Đặt vấn đềHiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí, đặc biệt tại các đô thị không chỉ còn là vấn đề riêng lẻ của một quốc gia hay một khu vực mà nó đã trở thành vấn đề toàn cầu.. Tổ
Trang 1Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước, trong những năm qua, thành phố đã thu hút được rất nhiều nguồn đầu tư của trong và
cả ngoài nước, tham gia vào phát triển kinh tế, tạo những bước chuyển tích cực quan trọng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có vấn đề môi trường và phát triển bền vững Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường ở các thành phố lớn luôn trong tình trạng báo động đỏ về mức độ ô nhiễm đặc biệt là ô nhiễm không khí Trên phương tiện truyền thông, hàng loạt chiến dịch hình ảnh, biển hiệu, thông điệp cảnh báo về ô nhiễm môi trường nhưng bất chấp những lời kêu gọi bảo vệ môi trường, vấn đề ô nhiễm ở các thành phố lớn, đặc biệt là ở thủ đô Hà Nội vẫn còn nhiều hạn chế, đòi hỏi Chính phủ cùng người dân có những giải pháp cải thiện trong thời gian tới
Từ khóa: thực trạng ô nhiễm, ô nhiễm môi trường, ô nhiễm không khí,
thành phố Hà Nội
Trang 21 Đặt vấn đề
Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí, đặc biệt tại các đô thị không chỉ còn là vấn đề riêng lẻ của một quốc gia hay một khu vực mà nó đã trở thành vấn đề toàn cầu Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới trong thời gian qua đã có những tác động lớn đến môi trường, đã làm cho môi trường sống của con người bị thay đổi và ngày càng trở nên tồi tệ hơn Những năm gần đây nhân loại đã phải quan tâm nhiều đến vấn đề ô nhiễm môi trường không khí Đó là sự biến đổi của khí hậu – nóng lên toàn cầu, sự suy giảm tầng ôzôn và mưa axit Ở Việt Nam ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường đô thị, công nghiệp và các làng nghề Đặc biệt là ở thủ đô Hà Nội đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường không khí nặng nề Ở các khu công nghiệp, các trục đường giao thông lớn đều bị
ô nhiễm với các cấp độ khác nhau, nồng độ các chất ô nhiễm đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nhận thấy tính cấp thiết của đề tài, “Tình trạng ô nhiễm môi trường ở thành phố Hà Nội” được lựa chọn nhằm nghiên cứu làm rõ câu hỏi
“Thực trạng ô nhiễm môi trường ở Hà Nội hiện tại như thế nào, nguyên nhân tại sao và cần phải làm gì để hạn chế tình trạng này? Với hy vọng đóng góp thêm một góc nhìn về tình trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội, những nguyên nhân căn bản và đề xuất một số phương hướng giải quyết
2 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Thông qua các chương trình phát triển, rất nhiều hoạt động liên quan tới việc đánh giá chất lượng không khí đã được thực hiện ở Việt Nam và Hà Nội trong 10 năm qua.Việt Nam là thành viên của mạng lưới “Không khí sạch cho các thành phố châu Á” (CAI-Asia) CAI-Asia đã được thành lập bởi Ngân hàng phát triển châu Á (Asian Development Bank), Ngân hàng thế giới (World Bank), và Chương trình Hợp tác trong vấn đề môi trường giữa Hoa Kỳ và Châu
Á (USEAP), USAID Mạng lưới này nhằm thúc đẩy nâng cao chất lượng không
Trang 3khí của các thành phố với mục đích chính là phổ biến “Kiến thức cho chính sách
và hoạt động giúp giảm ô nhiễm không khí, khí nhà kính phát sinh từ giao thông, năng lượng và các yếu tố khác” CAI-Asia là một nền tảng cho các hoạt động liên quan khác như khuyến khích phát thải sạch hơn cho phương tiện có động cơ
Trong khuôn khổ của dự án cung cấp thông tin về môi trường và trợ giúp các hoạt động quản lý và chính sách môi trường, do Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch (DANIDA, 003-006) tiến hành, một luận tiến sĩ (do chính phủ Việt Nam, DANIDA, và Viện Nghiên cứu Môi trường Quốc gia Đan Mạch tài trợ)
đã đánh giá điều kiện không khí ở Hà Nội và chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng không khí Cũng trong luận văn này, các mô hình phân tán khác nhau
đã được phát triển và đánh giá tiềm năng trở thành công cụ cho đánh giá và quản
lý chất lượng không khí cho tương lai tại Việt Nam Tuy nhiên, luận văn này cũng chỉ ra một số thách thức trong việc áp dụng các mô hình nói trên trong bối cảnh chất lượng của số liệu không cao
Chương trình Không khí sạch Việt Nam- Thụy Sỹ (SVCAP) là một dự án tài trợ bởi Cơ quan Phát triển và Hợp tác Thụy Sỹ (SDC) vào khoảng giữa năm
2004 tới năm 2008 Mục đích của SVCAP là giúp cho tình trạng ô nhiễm không khí không bị trầm trọng thêm Nghiên cứu bao gồm việc xây dựng các kế hoạch
để thực hiện một hệ thống giám sát chất lượng không khí, một chiến dịch lấy mẫu dài hạn lần đầu tiên ở Việt Nam cũng như xây dựng một chương trình can thiệp phát thải thí điểm cho Hà Nội Nghiên cứu khuyến nghị một một kế hoạch hành động nhanh chóng để nâng cao nhận thức về tác động của ÔNKK và sức khỏe tại Hà Nội, và đối thoại trên các mặt chính sách, kinh tế và quy định để thúc đẩy các chiến lược cho việc cải thiện ô nhiễm không khí ở Hà Nội Trong tương lai, việc thành lập một mạng lưới giám sát ô nhiễm không khí rộng hơn và xây dựng các phương pháp dự báo những thay đổi trên biểu đồ phát thải trong tương lai nhằm hỗ trợ cho việc ra quyết định về các vấn đề liên quan
Trang 4Ngoài Luật Bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn môi trường quốc gia được ban hành vào năm 005, các khung quy định quốc gia hiện nay xung quanh việc kiểm soát ô nhiễm không khí ở Việt Nam hầu hết bao gồm hàng loạt quyết định cho việc giảm phát thải Ở Hà Nội, chất lượng không khí kém đã được giải quyết với một số chương trình bổ sung nhằm giảm bụi phát sinh từ hoạt động giao thông vận tải và xây dựng, tuy nhiên các biện pháp này đã được chứng minh là không cải thiện được chất lượng không khí Năm 2010, kế hoạch hành động về chất lượng không khí được xây dựng nhằm thúc đẩy chất lượng không khí, trong đó nêu rõ sự cần thiết phải xây dựng chiến lược cho việc giám sát chất lượng không khí tốt hơn, tăng cường năng lực, nhận thức, và mô hình hóa ô nhiễm không khí
2.2 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đến sức khỏe con người
Ô nhiễm không khí có những ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ Khi môi trường không khí bị ô nhiễm, sức khoẻ con người bị suy giảm, quá trình lão hóa trong cơ thể diễn ra nhanh; các chức năng của cơ quan hô hấp suy giảm, gây ra các bệnh hen suyễn, viêm phế quản, tim mạch và làm giảm tuổi thọ của con người Các nhóm cộng đồng nhạy cảm nhất với ô nhiễm không khí là người cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 14 tuổi, người đang mang bệnh, người lao động thường xuyên phải làm việc ngoài trời Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy, trẻ nhỏ sống ở những khu vực có không khí bị ô nhiễm
có chỉ số IQ thấp hơn, khả năng ghi nhớ thông tin kém hơn và kém thông minh hơn nhiều so với trẻ em bình thường
Và các mức độ ảnh hưởng của từng người tuỳ thuộc vào tình trạng sức khoẻ, nồng độ, loại chất và thời gian tiếp xúc với môi trường ô nhiễm Thực tế cho thấy, nhiều bệnh đường hô hấp có nguyên nhân trực tiếp bởi môi trường không khí bị ô nhiễm do bụi, SO2, NOx, CO, chì Các tác nhân này gây ra các bệnh: Viêm nhiễm đường hô hấp, hen, lao, dị ứng, viêm phế quản mạn tính, ung thư
Trang 52.3 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đến sự phát triển kinh tế
Thiệt hại kinh tế do ảnh hưởng đến sức khỏe, bao gồm các khoản chi phí: Khám, chữa bệnh, thiệt hại cho sản xuất và nền kinh tế Dự án “Điều tra, thống
kê, đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới sức khỏe cộng đồng” do Cục Bảo vệ môi trường (2007) tiến hành tại hai tỉnh Phú Thọ và Nam Định cho kết quả ước tính thiệt hại kinh tế do ô nhiễm không khí tác động đến sức khoẻ trên đầu người mỗi năm trung bình là 295.000 đồng Thực tế, môi trường không khí ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng bị ô nhiễm cao hơn so với các tỉnh Phú Thọ và Nam Định, nên thiệt hại về kinh tế do
ô nhiễm không khí thực tế còn cao hơn con số nêu trên
2.4 Ảnh hưởng tới biến đổi khí hậu
Ô nhiễm không khí cũng đang ảnh hưởng tới điều kiện sinh sống của con người, đa dạng sinh học và các hệ sinh thái Ảnh hưởng tổng hợp nhất là đối với
sự biến đổi khí hậu Vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra và trái đất đang nóng lên là do các hoạt động của con người chứ không phải thuần tuý do biến đổi khí hậu tự nhiên Do các hoạt động của con người, đặc biệt là việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, gas) trong công nghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp lượng phát thải các loại khí nhà kính, đặc biệt là CO2 không ngừng tăng nhanh và tích lũy trong thời gian dài, gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính, làm biến đổi khí hậu toàn cầu
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài sẽ làm rõ những thực trạng về vấn đề ô nhiễm môi trường không khí ở thành phố Hà Nội hiện nay, đồng thời phân tích các nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường không khí nói riêng và ô nhiễm môi trường Việt Nam nói chung hiện nay
Để hoàn thiện đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
Trang 6- Tìm kiếm và xử lý thông tin về vấn đề ô nhiễm môi trường không khí Việt Nam hiện nay
- Tìm hiểu thực trạng ô nhiễm môi trường không khí ở thành phố Hà Nội hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường không khí phù hợp với bối cảnh thành phố Hà Nội hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, tác giả sử dụng một số phương pháp chủ yếu như: Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp, thứ cấp, đồng thời sử dụng phương pháp tổng hợp, đánh giá, phân tích tài liệu sẵn có để thu thập các số liệu liên quan đến
ô nhiễm môi trường không khí tại thành phố Hà Nội
5 Thực trạng môi trường không khí Hà Nội
Theo thống kê của Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất Hà Nội, mỗi năm thành phố Hà Nội phải tiếp nhận khoảng 80.000 tấn bụi, khói; 9.000 tấn khí SO2; 46.000 tấn khí CO2 từ các cơ sở công nghiệp thải ra Ngoài ra, các phương tiện giao thông ô tô, xe máy cũng được xác định như là một nguồn phát thải lớn Những kết quả nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, chất lượng không khí ở khu vực ngoại thành Hà Nội chưa bị ô nhiễm bởi CO, SO2, NO2 và bụi lơ lửng (TSP), ngoại trừ tại các khu công nghiệp và các khu vực gần các tuyến đường giao thông liên tỉnh, đường cao tốc Còn khu vực nội thành thì hầu hết tại các khu công nghiệp, tuyến giao thông chính đều bị ô nhiễm nhưng ở các mức độ khác nhau Tại các tuyến giao thông, ô nhiễm bụi lơ lửng (TSP) là chủ yếu với nồng
độ đo được cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 3 - 4 lần Những khu vực đang thi công các công trình xây dựng, giao thông, đô thị mới, nồng độ TSP đo được thường cao hơn 7 - 10 lần so với TCCP Nồng độ các khí SO2, NO, trung bình hàng năm tăng khoảng từ 10 - 60%, nồng độ CO tại các trục giao thông chính cao hơn từ 2,5 đến 4,4 lần so với TCCP
Trang 7Hình 5.1: Chỉ số đánh giá chất lượng không khí (VN_AQI)
Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia - Giai đoạn 2016 - 2020
(2021), Bộ Tài nguyên và Môi trường
Tại các đô thị lớn miền Bắc như thủ đô Hà Nội, số ngày trong năm 2019
-2020 có giá trị AQI ở mức kém và xấu (tính trung bình các trạm) chiếm tỷ lệ 30,5% tổng số ngày quan trắc trong năm, một số ngày chất lượng không khí suy giảm đến ngưỡng rất xấu (AQI = 201 - 300)
5.1 Bụi
Hà Nội là thành phố có mức độ ô nhiễm bụi và biến động qua các năm cao hơn so với các đô thị khác Giá trị trung bình năm của thông số bụi PM2,5
và PM10 tại tất cả các trạm quan trắc môi trường không khí tự động, liên tục tại
Hà Nội giai đoạn năm 2018 - 2020 đều vượt ngưỡng của QCVN 05:2013/BTNMT từ 1,1 đến 2,2 lần, cao nhất ghi nhận năm 2019 Đối với thông
số tổng bụi lơ lửng (TSP), kết quả quan trắc trong giai đoạn 2015 - 2019 cho thấy tình trạng ô nhiễm vẫn diễn ra phổ biến tại hầu hết các đô thị (tại các trục giao thông và khu vực dân cư) Tương tự như thông số bụi mịn, giá trị thông số
Trang 8TSP giảm từ năm 2015 - 2017 và có xu hướng tăng trở lại từ năm 2018 - 2019, thể hiện rõ ở khu vực miền Bắc
Ở nước ta, giá trị thông số bụi chịu tác động rất rõ rệt bởi yếu tố khí hậu, tạo nên quy luật diễn biến chất lượng môi trường không khí theo các mùa trong năm Điều này thể hiện rất rõ ở khu vực miền Bắc, ô nhiễm bụi tập trung vào các tháng mùa đông, ít mưa (tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau)
Diễn biến nồng độ bụi trong không khí cũng thay đổi theo quy luật trong ngày, thể hiện rõ nhất tại các khu vực gần trục giao thông Nồng độ bụi tăng cao vào các giờ cao điểm giao thông, giảm xuống thấp nhất vào giữa trưa và đêm Năm 2020, các hoạt động phát triển KT- XH của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều chịu tác động nặng nề bởi đại dịch COVID-19
Trang 9Hình 5.3: Diễn biến giá trị PM10 và PM2,5 trong ngày tại các trạm quan trắc không khí tự động (số liệu tính toán trung bình qua các năm)
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu quan trắc của Tổng cục Môi trường
Các hoạt động sản xuất công nghiệp, xây dựng, giao thông phải giảm thiểu hoặc tạm dừng (trong thời gian các quốc gia thực hiện giãn cách xã hội) đã cho thấy những tác động đáng kể đến chất lượng môi trường không khí, Việt Nam cũng không ngoại lệ Qua theo dõi kết quả quan trắc trong những tháng đầu năm 2020, đặc biệt là trong thời gian đầu tháng 4 năm 2020 (cả nước thực hiện giãn cách xã hội), chất lượng môi trường không khí tại các đô thị tốt hơn những tháng trước và thời gian cùng kỳ những năm trước đó
5.2 Giá trị các thông số NO2 , SO2 , CO và O3
Bên cạnh các thông số bụi, chất lượng môi trường không khí còn được đánh giá bởi một số thông số khí đặc trưng khác như NO2, O3, CO, SO2 Trong
đó tại các đô thị, NO2 và CO là các khí phát sinh chủ yếu từ các phương tiện tham gia giao thông, SO2 là khí phát thải chủ yếu từ hoạt động đốt than và nhiên liệu (dầu) chứa lưu huỳnh và khí O3 trong tầng mặt hình thành chủ yếu phụ thuộc vào cường độ ánh sáng mặt trời, hàm lượng NOx và các chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC)
Theo kết quả quan trắc giai đoạn 2015 - 2020, phần lớn giá trị các thông
số NO2, O3, CO, SO2 trung bình năm tại các đô thị đều khá thấp, cơ bản không
Trang 10có nhiều biến động và đều nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép của QCVN 05:2013/BTNMT Ngoại lệ duy nhất là năm 2015, giá trị trung bình năm của thông số NO2 tại trạm 556 Nguyễn Văn Cừ (Hà Nội) vượt ngưỡng của QCVN 05:2013/BTNMT Tuy nhiên từ năm 2016 đến nay, giá trị trung bình năm của NO2 đều nằm trong ngưỡng của QCVN 05:2013/BTNMT Tại các trạm quan trắc thuộc các thành phố khác, giá trị trung bình năm của thông số NO2 hầu hết bằng 1⁄2 so với ngưỡng của QCVN 05:2013/BTNMT
Biểu đồ 5.5: Diễn biến giá trị thông số CO trung bình năm tại các trạm
quan trắc không khí tự động giai đoạn 2015 - 2020
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu quan trắc của Tổng cục Môi trường
Tương tự như thông số bụi, các thông số như NO2, CO cũng có quy luật diễn biến tăng giảm trong ngày tại khu vực đô thị Thông số CO là thông số đặc trưng cho nguồn phát thải từ hoạt động giao thông, theo kết quả quan trắc tại các khu vực đô thị, giá trị CO tăng cao vào các khung giờ cao điểm giao thông 07h -09h và 17h - 19h
Đối với thông số O3, có sự chênh lệch lớn về nồng độ giữa ban ngày và ban đêm Bắt đầu từ khoảng 7h sáng, nồng độ O3 có xu hướng tăng nhanh và đạt cực đại trong khoảng từ 13h - 15h Sau khi đạt cực đại, nồng độ O3 bắt đầu giảm
Trang 11phản ứng quang hóa, vì vậy diễn biến nồng độ O3 trong ngày phù hợp với quy luật tăng giảm của cường độ bức xạ mặt trời
5.3 Tiếng ồn
Ở các đô thị, nguồn gốc gây ô nhiễm tiếng ồn chủ yếu là do hoạt động giao thông nên mức ồn lớn thường ghi nhận trên các trục giao thông chính Ngưỡng ồn đo được ở các tuyến phố chính tại các đô thị lớn ở Việt Nam hầu hết đều xấp xỉ hoặc vượt ngưỡng của QCVN 26:2010/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn và độ rung) trong khung giờ từ 06h - 21h (70 dBA) Đối với các đô thị vừa và nhỏ, mức ồn đo tại các tuyến đường giao thông tại hầu hết đô thị cũng có diễn biến tương tự Đối với khu dân cư, đã ghi nhận mức ồn vượt ngưỡng quy chuẩn cho phép tại một số khu vực có mật độ dân cư lớn, gần đường giao thông Tại các khu vực dân cư khác, xa đường giao thông, nhìn chung mức ồn vẫn nằm trong ngưỡng của QCVN 26:2010/BTNMT
6 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường không khí
Chất lượng không khí Hà Nội hiện đang suy giảm một cách nhanh chóng Nguyên nhân của sự suy giảm này chủ yếu do 3 nguồn nguyên nhân chính: Công nghiệp, giao thông và xây dựng, sinh hoạt
a Hoạt động sản xuất công nghiệp
Theo thống kê hiện nay ở Hà Nội có tới 400 cơ sở công nghiệp đang hoạt động Trong đó, có khoảng 147 cơ sở công nghiệp có tiềm năng thải các chất thải gây ô nhiễm môi trường không khí Hà Nội Các khí thải độc hại sinh ra từ các nhà máy, xí nghiệp chủ yếu do quá trình chuyển hoá năng lượng tiêu thụ than và xăng dầu các loại) Trong khi chất lượng nhiên liệu “chưa tốt” chứa nhiều tạp chất không tốt đối với môi trường, cụ thể là hàm lượng Benzen trong xăng quá cao (5% so với 1%), hàm lượng lưu huỳnh trong Diezen cao 0,5-1%
so với 0,05% [6] Lượng than tiêu thụ hàng năm trung bình là 250.000 tấn, xăng