1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng nội dung và Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “thống nhất và Đấu tranh giữa các mặt Đối lập” Để lý giải quan hệ giữa người lao Động và người sử dụng lao Động trong một doanh nghiệp Ở việt nam hiện nay

14 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” để lý giải quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động trong một doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Đoàn Thái Dương
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Triết học Mác - Lênin
Thể loại bài tập học kỳ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 903 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN ĐỀ BÀI: 05 Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “thống nhất và đấu tranh giữa các mặ

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP HỌC KỲ

MÔN: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

ĐỀ BÀI: 05

Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” để lý giải quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động trong một doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

Hà Nội, 2021

HỌ VÀ TÊN : Đoàn Thái Dương

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 3

B NỘI DUNG 3

I Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về quy luật “thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” 3

1.1 Khái niệm mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn 3

1.2 Quá trình vận động của mâu thuẫn 4

1.3 Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật 4

II Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật “thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” để lý giải quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 5

2.1 Phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay là hai mặt đối lập của mâu thuẫn 5

2.2 Quá trình vận động của mâu thuẫn trong quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 6

2.2.1 Sự thống nhất 6

2.2.2 Sự đấu tranh 6

2.2.3 Sự chuyển hóa 7

2.3 Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của quy luật để đảm bảo phát triển kinh tế gắn với vảo vệ môi trường 8

C KẾT LUẬN 9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10

Trang 3

MỞ ĐẦU

Nguyên lý về sự phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin từ lâu đã được coi

là “xương sống” của phép biện chứng duy vật, có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức và thực tiễn của con người Nguyên lý này được biểu hiện cụ thể

thông qua ba quy luật, trong đó có quy luật “thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” (hay còn gọi là quy luật mâu thuẫn) Quy luật trên đã chỉ ra rằng nguồn gốc, động lực cơ bản ở mọi quá trình vận động và phát triển chính là mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật hiện tượng Xét thấy trong thời kỳ

công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước ở Việt Nam hiện nay, kinh tế đang dần được chú trọng phát triển và có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại tới vấn đề bảo vệ môi trường vốn luôn rất cấp thiết Chính vì vậy, bài tiểu luận

xin được vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật

“thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” để lý giải quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay.

B NỘI DUNG

I Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về quy luật “thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập”

I.1 Khái niệm mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn

Trang 4

 Khái niệm mâu thuẫn trong phép biện chứng dùng để chỉ sự tác động

qua lại, ràng buộc lẫn nhau giữa hai mặt đối lập của một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

Khái niệm mặt đối lập dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính có

khuynh hướng phát triển trái ngược nhau nhưng đồng thời lại là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau Mặt đối lập là một nhân tố tạo thành mâu thuẫn

 Theo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, mâu thuẫn có ba tính chất chung là tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú

Thứ nhất, mâu thuẫn có tính khách quan Bởi vì mâu thuẫn là cái vốn có

của mỗi sự vật, hiện tượng Mà sự vật, hiện tượng lại tồn tại khách quan, không phụ thuộc ý chí con người do chúng đều là vật chất

Thứ hai, mâu thuẫn có tính phổ biến Bởi vì mâu thuẫn xuất hiện ở cả ba

mặt: trong giới tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy

Thứ ba, mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú Mâu thuẫn ở mỗi sự

vật, hiện tượng khác nhau thì khác nhau trong từng lĩnh vực và điều kiện lịch

sử, cụ thể Từ đó, xuất hiện nhiều loại mâu thuẫn như: mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, mâu thuẫn chủ yếu và thứ yếu, mâu thuẫn cơ bản và không cơ

bản,

I.2 Quá trình vận động của mâu thuẫn

Trong mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau, và giữa chúng còn có sự chuyển hóa khi ở một hoàn cảnh, điều kiện

thích hợp

Trang 5

Sự thống nhất giữa các mặt đối lập là sự tác động qua lại, quy định lẫn

nhau, ràng buộc nhau cùng tồn tại của các mặt đối lập Trong đó, mặt này lấy mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của mình Sự thống nhất giữa các mặt đối lập có vai trò tạo điều kiện để sự vật, hiện tượng tồn tại khi cùng nằm trong một chỉnh thể; tạo điều kiện để các mặt đối lập đấu tranh với nhau Sự

thống nhất này mang tính tạm thời, thoáng qua, tương đối, cũng như trạng thái đứng im của sự vật, hiện tượng

Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập theo nghĩa đen là sự bài trừ, phủ định

lẫn nhau của các mặt đối lập; nhưng hiểu rộng ra theo nghĩa bóng thì đó là sự tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau của các mặt đối lập Sự đấu tranh có vai trò là nguồn gốc, động lực cho sự vận động phát triển của sự vật hiện tượng

Nó mang tính tuyệt đối khi diễn ra từ đầu đến cuối và diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng, tương ứng với sự vận động

Sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập là sự thay thế các mặt đối lập, là một

tất yếu sau quá trình thống nhất và đấu tranh Quá trình chuyển hóa diễn ra

hết sức phong phú đa dạng tùy vào tính chất của các mặt đối lập cũng như điều kiện, hoàn cảnh lịch sử- cụ thể

Sự tác động qua lại dẫn đến chuyển hóa giữa các mặt đối lập là một quá

trình Mâu thuẫn mới đầu được hình thành bởi hai mặt đối lập Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột gay gắt và khi điều kiện đã chín muồi thì chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết Mâu thuẫn cũ mất

đi, mâu thuẫn mới được hình thành và quá trình tác động, chuyển hóa giữa hai

Trang 6

mặt đối lập lại tiếp diễn, làm cho sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động và

phát triển

I.3 Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật

Thứ nhất, trong nhận thức và thực tiễn cần tôn trọng mâu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được bản chất, nguồn gốc, khuynh hướng của sự vận động và phát triển

Thứ hai, trong việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử- cụ thể, tức là phải biết phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn và

có phương pháp giải quyết phù hợp Ngoài ra cần phân biệt đúng vai trò, vị trí, đặc điểm của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định để giải quyết mâu thuẫn đó một cách đúng đắn nhất

II Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật

“thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập” để lý giải quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động ở Việt Nam hiện nay

2.1 Người lao động và người sử dụng lao động ở Việt Nam hiện nay

là hai mặt đối lập của mâu thuẫn

Sở dĩ nói người lao động và người sử dụng lao động ở Việt Nam là hai mặt đối lập của mâu thuẫn bởi chúng có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau

Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa

thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động

Trang 7

Trong khi đó, người sử dụng lao động là một bên chủ thể của quan hệ pháp luật lao động, gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các cơ quan tổ chức nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, các cá nhân và hộ gia đình có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thoả thuận Nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Như vậy, người lao động và người sử dụng lao động ở Việt Nam là hai mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn Mâu thuẫn này là khách quan, tồn tại phụ

thuộc vào hiện thực khách quan Có thể xét đây là mâu thuẫn bên ngoài, giữa các sự vật hiện tượng với nhau; nhưng nếu đặt hai mặt đối lập này ở một mối quan hệ khác thì đây lại là mâu thuẫn bên trong quá trình phát triển bền vững của xã hội Việt Nam

2.2 Quá trình vận động của mâu thuẫn trong quan hệ người lao động và người sử dụng lao động ở Việt Nam hiện nay

2.2.1 Sự thống nhất

Người lao động và người sử dụng lao động tạo thành mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong sự thống nhất với nhau Sự thống nhất của người lao động

và người sử dụng lao động là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề, nếu không tồn tại người sử dụng lao động thì sẽ không tồn tại người lao động và ngược lại Người lao động thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động

Trang 8

tập thể và hưởng lương phù hợp với trình độ, kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động

Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng

có những nhân tố giống nhau, người lao động và người sử dụng lao động đều muốn thu lợi về mình Cả hai đều có các quyền và nghĩa vụ riêng đối với nhau

Như vậy, chúng ràng buộc lẫn nhau, cùng tồn tại

2.2.2 Sự đấu tranh

Trong điều kiện kinh tế thị trường, khi sức lao động là hàng hóa được lưu thông trên thị trường, người mua và người bán hàng hóa đều có mục đích riêng của mình, người lao động muốn bán hàng hóa sức lao động do mình sở hữu với giá cao nhất, người sử dụng sức lao động lại muốn mua sức lao động với giá rẻ nhất nhằm tăng lợi nhuận thu được Nếu tiền công đưa ra được cả hai bên chấp nhận thì quan hệ lao động hình thành và duy trì Nhưng nếu một trong hai bên bội ước thì dẫn đến xâm hại lợi ích của nhau Tuy nhiên, người

sử dụng lao động lại có nhiều lợi thế hơn để ép người lao động phải chịu thiệt thòi về lợi ích, cụ thể là không đáp ứng đầy đủ các cam kết về lương, bảo hiểm, các điều kiện làm việc cho người lao động Khi lợi ích của người lao động bị xâm phạm nghiêm trọng thì xuất hiện các cuộc đình công như là công

cụ bảo vệ quyền và lợi ích của họ

Theo Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, kể từ khi Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành từ năm 1995 đến hết năm 2012, cả nước đã xảy ra 4.922

Trang 9

cuộc đình công Trong đó, doanh nghiệp nhà nước xảy ra 100 cuộc; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản xảy ra 3.500 cuộc, doanh nghiệp tư nhân xảy ra gần 1.300 cuộc Tỷ lệ này đang có

xu hướng tăng dần qua các năm 7 tháng đầu năm 2014 số cuộc đình công là

198, tập trung chủ yếu ở những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, như dệt may 36,87%, da giày 12,63%, chế biến gỗ 1,52% Năm 2013, số cuộc đình công là 351 Năm 2012, số cuộc đình công là 539 Năm 2011, số cuộc đình công đạt mức kỷ lục với 978 so với năm 2010 là 422, năm 2009 là 218, năm

2008 là 720 Theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, có tới 90% cuộc đình công là xuất phát từ tranh chấp về quyền của người lao động, người sử dụng lao động vi phạm pháp luật hoặc thỏa ước lao động như không

ký hợp đồng, nợ lương, không đóng bảo hiểm xã hội, không giải quyết chế độ ngày nghỉ Nếu xem xét những cuộc đình công cụ thể, chúng ta cũng sẽ thấy rất rõ điều đó Ngày 27 tháng 3 năm 2008, công nhân Nhà máy xử lý rác thải

và phân vi sinh (huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế) đình công vì lương quá thấp (bình quân 760 nghìn đồng/tháng/người), chế độ cấp dưỡng độc hại cho công nhân chỉ có 1 lon sữa cô gái Hà Lan/tháng, tiền thưởng Tết chỉ 20 nghìn đồng/người Ngày 7 tháng 5 năm 2008, công nhân Công ty Ta Shuan (Khu công nghiệp Tân Tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh) đình công vì mức lương 931.0đồng/người/tháng ít hơn mức lương tối thiểu của Nhà nước quy định

2.2.3 Sự chuyển hóa

Trang 10

Theo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, khi mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động đấu tranh gay gắt và đạt đến một mức độ nhất định, chúng sẽ tất yếu chuyển hóa cho nhau Sự chuyển hóa này diễn ra như thế nào là phụ thuộc vào nhận thức của con người và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể

Đó là khi ta hài hòa được giữa lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động Các cá nhân, tổ chức sử dụng lao động tìm được cách để vừa tối đa lợi nhuận, vừa đảm bảo lợi ích cho người lao động Mâu thuẫn lúc này được giải quyết, và một mâu thuẫn khác hình thành, bởi trong xã hội luôn tồn tại rất nhiều mâu thuẫn Hiện nay, ngay cả khi một bộ phận các doanh nghiệp, công ty ý thức được việc bảo đảm lợi ích cho người lao động, họ vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức khác Đó có thể là mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội, với sự tiến bộ công bằng, Quá trình tác động, chuyển hóa giữa hai mặt đối lập lại tiếp diễn, khiến cho mối quan hệ này ở Việt Nam không ngừng phát triển

2.3 Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của quy luật để đảm bảo phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường

Những nguyên nhân dẫn tới các cuộc đình công ở Việt Nam thời gian qua chủ yếu là do giới chủ không đảm bảo lợi ích và quyền của người lao động Vì vậy, để ngăn chặn các cuộc đình công thì cần giải quyết một cách tri

ệt để những mâu thuẫn về l ợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động Những giải pháp cần thực hiện bao gồm:

Trang 11

Thứ nhất, hoàn thiện Bộ luật Lao động của Việt Nam theo hướng hài hòa lợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động Sở dĩ người sử dụng lao động trong thời gian qua chưa đảm bảo lợi ích cho người lao động vì hệ thống pháp luật của Việt Nam còn bất cập, chưa thực sự chặt chẽ, còn nhiều

kẽ hở, lạc hậu, chưa phù hợp với thực tế, chưa đủ sức điều chỉnh các quan hệ lao động vốn dĩ năng động và phức tạp, thậm chí có những điều khoản vô ý

đã gây thiệt thòi về lợi ích cho người lao động Ví dụ, chính sách tiền lương còn nhiều bất cập; tiền lương tối thiểu thấp; lương thực tế giảm mặc dù lương danh nghĩa tăng; các biện pháp chế tài chưa đủ sức răn đe những doanh nghiệp cố tình vi phạm pháp luật Vì vậy, cần hoàn thiện các quy định về pháp luật để công nhân bù đắp hao phí thể lực, có điều kiện nâng cao trình độ văn hóa, có thể đảm đương trách nhiệm nuôi dạy con cái, được sống đúng với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra

Thứ hai, đẩy mạnh tuyên truyền cho người sử dụng lao động thực hiện đúng các quy định của pháp luật về lao động Cùng với việc hoàn thiện pháp luật thì việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật cho các doanh nghiệp

có sử dụng lao động làm thuê, đặc biệt cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là rất cần thiết Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cần đa dạng

về hình thức, phương pháp, phù hợp với từng đối tượng, huy động sự tham gia của nhiều chủ thể, đảm bảo cho pháp luật đến được với cả người sử dụng lao động và người lao động Ví dụ, đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay xảy ra đình công, Sở Ngoại vụ các tỉnh, thành phố cần chủ

Trang 12

động tổ chức gặp đại diện ngoại giao một số nước có nhiều dự án đầu tư nước ngoài; yêu cầu họ thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Luật Lao động, cải thiện quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động Đây là biện pháp có tính chất chủ động phòng ngừa trước các mâu thuẫn, xung đột lợi ích

có thể xảy ra trong các doanh nghiệp

Thứ ba, xây dựng văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp trong các doanh nghiệp ở Việt Nam Một doanh nghiệp có văn hóa trước hết phải là doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội, có trách nhiệm đối với người lao động và đối với môi trường sinh thái Vì vậy, nếu các doanh nghiệp đều có văn hóa kinh doanh thì sẽ không để xảy ra tình trạng mâu thuẫn lợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động Để xây dựng được văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp thì Nhà nước cũng cần có nhiều biện pháp để giúp các chủ doanh nghiệp nhận thức được vai trò quan trọng của việc tôn trọng lợi ích của người lao động, sẽ tăng cường sự gắn bó với doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển bền vững, cần tránh tư duy “ăn xổi ở thì”, chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt của các doanh nghiệp mà làm tổn hại đến lợi ích của người lao động Lợi nhuận trước mắt đó có thể gây tác động đến lợi ích lâu dài của chính doanh nghiệp

C Kết luận

Thực tế đã chứng minh, mâu thuẫn lợi ích giữa người sử dụng lao động

và người lao động trong các doanh nghiệp mà biểu hiện cụ thể là những cuộc đình công làm cho sản xuất của doanh nghiệp đình trệ, người lao động cũng

Ngày đăng: 16/02/2025, 23:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w