BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG BÙI THỊ THU HƯỜNG KẾT QUẢ CHĂM SÓC TRẺ BỆNH DƯỚI 5 TUỔI NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP DƯỚI CẤP TÍNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN ĐA K
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Trẻ bệnh nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp tính
- Cha/mẹ/người chăm sóc trẻ
- Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp tính [6]
Viêm thanh quản Viêm phế quản Viêm tiểu phế quản
Viêm phổi/ Viêm phế quản phổi
- Triệu chứng không đặc hiệu, thường giống nhiễm khuẩn đường hô hấp hấp dưới, sốt nhẹ, sổ mũi trong 12h – 72h
- Tiếng thở rít thì hít vào, tăng nhịp thở, co lõm cơ hô hấp phụ và ho ông ổng
- Nặng lên về đêm, nặng nhất trong vòng
+ Độ I: chỉ khàn tiếng, khó thở khi gắng sức, thở rít khi khóc
+ Độ II IIA: khó thở ngay cả khi nghỉ ngơi, thở rít khi nằm
- Ho có đờm (màu vàng, màu xanh hay rỉ sắt)
- Đờm: Có thể màu trắng trong hoặc vàng, xanh đục
- Nhịp thở nhanh so với lứa tuổi
- Cánh mũi phập phồng, sùi bọt cua (trẻ sơ sinh)
- Tím tái, co giật, có cơn ngừng
- Nhịp thở bình thường hoặc nhanh tùy mức độ
- Co kéo nhẹ cơ hô hấp phụ
- Thông khí phổi giảm, nghe có rale rít, ngáy, ẩm
BC giảm hoặc bình thường, có thể tăng BC lympho
-XQ: Có hình ảnh khí phế thũng( phổi sáng hơn bình thường hoặc phổi quá sáng, ứ khí, hoặc xẹp
- Ho, sốt kèm theo ít nhất 1 trong các dấu hiệu
- Thở nhanh theo độ tuổi
- Nghe phổi: Rale ẩm nhỏ hạt, rale
PQ, rale nổ, thông khí giảm
- XN máu: BC, BCTT, CRP tăng nếu do VK; bình thường nếu do VR hoặc VK không điển hình
- XQ: Có những nốt mờ rải rác, có những đám mờ tập trung ở nhu mô phổi có hình bóng
IIA kèm thở nhanh, rút lõm ngực
IIB kèm vật vã, kích thích hoặc tím tái thở
- Phổi có ran ẩm nhỏ hạt rải rác hai phế trường
Hình ảnh chẩn đoán cho thấy phổi có những nốt mờ rải rác và các đám mờ tập trung trong nhu mô phổi, thường do nhiễm khuẩn tụ cầu.
- Bệnh nhi dưới 60 tháng tuổi
- Cha/mẹ của bệnh nhi đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bệnh nhi vào viện trong tình trạng nặng cần cấp cứu như sốc, trụy mạch, suy hô hấp nặng, co giật, hôn mê
- Có bệnh lý kèm theo như dị tật bẩm sinh, bệnh mạn tính, bệnh miễn dịch dị ứng, hen phế quản
- Cha/mẹ của bệnh nhi không đồng ý tham gia nghiên cứu
Nghiên cứu tại khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa Hà Đông
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 2/2024 đến tháng 8/2024
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp mô tả tiến cứu
2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Cỡ mẫu Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng cho 1 tỷ lệ: n =
Trong đó: n: là cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu
Z: là hệ số tin cậy được lấy dựa vào ngưỡng xác suất α Trong đề tài này ngưỡng xác suất α được lấy là 0,05 Z(1- α/2) = 1,96 p: Kết quả chăm sóc bệnh nhân đạt kết quả tốt p = 0,769 (hay 76,9%) theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huế năm 2022 [18] d: là sai số lấy giá trị tuyệt đối, chọn d = 0,05
Thay số vào công thức trên có n = 273 bệnh nhi Như vậy cỡ mẫu trong nghiên cứu của chúng tôi là 273 đối tượng
Cách chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện
Chọn thuận tiện bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và không có tiêu chuẩn loại trừ được đưa vào nghiên cứu.
Phương pháp thu thập số liệu
Bộ phiếu phỏng vấn (Phụ lục 1) là công cụ thu thập thông tin quan trọng, được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đây và ý kiến từ các chuyên gia trong lĩnh vực.
Bộ công cụ chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông đã được xây dựng dựa trên hướng dẫn công tác chăm sóc Độ tin cậy của bộ công cụ này được đánh giá bằng chỉ số Cronbach’s alpha, đạt kết quả 0.78, cho thấy nó đủ điều kiện sử dụng trong nghiên cứu.
- Đo cân nặng bằng cân: Cân điện tử chính xác tới 100g
- Đo chiều cao bằng: Thước gỗ 3 mảnh của UNICEF, độ chính xác 0,1 cm
- Xét nghiệm huyết học: Bằng máy xét nghiệm AU680
- Xét nghiệm sinh hoá máu: CRP
Bước 1: Khi trẻ nhập viện được điều dưỡng tiếp đón, khai thác thông tin xác định bệnh nhi NKHH dưới cấp theo chẩn đoán của bác sĩ
Bước 2: Đưa vào đối tượng nghiên cứu, lập bệnh án nghiên cứu
Bước 3: Thu thập dữ liệu vào mẫu bệnh án nghiên cứu, bao gồm thông tin lâm sàng, cận lâm sàng, các hoạt động chăm sóc của điều dưỡng và phỏng vấn người chăm sóc trẻ.
Phiếu thu thập thông tin được xây dựng dựa trên hồ sơ bệnh án tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông, bao gồm cả phỏng vấn và kiểm tra tính xác thực của thông tin Những bệnh nhân không đáp ứng đủ tiêu chí lựa chọn sẽ được loại trừ khỏi nghiên cứu.
Các phiếu được tổng hợp và kiểm tra kỹ lưỡng Nghiên cứu viên sẽ ngẫu nhiên chọn 10% số phiếu để kiểm tra chất lượng thông tin Nếu phát hiện thông tin sai sót hoặc thiếu sót, nghiên cứu viên sẽ tiến hành thu thập lại thông tin cần thiết.
Bước 4: Phân tích kết quả thu được và kết luận.
Các biến số, tiêu chuẩn đánh giá
2.4.1 Các biến số nghiên cứu
Mục tiêu Biến số Phân loại biến Chỉ số
Phương tiện công cụ thu thập
Thông tin chung của Tuổi Rời rạc Tỷ lệ phần trăm nhóm tuổi của đối tượng
Mục tiêu Biến số Phân loại biến Chỉ số
Phương tiện công cụ thu thập bệnh nhi
Giới tính Nhị phân Tỷ lệ phần trăm giới tính của đối tượng Tuổi thai Định tính Tuổi thai của đối tượng
Cân nặng Định lượng Phân loại cân nặng của đối tượng
Tình trạng dinh dưỡng Định tính
Phân loại tình trạng dinh dưỡng của đối tượng
Tình trạng tiêm chủng Định tính
Phân loại tình trạng tiêm chủng của đối tượng
Lịch sử điều trị Định lượng Phân bố số lần nhập viện của đối tượng
Lý do nhập viện Định tính Phân bố lý do nhập viện Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả chăm sóc
Phân loại bệnh nhân dựa vào triệu chứng tại các thời điểm T0, T1,
Cận lâm sàng Định lượng
Phân loại các chỉ số Bạch cầu, CRP tại thời gian nhập viện
Tư vấn, chăm sóc Định tính
Tư vấn nội quy bệnh viện rất quan trọng trong việc chăm sóc trẻ em, đặc biệt khi trẻ ho nhiều hoặc sốt Cha mẹ cần biết cách làm loãng đờm và chăm sóc trẻ đúng cách để giúp trẻ dễ thở hơn Hướng dẫn vệ sinh cá nhân và tuân thủ việc sử dụng thuốc theo chỉ định cũng như lịch tái khám sau khi ra viện là những bước cần thiết để đảm bảo sức khỏe cho trẻ.
Chăm sóc Định tính Hoạt động chăm sóc của điều dưỡng gồm: đo dấu hiệu sinh tồn,
Mục tiêu Biến số Phân loại biến Chỉ số
Phương tiện công cụ thu thập và theo dõi đánh giá bệnh nhân đóng vai trò quan trọng trong việc làm thông thoáng đường thở, hỗ trợ vệ sinh cá nhân và chăm sóc tâm lý Bên cạnh đó, việc chăm sóc dinh dưỡng và thực hiện y lệnh cũng cần được chú trọng, cùng với việc ghi chép hồ sơ bệnh án một cách đầy đủ và chính xác.
Một số yếu tố liêu quan đến kết quả chăm sóc
Mối liên quan giữa kết quả chăm sóc với nhóm tuổi
Mối liên quan giữa kết quả chăm sóc với tuổi thai
Mối liên quan giữa kết quả chăm sóc với tình trạng dinh dưỡng
Mối liên quan giữa kết quả chăm sóc với tình trạng tiêm chủng
Mối liên quan giữa kết quả chăm sóc với hoạt động tư vấn, hoạt động chăm sóc
Sốt được phân chia theo các mức độ của WHO bằng đo nhiệt độ ở nách như sau:
Bệnh nhân được đánh giá các triệu chứng như suy hô hấp, sốt, ho, khò khè và triệu chứng tiêu hóa, bao gồm việc ăn kém hơn so với bình thường Những đặc điểm này được ghi nhận tại các thời điểm vào viện (T0), sau 3 ngày (T1) và sau 5 ngày (T5).
- Khò khè: Là tiếng thở liên tục âm sách thanh nghe thấy từ ngực bệnh nhân, thường ở thì thở ra
Phập phồng cánh mũi là hiện tượng mở rộng lỗ mũi khi thở vào, giúp giảm kháng lực đường thở Hiện tượng này thường gặp ở trẻ sơ sinh và nhũ nhi bị suy hô hấp.
Rút lõm lồng ngực là tình trạng khi một phần ba dưới của lồng ngực bị lõm vào Để được xác định là rút lõm lồng ngực, cần có sự lõm rõ rệt chứ không chỉ đơn thuần là sự co kéo ở vùng gian sườn.
Đánh giá tuổi thai là quá trình xác định độ dài của thời kỳ mang thai, bắt đầu từ ngày đầu của kỳ kinh cuối, và thường được biểu thị bằng tuần và ngày.
Suy hô hấp là tình trạng mà hệ thống hô hấp không đủ khả năng duy trì sự trao đổi khí cần thiết cho cơ thể, dẫn đến giảm nồng độ O2 và/hoặc tăng nồng độ CO2 trong máu Hệ quả của suy hô hấp là thiếu oxy cho các cơ quan, đặc biệt là não và tim, đồng thời gây ra tình trạng ứ động CO2, dẫn đến toan hô hấp.
- Thời gian hết SHH sau ngày vào viện (ngày): Số ngày kể từ khi bệnh nhi vào viện cho đến khi hết triệu chứng SHH
- Thời gian hết sốt sau ngày vào viện (ngày): Số ngày kể từ khi bệnh nhi vào viện cho đến khi bệnh nhi hết sốt
Thời gian ăn bú trở lại bình thường sau khi nhập viện được tính từ ngày vào viện cho đến khi bệnh nhân đạt mức ăn bú bình thường, tức là đạt ít nhất 75% so với mức ăn bú trước đó.
- Thời gian nằm viện (ngày): Là số ngày tính từ khi bệnh nhi vào viện cho đến khi bệnh nhi được ra viện
- Dựa vào các dấu hiệu toàn thân, đếm nhịp thở, dấu hiệu rút lõm lồng ngực để phân loại, đánh giá trẻ bệnh
Nhịp thở nhanh được xác định theo quy định của chương trình phòng chống bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (ARI) và tài liệu Xử trí lồng ghép trẻ bệnh (IMCI) là một chỉ số quan trọng trong việc chẩn đoán và quản lý tình trạng sức khỏe của trẻ em Việc nhận diện sớm nhịp thở nhanh giúp cải thiện hiệu quả điều trị và giảm thiểu biến chứng liên quan đến bệnh lý hô hấp.
Đánh giá tình trạng suy hô hấp ở bệnh nhi cần chú ý đến các dấu hiệu như thở nhanh, rút lõm lồng ngực, tím môi, đầu chi hoặc lưỡi, và mức SpO2 dưới 95% khi thở khí trời.
- Phân loại bệnh theo IMCI [5]:
* Với trẻ từ 2 tháng đến 5 tuối:
Bệnh phân loại là rất nặng hoặc viêm phổi rất nặng khi trẻ xuất hiện các dấu hiệu nguy kịch như không uống được, co giật, ngủ li bì khó đánh thức, thở rít khi nằm yên, và suy dinh dưỡng nặng.
- Phân loại là viêm phổi nặng khi: Rút lõm lồng ngực; Không có 1 trong 5 dấu hiệu nguy kịch
- Phân loại là viêm phổi: Thở nhanh theo độ tuổi, không rút lõm lồng ngực và không có dấu hiệu nào của nguy kịch
Phân loại không viêm phổi được xác định khi người bệnh có các triệu chứng như ho, cảm lạnh, chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi mà không kèm theo thở nhanh, không có dấu hiệu rút lõm lồng ngực, và không xuất hiện bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào khác.
Bệnh phân loại là rất nặng hoặc viêm phổi rất nặng khi xuất hiện một trong các dấu hiệu nguy kịch như co giật, ngủ li bì khó đánh thức, thở rít khi nằm yên, bú kém hoặc bỏ bú, thở khò khè, và sốt hoặc hạ thân nhiệt.
- Phân loại là viêm phổi nặng khi: Rút lõm lồng ngực nặng và thở nhanh
- Phân loại không viêm phổi (ho hoặc cảm lạnh): Ho, không thở nhanh, không rút lõm lồng ngực nặng, không có dấu hiệu nguy kịch nào khác
- Đánh giá hoạt động tư vấn: Được đánh giá là Tốt khi người chăm sóc bệnh nhi trả lời đúng:
Nội quy bệnh viện và khoa phòng rất quan trọng, bao gồm giờ thăm bệnh nhân và vị trí các phòng chức năng như phòng điều dưỡng trực, phòng dinh dưỡng, phòng cọ rửa và ban công phơi quần áo Việc nắm rõ các quy định này giúp người bệnh và người thân dễ dàng hơn trong việc thăm nom và chăm sóc sức khỏe.
Khi trẻ ho nhiều, việc chăm sóc đúng cách là rất quan trọng Hãy thực hiện vỗ dung để giúp long đờm, đồng thời hướng dẫn trẻ bú hoặc uống nước ấm nhiều hơn Điều này sẽ giúp làm loãng đờm và giảm ho hiệu quả.
Chăm sóc khi trẻ sốt: Hướng dẫn cha mẹ cách chườm ấm
Tư thế giúp trẻ dễ thở: Đầu cao ngửa nhẹ ra sau giúp trẻ dễ thở hơn
Hướng dẫn vệ sinh: Hướng dẫn vệ sinh cá nhân, tắm rửa
Tư vấn về dinh dưỡng: Cách lựa chọn suất ăn phù hợp theo tuổi, và vị trí để phiếu đặt suất ăn
Tuân thủ dùng thuốc và tái khám: Giải thích cho cha mẹ/ người chăm sóc về cách dùng thuốc đúng và tái khám
- Hoạt động tư vấn chung đánh giá tại các câu hỏi từ D1 - D8 trong phiếu phỏng vấn và được đánh giá:
+ Tốt: ≥ 7 hoạt động tư vấn điều dưỡng với người bệnh, người bệnh hiểu đúng, làm theo được
+ Khá: nếu người bệnh không được tư vấn hoặc có tư vấn nhưng không hiểu hoặc có tư vấn người bệnh hiểu nhưng không làm theo được
- Đánh giá hoạt động chăm sóc của điều dưỡng được đánh giá từ E1-E8 được đánh giá là:
Xử lý và phân tích số liệu
Điều tra viên sẽ tiến hành kiểm tra tính đầy đủ và sự phù hợp của bảng câu hỏi ngay sau khi nhận lại từ đối tượng nghiên cứu.
Mã hóa các dữ liệu trong bộ câu hỏi để nhập liệu
Làm sạch dữ liệu bằng cách điều chỉnh những dữ liệu bất thường
Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0
Trong nghiên cứu, các số liệu thống kê bao gồm thống kê mô tả phân tích và thống kê phân tích Thống kê mô tả phân tích được sử dụng để mô tả hai biến nhằm đánh giá kết quả chăm sóc, với kết quả được trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ, đồng thời so sánh bằng các kiểm định tham số Trong trường hợp phân bố không chuẩn, sẽ áp dụng phân tích phi tham số Để so sánh giữa hai biến định lượng, sử dụng kiểm định Student T test khi phân bố chuẩn hoặc kiểm định Mann-Whitney U test khi phân bố không chuẩn Thống kê phân tích sử dụng tỷ lệ Odds Ratio (OR), khoảng tin cậy 95% (CI95%) và giá trị P để phân tích các yếu tố liên quan.
Sai số và biện pháp khắc phục sai số
Sai số trong quá trình lấy mẫu nghiên cứu có thể được hạn chế bằng cách tuân thủ các tiêu chuẩn chọn mẫu phù hợp Để giảm thiểu sai lệch, cần thuyết phục những đối tượng đủ tiêu chuẩn nhưng không muốn tham gia nghiên cứu, nhằm đảm bảo tính đại diện của mẫu nghiên cứu.
Trong quá trình phỏng vấn, cần đảm bảo thông tin được truyền đạt một cách rõ ràng cho người tham gia nghiên cứu Để nâng cao chất lượng khảo sát, tổ chức điều tra thử với khoảng 10 bệnh nhân nhằm rút kinh nghiệm và điều chỉnh bảng câu hỏi trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức Kết quả từ cuộc điều tra thử cho thấy người tham gia đã hiểu rõ bảng câu hỏi và cung cấp những câu trả lời đạt yêu cầu.
Hạn chế trong nghiên cứu
Đang trong quá trình phỏng vấn trẻ quấy khóc hoặc cơn ho dài xuất hiện làm gián đoạn cuộc phỏng vấn.
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu số: 11/2024/HĐĐĐ đã được hội đồng Khoa học và Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Thăng Long thông qua trước khi tiến hành Trong quá trình nghiên cứu, các quy định về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học được tuân thủ nghiêm ngặt; đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu trước khi phỏng vấn, từ đó quyết định tham gia hay không Nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi soạn sẵn, không áp dụng các thủ thuật y khoa, do đó không gây tổn thương cơ thể Thời gian thực hiện bảng câu hỏi không quá 20 phút, đảm bảo không ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần của đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu được sự chấp thuận của lãnh đạo bệnh viện đa khoa Hà Đông
Sơ đồ nghiên cứu
Bệnh nhi NKHH dưới cấp tính
Khai thác tiền sử, triệu chứng lâm sàng
Kết quả 1: Mô tả một số đặc điểm bệnh trẻ dưới 5 tuổi NKHH dưới cấp tính
Kết quả 2: Kết quả chăm sóc trẻ bệnh và một số yếu tố liên quan
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả chăm sóc và một số yếu tố liên quan đến kết quả chăm sóc trẻ bệnh dưới 5 tuổi nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp tính
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa giới tính của bệnh nhi và kết quả chăm sóc
Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p>0,05) của kết quả chăm sóc với giới tính của bệnh nhi
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa nhóm tuổi và kết quả chăm sóc (n'3)
Nhóm bệnh nhi dưới 1 tuổi có kết quả chăm sóc tốt hơn gấp 3,56 lần so với nhóm tuổi từ 1 tuổi trở lên, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p0,05) của kết quả chăm sóc với tình trạng gia đình của bệnh nhi có người hút thuốc lá
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa nghề nghiệp người chăm sóc và kết quả chăm sóc (n'3)
Công nhân, kinh doanh, tự do 17 9,1 170 9,1
Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p>0,05) của kết quả chăm sóc với nghề nghiệp của người chăm sóc bệnh nhi
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa trình độ học vấn người chăm sóc và kết quả chăm sóc (n'3)
Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p>0,05) của kết quả chăm sóc với trình độ học vấn của người chăm sóc bệnh nhi
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa thời gian nằm viện và kết quả chăm sóc
Nhóm bệnh nhi có thời gian nằm viện trên 7 ngày có kết quả chăm sóc tốt hơn 3,35 lần so với nhóm bệnh nhi nằm viện 7 ngày trở xuống Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p0,05) của kết quả chăm sóc với hoạt động tư vấn của điều dưỡng
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa hoạt động chăm sóc và kết quả chăm sóc
Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p>0,05) của kết quả chăm sóc với hoạt động chăm sóc của điều dưỡng
BÀN LUẬN
Mô tả đặc điểm và hoạt động chăm sóc trẻ bệnh dưới 5 tuổi nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp tính tại khoa Nhi bệnh viện đa khoa Hà Đông năm
Về nhóm tuổi, giới tính
Nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông chỉ ra rằng trẻ em trong độ tuổi từ 12 tháng trở xuống là nhóm đối tượng chủ yếu mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp tính.
Trong nghiên cứu, trẻ từ 60 tháng tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 55,3%, tiếp theo là nhóm tuổi từ 2 đến dưới 12 tháng với 39,2% Chỉ có 5,5% trẻ dưới 2 tháng tuổi, và tỷ lệ trẻ trai cao hơn trẻ gái, đạt 66,7% so với 33,3% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Đỗ Thị Bích Ngọc năm 2022 tại Bệnh viện Nhi Trung Ương, trong đó trẻ từ 2 tháng đến dưới 12 tháng chiếm 37,5%, tỷ lệ trẻ trai là 2,4/1 so với trẻ gái Tương tự, nghiên cứu của Đoàn Ngọc Lan năm 2021 cũng cho thấy tỷ lệ nam/nữ là 1,5/1, và trẻ viêm phổi dưới 12 tháng chiếm 61%.
Nguyễn Thị Thu Huế năm 2020 tại Bệnh viện đa khoa Đan Phượng phân bố không đều giữa các nhóm tuổi, nhóm tuổi từ 2 - < 12 tháng (33,1%), nhóm từ
12 - < 24 tháng (28,1%), nhóm từ 24 - < 36 tháng (19,2%), thấp nhất là nhóm dưới 2 tháng, về giới trẻ gái có 107 trẻ chiếm 41,2% và trẻ trai chiếm 58,8%
Trẻ em dưới 2 tuổi, đặc biệt là những trẻ từ 2 đến dưới 12 tháng tuổi, thường dễ mắc nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp tính Nguyên nhân là do hệ hô hấp của trẻ nhỏ chưa hoàn thiện và hệ miễn dịch còn yếu, khiến trẻ dễ bị nhiễm virus và bội nhiễm vi khuẩn Điều này dẫn đến tình trạng nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp tính trong những năm đầu đời.
Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp ở trẻ trai cao hơn trẻ gái, nhưng nguyên nhân cụ thể cho sự khác biệt này vẫn chưa được xác định Một yếu tố có thể là trong những năm gần đây, tại Việt Nam, tỷ lệ trẻ em trai được sinh ra luôn cao hơn trẻ gái, theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc.
(UNFPA), tỷ lệ trẻ trai/trẻ gái mới sinh tại Việt Nam trung bình toàn quốc là 111,5/100 [26]
Theo nghiên cứu của chúng tôi, 97,1% trẻ sinh đủ tháng, trong khi chỉ có 2,9% trẻ sinh thiếu tháng, chủ yếu do mổ chỉ định và các nguyên nhân khác Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Huế, khi tỷ lệ trẻ sinh non dưới 37 tuần chỉ chiếm 1,5%.
Có 5 trẻ khi sinh có cân nặng < 2500g chiếm 1,8%
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ trẻ sơ sinh có cân nặng dưới 2500g chỉ chiếm 6,5%, trong khi đó, phần lớn trẻ có cân nặng từ 2500g đạt 93,5% và chủ yếu là trẻ đẻ đủ tháng, với tỷ lệ 91,5% [23].
Về tình trạng dinh dưỡng
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 94,9% trẻ em nhập viện có thể trạng bình thường, trong khi chỉ 5,1% trẻ bị nhẹ cân hoặc suy dinh dưỡng Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Đỗ Thị Bích Ngọc năm 2022, khi 67,5% trẻ có thể trạng bình thường, 28% nhẹ cân và 7,5% suy dinh dưỡng Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huế năm 2020 cho thấy 72,3% trẻ em có tình trạng dinh dưỡng bình thường, 25,4% bị suy dinh dưỡng và 1,9% thừa cân béo phì.
Nghiên cứu của tác giả Lê Thu Giang cho thấy 93,7% trẻ em vào viện có tình trạng sức khỏe bình thường, trong khi chỉ có 6,3% trẻ mắc suy dinh dưỡng.
Về tỷ lệ tiêm chủng
Tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng đầy đủ theo lịch tiêm chủng quốc gia đạt 95,2% Chỉ có 4,8% trẻ không được tiêm chủng đầy đủ, chủ yếu do phụ huynh quên lịch tiêm hoặc hoãn tiêm vì trẻ bị ốm Tỷ lệ này vẫn giữ ổn định.
Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Bích Ngọc, có 63% trẻ em được tiêm chủng đầy đủ, trong khi nghiên cứu của Lê Thu Giang năm 2022 tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông cho thấy tỷ lệ này lên tới 89,5% và 93,2% tương ứng.
Tác giả Phương Nguyên nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trung bình cả nước và
Hà Nội năm 2019 với tỷ lệ đạt 90 - 95% [25]
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tối ưu cho trẻ sơ sinh, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe của cả mẹ và bé Nuôi con bằng sữa mẹ không chỉ là phương pháp tự nhiên và tiết kiệm mà còn hiệu quả trong việc ngăn ngừa các bệnh nhiễm khuẩn, đặc biệt là tiêu chảy và bệnh lý hô hấp.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 88,3% trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, cao hơn so với tỷ lệ 49,5% trong nghiên cứu của Đỗ Thị Bích Ngọc và tương đồng với 90,2% trong nghiên cứu của Lê Thị Thu Giang Tỷ lệ bú mẹ cao này có ảnh hưởng tích cực đến sức đề kháng của trẻ, giúp trẻ chống lại các tác nhân gây bệnh và giảm mức độ nghiêm trọng khi mắc bệnh.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố nguy cơ có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ mắc, mức độ nặng và tỷ lệ tử vong của bệnh Đặc điểm chung của người chăm sóc trẻ, bao gồm trình độ học vấn và nghề nghiệp, cho thấy rằng điều kiện kinh tế của họ có tác động lớn đến khả năng hiểu biết về bệnh nhiễm khuẩn hô hấp dưới cấp tính, cũng như khả năng tiếp nhận thông tin giáo dục sức khỏe từ các cán bộ y tế.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nghề nghiệp của người chăm sóc bệnh nhi chủ yếu là công nhân, kinh doanh chiếm 63,1%, cán bộ viên chức là 31,4% Về trình
64 độ học vấn người chăm sóc có trình độ trung cấp, cao đẳng chiếm 53,1%; đại học, sau đại học là 20,9% và THPT chiếm 25,3%
Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Bích Ngọc, 60% các bà mẹ tham gia khảo sát là nhân viên văn phòng, 31% làm nghề tự do hoặc nội trợ, và 9% là các bà mẹ kinh doanh Đáng chú ý, 65% các bà mẹ có trình độ học vấn đại học và sau đại học, trong khi 17,5% có trình độ cao đẳng, 15,5% có trình độ trung cấp và chỉ 2% có trình độ THCS.
Tiền sử gia đình có người hút thuốc lá là yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh đường hô hấp ở trẻ em, với 32,6% bệnh nhi sống trong môi trường có khói thuốc Do đó, việc truyền thông giáo dục sức khỏe cho cha mẹ về tác hại của khói thuốc là rất quan trọng, giúp họ nhận thức đúng đắn và từ bỏ thói quen không lành mạnh, từ đó bảo vệ sức khỏe cho con cái.