Khái niệm Định nghĩa về ĐƯQT được quy định tại khoản 1 điều 2 Luật Điều ước quốc tế 2016, theo đó: Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-š›&š›
-BÀI TIỂU LUẬN MÔN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
ĐỀ BÀI Điều ước quốc tế và thực tiễn tham gia thi hành ở Việt Nam
Họ và tên : Nguyễn Thị Ngọc Mai
Hà Nội, 2/2024
Trang 2MỤC LỤC
I Khái quát về ĐƯQT 2
1 Khái niệm 2
2 Phân loại 2
3 Nguyên tắc ký kết và thực hiện ĐƯQT 3
4 Trình tự ký kết ĐƯQT 3
a Đàm phán, soạn thảo và thông qua văn bản điều ước 3
b Ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập ĐƯQT 4
c Bảo lưu ĐƯQT 5
5 Hiệu lực của ĐƯQT 6
6 Mối quan hệ giữa ĐƯQT và hệ thống pháp luật quốc gia 7
II Thực tiễn tham gia thi hành ĐƯQT ở VN 8
1 Đánh giá chung về tình hình tham gia ĐƯQT ở nước ta 8
2 Thực tiễn tham gia thi hành ĐƯQT ở VN 8
3 Đánh giá một số lĩnh vực mà Việt Nam thi hành khi tham gia ĐƯQT 9
a Quyền con người 9
b Phòng chống tham nhũng 10
c Ô nhiễm môi trường 11
4 Những ưu điểm và nhược điểm khi áp dụng, thực thi ĐƯQT tại Việt Nam 12
a Ưu điểm 12
b Hạn chế 13
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ĐƯQT: Điều ước quốc tế
VN: Việt Nam
Trang 3I Khái quát về ĐƯQT
1 Khái niệm
Định nghĩa về ĐƯQT được quy định tại khoản 1 điều 2 Luật Điều ước quốc
tế 2016, theo đó:
Điều ước quốc tế là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế, không phụ thuộc vào tên gọi là hiệp ước, công ước, hiệp định, định ước, thỏa thuận, nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác
2 Phân loại
* Căn cứ vào các bên kết ước
- Điều ước song phương
- Điều ước đa phương
- Điều ước ký kết giữa các quốc gia, giữa các tổ chức quốc tế hoặc giữa quốc gia với tổ chức quốc tế…
* Căn cứ vào lĩnh vực điều chỉnh của điều ước
- Điều ước về chính trị
- Điều ước về kinh tế
- Điều ước về văn hóa - khoa học kĩ thuật
* Căn cứ vào phạm vi áp dụng
- Điều ước song phương
- Điều ước khu vực
- Điều ước phổ cập (Điều ước toàn cầu)
Trang 43 Nguyên tắc ký kết và thực hiện ĐƯQT
Nguyên tắc ký kết và thực hiện ĐƯQT được quy định tại điều 3 Luật Điều
ước quốc tế 2016
- Không trái với Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi và những nguyên tắc cơ bản khác của pháp luật quốc tế
- Bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, phù hợp với đường lối đối ngoại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Tuân thủ ĐƯQT mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
4 Trình tự ký kết ĐƯQT
a Đàm phán, soạn thảo và thông qua văn bản điều ước
- Đàm phán là quá trình thỏa thuận, thương lượng để tiến tới xác định quyền
và nghĩa vụ của các bên ghi nhận trong nội dung của văn bản điều ước Có thể tiến hành đàm phán theo các cách thức như đàm phán trên cơ sở của dự thảo văn bản điều ước đã chuẩn bị trước của mỗi bên hay một bên hoặc cùng đàm phán để trực tiếp xây dựng văn bản điều ước
- Thông qua văn bản điều ước là thủ tục không thể thiếu Thực tiễn ký kết ĐƯQT cho thấy, có nhiều cách để thông qua văn bản điều ước, như biểu quyết, thỏa thuận miệng Văn bản đã được các bên nhất trí thông qua là văn bản cuối cùng, các chủ thế kết ước không được đơn phương sửa đổi, chỉnh lý hoặc bổ sung mới
Trang 5b Ký, phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập ĐƯQT
Bản chất của các bước ký, phê duyệt, phê chuẩn hay gia nhập điều ước là
hành vi nhằm thực hiện sự ràng buộc quốc gia với ĐƯQT và có giá trị tạo ra hiệu lực thi hành của điều ước đó
* Các hình thức ký điều ước quốc tế
- Ký tắt: Ký của các vị đại diện của các bên tham gia đàm phán xây dựng văn bản điều ước nhằm xác nhận văn bản dự thảo điều ước Ký tắt chưa làm điều ước phát sinh hiệu lực
- Ký ad referendum: Ký của vị đại diện với điều kiện có sự đồng ý tiếp sau đó của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật quốc gia, Hình thức
ký này có thể làm phát sinh hiệu lực cho điều ước nếu các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia tỏ rõ sự chấp thuận sau khi ký ad referendum
- Ký đầy đủ (ký chính thức): Ký của vị đại diện của các bên vào văn bản dự thảo điều ước Sau khi ký đầy đủ, điều ước có thể phát sinh hiệu lực Đây là hình thức ký phổ biến nhất và được áp dụng cho điều ước song phương và ĐƯQT đa phương Tuy nhiên, hành vi ký đã thể hiện rõ ý định của quốc gia
ký trong việc ràng buộc với ĐƯQT sau này nên trong thời gian điều ước chưa có hiệu lực, quốc gia đó không được có những hành vi có thể làm ảnh hưởng đến mục đích và đối tượng của ĐƯQT
* Phê chuẩn, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế
- Đây là những hành vi pháp lý của một chủ thể luật quốc tế xác nhận sự đồng ý ràng buộc với một ĐƯQT nhất định Việc có áp dụng hình thức phê chuẩn hoặc phê duyệt ĐƯQT hay không được ghi nhận rõ ràng trong điều ước Một số loại điều ước đa phương toàn cầu, đa phương khu vực, các điều ước về các vấn đề biên giới, lãnh thổ, hỗ trợ tư pháp,… thường quy định thủ tục phê chuẩn hoặc phê duyệt
Trang 6- Quy định về việc phải phê chuẩn cho phép các quốc gia có thời gian và cơ hội xem xét hoặc kiểm tra lại việc ký kết của những đại diện của quốc gia mình và ban hành những văn bản pháp luật cần thiết cho việc thực thi ĐƯQT
đó ở trong nước
- Gia nhập ĐƯQT là hành động của một chủ thể luật quốc tế đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của một ĐƯQT đa phương đối với chủ thể đó Việc gia nhập thường được đặt ra đối với quốc gia khi thời hạn ký kết điều ước đã chấm dứt hoặc điều ước đã có hiệu lực mà quốc gia đó chưa phải là thành viên Ngoại trừ một số ĐƯQT nhất định, hầu hết các điều ước đa phương phổ cập đều cho phép các quốc gia gia nhập, ví dụ như Công ước về quyền trẻ em
1989, Công ước viên 1961 về quan hệ ngoại giao, Công ước viên 1963 về quan hệ lãnh sự,… đều quy định việc cho phép các quốc gia gia nhập
c Bảo lưu ĐƯQT
- Theo Công ước viên 1969 về luật điều ước quốc tế thì, “ Bảo lưu ĐƯQT là hành động đơn phương bất kể cách viết hoặc tên gọi như thế nào của một quốc gia đưa ra khi ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập điều ước đó, nhằm qua đó loại trừ hoặc thay đổi hiệu lực của một hoặc một số quy định của điều ước trong việc áp dụng chúng đối với quốc gia đó.”
- Bảo lưu chỉ có thể tiến hành vào thời điểm quốc gia thực hiện các hành vi nhằm xác nhận sự ràng buộc của một điều ước đối với quốc gia đó
* Điều khoản bảo lưu
- Phù hợp với mục đích của việc ký kết ĐƯQT và lợi ích của các quốc gia thành viên Luật ĐƯQT thừa nhận bảo lưu là quyền của các chủ thể khi tham gia ký kết ĐƯQT nhưng quyền này không phải là tuyệt đối mà nó bị hạn chế trong những trường hợp nhất định như:
+) Trường hợp ĐƯQT cấm bảo lưu
+) Trường hợp bảo lưu không phù hợp với đối tượng và mục đích của điều ước
Trang 7- Tương tự, quyền bảo lưu ĐƯQT của một quốc gia cũng sẽ bị hạn chế khi trong nội dung của điều ước đó chỉ cho phép bảo lưu đối với những điều khoản nhất định
- Trong thực tiễn thường có hai dạng quy định liên quan đến vấn đề bảo lưu điều ước Ở trường hợp 1, nếu điều ước cho phép bảo lưu hoặc chỉ được bảo lưu những điều khoản cụ thể thì những vấn đề bảo lưu sẽ tuân theo các quy định của chính ĐƯQT đó Còn với trường hợp 2, nếu điều ước không có điều khoản quy định về bảo lưu thì tuân theo quy định của Công ước viên 1969
* Thủ tục bảo lưu
Do bảo lưu có ảnh hưởng trực tiếp tới giá trị hiệu lực của các điều khoản
của ĐƯQT trong quan hệ giữa các bên nên theo quy định của Công ước viên
1969, việc tuyên bố bảo lưu, rút bảo lưu, chấp thuận hoặc phản đối bảo lưu đều phải được trình bày bằng văn bản và thông báo cho các bên liên quan
* Hệ quả và ý nghĩa pháp lý của bảo lưu
- Bản chất của bảo lưu không nhằm đưa ra các điều khoản bị bảo lưu ra khỏi nội dung của một điều ước nhưng về tổng thể, quan hệ giữa các thành viên của một điều ước sẽ thay đổi trong phạm vi có bảo lưu Sự thay đổi liên quan đến bảo lưu khác nhau, tùy thuộc vào việc phản đối hoặc chấp thuận bảo lưu
- Đối với nhiều thành viên, bảo lưu là giải pháp pháp lý để giải quyết hài hòa lợi ích riêng của quốc gia với lợi ích khi tham gia điều ước, qua đó góp phần tăng cường số lượng thành viên tham gia để điều ước có điều kiện hình thành
và phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ quốc tế nảy sinh
5 Hiệu lực của ĐƯQT
- Một ĐƯQT sẽ có hiệu lực thi hành khi được ký kết trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, phù hợp với quy định về thẩm quyền theo quy định của pháp luật quốc gia và các quy phạm của luật quốc tế
Trang 8- Căn cứ tại k1, k2 Đ24 Công ước Viên về luật điều ước quốc tế năm 1969 quy định:
+) Một điều ước sẽ có hiệu lực theo những thể thứ và vào thời điểm mà điều ước ấn định hoặc theo sự thỏa thuận của các quốc gia tham gia đàm phán +) Nếu không có những quy định hoặc thỏa thuận như thế, điều ước sẽ có giá trị hiệu lực ngay sau thời điểm tất cả các quốc gia tham gia đàm phán nhất trí chịu sự ràng buộc của điều ước
6 Mối quan hệ giữa ĐƯQT và hệ thống pháp luật quốc gia
- Về bản chất, đây là hai hệ thống pháp luật được áp dụng trên 2 phạm vi
khác nhau Khi một quốc gia trở thành thành viên của ĐƯQT, trước hết quốc gia đó cần phải xem xét áp dụng những quy định của ĐƯQT như thế nào trong phạm vi lãnh thổ của mình
- Để làm rõ mối quan hệ giữa luật quốc gia và ĐƯQT, cần xác định vị trí ĐƯQT trong quan hệ với luật quốc gia, thường được xác định theo 2 cách: +) ĐƯQT được quy định là một bộ phận cấu thành của luật quốc gia, có vị trí dưới Hiến pháp nhưng lại có hiệu lực cao hơn các văn bản quy phạm pháp luật khác
+) ĐƯQT không được quy định rõ là một bộ phận cấu thành của luật quốc gia nhưng vẫn thừa nhận giá trị ưu tiên của điều so với luật quốc gia
- Từ việc xác định vị trí của ĐƯQT để thấy rõ được mối quan hệ giữa ĐƯQT
và pháp luật quốc gia, nhiều quốc gia kết ước đã áp dụng trực tiếp hoặc thực hiện việc nội luật hóa các quy định của ĐƯQT để tạo điều kiện cho việc thực thi đầy đủ các quy định của ĐƯQT tại quốc gia của mình
- Mặt khác, việc xác định vị trí của ĐƯQT và hệ thống pháp luật quốc gia trong Hiến pháp còn là cách giải quyết trong trường hợp phát sinh xung đột giữa quy định của ĐƯQT và quy định của nội luật Việc quy định rõ ràng ngay trong đạo luật gốc của một quốc gia là tiền đề để đề ra phương hướng
và cách thức giải quyết xung đột
Trang 9II Thực tiễn tham gia thi hành ĐƯQT ở VN
1 Đánh giá chung về tình hình tham gia ĐƯQT ở nước ta
- Mỗi quốc gia muốn phát triển cần phải đẩy mạnh hợp tác, giao lưu với các quốc gia khác Việc ký kết, tham gia các ĐƯQT có nghĩa là quốc gia đó sẽ phải áp dụng các quy định của ĐƯQT đó vào chính quốc gia của mình Dựa trên điều kiện phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội cũng như tùy vào mục đích hướng đến mà mỗi quốc gia có quyền tự do thỏa thuận tham gia ký kết, thi hành các ĐƯQT Một quốc gia sẽ phải thực thi các quy định của ĐƯQT chỉ khi đó là ĐƯQT mà quốc gia đó tham gia ký kết
- Nhìn chung, thời kỳ trước năm 1986, việc ký kết và thực hiện ĐƯQT mới chỉ được quy định trong Hiến pháp mà chưa có các văn bản pháp luật riêng điều chỉnh Do đó, các bước thực hiện trong quá trình ký kết, thực hiện các ĐƯQT chưa được cụ thể hóa cũng như việc thực thi trong đời sống chưa đạt hiệu quả Mãi sau khi đổi mới năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI thay đổi chính sách ngoại giao của nươc ta, khẳng định Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị thì các quy định trong việc ký kết và thực hiện ĐƯQT mới có những thay đổi phù hợp, mang tính khoa học hơn
- Từ khi Luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT 2005 có hiệu lực, Việt Nam đã tích cực ký kết, tham gia và thực hiện các điều ước song phương, đa phương trên nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế -thương mại Và từ khi Luật điều ước quốc tế 2016 được ban hành, thay thế cho Luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT 2005 cho đến hiện nay, Việt Nam được đánh giá là 1 nước có pháp luật quốc gia về ĐƯQT khá phát triển, góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế
2 Thực tiễn tham gia thi hành ĐƯQT ở VN
- Từ sau khi đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia khác trên hầu hết tất cả lĩnh vực, Việt Nam cũng chú trọng đến việc áp dụng các quy định của ĐƯQT vào thực tiễn như thế nào để phù hợp với trình độ phát triển của đất nước Thực
Trang 10thi các ĐƯQT mà nước ta đã tham gia ký kết một cách hợp lý và đạt hiệu quả nhất
- Nếu như có những quốc gia áp dụng trực tiếp các quy định của ĐƯQT thì một số quốc gia khác lại lựa chọn việc nội luật hóa ĐƯQT hay chuyển hóa ĐƯQT (có nghĩa là chuyển hóa các ĐƯQT thành quy phạm pháp luật trong nước và thi hành các ĐƯQT đó trên cơ sở các quy phạm pháp luật trong nước vốn là quy phạm của ĐƯQT) Khác với một số quốc gia lựa chọn một trong hai phương thức để thực hiện ĐƯQT thì Việt Nam lại thừa nhận cả hai phương thức trên và đưa vào áp dụng
- Từ sau khi Luật điều ước quốc tế 2016 có hiệu lực cho đến nay, nước ta đa phần áp dụng trực tiếp các ĐƯQT Theo điều 6 Luật điều ước quốc tế quy định thì có 2 trường hợp áp dụng trực tiếp ĐƯQT tại Việt Nam Khoản 1 quy định trường hợp quy định của ĐƯQT xung đột/khác với quy định của pháp luật Việt Nam về cùng một vấn đề thì áp dụng ĐƯQT trừ Hiến pháp Trường hợp thứ hai là khi có quyết định cho phép áp dụng trực tiếp của Quốc hội, Chủ tịch nước hay Chính phủ khi thể hiện chấp nhận sự ràng buộc của ĐƯQT
- Việt Nam tham gia nhiều ĐƯQT có vai trò quan trọng, là tiền đề thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, hội nhập quốc tế, bảo vệ các quyền cơ bản của con người, của công dân, của đất nước
3 Đánh giá một số lĩnh vực mà Việt Nam thi hành khi tham gia ĐƯQT
a Quyền con người
- Quyền con người là quyền cơ bản của cá nhân, bao gồm: quyền sống, quyền
tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Các quyền này là các quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm, bởi vậy mà Việt Nam tham gia từ rất sớm các văn kiện quốc tế liên quan đến quyền con người (những năm 80 của thế
kỷ XX) như: Công ước về các quyền Dân sự và Chính trị 1966, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 1979, Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức Phân biệt churnh tộc 1969, Công ước về quyền Trẻ em 1989,
Trang 11Công ước về quyền của người Khuyết tật 20006, Công ước chông tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người,…
- Việt Nam đã tham gia 7/9 Công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người và một số Nghị định thư của các Công ước này Bên cạnh các Công ước quốc tế về quyền con người, nước ta cũng đã tham gia nhiều công ước quốc tế khác liên quan đến viêc bảo vệ quyền con người và luật nhân đạo quốc tế như: Công ước quốc tế về Ngăn ngừa và Trừng trị Tội ác Diệt chủng
1948, Công ước về Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia 2000, Mặt khác, Việt Nam đã và đang thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả đối với các ĐƯQT liên quan về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia ký kết
- Ngoài ra, Việt Nam đang nghiên cứu, xem xét khả năng gia nhập một số Công ước khác về quyền con người như: Công ước chống mất tích cưỡng bức, Công ước quốc tế về bảo vệ các quyền của người lao động di cư và thành viên gia đình họ, Công ước về quy chế của người tị nạn, Công ước về người không có quốc tịch
b Phòng chống tham nhũng
- Hiện nay, vấn đề phòng chống tham nhũng có thể nói là một vấn đề hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia Việt Nam cũng không ngoại lệ, nhìn những
vụ án dạo gần đây, hầu hết là án tham nhũng Từ những vụ án nhỏ cho đến những đại án với quy mô lớn với số tiền và số lượng thành viên tham nhũng đông đảo Có thể kể đến như: Vụ án Đinh La Thăng, đại án Đường dây đánh bạc nghìn tỷ, vụ án Tân Hoàng Minh, vụ án FLC, đại án Kit test, đại án Chuyến bay giải cứu và mới đây nhất là đại án Vạn Thịnh Phát Do đó, đây là vấn đề trước mắt cần phải giải quyết nhanh chóng để không để lại hậu quả về lâu dài
- Việc Việt Nam tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc về phòng chống tham nhũng là chủ trương đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Nhà nước, tạo cơ
sở cho những giải pháp phù hợp với đất nước để thực thi vấn đề tham nhũng
có hiệu quả