LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, nghiên cứu “Quản lý hoạt động đào tạo song hành nghề kỹ thuật chế biến món ăn tại trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng theo tiếp cận nhu cầu thị trường lao độ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO SONG HÀNH NGHỀ KỸ THUẬT CHẾ BIẾN MÓN ĂN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HẢI PHÒNG
THEO TIẾP CẬN NHU CẦU THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, nghiên cứu “Quản lý hoạt động đào tạo song hành nghề kỹ thuật chế biến món ăn tại trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng theo tiếp cận nhu cầu thị trường lao động” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
Các tài liệu được sử dụng trong công trình đều có nguồn gốc rõ ràng Những đánh giá, nhận định trong công trình đều do cá nhân tôi nghiên cứu và thực hiện
Hà Nội, ngày tháng năm 2024
Tác giả luận văn
Dương Văn Hùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn các quý thầy, cô của trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận văn này
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến Cô hướng dẫn, TS Trần Ái Cầm,
người Cô đã luôn theo sát, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, quý thầy cô, tập thể cán bộ viên chức Trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng và gia đình đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và nghiên cứu của mình
Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Quản lý hoạt động đào tạo song hành nghề
kỹ thuật chế biến món ăn tại trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng theo tiếp cận nhu cầu thị trường lao động” là công trình tổng hợp và nghiên cứu của riêng tôi, được
thực hiện nghiêm túc dưới sự hướng dẫn của TS Trần Ái Cầm Các tài liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong Đề cương nghiên cứu là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Nếu có điều gì sai sót tôi xin tự chịu trách nhiệm
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐCL Bảo đảm chất lượng CBQL Cán bộ quản lý CĐN Cao đẳng nghề CĐR Chuẩn đầu ra CLĐT Chất lượng đào tạo CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CSVC Cơ sở vật chất
CTĐT Chương trình đào tạo
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo GD&HT Giảng dạy và học tập GDĐH Giáo dục đại học HTCL Hệ thống chất lượng KĐCL Kiểm định chất lượng KT-XH Kinh tế - Xã hội LĐTB&XH Lao động Thương binh và Xã hội
NG Nhà giáo NKTCBMA Nghề kỹ thuật chế biến món ăn
NL Nguồn nhân lực
QLCL Quản lý chất lượng QLĐT Quản lý đào tạo
Trang 6
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Mục tiêu nghiên cứu 10
3 Câu hỏi nghiên cứu 10
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 11
5 Giả thuyết khoa học 11
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 11
8 Phương pháp nghiên cứu 11
9 Cấu trúc luận văn 13
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG THEO TIẾP CẬN NHU CẦU LAO ĐỘNG 14
1.1 Khái niệm đào tạo, đào tạo nghề song hành, quản lý hoạt động đào tạo, nhu cầu lao động 14
1.1.1 Đào tạo, đào tạo nghề song hành và các yếu tố cấu thành quá trình đào tạo 14
1.1.1.1 Khái niệm về đào tạo 14
1.1.1.2 Khái niệm về đào tạo nghề song hành 15
1.1.1.3 Các yếu tố cấu thành quá trình đào tạo ở các trường cao đẳng [43] 15
1.1.2 Quản lý hoạt động đào tạo 16
1.1.2.1 Quản lý 16
1.1.2.2 Nhân lực 16
1.1.2.3 Thị trường lao động 17
1.1.2.4 Nhu cầu nhân lực của thị trường lao động (nhu cầu thị trường) 19
1.1.2.5 Đào tạo nguồn nhân lực 21
Trang 71.1.2.6 Quản lý đào tạo nguồn nhân lực 22
1.2 Chương trình đào tạo song hành tại các trường cao đẳng Việt Nam 22
1.2.1 Mô hình đào tạo song hành 22
1.2.2 Vai trò và ý nghĩa của đào tạo nghề theo chương trình đào tạo song hành tại các trường cao đẳng Việt Nam 23
1.2.3 Các điều kiện đảm bảo cho chương trình đào tạo song hành của các trường cao đẳng tại Việt Nam 25
1.2.3.1 Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên 25
1.2.3.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị 25
1.2.3.3 Mối quan hệ với doanh nghiệp sử dụng lao động 26
1.2.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chương trình đào tạo song hành của các trường cao đẳng 27
1.3 Chương trình đào tạo song hành nghề kỹ thuật chế biến món ăn tại trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng 28
1.4 Những nghiên cứu về quản lý đào tạo theo tiếp cận nhu cầu lao động 29
1.4.1 Những tài liệu, công trình nghiên cứu ngoài nước 29
1.4.2 Những tài liệu, công trình nghiên cứu trong nước 31
1.4.3 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quản lý hoạt động đào tạo tại các trường cao đẳng theo tiếp cận nhu cầu lao động 38
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO SONG HÀNH NGHỀ KỸ THUẬT CHẾ BIẾN MÓN ĂN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HẢI PHÒNG THEO TIẾP CẬN NHU CẦU LAO ĐỘNG 42
2.1 Giới thiệu về trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng 42
2.1.1 Thông tin chung về nhà trường 42
2.1.2 Sứ mệnh 43
2.1.3 Mục tiêu 43
2.1.4 Giá trị 43
2.1.5 Triết lý đào tạo 43
2.1.6 Cơ cấu tổ chức và nhân sự của trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng 44
Trang 8Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng 44
2.1.7 Chương trình đào tạo và quy mô đào tạo của trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng 44
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng hoạt động quản lý đào tạo chương trình đào tạo song hành nghề kỹ thuật chế biến món ăn tại trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng theo tiếp cận nhu cầu lao động 45
2.2.1.Mục đích khảo sát 45
2.2.2 Nội dung khảo sát 46
2.3.3 Đối tượng và phạm vi khảo sát 46
2.3.4 Hình thức phương pháp tổ chức khảo sát và xử lý số liệu 48
2.3 Thực trạng hoạt động và quản lý hoạt động đào tạo song hành nghề kỹ thuật chế biến món ăn tại trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng và các cơ sở song hành theo tiếp cận nhu cầu lao động 48
2.3.1 Thực trạng hoạt động xác định nhu cầu thị trường lao động về nguồn nhân lực nghề kỹ thuật chế biến món ăn 50
Bảng 2.1 Kết quả khảo sát thực trạng xác định nhu cầu thị trường về nguồn nhân lực nghề kỹ thuật chế biến món ăn 50
2.3.2 Thực trạng phát triển chương trình đào tạo nguồn nhân lực nghề kỹ thuật chế biến món ăn nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường lao động 52
Bảng 2.2 Kết quả khảo sát về thực trạng hoạt động phát triển chương trình đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường lao động 53
2.3.3 Thực trạng hoạt động giảng dạy của giảng viên theo định hướng phát triển năng lực sinh viên nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường lao động 55
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát thực trạng giảng dạy của giảng viên theo định hướng phát triển năng lực sinh viên nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường lao động 55
2.3.4 Thực trạng các trang bị, sử dụng, phát triển cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo nguồn nhân lực nghề chế biến món ăn 58
Bảng 2.4 Kết quả khảo sát thực trạng các hoạt động trang bị, sử dụng, phát triển cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo 58 2.3.5 Thực trạng hoạt động hợp tác với các đơn vị/doanh nghiệp trong chương trình
Trang 9đào tạo song hành nghề chế biến món ăn 61
Bảng 2.5 Kết quả khảo sát thực trạng hợp tác với các doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực chế biến món ăn 62
2.3.6 Thực trạng tạo dựng, phát huy lợi thế và hạn chế bất thuận của môi trường đối với các hoạt động trong quá trình đào tạo 64
Bảng 2.6 Kết quả khảo sát thực trạng tạo dựng, phát huy lợi thế và hạn chế bất thuận của môi trường đối với các hoạt động trong quá trình đào tạo 64
2.3.7 Thực trạng hoạt động đánh giá kết quả đào tạo và triển khai các hoạt động sau một khóa đào tạo 67
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động đánh giá kết quả đào tạo và triển khai các hoạt động sau một khoá đào tạo 67
2.3.8 Kết quả khảo sát thực trạng của 7 hoạt động chủ yếu trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực nghề kỹ thuật chế biến món ăn đáp ứng nhu cầu thị trường lao động của trường cao đẳng 70
Bảng 2.8 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát các hoạt động 70
2.4 Mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo và quản lý đào tạo song hành nghề kỹ thuật chế biến món ăn theo tiếp cận nhu cầu lao động 71
Bảng 2.9 Kết quả khảo sát mức độ tác động của các yếu tố có ảnh hưởng đến đào tạo và quản lý đào tạo nguồn nhân lực nghề chế biến món ăn nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường lao động 71
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động đào tạo song hành nghề kỹ thuật chế biến món ăn tại trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng theo tiếp cận nhu cầu lao động 73
2.5.1 Những mặt mạnh, thuận lợi và nguyên nhân 73
2.5.2 Những khó khăn, bất cập và nguyên nhân 74
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 78
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO SONG HÀNH NGHỀ KỸ THUẬT CHẾ BIẾN MÓN ĂN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HẢI PHÒNG THEO TIẾP CẬN NHU CẦU LAO ĐỘNG 80
3.1 Định hướng phát triển chương trình đào tạo 80
Trang 103.2 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 80
3.2.1 Bảo đảm tính kế thừa 80
3.2.2 Bảo đảm tính khả thi 81
3.2.3 Bảo đảm tính hệ thống 81
3.2.4 Bảo đảm tính phát triển 81
3.2.5 Bảo đảm mục tiêu giáo dục nghề theo chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045 81
3.2.6 Bảo đảm tính sư phạm 81
3.2.7 Bảo đảm chất lượng đào tạo 82
3.3 Đề xuất biện pháp quản lý phát triển hoạt động đào tạo song hành nghề kỹ thuật chế biến món ăn tại trường cao đẳng Du lịch Hải Phòng tiếp cận nhu cầu lao động 82
3.3.1 Tổ chức hoạt động điều tra, cập nhật nhu cầu nguồn nhân lực nghề kỹ thuật chế biến món ăn từ thị trường lao động thường xuyên và nghiêm túc 82
3.3.2 Phát triển chương trình đào tạo theo hướng phát triển năng lực sinh viên gắn với nhu cầu sử dụng nhân lực của thị trường lao động 85
3.3.3 Tổ chức hoạt động bồi dưỡng cho giảng viên về năng lực giảng dạy theo định hướng phát triển năng lực sinh viên gắn với nhu cầu thị trường lao động 88
3.3.4 Tăng cường chuẩn hóa phương tiện và điều kiện đào tạo để đáp ứng các yêu cầu đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động 94
3.3.5 Đẩy mạnh quản lý hoạt động hợp tác đào tạo theo hình thức “đào tạo song hành” của các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực nghề chế biến món ăn 97
3.3.6 Đổi mới quản lý đánh giá kết quả đào tạo theo hướng gắn với nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực nghề chế biến món ăn của thị trường lao động 100
3.3.7 Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng năng lực quản lý đào tạo theo nhu cầu thị trường lao động cho đội ngũ cán bộ quản lý các cấp của trường 102
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 110
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 11PHỤ LỤC 120 PHỤ LỤC 1 120 PHỤ LỤC 2 133
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả khảo sát thực trạng xác định nhu cầu thị trường về nguồn nhân lực nghề kỹ thuật chế biến món ăn 50 Bảng 2.2 Kết quả khảo sát về thực trạng hoạt động phát triển chương trình đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường lao động 53 Bảng 2.3 Kết quả khảo sát thực trạng giảng dạy của giảng viên theo định hướng phát triển năng lực sinh viên nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường lao động 55 Bảng 2.4 Kết quả khảo sát thực trạng các hoạt động trang bị, sử dụng, phát triển cơ
sở vật chất và thiết bị đào tạo 58 Bảng 2.5 Kết quả khảo sát thực trạng hợp tác với các doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực chế biến món ăn 62 Bảng 2.6 Kết quả khảo sát thực trạng tạo dựng, phát huy lợi thế và hạn chế bất thuận của môi trường đối với các hoạt động trong quá trình đào tạo 64 Bảng 2.7 Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động đánh giá kết quả đào tạo và triển khai các hoạt động sau một khoá đào tạo 67 Bảng 2.8 Bảng tổng hợp kết quả khảo sát các hoạt động 70 Bảng 2.9 Kết quả khảo sát mức độ tác động của các yếu tố có ảnh hưởng đến đào tạo và quản lý đào tạo nguồn nhân lực nghề chế biến món ăn nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường lao động 71
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu cấp thiết nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Suy đến cùng, đào tạo nghề chính là quá trình giáo dục tri thức, kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng… nhằm hình thành, phát triển năng lực nghề nghiệp cho con người theo những tiêu chuẩn, những yêu cầu nhất định của xã hội Nhiều nhà nghiên cứu đã đi tìm nguyên nhân dẫn tới năng suất lao động cao hay thấp ở các khu vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác nhau, kể cả ở các cơ quan lãnh đạo, quản lý - nơi ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định - đều có chung một đáp án đó là: trình độ nghề Lý thuyết vững vàng, phong phú, chuyên sâu là tiền đề giúp người lao động thực hành và rèn luyện để hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo trong công việc chuyên môn của mình Trong quá trình tham gia hoạt động thực tiễn, người lao động sẽ tích lũy kinh nghiệm, củng cố kiến thức lý thuyết, lược bỏ những gì không còn phù hợp để không ngừng cải tiến, nâng cao trình độ nghề, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội và xu thế của thế giới
Thập kỷ triển khai Nghị quyết số 29-NQ/TW (04/11/2013) về đổi mới giáo dục đào tạo đã kiến tạo hệ thống giáo dục quốc gia tương đối toàn diện, từ bậc mầm non đến đại học Cơ sở vật chất được hiện đại hóa, số lượng học viên tăng đáng kể, đặc biệt tại bậc đại học và nghề nghiệp Tuy nhiên, chất lượng giáo dục vẫn chưa đáp ứng kỳ vọng, nhất là ở giáo dục đại học và nghề nghiệp Mô hình đào tạo thiên
về lý thuyết, thiếu thực hành và liên kết với nghiên cứu, sản xuất kinh doanh cũng như nhu cầu thị trường lao động
Theo thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, mỗi năm có khoảng 2,2 triệu người tham gia học nghề, đạt đỉnh điểm 2,45 triệu người vào năm
2022 Hệ thống trường nghề, đặc biệt là cao đẳng nghề, đã đáp ứng hiệu quả nhu cầu xã hội và sản xuất kinh doanh Đáng mừng là tỷ lệ người tốt nghiệp trường nghề
có việc làm vượt quá 80% Điều này cho thấy những nỗ lực đáng kể trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề Song, việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học và
Trang 14gắn kết lý thuyết với thực tiễn vẫn là thách thức cần giải quyết [75]
Tuy nhiên, toàn cầu hóa và sự bùng nổ của khoa học, công nghệ nhất là thành tựu chưa từng có của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại đã chứng kiến một số ngành, nghề bị đào thải nhưng cũng xuất hiện nhiều ngành, nghề mới để đáp ứng và thích nghi với yêu cầu mới Nhiều trường cao đẳng nghề của nước ta chưa bắt kịp xu thế này nên chưa tạo ra được sức hấp dẫn để thu hút người học Theo báo cáo của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), tỷ lệ học sinh tham gia học nghề ở các nước tiên tiến đạt từ 30 đến 50%, ở nhiều nước khác từ 10 đến 25%, nhưng tỷ lệ học sinh học nghề ở Việt Nam mới chỉ khoảng 10% và tỷ lệ học sinh ra trường có việc làm cũng thấp hơn nhiều nước (Singapore: 93,3%, Đức: 90,4%) [73]
Số đông trường cao đẳng nghề tập trung ở các đô thị lớn, nhiều ngành, nghề lạc hậu; nhiều trường mới đào tạo nghề mình đã có, chưa tiếp cận nhanh nhu cầu xã hội, chưa gắn bó chặt chẽ với doanh nghiệp Chất lượng đào tạo của nhiều trường cao đẳng nghề còn thấp, kỹ năng thực hành chưa đáp ứng yêu cầu, khả năng ngoại ngữ hạn chế, không dễ vượt qua rào cản khi làm việc trong môi trường quốc tế Ngoài ra còn phải kể tới sự cạnh tranh không lành mạnh giữa một số trường, một số trường thực dụng, đầu vào thấp, cắt xén chương trình, chưa chú trọng đúng mức khâu thực hành trong đào tạo nghề
Yêu cầu của xã hội và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những thành tựu chưa từng có đang diễn ra tác động mạnh mẽ đến việc đào tạo nghề cho người lao động, mở ra nhiều cơ hội và cũng đặt ra nhiều thách thức đối với hệ thống trường cao đẳng nghề ở nước ta hiện nay Nhiều nghề mở ra mà chưa được chuẩn bị tích cực về giáo viên, về trang thiết bị dạy học, điều kiện thực hành; nhiều nghề đã lạc hậu không đáp ứng nhu cầu người học Mặt trái của cơ chế thị trường đã dẫn đến một số trường cao đẳng nghề có xu hướng chạy theo lợi nhuận, chất lượng đầu ra thấp
Về mặt lý luận trong các nghiên cứu như“Quản lý đào tạo ở trường dạy nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội" cũng chỉ ra mục tiêu đào tạo đáp ứng nhu
cầu xã hội trong cơ chế thị trường, thì khâu then chốt và bước đi đột phá là phải đổi mới quản lý đào tạo trong mối quan hệ giữa cung và cầu xã hội; mà bản chất là mối
quan hệ cung – cầu của TTLĐ [23], hoặc nghiên cứu “Các giải pháp đổi mới quản
Trang 15lý dạy học thực hành nghề theo tiếp cận năng lực thực hiện cho sinh viên sư phạm
kỹ thuật” nghiên cứu về phát triển lý luận dạy học thực hành nghề theo tiếp cận
năng lực thực hiện Luận văn đã trình bày kỹ lưỡng đặc điểm đào tạo năng lực, đồng thời nêu bật yêu cầu bức thiết về đổi mới phương pháp giảng dạy [29] Nhìn chung các công trình nghiên cứu của các tác giả đã cho thấy đào tạo và quản lý đào tạo đáp ứng nhu cầu TTLĐ với cách thể hiện theo các hướng tiếp cận như như “đào tạo theo năng lực thực hiện”, “đào tạo theo chuẩn đầu ra” và nói chung là “đào tạo theo nhu cầu thị trường lao động” là xu hướng chung của các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng tiền thân là Trường Trung học nghiệp vụ
Du lịch Hải Phòng với sứ mệnh đào tạo và cung ứng NL du lịch chất lượng cao, cấp độ quốc tế vùng Đồng bằng Sông Hồng và cả nước, đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn và bắt kịp xu hướng hội nhập toàn cầu, trong những năm gần đây trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng đã đưa mô hình đào tạo song hành vào một số chương trình đào tạo để triển khai trong nhà trường và bước đầu đã có kết quả tích cực Tuy nhiên, đây là mô hình mới, chưa có đơn vị đào tạo nào trong nước nói chung và lĩnh vực này nói riêng thực hiện nên việc đánh giá, rút kinh nghiệm toàn
bộ mọi phương diện của đào tạo như từ khâu tuyển sinh đầu vào; các yếu tố nguồn lực về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo đến đầu ra
Trong bối cảnh thực tiễn và lý luận đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động đào tạo song hành nghề kỹ thuật chế biến món ăn tại trường Cao đẳng
Du lịch Hải Phòng theo tiếp cận nhu cầu thị trường lao động” làm đề tài nghiên cứu
của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mô tả thực trạng và đề xuất các giải pháp Quản lý hoạt động đào tạo song hành NKTCBMA tại trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng theo tiếp cận nhu cầu thị trường lao động
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng Quản lý hoạt động đào tạo song hành NKTCBMA tại trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng theo tiếp cận nhu cầu lao động như thế nào?
Trang 16- Giải pháp Quản lý hoạt động đào tạo song hành NKTCBMA tại trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng theo tiếp cận nhu cầu lao động trong các năm tiếp theo?
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động đào tạo song hành NKTCBMA tại trường Cao đẳng du lịch Hải Phòng
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động đào tạo song hành NKTCBMA tại trường Cao đẳng Du lịch Hải
Phòng theo tiếp cận nhu cầu lao động
5 Giả thuyết khoa học
Việc triển khai quản lý đào tạo song hành NKTCBMA tại trường Cao đẳng
Du lịch Hải Phòng, tuân thủ nguyên tắc thị trường lao động, chỉ đạt hiệu quả tối ưu khi được hỗ trợ đồng bộ Sự phối hợp chặt chẽ giữa các yếu tố hành chính, kinh tế, công nghệ, nguồn nhân lực và chuyên môn, dựa trên nhận thức sâu sắc về thực trạng phát triển của nhà trường, là tiền đề quyết định thành công Chỉ khi đó, hiệu quả quản lý và chất lượng đào tạo mới được nâng cao đáng kể
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Mô tả thực trạng Quản lý hoạt động đào tạo song hành NKTCBMA tại trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng theo tiếp cận nhu cầu thị trường lao động
- Đề xuất các giải pháp Quản lý hoạt động đào tạo song hành NKTCBMA tại trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng theo tiếp cận nhu cầu thị trường lao động
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn ở hoạt động mô tả thực trạng
và những yếu tố tác động đến chương trình đào tạo song hành NKTCBMA tại trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng theo tiếp cận nhu cầu lao động, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển chương trình cho trường
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu vận dụng phương pháp tổng hợp để hệ thống hóa tư liệu trong và
Trang 17ngoài nước về quản lý đào tạo song hành, đảm bảo chất lượng, tạo nền tảng lý luận cho đề tài Sử dụng phương pháp lịch sử - so sánh nhằm bổ sung những thiếu sót trong các nghiên cứu tiền nhiệm, mở rộng hướng nghiên cứu mới Phân tích tổng quan tài liệu, công trình khoa học liên quan đến quản lý đào tạo song hành, theo hướng tiếp cận chất lượng, làm cơ sở lý luận vững chắc Áp dụng phương pháp so sánh lịch sử giúp khai thác triệt để các khía cạnh chưa được đề cập, mở ra hướng đi mới cho nghiên cứu
8.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra sử dụng phiếu phát vấn: được sử dụng để thu thập ý kiến của trưởng khoa, phó khoa, nhân viên của trường cao đẳng và quản lý, nhân viên đào tạo của doanh nghiệp nơi thực hiện chương trình đào tạo song hành để nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động đào tạo theo chương trình đào
tạo song hành tại trường Cao đẳng du lịch Hải Phòng
Kết quả xử lý số liệu khảo sát chủ yếu theo giá trị trung bình
Công cụ chủ yếu để xử lý số liệu là công thức tính giá trị trung bình cộng có trọng số (trung bình gia quyền) của phương pháp thống kê toán học Đó là công thức:
x f x
f x f
n
n n
2 2 1 1
+ j là thứ tự của các tiêu chí (vấn đề cần đánh giá);
+ x i các mức độ đánh giá đối với một tiêu chí (trong luận án này có 04 mức độ: tốt, khá, trung bình, yếu);
+ f i là số lượng các ý kiến đồng ý đánh giá về từng mức độ đạt được của mỗi tiêu chí tương ứng mỗi mức độ cần đánh giá; X jlà giá trị trung bình của các mức
độ được đánh giá đối với tiêu chí cần đánh giá thứ j (vấn đề cần đánh giá thứ j)
- Phương pháp phỏng vấn: được sử dụng trong gặp gỡ, trao đổi với Ban lãnh đạo trường cao đẳng Du lịch Hải Phòng để tìm hiểu thêm về những khó khăn, vướng mắc và giải pháp để quản lý hoạt động đào tạo theo chương trình đào tạo song hành tại trường Cao đẳng du lịch Hải Phòng có hiệu quả hơn
Trang 18- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: được sử dụng để rút ra các nhận định khoa học về đặc điểm chung của trường cao đẳng Du lịch Hải Phòng thông qua hồi cứu tư liệu các báo cáo và tài liệu liên quan (Chiến lược, qui hoạch phát triển trường CĐN dài hạn, trung hạn, ngắn hạn; kế hoạch năm học, tháng ; Báo cáo tổng kết, hội thảo, chuyên đề ; Hệ thống các văn bản, hồ sơ,
sổ sách, biên bản liên quan đến QLCL đào tạo, như các quyết định phân công tác các bộ phận, cá nhân; Quy định, quy trình, mẫu biểu báo cáo, thống kê, các thông báo ; Các tài liệu phân tích, đánh giá về ĐBCL của Bộ LĐTB&XH, các trường CĐN, viện nghiên cứu, tổ chức và nhà nghiên cứu về QLCL; Kết quả thanh tra, kiểm định các trường CĐN… làm cơ sở để bổ sung những hạn chế của các luận điểm khoa học trước đây cho phù hợp với thực tiễn quản lý đào tạo của trường cao đẳng hiện nay
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo luận văn
dự kiến được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo tại các trường cao
đẳng theo tiếp cận nhu cầu thị trường lao động
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo song hành nghề kỹ thuật chế
biến món ăn tại trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng theo tiếp cận nhu cầu thị trường lao động
Chương 3: Giải pháp quản lý hoạt động đào tạo song hành nghề kỹ thuật chế
biến món ăn tại trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng theo tiếp cận nhu cầu thị trường lao động
Trang 191.1.1 Đào tạo, đào tạo nghề song hành và các yếu tố cấu thành quá trình đào tạo
1.1.1.1 Khái niệm về đào tạo
Từ điển Giáo dục học định nghĩa đào tạo là quá trình truyền đạt có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức, chuẩn bị người học hội nhập đời sống tự lập, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ quốc gia Quá trình này, về bản chất, là tác động sư phạm nhằm trang bị tri thức, kỹ năng,
và phẩm chất cần thiết để cá nhân thích ứng với xã hội và công việc
Tác phẩm "Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới" của Nguyễn Minh Đường khẳng định: Đào tạo là hoạt động có mục tiêu, cấu trúc bài bản, nhằm phát triển toàn diện kiến thức, kỹ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, giúp cá nhân hiệu quả trong công việc và cuộc sống Đào tạo hướng tới sự phát triển bền vững của mỗi cá nhân, đảm bảo năng suất lao động cao [14] Như vậy, có thể nói cách khác là: Thuật ngữ đào tạo được dùng để chỉ quá trình chuẩn bị về kiến thức, kỹ năng và những phẩm chất nhân cách cần thiết để cho con người tham gia vào các hoạt động nghề nghiệp theo sự phân công lao động xã hội
Ở Việt Nam, theo Luật Giáo dục 43/2019/QH14, các trường CĐ là những cơ sở giáo dục có mục tiêu đào tạo NL chất lượng cao trong các ngành, nghề, các lĩnh vực đời sống xã hội nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Để đạt được điều đó, nhiệm vụ trọng tâm của trường CĐ là triển khai đào tạo theo đúng mục tiêu, chương trình đã xác định, bảo đảm CLĐT đáp ứng đòi hỏi của xã hội [55]
Từ những phân tích ở trên có thể khái quát rằng: Đào tạo là quá trình chuẩn
bị có mục đích, có tổ chức cho con người về kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp
và phẩm chất nhân cách theo từng ngành, nghề nhất định để họ có thể tham gia
Trang 20hoạt động và thích ứng với sự phân công lao động xã hội
Như vậy, đào tạo thực chất là tiến hành các tác động sư phạm có tổ chức, có mục đích để hình thành, phát triển kiến thức, kỹ năng lao động, phẩm chất nghề nghiệp theo từng lĩnh vực ngành nghề nhất định Mục đích chủ yếu của đào tạo là chuẩn bị cho con người khả năng tiếp nhận sự phân công lao động xã hội bằng cách hình thành, phát triển ở họ các kiến thức, kỹ năng, thái độ và phẩm chất nhân cách cần thiết đối với đời sống xã hội và hoạt động nghề nghiệp Quá trình giáo dục trang
bị cho cá nhân kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực tiễn, năng lực nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiên tiến Hơn nữa, người học được rèn luyện sức khỏe, khả năng sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, phẩm chất đạo đức và sự thích ứng hoàn hảo với môi trường nghề nghiệp
Điểm khác biệt giữa đào tạo (đào tạo đại học, cao đẳng, đào tạo nghề) với truyền nghề đơn thuần là ở chỗ, việc chuẩn bị học vấn và nghề nghiệp cho con người được thực hiện một cách có tổ chức trong một thiết chế đào tạo cụ thể - đó là nhà trường Trong từng nhà trường, chủ thể đào tạo là những tổ chức và cá nhân, trước hết là những nhà giáo thực hiện những tác động sư phạm để hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực ở đối tượng đào tạo Đối tượng đào tạo là những người có nhu cầu, đủ điều kiện, được cơ sở đào tạo tiếp nhận và tổ chức học tập, rèn luyện theo mục tiêu, chương trình đào tạo từng ngành, nghề nhất định
1.1.1.2 Khái niệm về đào tạo nghề song hành
Đào tạo nghề song hành là chương trình kết hợp giữa lý thuyết được giảng dạy tại các cơ sở đào tạo nghề và thực hành tại các doanh nghiệp chuyên ngành Trong đó phần lý thuyết được giảng dạy tại các cơ sở đào tạo nghề, trường đại học/cao đẳng và các doanh nghiệp sẽ đảm nhận hướng dẫn, đào tạo học viên phần thực hành Nội dung của phần lý thuyết và thực hành phối hợp và bổ sung cho nhau [76]
1.1.1.3 Các yếu tố cấu thành quá trình đào tạo ở các trường cao đẳng [43]
* Mục tiêu đào tạo
* Nội dung đào tạo
Trang 21* Phương pháp đào tạo
* Hình thức tổ chức đào tạo
* Hoạt động dạy
* Hoạt động học
* Cơ sở vật chất - kỹ thuật dạy học
* Kết quả đào tạo
1.1.2 Quản lý hoạt động đào tạo
1.1.2.1 Quản lý
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã trình bày khái niệm quản
lý đa chiều, phản ánh sự phong phú và đa dạng trong tiếp cận vấn đề Cụ thể, tác giả
Đỗ Hoàng Toàn định nghĩa quản lý như một quá trình tác động có hệ thống, định hướng mục tiêu của chủ thể lên đối tượng, nhằm khai thác tối ưu tiềm năng, cơ hội
hệ thống để đạt hiệu quả mục tiêu đề ra trong điều kiện môi trường năng động [59] Bùi Minh Hiền, Đặng Quốc Bảo và Vũ Ngọc Hải (2010) trong "Quản lý giáo dục" (NXB Đại học Sư phạm) nhấn mạnh quản lý là sự tác động có tổ chức, định hướng mục tiêu từ chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm hiện thực hóa mục tiêu [26] Hồ Văn Vĩnh (2003) trong "Một số vấn đề về tư tưởng quản lý" (NXB Chính trị quốc gia) trích dẫn quan điểm của F.W Taylor: quản lý là việc xác định chính xác yêu cầu công việc và đảm bảo hoàn thành hiệu quả, tiết kiệm nhất [71] Cuối cùng, Harold Koontz, Cyril O'Donnell và Heinz Weihrich (1994) trong "Những vấn đề cốt yếu của quản lý" (NXB Khoa học và kỹ thuật) miêu tả quản lý là thiết kế môi trường làm việc nhóm hiệu quả, hướng đến thành tựu mục tiêu chung [22]
Quá trình quản lý đào tạo thể hiện sự tác động có hệ thống, bài bản của nhà quản lý Mục tiêu hướng tới là huy động, điều phối tối ưu nguồn lực, đạt hiệu quả cao trong môi trường năng động Khách thể và đối tượng quản lý được tác động nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra
1.1.2.2 Nhân lực
Khái niệm nhân lực, xét về góc độ lao động sản xuất, chính là tổng hòa sức người [51] Song, để hiểu thấu đáo hơn, cần nhận diện nhân lực như nguồn lực tiềm tàng nơi mỗi cá nhân, bao hàm cả trí lực và thể lực Trí lực, biểu hiện qua khả năng tư duy, kiến
Trang 22thức, năng khiếu, tài năng, quan điểm sống, niềm tin và nhân cách Thể lực, phản ánh sức khỏe thể chất, chịu tác động bởi yếu tố hình thể, tình trạng sức khỏe, điều kiện sống, thu nhập, chế độ dinh dưỡng, làm việc, nghỉ ngơi, chăm sóc y tế, tuổi tác, thời gian làm việc
và giới tính [24] Tóm lại, nhân lực là nguồn lực cá nhân, hội tụ trí tuệ và thể chất
Khái niệm nguồn lực con người, theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, được định nghĩa đa chiều Một số học giả khẳng định nguồn lực con người chính là tổng thể các thành viên cấu thành nên mọi tổ chức [14] Quan điểm khác bổ sung, nguồn lực con người bao hàm cả số lượng và chất lượng cá nhân, xét trên cả phương diện thể chất và tinh thần, bao gồm sức khỏe, trí tuệ, năng lực, phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc [15] Chất lượng nguồn lực con người là sự tổng hòa các yếu tố đảm bảo về số lượng, tính đồng bộ về cơ cấu và sự đạt chuẩn về phẩm chất, năng lực, bao gồm tri thức, khả năng tiếp thu kiến thức, năng động xã hội, sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hóa
Trên phạm vi quốc gia hoặc địa phương, nguồn lực con người được định nghĩa là tổng thể tiềm năng lao động, được chuẩn bị ở các mức độ khác nhau, sẵn sàng tham gia hoạt động lao động, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi cơ cấu lao động và kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa [18] Như vậy, nguồn lực con người là sự tổng hợp năng lực thể chất và trí tuệ của một nhóm người, một tổ chức, địa phương hay quốc gia
Sự khác biệt giữa nguồn lực con người (Human Resource) và nhân lực (Manpower) nằm ở chỗ nguồn lực con người là sự tích hợp năng lực trí tuệ và thể chất của tất cả thành viên trong tổ chức, xét cả số lượng và chất lượng, thể hiện tiềm năng lao động của tổ chức Ngược lại, nhân lực chỉ đề cập đến năng lực của một cá nhân cụ thể khi tham gia lao động
Tóm lại, nguồn lực con người của một tổ chức hay hệ thống bao hàm toàn bộ nhân lực, tức là toàn bộ nguồn lực con người làm việc trong tổ chức đó
1.1.2.3 Thị trường lao động
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa thị trường lao động là không gian kinh tế nơi dịch vụ lao động được giao dịch, xác định mức độ việc làm và tiền lương [80] Khái niệm này tập trung vào dịch vụ lao động được đền đáp bằng tiền công hoặc hàng hóa có giá trị tương đương
Trang 23Trong công trình "Thị trường lao động: Cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam" (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội, 2005), tác giả Phạm Đức Chính dẫn chứng quan điểm của các học giả Hoa Kỳ: thị trường lao động là cơ chế điều tiết mối quan hệ giữa người lao động và việc làm [10] Cơ chế này đảm bảo việc làm và giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động
Theo Nguyễn Tiệp trong "Giáo trình Thị trường lao động" (Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2007), nhà kinh tế học Liên bang Nga Kostin Leonit Alecxeevich định nghĩa thị trường lao động là hệ thống quan hệ giữa người sử dụng lao động (sở hữu tư liệu sản xuất) và người lao động (sở hữu sức lao động) [58] Hệ thống này ưu tiên đáp ứng nhu cầu lao động, với việc làm là phương tiện sinh tồn
Tóm lại, thị trường lao động cấu thành từ sự tương tác giữa người sử dụng lao động và người lao động trong một môi trường kinh tế cụ thể, phản ánh các mối quan hệ kinh tế - pháp lý giữa hai bên
Theo một số chuyên gia kinh tế Việt Nam, thị trường lao động (TTLĐ) bao hàm toàn bộ quan hệ lao động trong khuôn khổ hợp đồng thuê mướn Nó cấu thành
từ những yếu tố cốt lõi như tuyển dụng, thôi việc, tiền lương, phúc lợi xã hội và giải quyết tranh chấp, phản ánh sự thỏa thuận giữa người lao động tự do và người sử dụng lao động Khái niệm "mua bán sức lao động" hàm ý sự tương thích giữa nhu cầu về số lượng, chất lượng và năng lực của người lao động với yêu cầu công việc
và khả năng trả lương của người sử dụng lao động Song song đó, người lao động cần đáp ứng các tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ năng và thái độ mà doanh nghiệp đề ra
Trang 24Thứ hai, TTLĐ vận hành trên cơ sở hai chủ thể: người sử dụng lao động (bên cầu) với nhu cầu sử dụng sức lao động và người lao động (bên cung) với mong muốn được làm việc Mối quan hệ này được thiết lập dựa trên nguyên tắc tự nguyện
và thỏa thuận giữa hai bên Sự cân bằng giữa cung và cầu quyết định giá trị lao động trên thị trường, phản ánh giá trị đích thực của nguồn lực nhân sự trong nền kinh tế
- TTLĐ được cấu thành bởi ba yếu tố là:
+ “Cung” thuộc về bên những người được đào tạo có đủ phẩm chất, năng lực
đáp ứng các yêu cầu của bên sử dụng lao động và có nhu cầu được lao động
+ “Cầu” thuộc về bên những tổ chức có nhu cầu sử dụng các người lao động
có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực theo mong muốn của tổ chức
+ “Giá cả sức lao động” là sự thỏa thuận về thù lao cho người lao động giữa hai
bên cung và cầu được tuân thủ theo luật pháp và bằng hệ thống các chính sách liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ các chủ thể của TTLĐ (các bên tham gia TTLĐ)
Thị trường lao động, khái niệm đặc thù trong hệ thống thị trường, cấu thành từ hoạt động mua bán một loại hàng hóa độc đáo: sức lao động Bản chất của nó phản ánh mối quan hệ giữa chủ sở hữu nguồn lực lao động – bên cung ứng – và chủ thể sở hữu
tư bản – bên cầu
Cụ thể, thị trường lao động là diễn đàn giao thoa giữa người lao động, với vai trò cung cấp sức lao động, và các đơn vị sử dụng lao động, với vai trò cầu Mối quan hệ này được cụ thể hóa qua các thỏa thuận về tiền lương, năng lực, điều kiện làm việc, được ghi nhận bằng hợp đồng lao động chính thức hoặc các thỏa thuận tương đương Mọi giao dịch đều dựa trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện giữa hai bên
1.1.2.4 Nhu cầu nhân lực của thị trường lao động (nhu cầu thị trường)
Nhu cầu, theo quan điểm khách quan, phản ánh toàn diện các đòi hỏi thiết yếu về vật chất, tinh thần và xã hội của đời sống nhân sinh, tương ứng với trình độ phát triển kinh tế - xã hội từng giai đoạn Đồng thời, nhu cầu cũng biểu hiện khát vọng, mong mỏi và mục tiêu hướng tới sự thỏa mãn những đòi hỏi căn bản ấy của con người Nói cách khác, nhu cầu là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát
Trang 25triển bền vững của cá nhân và xã hội
Nhu cầu TTLĐ phải hiểu một cách tổng thể, trong đó bao hàm hai mặt của một vấn đề là có sự tổng hòa các nhu cầu của bên sử dụng nguồn nhận lực (bên
“mua”) với bên có sức lao động (bên “bán”) được trình bày dưới đây
- Thứ nhất, đối với bên sử dụng NL (tức bên “mua” sức lao động - một chủ thể tham gia TTLĐ – mà cụ thể là tổ chức sử dụng NL) có nhu cầu về số lượng, cơ cấu, chất lượng, sự thỏa thuận về tiền lương đối với người lao động mà họ sẽ sử
dụng; trong đó:
+ Nhu cầu số lượng là sự phản ánh những đòi hỏi khách quan về số lượng
người đã được đào tạo trong các cơ sở đào tạo mà các tổ chức sử dụng NL cần có
+ Nhu cầu cơ cấu là sự phản ánh những đòi hỏi khách quan về độ tuổi, giới
tính, chuyên ngành đào tạo và trình độ đào tạo của người đã được đào tạo tại các cơ
+ Nhu cầu thỏa thuận tiền lương cho người lao động là sự phản ánh những đòi
hỏi khách quan về tính hợp lý (hợp các quy định) trong thu nhập của người lao động (chi trả tiền lương và các khoản theo lương tương xứng với giá trị về thành quả lao động của người lao động và phù hợp khả năng chi trả của bên sử dụng lao động)
- Thứ hai, đối với bên có sức lao động (tức bên “bán” sức lao động) là một chủ thể của TTLĐ cũng có nhu cầu được học và học được các kiến thức, kỹ năng và
thái độ cần thiết để khi tham gia vào TTLĐ sẽ thỏa mãn nhu cầu của bên sử dụng họ; trong đó:
+ Nhu cầu được học (được vào học ở cơ sở đào tạo) phản ánh những đòi hỏi
khách quan của người học (người sẽ là một chủ thể của TTLĐ trong tương lai) về lĩnh hội các kiến thức, kỹ năng tác nghiệp để họ có đủ điều kiện tốt nhất tham gia
Trang 26vào TTLĐ Nói cụ thể hơn là những mong muốn của người học về chuẩn đầu vào, đầu ra và phương thức tổ chức quá trình đào tạo của cơ sở đào tạo có phù hợp hay không với trình độ và năng lực hiện có và hoàn cảnh sống của họ
+ Nhu cầu học được (học được những gì tại cơ sở đào tạo) phản ánh những
đòi hỏi khách quan của người học về mức độ kiến thức, kỹ năng tác nghiệp và thái
độ nghề nghiệp mà họ cần được trạng bị, rèn luyện và hình thành trong quá trình học tập để họ đủ điều kiện tham gia vào TTLĐ; nghĩa là được các tổ chức sử NL
chấp nhận Nhu cầu học được của người học cũng chứa đựng nhu cầu lao động của
họ (học được để được lao động)
Việc phân định hai dạng nhu cầu được học và học được của người học nêu trên chỉ là tương đối, vì trong thực tiễn hai dạng nhu cầu đó luôn luôn đan xen, lồng ghép vào nhau một cách chặt chẽ
Hai mặt của cùng một vấn đề nêu trên hòa quyện vào nhau, là động lực để
thúc đẩy nhau cùng phát triển, trong đó sự hòa quyện ở mức cao nhất là những kiến thức, kỹ năng, thái độ và các điều kiện thỏa thuận trong hợp đồng lao động mà bên
sử dụng có mong muốn cũng là các mong muốn của những người lao động Như vậy, nhu cầu NL của TTLĐ là sự giao hòa giữa nhu cầu sử dụng người lao động (bên sử dụng người lao động) với nhu cầu của người lao động (bên có sức lao động)
Trong luận văn này, theo giới hạn nghiên cứu, nhu cầu NL của TTLĐ (nhu cầu thị trường) được hiểu là tổng hoà sự đòi hỏi khách quan của cả hai bên (bên sử dụng
NL và bên những người được đào tạo) về kiến thức, kỹ năng và thái độ của người được
đào tạo
1.1.2.5 Đào tạo nguồn nhân lực
Khái niệm đào tạo, theo quan điểm của nhiều chuyên gia, hàm ý một quá trình tác động có hệ thống lên cá nhân, nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo toàn diện Mục tiêu tối thượng là chuẩn bị cho con người khả năng thích ứng với đời sống xã hội, đóng góp tích cực vào sự phát triển văn minh nhân loại và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó Một số học giả khác nhấn mạnh tính mục đích và tổ chức trong quá trình đào tạo, nhằm phát triển toàn diện tri thức, kỹ năng, thái độ, và nhân cách của mỗi người, hướng tới hiệu quả lao động và sự thành công trong nghề
Trang 27nghiệp
Áp dụng vào đào tạo nguồn lực nhân sự, quá trình này bao gồm việc hình thành
và phát triển có hệ thống các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, cũng như những kiến thức chuyên ngành Mục đích là trang bị cho người học khả năng nắm vững tri thức và kỹ năng cần thiết, đáp ứng yêu cầu công việc và thích nghi hoàn hảo với môi trường sống, góp phần vào sự nghiệp phát triển chung
1.1.2.6 Quản lý đào tạo nguồn nhân lực
Quản lý đào tạo nhân lực tại cơ sở giáo dục là quá trình tác động có hệ thống, bài bản từ ban lãnh đạo, đứng đầu là Hiệu trưởng, nhằm tối ưu nguồn lực, hướng tới mục tiêu đào tạo nhân lực hiệu quả trong bối cảnh năng động, biến đổi không ngừng Việc điều phối, huy động nguồn lực nhằm hiện thực hóa mục tiêu đào tạo nhân lực được xem là trọng tâm của hoạt động quản lý này Hiệu quả quản lý được đánh giá qua việc đạt được các mục tiêu đã đề ra Tất cả nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo
1.2 Chương trình đào tạo song hành tại các trường cao đẳng Việt Nam
1.2.1 Mô hình đào tạo song hành
Mô hình đào tạo song hành là một hình thức đào tạo đặc biệt trên thế giới, là một trong những hình thức đào tạo nhằm liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, đây là một xu thế mới trong giáo dục hiện nay
Mô hình đào tạo song hành xuất hiện từ sớm và rất thành công ở Cộng hòa Liên bang Đức (CHLB Đức), Baden-Württemberg là nơi đầu tiên thực hiện hình thức đào tạo này vào năm 1974, đây như là một dự án dạy nghề thí điểm cho thanh niên Đức Dự án này đã rất thành công và được tiếp tục tại nhiều nơi khác ở Đức Sau đó,
đã có nhiều trường phát triển dự án này lên thành các chương trình phát triển nghề nghiệp hay đào tạo nâng cao Các khóa học này thường kéo dài 2 - 3 năm và được tiếp tục bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đến khi lấy bằng thạc sĩ Nhờ hệ thống đào tạo nghề song hành mà tỷ lệ thanh niên Đức không có việc làm hay không có chỗ học việc khá thấp Phần lý thuyết được giảng dạy vào 1 hay 2 ngày trong tuần hoặc có thể được giảng dạy liên tiếp trong một khoảng thời gian nhất định và học viên sẽ học phần này ở trường cao đẳng dạy nghề Kiến thức được dạy ở đây là kiến thức
Trang 28chung Phần thực hành sẽ được chính các công ty giảng dạy Ở đây học viên sẽ làm quen với quy trình công việc và kỹ năng tay nghề cùng với những kiến thức chuyên môn cần thiết cho họ trong quá trình hành nghề Nội dung của phần lý thuyết và phần thực hành sẽ luôn được phối hợp và bổ sung cho nhau [76]
Nhiều nước trên thế giới khuyến khích ứng dụng mô hình này trong hoạt động đào tạo nghề của nước mình Từ năm 2012, tờ báo kinh tế của Anh Financial Times mô tả mô hình đào tạo này của Đức là “tiêu chuẩn vàng” đối với các nước, cựu Thủ tướng Anh David Cameron cũng kêu gọi nước Anh học tập Đức Hay trong chuyến thăm và làm việc giữa của Thủ tướng Đức đến Argentina, một trong
ba chương trình trọng tâm hợp tác của hai nước là “hỗ trợ chương trình đào tạo song hành tại Argentina” Đặc biệt, mô hình đào tạo song hành này của Đức còn nhận được sự quan tâm của hai đời tổng thống Mỹ [76]
Ứng dụng mô hình đào tạo này, nhiều nước trên thế giới đã rất thành công với đào tạo nghề hay đào tạo nghề nâng cao Trong khi đó, Việt Nam mới bắt đầu đưa hình thức này vào đào tạo trong một vài năm gần đây dưới sự hỗ trợ của CHLB Đức như: phòng Công nghiệp & Thương mại Đức tại Việt Nam (GIC Vietnam) là
cơ quan tổ chức và điều phối chương trình đào tạo công nhân kĩ thuật dựa trên mô hình đào tạo nghề từ CHLB Đức hay các doanh nghiệp Đức (công ty B.Braun Vietnam Co Ltd và Messer Hai Phong Industrial Gases Co Ltd) sẽ phối hợp với Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên thực hiện chương trình đào tạo trong lĩnh vực cơ điện tử, chương trình này dưới sự hỗ trợ thực hiện của chính phủ Đức
1.2.2 Vai trò và ý nghĩa của đào tạo nghề theo chương trình đào tạo song hành tại các trường cao đẳng Việt Nam
Từ xưa đến nay, phát triển đào tạo nghề nghiệp là nhiệm vụ của ngành giáo dục, nên khi thiếu lao động có kỹ năng đáp ứng nhu cầu, thường đổ lỗi cho giáo dục nghề Những quốc gia có cộng đồng doanh nghiệp phát triển mạnh sẽ có được hệ thống giáo dục nghề nghiệp phát triển và lực lượng lao động có kỹ năng nghề cao
Đào tạo song hành thực chất là phương pháp đào tạo bám sát nhu cầu của thị trường lao động, đáp ứng tối đa những gì thị trường lao động, doanh nghiệp đang cần Học viên theo học chương trình đào tạo song hành thường có thời gian học tập,
Trang 29làm quen, hòa nhập trong môi trường dự kiến làm việc trong tương lai
Đào tạo song hành đưa lại những lợi ích cho cả hai bên (nhà trường và doanh nghiệp) tham gia quá trình đào tạo, đào tạo song hành mở ra cơ hội để sinh viên có thể làm việc thực tế ngay từ trên ghế nhà trường, quá trình đào tạo này được thể hiện như sau:
Một là, trong quá trình thực hành sinh viên có thể áp dụng ngay các kiến
thức đã học ở cơ sở đào tạo để xử lý những vấn đề trong thực tế Đây là cách sinh viên có thể học và lưu giữ kiến thức tốt nhất và thực tế nhất, qua đó tích lũy kinh nghiệm cho bản thân - điều mà sinh viên ra trường hiện nay chỉ có được khi đã đi làm nhiều năm [72]
Hai là, mô hình đào tạo này tạo điều kiện cho cả nhà trường và doanh nghiệp
tận dụng lợi thế của mỗi bên như: con người, cơ sở vật chất, kinh nghiệm thực tế
Trong quá trình đào tạo thực tế tại doanh nghiệp, các doanh nghiệp có thể theo dõi, tuyển chọn được những sinh viên ưu tú, có năng lực thực tế phù hợp với yêu cầu của mình Ngoài ra, sinh viên thực tập cũng là một nguồn lao động phụ tại doanh nghiệp, tận dụng nguồn lao động phụ này, doanh nghiệp có thể giao những công việc phù hợp, đồng thời giảm được chi phí nhân công [72]
Đối với nhà trường, họ có thể đạt đến mục đích cuối cùng của một cơ sở đào tạo - tạo ra những người làm được việc, thông qua làm việc thực tế với hệ thống máy móc hiện đại, tình huống thực tiễn hay tích lũy kinh nghiệm từ những người đi trước trong doanh nghiệp, những điều này chỉ có khi được thực hành trong môi trường thực tế
Ba là, doanh nghiệp là một trong những yếu tố quyết định chất lượng đào tạo
của cơ sở đào tạo vì họ là người trực tiếp sử dụng nguồn lao động sau khi ra trường Chính vì thế, doanh nghiệp biết rõ nhất họ cần những gì và sinh viên ra trường phải
có những gì Tận dụng đặc điểm này, đào tạo song hành là một mô hình đòi hỏi doanh nghiệp và nhà trường cùng nhau thảo luận, bàn bạc để đưa ra những mục tiêu, tiêu chuẩn mà sinh viên phải đạt được sau khi hoàn thành khóa học [72]
Nhờ đào tạo thực tế, ngoài số sinh viên được nhận trực tiếp trong quá trình học thì sinh viên ra trường dễ tìm được công việc hơn ở những tổ chức khác nhờ
Trang 30nắm bắt được kiến thức thực tế, có thể làm được việc ngay mà không qua bồi dưỡng hay đào tạo lại, tạo sự tin tưởng cho các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức Từ đó giảm bớt những nghịch lý trong đào tạo và sử dụng lao động sau đào tạo như hiện nay - đây mới thực là lợi ích lớn nhất mà đào tạo song hành mang lại
1.2.3 Các điều kiện đảm bảo cho chương trình đào tạo song hành của các trường cao đẳng tại Việt Nam
1.2.3.1 Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên
Có thể nói, đội ngũ CBQL của trường CĐ có thể phân thành hai cấp: thứ nhất là ban giám hiệu - những người đóng vai trò chính, chịu trách nhiệm chính về toàn bộ sự tồn tại, phát triển của nhà trường, là những người hoạch định chính sách,
đề ra các kế hoạch hành động cho nhà trường Tiếp theo là đội ngũ QL các phòng, khoa trong nhà trường Đây chính là những người trợ giúp đắc lực nhất cho ban giám hiệu trong việc thực thi các chính sách trong nhà trường bởi vì đội ngũ QL các phòng khoa là những người sâu sát nhất, gần gũi nhất với cán bộ viên chức và học sinh, sinh viên, là những người tổ chức thực hiện các chính sách, đường lối của ban giám hiệu Bởi vậy, họ hiểu rõ những mặt mạnh cũng như những tồn tại, hạn chế của các chính sách, có sự phản hồi kịp thời để lãnh đạo nhà trường có sự điều chỉnh cho phù hợp
Ban giám hiệu, với vai trò hoạch định và triển khai chính sách, chương trình, đóng vai trò then chốt trong hệ thống giáo dục Tuy nhiên, đội ngũ giảng viên mới
là lực lượng trực tiếp hiện thực hóa các chủ trương đó, quyết định chất lượng đào tạo Đặc thù của giáo dục nghề nghiệp đòi hỏi đội ngũ giảng dạy không chỉ am hiểu
lý thuyết mà còn phải tinh thông kỹ năng thực hành, thậm chí ở trình độ cao siêu
Xu hướng tích hợp giáo án hiện nay càng đặt ra yêu cầu khắt khe hơn về trình độ chuyên môn Giáo viên dạy nghề cần hội tụ đầy đủ kiến thức chuyên sâu, kỹ năng nghề nghiệp điêu luyện, phương pháp sư phạm hiệu quả, cùng tác phong làm việc chuyên nghiệp, hiện đại
1.2.3.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị
Đối với trường CĐ, xuất phát từ mục tiêu trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề nên thời lượng
Trang 31thực hành của sinh viên chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 70 - 75%) Điều này đòi hỏi các trường phải được trang bị đầy đủ về cơ sở vật chất nhà xưởng, phòng học, máy móc, thiết bị phục vụ đào tạo, đặc biệt là phục vụ cho việc học tập, luyện tay nghề của sinh viên Hơn nữa, mục tiêu đào tạo nghề là đáp ứng nhu cầu xã hội nên đòi hỏi cơ sở vật chất, máy móc thiết bị tại các trường không chỉ cần đủ mà phải bảo đảm tính tiên tiến, phù hợp với dây chuyền công nghệ mà các doanh nghiệp đã và đang sử dụng
Những yêu cầu trên đã đặt ra thách thức không nhỏ cho các cơ sở đào tạo nghề nói chung, các trường CĐ nói riêng Đối với các trường CĐ, do bậc đào tạo cao hơn, thời gian học dài hơn nên yêu cầu, đòi hỏi về tay nghề đối với sinh viên sau khi ra trường cũng cao hơn Đây là một bài toán khó cho bất kỳ một cơ sở đào tạo nghề nào ở Việt Nam
1.2.3.3 Mối quan hệ với doanh nghiệp sử dụng lao động
Khát vọng tối thượng của người học nghề là việc làm tương xứng với năng lực và chuyên môn đã được trau dồi, kèm theo mức thu nhập ổn định Thành tựu này đòi hỏi sự nỗ lực bền bỉ từ mỗi cá nhân, song song với việc nâng tầm chất lượng đào tạo của các cơ sở nghề nghiệp Cần phải cải tiến nội dung, chương trình
và phương pháp giảng dạy, đáp ứng linh hoạt nhu cầu thị trường lao động – cụ thể
là các doanh nghiệp tuyển dụng Các doanh nghiệp có những yêu cầu trình độ nhân lực đa dạng, đòi hỏi hệ thống đào tạo nghề phải đa dạng hóa chương trình đào tạo
và bồi dưỡng Hơn nữa, các trường nghề cần kiến tạo một hệ thống đào tạo hùng hậu, cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng cơ cấu xã hội, sẵn sàng thích ứng với môi trường toàn cầu hóa năng động
Sự hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết Hợp tác này không chỉ đáp ứng các yêu cầu nêu trên mà còn mang lại nhiều lợi ích thiết thực Liên kết với doanh nghiệp giúp nâng cao chất lượng đào tạo chuyên sâu, tăng cường thực hành sản xuất kinh doanh Quá trình kiểm định chất lượng cũng trở nên chính xác và khách quan hơn nhờ sự tham gia của doanh nghiệp Đặc biệt, giáo viên và học viên được tiếp cận công nghệ và máy móc hiện đại, rèn luyện kỹ năng thực tiễn, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập
Trang 321.2.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chương trình đào tạo song hành của các
trường cao đẳng
a) Thông tin về nhu cầu chất lượng nguồn nhân lực của xã hội
Trường Cao đẳng đặt mục tiêu tối ưu chất lượng đào tạo, song hành cùng nhu cầu nhân lực quốc gia Do đó, nắm bắt thông tin thị trường lao động là yếu tố then chốt Dữ liệu thu thập phải toàn diện, xác thực và cập nhật Để hiện thực hóa điều này, khuyến nghị áp dụng các giải pháp cụ thể như sau:
- Tổ chức hội nghị khách hàng: Hàng năm, các trường tổ chức cuộc gặp gỡ với các doanh nghiệp để trao đổi về nhu cầu lao động trong năm và trong tương lai của họ Bên cạnh đó, có thể trao đổi về những yêu cầu tay nghề tối thiểu đối với những ngành nghề cụ thể Qua đó, nhà trường có những điều chỉnh về chương trình đào tạo cho phù hợp và doanh nghiệp cũng có thể hiểu được khả năng của nhà trường để có đơn đặt hàng cho phù hợp
- Điều tra lần vết HSSV tốt nghiệp: việc giữ liên lạc với các HSSV tốt nghiệp là một việc làm cần thiết của mỗi trường CĐ Hoạt động điều tra lần vết có thể được thực hiện nhằm nhiều mục đích khác nhau như: thống kê tỷ lệ tìm được việc làm của HSSV một khóa; mức độ phù hợp của nội dung chương trình đào tạo đối với nhu cầu của doanh nghiệp; chất lượng đào tạo của nhà trường Trên cơ sở
đó, nhà trường có những điều chỉnh và kế hoạch phát triển phù hợp
b) Năng lực của nhà lãnh đạo, quản lý nhà trường
Trong môi trường nhà trường, Hiệu trưởng vừa là nhà lãnh đạo lại vừa là nhà quản lý Với vai trò quan trọng như vậy, Hiệu trưởng là người hội tụ đủ các yếu tố như: khả năng quản lý, lập kế hoạch, tầm nhìn Cụ thể, người Hiệu trưởng phải xác định được xu hướng phát triển của đào tạo nghề, những tác động có thể có của ngoại cảnh, coi hiệu quả giảng dạy, học tập là mục tiêu phát triển của nhà trường
c) Các chính sách về đào tạo nghề
Chính sách đào tạo nghề bao hàm hệ thống quy định toàn diện, tác động đến mọi khía cạnh: phát triển ngành nghề, quản lý cơ sở đào tạo, nguồn nhân lực giảng dạy, liên kết đào tạo - việc làm, và vai trò doanh nghiệp Khung khổ pháp lý này cấu thành nền tảng vững chắc cho hoạt động đào tạo Quản lý đào tạo tại các trường cao
Trang 33đẳng đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về các chính sách nghề nghiệp, do ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển ngành nghề và các cơ sở đào tạo
Thấu hiểu và vận dụng linh hoạt chính sách là yếu tố then chốt, không chỉ thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động đào tạo mà còn tạo điều kiện điều chỉnh chiến lược phù hợp với từng giai đoạn, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội một cách hiệu quả Việc này đòi hỏi sự nhạy bén và năng lực thích ứng cao từ phía nhà quản lý Sự thành công của đào tạo nghề phụ thuộc rất lớn vào
sự vận hành hiệu quả của hệ thống chính sách này
Nhu vậy, có thể nói quản lý chất lượng đào tạo của các trường CĐ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, trong đó bao gồm cả các yếu tố chủ quan và khách quan Quan tâm đến các yếu tố này giúp nâng cao hiệu quả của quản lý chất lượng đào tạo
1.3 Chương trình đào tạo song hành nghề kỹ thuật chế biến món ăn tại trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng
Đào tạo song hành là chương trình đào tạo nghề được chia làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn một người học được học tập tại nhà trường được cấp phép đào tạo về nghề đó,
- Giai đoạn hai người học được học tập tại doanh nghiệp/đơn vị đang nghiên cứu, sản xuất, sử dụng lao động nghề đó, đáp ứng đủ tiêu chuẩn về đào tạo nghề và
có ký kết với trường học
Tên ngành, nghề: Kỹ thuật chế biến món ăn
Mã ngành, nghề: 6810207
Trình độ đào tạo: Cao đẳng
Hình thức đào tạo: Chính qui
Đối tượng tuyển sinh: Tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc tương đương; Thời gian đào tạo: 2,5 năm
Mục tiêu đào tạo: Đào tạo cử nhân thực hành kỹ thuật chế biến món ăn có
năng lực chế biến và trình bày các loại món ăn Á – Âu từ cơ bản đến nâng cao, các loại bánh và món ăn tráng miệng Á, Âu; có khả năng quản lý điều hành bộ phận bếp; có khả năng sáng tạo thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế và có khả năng tự tìm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn
Trang 34Người học có trình độ lý luận, phẩm chất chính trị, có đạo đức, tư cách tốt, yêu ngành, yêu nghề
Khối lượng kiến thức và thời gian khóa học:
- Số lượng môn học, mô đun: 24
- Khối lượng kiến thức, kỹ năng toàn khóa học: 2.700 giờ
- Khối lượng các môn học chung: 435 giờ
- Khối lượng các môn học, mô đun chuyên môn: 2.265 giờ
- Khối lượng lý thuyết: 577 giờ; Thực hành, thực tập, thí nghiệm: 2123 giờ -Thời gian khóa học: 2,5 năm
1.4 Những nghiên cứu về quản lý đào tạo theo tiếp cận nhu cầu lao động
1.4.1 Những tài liệu, công trình nghiên cứu ngoài nước
Vào những thập niên cuối thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21, có rất
nhiều công trình nghiên cứu về đào tạo và quản lý đào tạo đáp ứng nhu cầu TTLĐ được tiếp cận theo nhiều hướng (dưới góc độ) khác nhau như: đào tạo và quản lý đào tạo theo chuẩn đầu ra, hoặc đào tạo và quản lý đào tạo theo năng lực thực hiện, hoặc đào tạo và quản lý đào tạo theo nhu cầu xã hội Một số công trình khoa
học tiêu biểu đã nghiên cứu về đào tạo và quản lý đào tạo NL đáp ứng nhu cầu
TTLĐ theo các góc độ tiếp cận đó như sau:
- Công trình “Competency identification modeling and assessment in the
USA” (Xác định mô hình năng lực và đánh giá tại Hoa Kỳ) của các nhà khoa học
Rothwell, W J & Lindholm, J E [84] đã chỉ ra cách thức khắc phục các hạn chế trong đào tạo của những thập niên cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 để thích ứng với
sự phát triển mạnh mẽ của KH&CN nhằm tránh tình trạng đào tạo theo cách bắt chước kinh nghiệm và rập khuôn một cách máy móc Công trình này cho biết để nâng cao chất lượng đào tạo NL cần phải khám phá ra những cách thức để thỏa mãn nhu cầu của TTLĐ
- Trong cuốn “The Life and Times of Victor Karlovich Della-Vos” (Cuộc đời và
sự nghiệp của Victor Karlovich Della-Vos) đã được ấn hành 1965 tại Luân Đôn [86], tác
giả đã có quan điểm để đào tạo nghề đáp ứng được yêu cầu của TTLĐ thì phải nhận
Trang 35biết rõ các kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết phải trang bị và hình thành cho người được đào tạo Các yêu cầu kiến thức, kỹ năng và thái độ đó phải thể hiện ở năng lực của người được đào tạo và phải quy định rõ trong mục tiêu đào tạo Những quy định đó được xem là các tiêu chí để NL được đào tạo trong các cơ sở đào tạo thỏa mãn nhu cầu TTLĐ Cũng trong công trình này tác giả đề xuất một số biện pháp quản lý về chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, phương thức đánh giá kết quả đào tạo nhằm vào mục tiêu “sản phẩm đào tạo” đáp ứng nhu cầu TTLĐ Các quan điểm và biện pháp quản lý của Della Vos trong công trình nghiên cứu khoa học này đặt nền tảng khoa học cho đào tạo NL NKTCBMA đáp ứng nhu cầu TTLĐ
- Đến cuối thế kỷ XX do yêu cầu phát triển KT-XH với sự hình thành nhiều phương thức thương mại mới trên thế giới; những nghiên cứu về đào tạo NL có năng lực đáp ứng nhu cầu TTLĐ đã xuất hiện ở nhiều nước phát triển trang bị số lượng kiến thức, rèn luyện kỹ năng theo tiêu chuẩn nghề nghiệp (Standard of Profession), mà chuẩn đó được xuất phát từ nhu cầu sử dụng NL và cũng là nhu cầu học tập của người được đào tạo (người tham gia vào TTLĐ trong tương lai)
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong công trình nghiên cứu mang tính đột phá "ILO, Occupational Competencies: Identification, Training, Evaluation, Certification" (Năng lực nghề nghiệp: Xác định, đào tạo, đánh giá, chứng nhận) [80],
đã định nghĩa và phân tích toàn diện khái niệm về thị trường lao động (TTLĐ), đồng thời đề xuất hệ thống năng lực cần thiết cho người lao động và phương pháp tổ chức, quản lý đào tạo hiệu quả nhằm đáp ứng các năng lực này
Nghiên cứu của Mackenzie B thuộc trường cao đẳng Holmesglen TAFE, Australia, được công bố năm 1995 trong ấn phẩm "Designing a Competency – Based Training Curriculum" (Thiết kế chương trình đào tạo dựa trên năng lực) [82], đã làm sáng tỏ mối quan hệ mật thiết giữa năng lực của người được đào tạo với nhu cầu thực tiễn của các tổ chức và doanh nghiệp Tác phẩm đã chỉ ra những yêu cầu năng lực cụ thể xuất phát từ chính các đơn vị sử dụng lao động Tương tự, công trình "Human Resource Development: Paradigms, Policies and Practices, Helsinki" (Phát triển nguồn nhân lực: Các mô hình, chính sách và thực tiễn) của Noonan R (1997, Helsinki) [83]
Trang 36đã trình bày một lý thuyết phát triển nguồn nhân lực toàn diện, nhấn mạnh các mô hình năng lực cần thiết để "sản phẩm đào tạo" đáp ứng trọn vẹn nhu cầu của TTLĐ
Trong những năm gần đây, sự hợp tác giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực đã được phản ánh rộng rãi trong nhiều công trình nghiên cứu quốc tế Các công trình này đã làm rõ mối quan hệ giữa hai chủ thể then chốt trong TTLĐ: doanh nghiệp (bên cầu) với nhu cầu sử dụng lao động và các cơ
sở đào tạo (bên cung) có trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu đó Hai
ấn phẩm tiêu biểu minh họa cho sự hợp tác này là "Study on University - Business Cooperation in the USA - 2012" (Nghiên cứu về hợp tác trường đại học và doanh nghiệp tại Mỹ) do LSE Enterprise ấn hành năm 2012 [81] và "Rebecca Allinson, C.A (2012), The University Business Forum: A Trends Report 2008-2011 Brussel: European Commission" (Diễn đàn Trường Đại học - Doanh nghiệp: Một báo cáo xu hướng 2008-2011 Ủy ban Châu Âu tại Brussel) [85]
Mô hình đào tạo nguồn nhân lực CIPO, được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận, bao gồm các yếu tố đầu vào (Input), quá trình (Process), đầu ra (Output/Outcome) và bối cảnh (Context) Quản lý đào tạo theo mô hình này bao gồm việc quản lý đầu vào, quá trình dạy học và đầu ra, tất cả đều được xem xét trong bối cảnh thực tiễn [28]
1.4.2 Những tài liệu, công trình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu được công bố dưới dạng sách chuyên khảo hoặc giáo trình, đề tài khoa học, bài báo khoa học và luận án
tiến sĩ có nội dung về quản lý, về phát triển NL, về đào tạo NL theo nhu cầu xã hội, đào tạo NL đáp ứng nhu cầu TTLĐ Trong đó có các công trình điển hình như:
- Các cuốn sách chuyên khảo giáo trình nghiên cứu về quản lý, phát triển NL + Cuốn “Phát triển toàn diện con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác giả Phạm Minh Hạc, do NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội ấn hành
năm 2001 [18] đã bàn đến các yếu tố mang tính toàn diện về phẩm chất và năng lực của con người trong thời kỳ CNH, HĐH
Các luận điểm trình bày trong tài liệu nghiên cứu này tập trung vào việc
Trang 37định hình chân dung con người toàn diện, bao gồm tri thức, kỹ năng và phẩm chất đạo đức, nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường lao động (TTLĐ)
Thứ nhất, công trình “Quản lý giáo dục” của nhóm tác giả Bùi Minh Hiền,
Vũ Ngọc Hải và Đặng Quốc Bảo, do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm ấn hành năm
2006 [24], đã tiên phong trong việc kết hợp tinh hoa lý luận quản lý xuyên suốt lịch
sử nhân loại với những ứng dụng thực tiễn hiện đại vào công tác đào tạo nguồn nhân lực (NL), đặc biệt là đào tạo NL đáp ứng nhu cầu TTLĐ Công trình này thể hiện tầm nhìn chiến lược trong việc điều chỉnh giáo dục để thích ứng với sự phát triển không ngừng của xã hội
Tiếp theo, tác phẩm “Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của tác giả Phan Văn Kha, xuất bản năm 2007 bởi Nhà xuất bản Giáo dục [42], đã phân tích sâu rộng về mô hình tổ chức đào tạo và sử dụng
NL trong bối cảnh kinh tế thị trường Việt Nam Mục tiêu then chốt là hình thành và bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho người lao động, đảm bảo đáp ứng yêu cầu khắt khe của TTLĐ Công trình này nhấn mạnh tính thực tiễn và khả năng ứng dụng cao trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Năm 2011, sự hợp tác giữa Tổng cục dạy nghề (Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã cho ra đời tài liệu “Kỹ năng dạy học - Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên và người dạy nghề” [60] Tài liệu này cung cấp một khung lý thuyết toàn diện về phương pháp dạy nghề định hướng năng lực, bao gồm cấu trúc chương trình đào tạo và các tiêu chí đánh giá kết quả dựa trên năng lực của người lao động, tất cả đều hướng tới mục tiêu đáp ứng nhu cầu TTLĐ một cách hiệu quả
Một công trình nghiên cứu khác đáng chú ý là bộ tài liệu “Phương pháp tiếp cận theo năng lực trong đào tạo nghề” [2], được xuất bản bởi sự phối hợp giữa Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ - OIF, Hiệp hội thúc đẩy giáo dục và đào tạo ở nước ngoài
Trang 38- APEFE (Vương quốc Bỉ) và Tổng cục dạy nghề Việt Nam Bộ tài liệu này nhấn mạnh việc thiết kế hệ thống đào tạo nghề dựa trên việc xác định chính xác các năng lực cần thiết của người lao động, nhằm đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp – đại diện cho "nhu cầu" của TTLĐ
Chuyên đề “Đổi mới căn bản dạy nghề ở Việt Nam” của tác giả Vũ Ngọc Hải, được đăng tải trong cuốn “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam” [19], đã đề cập đến tầm quan trọng của việc chuẩn hóa dạy nghề Theo tác giả, việc chuẩn hóa này cần tập trung vào việc xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá kết quả đào tạo, bao gồm kiến thức, kỹ năng và phẩm chất cần thiết để người học có thể hội nhập vào TTLĐ
Công trình “Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục” của tác giả Trần Kiểm, do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm ấn hành lần thứ 7 năm 2013 [40], đã sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống để phân tích các yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình giáo dục, nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển nhân cách của người học Tác giả chỉ ra rằng một trong những mục tiêu cốt lõi của quản lý giáo dục hiện đại là đào tạo nguồn NL chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu sử dụng của TTLĐ
Cuối cùng, công trình nghiên cứu “Một số vấn đề Lí luận và thực tiễn về lãnh đạo và lí giáo dục trong thời kỳ đổi mới” [4], do Bộ Giáo dục và Đào tạo (MOET) – Ngân hàng Châu Á (ADB) phối hợp thực hiện và Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin ấn hành năm 2013, là một công trình tổng hợp có giá trị Với 16 chủ đề bao gồm khoa học quản lý, năng lực và phát triển năng lực của cán bộ quản lý giáo dục, chiến lược giáo dục, xây dựng văn hóa tổ chức, quản lý nhà nước về giáo dục,
và nhiều nội dung khác, công trình này cung cấp những kiến thức và phương pháp quản lý có thể áp dụng vào công tác đào tạo NL, đặc biệt là đào tạo NL đáp ứng nhu cầu TTLĐ Tất cả các luận điểm được trình bày đều góp phần vào việc xây dựng một hệ thống giáo dục toàn diện, hiện đại và hiệu quả
Trang 39- Các cuốn sách chuyên khảo giáo trình nghiên cứu về TTLĐ:
Các cuốn “Thị trường lao động Việt Nam, định hướng và phát triển” của các giả Nguyễn Thị Lan Hương đã được Nxb Lao động - Xã hội – Hà Nội ấn hành năm
2002 [37], “Một số vấn đề phát triển thị trường lao động ở Việt Nam” của tác giả
Lê Xuân Bá (chủ biên) đã được Nxb Khoa học và Kỹ thuật – Hà Nội ấn hành năm
2003 [3], “Thông tin về thị trường lao động qua đào tạo nghề” của tác giả Mạc Văn Tiến, đã được Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội ấn hành 2004 [56], “Thị trường lao động cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” của tác giả Phạm Đức Chính đã được Nxb Chính trị quốc gia - Hà Nội ấn hành năm 2005 [10], “Giáo trình Thị trường lao động” của tác giả Nguyễn Tiệp do Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội ấn hành năm
2007 [58], “Thị trường lao động Việt Nam –thực trạng và giải pháp” của các giả Nguyễn Thị Thơm đã được Nxb Chính trị quốc gia – Hà Nội ấn hành năm
2007 [67], “Thị trường lao động việc làm của lao động qua đào tạo nghề” của
tác giả Bùi Tôn Hiến (chủ biên) và các cộng sự đã được Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội ấn hành năm 2008 [27] là các tác phẩm đều có nội dung về khái niệm TTLĐ, các yêu cầu của TTLĐ đối với vấn đề phát triển KT-XH của nước nhà, thực
trạng TTLĐ ở Việt Nam và chỉ ra định hướng phát triển TTLĐ, trong đó có các giải pháp đào tạo NL đáp ứng yêu cầu của TTLĐ
Phân tích các công trình nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu thị trường lao động
Việc nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao luôn là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động (TTLĐ), nhiều chương trình và đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ (KH&CN) đã được triển khai, tập trung vào việc xác định các tiêu chuẩn và phương pháp đào tạo hiệu quả
Nghiên cứu cấp quốc gia và bộ:
Một số công trình nghiên cứu cấp nhà nước đã đóng góp quan trọng vào việc
Trang 40định hình chiến lược đào tạo nguồn nhân lực Chương trình KH&CN cấp Nhà nước
“Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới”, mã số KX07-14, do Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Đường chủ trì, đã đề xuất những tiêu chí đánh giá phẩm chất và năng lực của nguồn nhân lực, bao gồm cả năng lực đáp ứng nhu cầu
xã hội nói chung và TTLĐ nói riêng Tiếp nối thành công đó, chương trình KH&CN cấp nhà nước “Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”, mã số
KX 05-10, cũng do Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Đường chủ trì, đã thiết lập chuẩn trình độ đào tạo dựa trên nhu cầu khách quan của TTLĐ Các cơ sở đào tạo dựa trên các chuẩn này để xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, từ kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành, khả năng ứng dụng công nghệ và giải quyết vấn
đề, đến việc định hướng nghề nghiệp sau tốt nghiệp, cũng như các yêu cầu đặc thù của từng ngành, từng cấp độ đào tạo
Ở cấp bộ, đề tài KH&CN “Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện
và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề”, mã số 93-38-24, do Tiến sĩ Nguyễn Đức Trí chủ trì, đã trình bày một cách toàn diện về phương pháp đào tạo đáp ứng nhu cầu TTLĐ, tập trung vào hai hướng tiếp cận chính: “đào tạo theo năng lực thực hiện” và “đào tạo theo chuẩn nghề nghiệp” Đề tài này không chỉ đề cập đến việc xây dựng các chuẩn nghề nghiệp mà còn hướng dẫn chi tiết quy trình quản lý đào tạo, từ việc xác định mục tiêu, thiết kế chương trình, tổ chức giảng dạy, cho đến đánh giá kết quả so với yêu cầu thực tế của các doanh nghiệp sử dụng lao động
Phân tích các công bố khoa học:
Bên cạnh các công trình nghiên cứu lớn, nhiều bài báo khoa học đã góp phần làm rõ hơn các khía cạnh khác nhau của vấn đề đào tạo nguồn nhân lực theo chuẩn đầu ra và nhu cầu xã hội, hướng đến đáp ứng nhu cầu TTLĐ
Bài báo “Chuẩn đầu ra trong giáo dục đại học” của Tiến sĩ Lê Đức Ngọc và