1.1.2 Phân loại kháng sinh
Có nhiều cách để phân loại kháng sinh:
- Theo nguồn gốc: kháng sinh tự nhiên, kháng sinh tổng hợp, và kháng sinh bán tổng hợp
- Theo khả năng tác dụng: kháng sinh diệt khuẩn và kháng sinh kìm khuẩn
- Theo cơ chế tác động: kháng sinh ức chế tổng hợp thành tế bào hoặc màng tế bào, kháng sinh ức chế tổng hợp acid nucleic và protein
- Theo phổ tác dụng: kháng sinh phổ rộng (tác động lên cả vi khuẩn gram dương
và gram âm), kháng sinh phổ hẹp (chỉ tác động lên một loại vi khuẩn), kháng sinh phổ giới hạn (chỉ tác động lên vi khuẩn gram dương hoặc vi khuẩn hiếu khí như aminoglycosid, )
-Dựa vào cấu trúc hóa học:
Bảng 1.1 Phân loại kháng sinh theo cấu trúc hóa học
PenicillinCephalosporinCarbapenemMonobactamChất ức chế beta-lactamase
Trang 111.1.3 Nguyên tắc chung trong sử dụng kháng sinh [12] [13] [7] [10]
Chỉ sử dụng kháng sinh khi bị nhiễm khuẩn
Các tác nhân gây bệnh cho con người có thể bao gồm virus, vi khuẩn, vi nấm,sinh vật đơn bào hoặc ký sinh trùng (như giun, sán, ) Kháng sinh thông thường chỉ có tác dụng với vi khuẩn, và rất ít loại kháng sinh có hiệu quả đối với virus,
vi nấm, hay sinh vật đơn bào Mỗi loại kháng sinh chỉ tác động lên một số loại vi khuẩn cụ thể Việc sử dụng kháng sinh nên dựa trên kết quả thăm khám lâm sàng
và cận lâm sàng Nếu không có điều kiện làm xét nghiệm, cần dựa vào kinh nghiệm của người có chuyên môn để dự đoán chính xác tác nhân gây bệnh, chẳng hạn như viêm phổi hay viêm phế quản có thể do Pneumococcus hoặc Haemophilus influenzae gây ra [12] [10]
Không nên dùng kháng sinh cho những bệnh do virut gây ra (cúm, sởi, bạiliệt,…) hoặc cơ thể suy nhược, nhức đầu, chóng mặt, dị ứng, bướu cổ,…[10].Sốt là dấu hiệu đặc trưng của nhiễm khuẩn, vì vậy việc đo nhiệt độ cơ thể đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nhiễm trùng Sốt do vi khuẩn thường làm nhiệt độ cơ thể tăng trên 39°C, trong khi sốt do virus thường chỉ dao động từ 38°C đến 38,5°C Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhiễm virus như quai bị, thủy đậu, sốt xuất huyết, hay bại liệt, nhiệt độ cơ thể cũng có thể tăng lên đến 39°C [10]
Chọn đúng kháng sinh
PolypeptidLipopeptid
Trang 12Việc lựa chọn kháng sinh dựa trên ba yếu tố chính: vi khuẩn gây bệnh, vị trí nhiễm khuẩn, và cơ địa của bệnh nhân Để chọn đúng kháng sinh, cần xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh và xem xét loại vi khuẩn nào nhạy cảm với kháng sinh, từ đó có thể thực hiện kháng sinh đồ Tuy nhiên, không phải mọi cơ
sở đều có điều kiện thực hiện kháng sinh đồ, và ngay cả khi có thể, việc phân lập
vi khuẩn và đưa ra kết quả thường mất nhiều ngày Do đó, thăm khám lâm sàng
để định hướng tác nhân gây bệnh và dựa vào độ nhạy cảm của vi khuẩn từ các chương trình giám sát kháng thuốc quốc gia hoặc từ phòng xét nghiệm vi sinh của bệnh viện sẽ là một phương pháp khả thi hơn Kháng sinh đồ chỉ nên thực hiện khi có điều kiện, trong các trường hợp bệnh nặng, hoặc nghi ngờ vi khuẩn
đề kháng với kháng sinh.Để điều trị thành công, thuốc cần phải thấm vào được ổ nhiễm khuẩn Vì vậy, người thầy thuốc cần nắm vững các đặc tính dược động học của thuốc để có thể lựa chọn loại kháng sinh phù hợp nhất
Bảng 1.2 Khả năng thấm ưu tiên của một số kháng sinh vào các cơ quan, tổ chức
Mật Ampicillin, tetracyclin, rifampicin, cefoperazon,
ceftriaxon, nafcillin, erythromycin,…
Tuyến tiền luyệt Erythromycin,cloramphenicol,cotrimoxazol,
Trang 13Dịch não tủy Penicillin G, cloramphenicol,
rifampicin, co-trimoxazol, cephalosporin thế hệ 3,…
Việc lựa chọn kháng sinh phù hợp còn phải cân nhắc các yếu tố liên quan đếnngười bệnh Những yếu tố này bao gồm: độ tuổi, tiền sử dị ứng thuốc, chức năng gan thận, tình trạng suy giảm miễn dịch, mức độ nghiêm trọng của bệnh, các bệnh lý kèm theo, và cơ địa dị ứng Ngoài ra, sự khác biệt về sinh lý ở các nhóm bệnh nhân đặc biệt như trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ mang thai, và phụ nữ đangcho con bú cũng ảnh hưởng đến dược động học của kháng sinh Do đó, việc lựa chọn kháng sinh dựa trên từng cá thể người bệnh là một nguyên tắc quan trọng trong điều trị kháng sinh
Chọn dạng thuốc thích hợp
Việc lựa chọn kháng sinh dạng tiêm hay dạng uống cần dựa vào vị trí nhiễm khuẩn và mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng Sử dụng kháng sinh tại chỗ nên được hạn chế vì có thể gây dị ứng hoặc dẫn đến hiện tượng kháng kháng sinh Kháng sinh tại chỗ chỉ nên áp dụng trong các trường hợp nhiễm trùng mắt Đối với nhiễm trùng ngoài da, thay vì dùng kháng sinh, nên ưu tiên sử dụng các loại thuốc sát khuẩn
Chọn liều dùng thích hợp
Liều dùng của kháng sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, cân nặng, chức năng thận và gan, cũng như mức độ nghiêm trọng của bệnh Đặc biệt, do sự khác biệt về dược động học, liều lượng kháng sinh cho trẻ em, đặc biệt là trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi, cần tuân theo các hướng dẫn riêng trong từng chuyên luận Việc kê đơn kháng sinh không đủ liều có thể dẫn đến thất bại trong điều trị và làm tăng nguy cơ kháng thuốc Ngược lại, đối với các loại kháng sinh có độc tínhcao và phạm vi điều trị hẹp như aminoglycosid và polypeptid, cần đảm bảo nồng
độ thuốc trong máu theo khuyến cáo để tránh gây độc cho cơ thể bệnh nhân Do
Trang 14đó, việc giám sát nồng độ thuốc trong máu là rất quan trọng Kháng sinh phải được bắt đầu từ liều điều trị cần thiết theo khuyến cáo, không được sử dụng liều thấp rồi tăng dần lên.
Dùng đúng thời gian quy định
Trên thực tế, không có quy định cụ thể về độ dài của đợt điều trị cho mọi loại nhiễm khuẩn, nhưng có một số nguyên tắc chung cần lưu ý:
- Kháng sinh nên được sử dụng cho đến khi vi khuẩn trong cơ thể hết hẳn, cộng thêm 2-3 ngày ở người bình thường và 5-7 ngày ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch Thực tế, việc cấy vi khuẩn sau điều trị thường không khả thi, vì vậy có thể coi là vi khuẩn đã hết khi bệnh nhân giảm sốt và có các dấu hiệu cải thiện như ăn ngon, ngủ tốt và tỉnh táo
- Đối với nhiễm khuẩn nhẹ, đợt điều trị thường kéo dài khoảng 7-10 ngày Trong khi đó, với nhiễm khuẩn nặng hoặc nhiễm khuẩn ở những tổ chức mà kháng sinh khó thâm nhập như màng tim, màng não, hay xương, thời gian điều trị phải kéo dài hơn Riêng với bệnh lao, phác đồ điều trị tối thiểu phải kéo dài ít nhất 8 tháng
- Không nên thay đổi kháng sinh trước thời hạn quy định và cần tuân thủ thời gian sử dụng kháng sinh cho mỗi loại bệnh lý Bệnh nhân có thể hết triệu chứng lâm sàng sau vài ngày đầu dùng kháng sinh, nhưng điều đó không có nghĩa là đã tiêu diệt hết vi khuẩn gây bệnh Do đó, sau khi hết triệu chứng, kháng sinh phải được tiếp tục sử dụng đủ thời gian quy định, điều trị phải liên tục mà không ngắt quãng hay dừng thuốc đột ngột, và cũng không nên giảm liều từ từ
Sử dụng kháng sinh dự phòng hợp lí
Kháng sinh chỉ nên được sử dụng để dự phòng trong những trường hợp cụ thể, chẳng hạn như để phòng ngừa bội nhiễm sau phẫu thuật hoặc để ngăn ngừa nguy cơ viêm màng trong tim do liên cầu khuẩn trong bệnh thấp khớp Việc sử dụng kháng sinh dự phòng cần phải được thực hiện một cách có cơ sở và theo chỉđịnh của bác sĩ để đảm bảo hiệu quả và giảm nguy cơ kháng thuốc
Trang 15 Chỉ phối hợp kháng sinh khi thực sự cần thiết[9] [15]
Mục đích của việc phối hợp kháng sinh bao gồm:
- Tăng cường hiệu quả đối với các chủng vi khuẩn đề kháng mạnh: Phương pháp này thường được áp dụng cho việc điều trị nhiễm khuẩn mắc phải trong bệnh viện hoặc những trường hợp bệnh đã chuyển thành mãn tính do điều trị nhiều lần không hiệu quả
- Giảm khả năng kháng thuốc và ngăn chặn sự hình thành các chủng vi khuẩn đề kháng: Phối hợp kháng sinh với mục tiêu này thường được sử dụng trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn kéo dài
- Mở rộng phổ tác dụng của kháng sinh:Nhiều loại kháng sinh thông dụng không
có tác dụng hoặc chỉ có tác dụng yếu đối với các vi khuẩn kỵ khí, đặc biệt là các chủng vi khuẩn kỵ khí Gram âm Do đó, việc phối hợp kháng sinh chủ yếu nhằm tiêu diệt các vi khuẩn kỵ khí
Các phối hợp kháng sinh có lợi:
- Phối hợp penicillin (hoặc ampicillin) với aminoglycosid (như streptomycin hay gentamicin) là một ví dụ được chấp nhận rộng rãi, vì penicillin giúp tăng cường khả năng hấp thụ aminoglycosid vào tế bào vi khuẩn
- Phối hợp trimethoprim với sulfamethoxazol để điều trị nhiễm trùng đường tiểu
và đường ruột, vì cả hai kháng sinh này ức chế hai giai đoạn liên tiếp trong chuỗi chuyển hóa acid folic của vi khuẩn
- Một số kháng sinh giúp tăng cường khả năng thẩm thấu của các kháng sinh khác qua màng tế bào vi khuẩn, ví dụ như polymyxin phối hợp với bactrim hoặc rifampicin để chống lại Serratia, và amphotericin B phối hợp với flucytosin để chống lại Candida và Cryptococcus
- Phối hợp kháng sinh loại beta-lactam với các chất ức chế beta-lactamase như amoxicillin + clavulanat (Augmentin) để chống lại E.coli, S.aureus và
H.influenzae
Tuy nhiên, sự phối hợp kháng sinh cũng có nhiều bất lợi:Việc sử dụng nhiều loại kháng sinh đồng nghĩa với việc gia tăng tác dụng phụ và chi phí điều
Trang 16trị Đôi khi, hiệu quả điều trị không được cải thiện tương xứng với việc gia tăng
số lượng kháng sinh Do đó, cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định phối hợp kháng sinh
Bảng 1.3 Những tương tác bất lợi khi phối hợp kháng sinh
AVKThuốc chống động kinh Co giựt (quá liều B)Thuốc chống loạn nhịp Loạn nhịp → tử vongErythromycin
Lactobionat (IV)
Cloramphenicol Muối, sắt, vitamin B12 Giảm tác dụng tạo máu của
Trang 17Theophyllin Ngạt, co giựt ( B)Fluroquinolon
(Trừ ofloxacin và
các chất chuyển
hoá qua gan)
Cimetidin B làm tăng nồng độ ATheophyllin A làm tăng nồng độ B
Tetracyclin Retinoid (tác dụng toàn thân) Nguy cơ tăng áp lực sọ não
Rifampicin
Các chất chẹn beta A làm giảm tác dụng của BThuốc tránh thai đường uống A làm giảm tác dụng của B
Wafarin A làm giảm tác dụng của B
Kháng sinh nói chung
Kim loại đa hoá trị (Al,
1.1.4 Tai biến khi sử dụng kháng sinh [7] [9] [13] [15]
Tất cả các kháng sinh đều có thể gây ra tác dụng không mong muốn
(ADR), vì vậy cần cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích và nguy cơ trước khi quyết định kê đơn Mặc dù hầu hết các trường hợp ADR sẽ tự khỏi khi ngừng thuốc,
Trang 18nhưng một số tình huống có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng, như hội chứng Stevens-Johnson.
1.1.4.1 Phản ứng quá mẫn
Phản ứng quá mẫn nặng nhất là sốc phản vệ, thường gặp với nhóm
penicillin, có thể dẫn đến tử vong, do đó cần phải tránh Các phản ứng khác ngoài
da, như mày đay và phát ban, thường gặp với sulfonamid, cũng như hội chứng Stevens-Johnson
1.1.4.2 Độc tính trực tiếp
- Tiêu chảy, nôn mửa: Đây là những tác dụng phụ phổ biến
- Tổn thương chức năng gan: Có thể dẫn đến suy gan nặng, thường gặp với các thuốc như tetracyclin, rifampicin, novobiocin và sulfonamid
- Tổn thương chức năng thận: Biểu hiện qua protein niệu, huyết niệu, và có thể gây suy thận cấp, thường gặp với cephalosporin, aminoglycosid, polymyxin và sulfonamid
- Rối loạn thần kinh: Các triệu chứng như chóng mặt và rối loạn cảm giác da có thể xảy ra với aminoglycosid, trong khi viêm đa dây thần kinh thường liên quan đến isoniazid
- Rối loạn máu: Các vấn đề như mất bạch cầu hạt và rối loạn các tế bào máu có thể xảy ra với chloramphenicol và sulfonamid
- Tổn hại xương và răng: Tetracyclin có thể gây hại cho răng của trẻ em
- Gây hại cho thai nhi: Các kháng sinh như sulfamid, chloramphenicol và
imidazol có thể gây quái thai hoặc dị tật thai
1.1.4.3 Bội nhiễm do vi sinh vật đề kháng
Sử dụng các kháng sinh phổ rộng trong thời gian dài, như tetracyclin, ampicillin và chloramphenicol, có thể tiêu diệt các vi sinh vật cộng sinh trong hệ tiêu hóa, chỉ để lại các vi khuẩn đề kháng như Streptococcus và nấm Candida, gây ra tiêu chảy, viêm miệng lưỡi và các triệu chứng khác liên quan đến vi khuẩnđường ruột
1.1.4.4 Phản ứng tại chỗ
Trang 19- Thuốc kháng sinh tiêm bắp: Có thể gây đau và viêm cơ.
- Thuốc tiêm tĩnh mạch: Có thể gây viêm tĩnh mạch và huyết khối
- Thuốc uống: Thường gây kích ứng dạ dày
Việc hiểu rõ những tác dụng không mong muốn này là rất quan trọng để sử dụng kháng sinh một cách an toàn và hiệu quả
1.1.5 Những sai lầm khi sử dụng kháng sinh trong cộng đồng
Một quan niệm sai lầm khá phổ biến là khi có sốt, chúng ta ngay lập tức nghĩ rằng đó là sốt do nhiễm trùng và sử dụng kháng sinh để điều trị Tuy nhiên, thực tế cho thấy sốt cũng có thể do virus gây ra, dẫn đến việc nhiều bệnh sốt do virus đã được điều trị bằng kháng sinh Thêm vào đó, nhiều bệnh nội khoa có sốt không do nhiễm trùng vẫn được điều trị bằng kháng sinh, làm gia tăng tình trạng
đề kháng kháng sinh ngày càng trầm trọng.[6]
1.1.5.1 Dùng kháng sinh không đủ liều lượng [9][15]
- Sử dụng liều thấp hơn so với liều chuẩn hàng ngày
- Không điều chỉnh liều lượng phù hợp với tình trạng bệnh nhân, chẳng hạn như cân nặng và chức năng gan-thận
1.1.5.2 Dùng kháng sinh không đúng thời gian [9][15]
- Thời gian quá ngắn: Thuốc không đủ liệu trình điều trị
- Thời gian quá dài: Kéo dài thời gian dùng kháng sinh ở bệnh nhân nằm viện lâu
- Số lần dùng kháng sinh mỗi ngày và khoảng cách giữa các lần dùng chưa hợp
lý theo khuyến cáo điều trị
- Thời điểm dùng kháng sinh: Cần xem xét dùng trước hay sau bữa ăn, có dùng liên tục hay ngắt quãng hay không
1.1.5.3 Phối hợp kháng sinh chưa đúng
Quan niệm rằng sử dụng càng nhiều kháng sinh thì sẽ diệt vi khuẩn gây bệnh càng nhanh và mau khỏi bệnh là một sai lầm Việc sử dụng nhiều thuốc sẽ làm tăng khả năng tương tác và nguy cơ tai biến do thuốc xảy ra Hơn nữa, việc phối hợp nhiều thuốc cũng gây tăng chi phí điều trị cho bệnh nhân, trong khi hiệu
Trang 20quả điều trị chưa chắc chắn Lạm dụng kháng sinh sẽ dẫn đến tăng sức đề kháng của vi khuẩn đối với thuốc Điều này sẽ làm giảm số lượng các loại thuốc có khả năng chống lại vi khuẩn và làm tăng tình trạng kháng thuốc, đe dọa nền y học nhân loại.[12]
Kết luận:
Để điều trị thành công bệnh nhiễm khuẩn, cần xem xét nhiều yếu tố như tình trạng bệnh lý của bệnh nhân, vị trí nhiễm khuẩn và sức đề kháng của người bệnh Kiến thức về phân loại kháng sinh, sinh khả dụng và đường dùng thuốc sẽ giúp người thầy thuốc lựa chọn đúng loại kháng sinh và xác định chế độ liều tối
ưu cho từng nhóm kháng sinh Đây là cơ sở để thực hiện các nguyên tắc sử dụng kháng sinh an toàn và hợp lý Đồng thời, những nội dung này cũng rất quan trọngđối với mỗi cán bộ y tế trong công cuộc chăm sóc sức khỏe cho người dân.[9][15]
1.2 Tình hình sử dụng kháng sinh
1.2.1 Trên thế giới
Hiện nay, thị trường thuốc kháng sinh trên thế giới đang rất phong phú vớinhiều chủng loại và số lượng khác nhau Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh ở người ngày càng gia tăng trên toàn cầu[13] Thuốc kháng sinh hiện là loại thuốc được kê đơn phổ biến nhất trên thế giới Việc sử dụng kháng sinh đã tăng mạnh trong những thập kỷ gần đây tại nhiều quốc gia Mức tiêu thụ kháng sinh toàn cầu đã tăng 65% từ năm 2000 đến năm 2015, trong đó giai đoạn tăng trưởng lớn nhất diễn ra từ năm 2000 đến 2010 Dự kiến, mức tiêu thụ kháng sinh sẽ có thể tăng tới 200% trên toàn thế giới từ năm 2015 đến năm 2030.[22][34]
Theo một nghiên cứu đăng trên tạp chí Lancet Planetary Health, được thựchiện bởi Dự án Nghiên cứu Toàn cầu về Kháng sinh (GRAM), nghiên cứu này đãkhảo sát mức tiêu thụ kháng sinh của người dân tại 204 quốc gia từ năm 2000 đến năm 2018 Nghiên cứu cung cấp một phân tích so sánh về tổng tỷ lệ tiêu thụ kháng sinh ở người trên toàn cầu, được biểu thị bằng số liệu của WHO về liều hàng ngày được xác định (DDD) trên 1.000 dân số mỗi ngày Điều này tương
Trang 21đương với việc mỗi ngày, tỷ lệ người dân nhận được 14 thuốc kháng sinh ở một quốc gia nhất định.[18]
GRAM chỉ ra rằng việc sử dụng kháng sinh quá mức và không phù hợp là nguyên nhân chính dẫn đến nhiễm trùng kháng thuốc Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tiêu thụ kháng sinh toàn cầu đã gia tăng 46% trong gần 2 thập kỷ qua, từ 9,8 lên 14,3 DDD trên 1.000 dân số mỗi ngày Tỷ lệ tiêu thụ kháng sinh cao nhất được ghi nhận ở Bắc Mỹ, Châu Âu và Trung Đông, trong khi tỷ lệ tiêu thụ rất thấp ở châu Phi cận Sahara và một số khu vực Đông Nam Á Tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, mức tăng 76% được quan sát từ năm 2000 đến 2018, từ 7,4 lên 13,1 DDD trên 1.000 người mỗi ngày Những loại thuốc có tỷ lệ tiêu thụ gia tăng nhiều nhất trong nghiên cứu là fluoroquinolones và cephalosporin thế hệ 3
Theo báo cáo của CDDEP về tình trạng sử dụng kháng sinh trên thế giới vào năm 2021, việc sử dụng kháng sinh ở Brazil đã tăng từ 2.535 DDD trên 1.000 người vào năm 2000 lên 6.763 DDD vào năm 2015 Trong cùng khoảng thời gian đó, việc sử dụng kháng sinh tại Trung Quốc đã tăng từ 1.910 DDD lên 3.060 DDD trên 1.000 người, ở các quốc gia Tây Phi từ 557 DDD lên 2.112 DDD và tăng gấp đôi từ 5.647 DDD lên 10.934 DDD trên 1.000 người ở Ả Rập Saudi [23]
Tình trạng này đặt ra thách thức lớn cho y tế cộng đồng, đòi hỏi cần có biện pháp quản lý và sử dụng kháng sinh hợp lý để ngăn chặn sự gia tăng của vi khuẩn kháng thuốc, bảo vệ sức khỏe con người và cải thiện kết quả điều trị
Trang 22Hình 1.1 Tổng lượng sử dụng kháng sinh tăng lên, giai đoạn 2000–2015 Tổng
lượng kháng sinh sử dụng tính theo DDD trên 1.000 người dân ở (A) Tây Phi, (B) Brazil, (C) Trung Quốc và (D) Ả Rập Saudi
Trong một nghiên cứu được công bố tại Úc vào năm 2014, khảo sát 248 bệnh viện cho thấy tỷ lệ sử dụng kháng sinh trên người bệnh nội trú đạt 38,4% Đáng chú ý, có đến 24,3% thuốc kháng sinh được kê đơn không tuân thủ hướng dẫn điều trị, và 23% được đánh giá là không phù hợp Trong số các loại kháng sinh được kê, những loại phổ biến nhất bao gồm cephazolin (11,1%), ceftriaxon (9,1%), metronidazol (6,5%), piperacillin-tazobactam (6,1%) và amoxicillin-clavulanat (6%).[11]
Việc sử dụng thuốc kháng sinh hiện đang diễn ra một cách tràn lan, kể cả trong các trường hợp bệnh nhẹ hoặc những bệnh không do vi khuẩn gây ra Theo một số báo cáo, đến 80% số thuốc kháng sinh được sử dụng trong cộng đồng là mua mà không có đơn thuốc, đặc biệt phổ biến ở các quốc gia có thu nhập thấp
và trung bình Ở những nước này, hệ thống quản lý thuốc chưa chặt chẽ và giá thuốc kháng sinh thường rẻ hơn rất nhiều so với các quốc gia phát triển
Theo một báo cáo nghiên cứu về việc sử dụng kháng sinh ở 76 quốc gia trong 16 năm, từ năm 2000 đến 2015, sự gia tăng tiêu thụ kháng sinh chủ yếu được thúc đẩy bởi các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, với Ấn Độ, TrungQuốc và Pakistan là những nước tiêu thụ nhiều nhất Tỷ lệ tăng trưởng này gấp nhiều lần so với các quốc gia có thu nhập cao như Mỹ, Pháp và Ý.[27]
Trang 23Tình trạng này đặt ra nhiều thách thức cho y tế công cộng, đặc biệt là trong bối cảnh gia tăng tình trạng kháng thuốc Sự lạm dụng và sử dụng không hợp lý kháng sinh có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng không chỉ cho cá nhân
mà còn cho toàn cộng đồng, đòi hỏi sự can thiệp và quản lý hiệu quả hơn trong việc kê đơn và sử dụng kháng sinh
Hình 1.2 Tiêu thụ kháng sinh toàn cầu theo phân loại thu nhập quốc gia từ năm
2000-2015
Chỉ tính riêng ở Mỹ, cứ 6 người thì có 5 người được kê đơn thuốc kháng sinh mỗi năm, và ít nhất 30% việc sử dụng kháng sinh này là không cần thiết Báo cáo của WHO chỉ ra rằng Mỹ là một quốc gia điển hình trong việc sử dụng kháng sinh không đúng cách Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy 61% đơn thuốc dùng Vancomycin không đúng chỉ định, điều này gợi ý về sự thiếu sót trong quy trình kê đơn.[22]
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng bệnh của Mỹ (CDC), một nửa trong
số 133 triệu liều thuốc kháng sinh được sử dụng hàng ngày bên ngoài bệnh viện
là không cần thiết Những thuốc này thường được sử dụng trong các trường hợp nhiễm virus, mà thực tế không đáp ứng với thuốc kháng sinh Sự lạm dụng khángsinh không chỉ gây ra tình trạng kháng thuốc ngày càng gia tăng mà còn có thể dẫn đến những tác động tiêu cực đối với sức khỏe cộng đồng.[15]
Trang 24Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục người dân về việc
sử dụng kháng sinh hợp lý, cũng như cần có sự giám sát chặt chẽ hơn trong việc
kê đơn thuốc để giảm thiểu tình trạng lạm dụng và tăng cường hiệu quả điều trị Cùng với đó, cần phải thúc đẩy các chiến dịch nâng cao nhận thức về sự khác biệt giữa nhiễm khuẩn và nhiễm virus để người bệnh hiểu rõ hơn về tình trạng sức khỏe của mình và ngăn ngừa việc sử dụng kháng sinh không cần thiết
1.2.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, bệnh nhiễm khuẩn là một trong những vấn đề sức khỏe chính trong cộng đồng, và do đó, việc sử dụng kháng sinh trong điều trị là điều không thể tránh khỏi Theo báo cáo đánh giá Chính sách Thuốc Quốc gia của Cục Quản lý Dược Việt Nam, phối hợp với Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, các bệnh viện tại Việt Nam hiện đang có mức chi phí tiền thuốc so với tổng chi phí thường xuyên lên đến 58% Đáng chú ý, chi phí cho thuốc kháng sinh lại chiếm tới hơn một nửa, xấp xỉ khoảng 34% tổng tiền thuốc.[28]
Báo cáo về việc sử dụng kháng sinh tại 15 bệnh viện ở Việt Nam trong giai đoạn 2008-2009 cho thấy mức tiêu thụ kháng sinh trung bình đạt 274,7 DDDtrên 100 ngày giường Mức tiêu thụ này cao hơn đáng kể so với số liệu sử dụng kháng sinh tại Hà Lan, chỉ đạt 58,1 DDD trên 100 ngày giường, và so với tổng kháng sinh sử dụng trung bình được báo cáo từ 139 bệnh viện thuộc 30 nước khuvực châu Âu, chỉ là 49,6 DDD trên 100 ngày giường
Điều này cho thấy một thực tế đáng lo ngại về tình trạng lạm dụng kháng sinh tại Việt Nam, điều này không chỉ gây ra tình trạng kháng thuốc mà còn ảnh hưởng đến chất lượng điều trị Cần có những biện pháp can thiệp hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức về việc sử dụng kháng sinh hợp lý, từ đó cải thiện sức khỏe cộng đồng và bảo vệ hiệu quả của các loại thuốc kháng sinh hiện có Đồng thời, cần thiết phải thiết lập các hướng dẫn điều trị rõ ràng, nhằm đảm bảo việc kê đơn thuốc kháng sinh được thực hiện một cách chính xác và hợp lý hơn
Trang 25Hình 1.3 DDD trên 100 giường ngày của các loại kháng sinh giai đoạn
2008-2009
Theo thống kê của Bộ Y tế, chi phí cho thuốc kháng sinh chiếm từ 40-50% tổng chi phí thuốc trong nước, với khoảng 100 tấn kháng sinh được nhập vào Việt Nam mỗi năm Giai đoạn từ 2012 đến 2014, các nhóm thuốc kháng sinh đã chiếm25% đến 28% trong số các thuốc ngoại được đăng ký và cấp phép lưu hành Mỗi năm, trong số 20 hoạt chất có số đăng ký cao nhất, có khoảng 6-9 hoạt chất là kháng sinh.[15]
Trong một nghiên cứu ước tính tổng lượng kháng sinh sử dụng ở người vàđộng vật tại Việt Nam, năm 2015 ghi nhận đã sử dụng tổng cộng 3.842 tấn thuốc kháng sinh Trong đó, 2.751 tấn (71,7%) được sử dụng cho động vật như lợn, gà, thủy hải sản, trong khi 1.086 tấn (28,3%) là thuốc dùng cho người Điều này tương đương với mức tiêu thụ 261,7 mg cho người và 247,3 mg cho động vật mỗi kg sinh khối, cao gấp đôi so với mức tiêu thụ 122,0 mg và 151,5 mg ở các quốc gia châu Âu.[19]
Một nghiên cứu khác phân tích chi phí thuốc kháng sinh tại 30 bệnh viện
và 52 cơ sở y tế cấp tỉnh trên khắp Việt Nam vào năm 2018 cho thấy chi phí mua
Trang 26kháng sinh chiếm 28,6% tổng chi phí thuốc, tương đương 482,6 triệu USD và gần 573 triệu DDD Trong đó, nhóm cephalosporin là nhóm kháng sinh được kê đơn nhiều nhất tại Việt Nam.[24]
Những con số này cho thấy tình trạng sử dụng kháng sinh tại Việt Nam là đáng lo ngại, với việc tiêu thụ kháng sinh không chỉ ở người mà còn ở động vật, dẫn đến nguy cơ kháng thuốc ngày càng gia tăng Việc kiểm soát và quản lý việc
sử dụng kháng sinh là cần thiết, nhằm đảm bảo an toàn sức khỏe cộng đồng và bảo vệ hiệu quả của các loại thuốc này trong điều trị bệnh Cần có những chính sách rõ ràng và hành động cụ thể để nâng cao nhận thức và thay đổi thói quen sử dụng kháng sinh trong cộng đồng
Hình 1.4 Phân tích ABC về số lượng thuốc kháng khuẩn được mua tính bằng
DDD và giá cả
Một nghiên cứu về kê đơn kháng sinh tại Việt Nam trên tổng số 2.953 đơnthuốc ở cả thành thị và nông thôn cho thấy kháng sinh chiếm tỷ lệ 24% và 18% trong tổng doanh thu của các hiệu thuốc ở thành phố và nông thôn.[14] Mặc dù theo Luật Dược số 105/2016/QH13 nghiêm cấm bán lẻ thuốc kê đơn mà không
Trang 27có đơn, nhưng thực tế cho thấy hầu hết các kháng sinh đều được bán mà không
có sự chấp thuận của bác sĩ: 88% ở các nhà thuốc thành phố và 91% ở các nhà thuốc nông thôn.[5]
Trong một nghiên cứu cắt ngang ở miền Bắc Việt Nam, 75% trẻ em dưới
5 tuổi đã nhận kháng sinh để điều trị nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính (Acute Respiratory Infections - ARI) trong tháng trước, phần lớn trong số đó được phân phát mà không cần đơn tại các hiệu thuốc tư nhân Tuy nhiên, các nghiên cứu về nguyên nhân cho thấy ARI chủ yếu là do virus gây ra, và các thử nghiệm lâm sàng đã chỉ ra rằng kháng sinh không có hiệu quả trong điều trị các bệnh như viêm phế quản cấp tính, viêm tiểu phế quản và viêm họng.[21][26][29][35]
Tại các bệnh viện, tỷ lệ người bệnh tự mua kháng sinh cũng đáng lưu ý, với 41,1% tổng số người mua kháng sinh là tự ý Dù đã có các quy định và tài liệu hướng dẫn về kê đơn và sử dụng kháng sinh, nhưng tình trạng bán kháng sinh không có đơn vẫn diễn ra phổ biến tại Việt Nam.[11][15]
Kháng sinh hiện nay được mua khá dễ dàng, và dù chưa đủ kiến thức để
sử dụng đúng loại và đúng thời gian, người bệnh vẫn có thể tự mua kháng sinh
mà không cần đến đơn của bác sĩ Việc lạm dụng và thiếu kiểm soát chặt chẽ trong việc sử dụng kháng sinh đã dẫn đến tình trạng vi khuẩn kháng thuốc ngày càng gia tăng [21]
Tình hình này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng mà còn đặt
ra nhiều thách thức cho hệ thống y tế trong việc kiểm soát và quản lý tình trạng kháng thuốc Cần có sự chung tay từ các cơ quan chức năng, người thầy thuốc vàcộng đồng để nâng cao nhận thức về việc sử dụng kháng sinh hợp lý, nhằm bảo
vệ hiệu quả điều trị và sức khỏe của mỗi người
1.3 Tình trạng đề kháng kháng sinh
1.3.1 Khái niệm về đề kháng kháng sinh
Kháng kháng sinh (AMR - Antimicrobial Resistance) xảy ra khi vi khuẩn không còn phản ứng với thuốc kháng sinh, dẫn đến tình trạng thuốc kháng sinh
Trang 28trở nên không hiệu quả trong điều trị Điều này làm cho các bệnh nhiễm trùng trởnên khó hoặc thậm chí không thể điều trị, gia tăng nguy cơ lây lan bệnh, làm nặng thêm tình trạng sức khỏe và thậm chí gây tử vong cho người bệnh.[36]
AMR là một quá trình tự nhiên diễn ra theo thời gian thông qua các thay đổi di truyền ở vi khuẩn Tuy nhiên, sự xuất hiện và lây lan của kháng kháng sinhđang bị đẩy nhanh bởi các hoạt động của con người Những nguyên nhân chủ yếubao gồm việc lạm dụng và sử dụng không hợp lý kháng sinh trong điều trị, ngăn ngừa hoặc kiểm soát nhiễm trùng không chỉ ở người mà còn ở động vật và thực vật.[36]
Việc sử dụng kháng sinh không đúng cách, chẳng hạn như tự ý sử dụng hoặc không hoàn thành liệu trình điều trị, đã góp phần làm gia tăng tình trạng AMR Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng kháng sinh không hợp lý có thể dẫn đến sự phát triển của các chủng vi khuẩn kháng thuốc, khiến cho việc điều trịtrở nên khó khăn hơn và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng
Để đối phó với vấn đề AMR, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan
y tế, nhà thuốc, bác sĩ và cộng đồng Việc nâng cao nhận thức về kháng kháng sinh, thực hiện các biện pháp quản lý sử dụng kháng sinh hợp lý, cùng với việc phát triển các loại thuốc mới là điều cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và đảm bảo hiệu quả điều trị cho các thế hệ tương lai
1.3.2 Tình hình đề kháng kháng sinh
1.3.2.1 Trên thế giới
Sự gia tăng tình trạng kháng kháng sinh trên toàn cầu đang đặt ra những mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng, làm giảm hiệu quả của các loại kháng sinh thông dụng đối với các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn Theo báo cáo của Hệ thống giám sát sử dụng và kháng kháng sinh toàn cầu (GLASS) năm
2022, tỷ lệ kháng thuốc đang ở mức báo động giữa các mầm bệnh vi khuẩn phổ biến Cụ thể, tỷ lệ kháng cephalosporin thế hệ ba ở E coli đạt 42%, trong khi tỷ
lệ kháng methicillin ở Staphylococcus aureus lên đến 35% Đặc biệt, trong số các
Trang 29nhiễm trùng đường tiết niệu do E coli, cứ 5 trường hợp thì có 1 trường hợp cho thấy giảm độ nhạy cảm với các kháng sinh thông dụng như ampicillin, co-
trimoxazole và fluoroquinolone vào năm 2020, làm cho việc điều trị các bệnh nhiễm trùng trở nên khó khăn hơn [21][36]
Klebsiella pneumoniae, một loại vi khuẩn đường ruột phổ biến, cũng ghi nhận mức độ kháng thuốc tăng cao đối với các kháng sinh quan trọng Sự gia tăng kháng thuốc có thể dẫn đến việc phải tăng cường sử dụng các loại thuốc cuối cùng như carbapenem Hiện đã xuất hiện các chủng vi khuẩn siêu kháng thuốc như Carbapenem-Resistant Enterobacteriaceae (CRE) Kết quả này cũng được phản ánh trong báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), dựa trên dữ liệuAMR từ 66 quốc gia, cho thấy tình trạng dịch bệnh kháng thuốc ngày càng nghiêm trọng Cụ thể, tỷ lệ kháng ciprofloxacin, kháng sinh thường dùng để điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu, ở E coli dao động từ 8,4% đến 92,9%, và ở Klebsiella pneumoniae từ 4,1% đến 79,4%.[23]
Tại Hoa Kỳ, khoảng 2,8 triệu ca nhiễm trùng kháng kháng sinh xảy ra mỗinăm, dẫn đến hơn 35.000 ca tử vong Năm 2017, 223.900 trường hợp nhiễm Clostridioides difficile đã gây ra ít nhất 12.800 ca tử vong Đặc biệt, sự gia tăng bệnh lậu kháng thuốc và Enterobacteriaceae sản xuất beta-lactamase phổ rộng (ESBL) là một mối lo ngại lớn, với tỷ lệ tăng lần lượt là 124% và 50% kể từ năm
2000 Ở Canada, tỷ lệ kháng kháng sinh lên đến 26% và số ca tử vong do AMR vào năm 2018 là 5.400 ca Những bệnh lý có tỷ lệ kháng thuốc cao nhất bao gồm nhiễm trùng cơ xương, viêm phổi, và nhiễm trùng đường tiết niệu [23]
Báo cáo của Mạng lưới giám sát kháng kháng sinh châu Âu (EARSNet) năm 2019 cho thấy hơn một nửa số chủng Escherichia coli và hơn một phần ba
số chủng Klebsiella pneumoniae có khả năng kháng ít nhất một nhóm kháng sinh Tại châu Phi, một tổng quan hệ thống gồm 144 nghiên cứu cho thấy tỷ lệ kháng penicillin và amoxicillin lần lượt là 26,7% và 34,0% đối với Streptococcuspneumoniae và Haemophilus influenza Tại châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, có nguy cơ cao về tình trạng AMR, với chủng New Delhi metallo-beta-
Trang 30lactamase-1 (NDM-1) gây ra kháng thuốc nghiêm trọng Trung Quốc và Ấn Độ
là hai quốc gia chiếm hơn 1/3 tỷ lệ mắc bệnh lao đa kháng thuốc toàn cầu Mặc
dù tỷ lệ phân lập MRSA đã giảm, nhưng Staphylococcus aureus kháng
methicillin vẫn là mầm bệnh quan trọng cần được giám sát chặt chẽ.[23]
1.3.2.2 Ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ kháng kháng sinh (AMR) cao nhất châu Á Một nghiên cứu giám sát AMR tại 16 bệnh viện ở Việt Nam từ năm 2012 đến 2013 cho thấy tỷ lệ AMR cao ở tất cả các mầm bệnh phân lập và tình trạng kháng thuốc đã tăng đáng kể từ năm 2009 đến 2011 Theo một nghiên cứu về tiêu thụ kháng sinh trên 76 quốc gia từ năm 2000 đến 2015, Việt Nam đứng thứ 11 về mức sử dụng kháng sinh với 32 DDD/1000 dân/ngày, cao hơn nhiều so với tỷ lệ ở các nước châu Âu.[25]
Bất chấp Luật Dược 105/2016 yêu cầu kê đơn đối với thuốc kháng sinh, việc tiếp cận kháng sinh không theo đơn ở Việt Nam đang gia tăng, với 38% người bệnh tiếp cận kháng sinh mà không có sự đánh giá y tế chính thức Kiến thức của người dân về sử dụng kháng sinh còn hạn chế, nhiều người mua kháng sinh để điều trị cảm lạnh thông thường Ngoài ra, người tiêu dùng kháng sinh tại Việt Nam bị ảnh hưởng bởi các yếu tố liên quan đến chất lượng thuốc mà ít chú ýđến tầm quan trọng của việc chẩn đoán chính xác.[14][25]
Tại các bệnh viện Việt Nam, một tỷ lệ lớn bệnh nhân nội trú được báo cáođang điều trị bằng kháng sinh không phù hợp Các vi khuẩn thường gặp trong bệnh viện bao gồm: E coli, Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella pneumoniae, Acinetobacter baumannii, Staphylococcus aureus, và Streptococcus
pneumoniae[16] Một tổng quan về tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh tại Việt Nam từ năm 2017 đến 2022 cho thấy tỷ lệ kháng thuốc cao đối với nhiều kháng sinh:
- Streptococcus pneumoniae: Kháng penicillin G/V, amoxicillin, macrolid, sulfamid, phenicol với giá trị MIC vượt quá giới hạn kháng thuốc Kháng
Trang 31amoxicillin + acid clavulanic có tỷ lệ kháng cao nhưng vẫn có thể điều chỉnh liều
để đạt hiệu quả điều trị
- Klebsiella pneumoniae: Vi khuẩn này có tỷ lệ kháng cao với penicillin,
cephalosporin thế hệ 3,4, và carbapenem do sinh men beta-lactamase phổ rộng Cần xác định giá trị MIC để điều chỉnh liều kháng sinh phù hợp
- E coli: Có tỷ lệ kháng cao với penicillin (80-90% đối với amoxicillin,
ampicillin) và kháng mức độ vừa phải với fluoroquinolone
- Pseudomonas aeruginosa: Tỷ lệ kháng cao với hầu hết các kháng sinh, ngoại trừcolistin và piperacillin/tazobactam còn tương đối nhạy
Theo một nghiên cứu trên bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết tại Bệnh viện Trung ương Quân đội từ năm 2016-2018, chủng MRSA đã kháng hầu hết các kháng sinh thuộc nhóm beta-lactam với tỷ lệ 89,5% Tuy nhiên, MRSA vẫn nhạy cảm gần như 100% đối với vancomycin, linezolid và tigecyclin.[4]
Báo cáo "Giám sát kháng thuốc tại Việt Nam năm 2020" từ 16 bệnh viện
do Bộ Y tế phối hợp với WHO cho thấy[2]:
- 78% chủng Staphylococcus aureus là MRSA
- 26,2% chủng Enterococcus faecium kháng vancomycin
- 47,5% chủng E coli kháng ceftazidime và 67,9% kháng ceftriaxone; gần 10% kháng carbapenem
- 58,8% chủng Klebsiella pneumoniae kháng ceftazidime và 73,9% kháng
ceftriaxone; gần 50% kháng carbapenem
- 87,8% chủng Acinetobacter kháng carbapenem
- 45,3% chủng Pseudomonas aeruginosa kháng carbapenem
- 47,8% chủng Salmonella kháng ciprofloxacin
- 91,5% chủng Streptococcus pneumoniae kháng penicillin
Với tình hình kháng kháng sinh ngày càng gia tăng, nhiều liệu pháp điều trị đã không còn hiệu lực Điều này đặt ra thách thức lớn cho việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn phổ biến ở Việt Nam Từ cuối thế kỷ 20, chi phí nghiên cứu
và phát triển một loại thuốc mới đã lên đến 500 triệu USD, và với sự xuất hiện
Trang 32của các chủng vi khuẩn kháng thuốc, việc tìm kiếm các phương pháp điều trị mới
đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Các nhà khoa học cảnh báo rằng thế giới
đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng sức khoẻ cộng đồng do tình trạng đề
kháng kháng sinh đang ngày càng gia tăng trên toàn thế giới
1.4 Một số nghiên cứu liên quan
Bảng 1.4 Tổng hợp một số nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước
- Nghiên cứu cắt ngang
mô tả
- Khảo sát sinh viênngành Dược thông quabảng câu hỏi được chiathành 5 phần:
+ Dữ liệu về nhân khẩu
học+ Kiến thức về sử dụngkháng sinh+ Thái độ đối với việc sử
- Kiến thức về sửdụng kháng sinh củasinh viên khá tốt
- Thái độ về việc sửdụng kháng sinh củasinh viên kém
- Khoảng 75% ngườitham giahiếm khi sử dụngkháng sinh
- 40,7% sinh viên tự
Trang 33dụng kháng sinh+ Tự sử dụng kháng sinh+ Các nguyên nhân có thểgây đề kháng kháng sinh
- Mann-Whitney Test vàkiểm định Chi-squar
ý sử dụng khángsinh mà không cầnđơn của bác sĩ
- Nguồn thông tin vềkháng sinh mà sinhviên được tiếp cậnchủ yếu từ dược sĩbán lẻ (42,6%)
- Cảm lạnh và cảmcúm là lý dochủ yếu mà sinhviên sử dụngkháng sinh
knowledge ragardingantibiotics andantimicrobialresistance amongpharmacy student inSri Lankauniversities- M.H.FSakeena
+ Nghiên cứu cắt ngang
mô tả+ Khảo sát sinh viênDược bằng bộ câu hỏigồm 5 phần chính: thôngtin nhân khẩu học, tự ý sửdụng kháng sinh, kiếnthức về sửdụng kháng sinh, kiếnthức về đề kháng khángsinh AMR, sử dụng khángsinh trong nông nghiệp
- Kiểm định Chi-square
- Phần lớn ngườitham gia (76%)cho biết đã sử dụngkháng sinhtrong 1 năm qua
- Hơn một nửa(57%) sinh viêndược năm 1, năm 2
đã chỉ ra sairằng việc sử dụngkháng sinh phùhợp để kiểm soáttình trạng cảmlạnh và cúm
- Sinh viên dược
Trang 34năm cuối chokiến thức về khángsinh tốt hơnđáng kể so với sinhviên dượcnhững năm đầu, p <
0,05
- Nhìn chung, sinhviên dược thểhiện sự hiểu biết tốt
về AMR vàtrình độ kiến thứccủa sinh viêntăng lên khi số nămhọc dượctăng lên
Nghiên cứu trong nước
3 2017 Khảo sát nhận thức
về tự ý sử dụngkháng sinh của sinhviên trường Đại họcTây Đô- Võ ThảoNguyên
- Nghiên cứu cắt ngang
mô tả
- Khảo sát 341 sinh viên
bằng bộcâu hỏi được thiết kế sẵn
- Số liệu thu thập đượcnhập và phân tích bằngphần mềm SPSS
- Kiểm định Chi-square
để đánh giá mối liên hệvới hành vi tự ý sử dụng
- Tỷ lệ sinh viên sửdụng khángsinh không theo chỉđịnh của bác sĩ
là 45,2%
- Tỷ lệ sinh viên cókiến thức đúng
về kháng sinh là51,6%, thái độ tốt
là 70,4%, thực hànhđúng là
Trang 35kháng sinh 50,1%.
- Tìm thấy mối liênquan giữa hành
vi sử dụng khángsinh không theođơn của bác sĩ với ,thói quenthường sử dụngBHYT, kiến thức
và thực hành
4 2021 Kiến thức, thái độ và
thực hành sử dụngkháng sinh của sinhviên Đại học Quốcgia Thành phố HồChí Minh năm 2021-Phạm Văn hậu
- Nghiên cứu cắt ngang
mô tả bằng bộ câu hỏikhảo sát 429 sinh viênĐại học Quốc giaTP.HCM
- Hồi quy logistic nhằm
mô tả mối liên quan giữakiến thức và thái độ vớithực hành sử dụng khángsinh của sinh viên
- Kiến thức và thái
độ lần lượt cóđiểm trung bình là5,3/9 và 6,3/9điểm và tỷ lệ trungbình là 59,4%
và 71,7%
- Có 71% sinh viêntrả lời đúng từ4-7 câu hỏi về kiếnthức và 93,2%sinh viên trả lờiđúng từ 4-9 câuhỏi về thái độ
- Trả lời sai câu hỏi
“Sử dụngkháng sinh thườngxuyên sẽ làm