1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn luật hiến pháp việt nam Đề tài số 4 các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt Động giám sát của Đại biểu quốc hội

19 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội
Tác giả Nguyễn Hà Dương
Trường học Trường Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số vấn đề về hoạt động giám sát của Quốc hội - Khái niệm giám sát Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015 Giám sát là việc Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Qu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TIỂU LUẬN MÔN:

LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM

Đề tài số 4:

Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám

sát của đại biểu Quốc hội

Họ và tên: Nguyễn Hà Dương

Ngày, tháng, năm sinh: 20/10/2005 MSSV: 23A5101D0058

Lớp: 2351A02 Ngành: Luật Kinh Tế

Trang 2

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 2

I Lý do chọn đề tài 2

B NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 4

1 Khái quát lý luận về hoạt đồng giám sát của đại biểu Quốc hội 4

1.1 Một số vấn đề về hoạt động giám sát của Quốc hội 4

2 Vị trí, vai trò, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát của đại biểu Quốc hội 6

2.1 Vị trí của đại biểu Quốc hội 6

2.2 Vai trò của đại biểu Quốc hội 6

3 Hình thức hoạt động giám sát của Quốc hội 6

3.1 Chất vấn của đại biểu Quốc hội 7

3.2 Giám sát của đại biểu Quốc hội 8

4 Các tiêu chí xác định sự tác động của công tác kiểm tra, giám sát của đâị biểu Quốc hội 8

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 9

1 Khái quát thực trạng hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội 9

1.1 Những kết quả đã làm được trong việc thực hiện giám sát 11

1.2 Những vấn đề cần giải quyết 12

Chương 3 NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 13

1 Một số định hướng chung về công tác giám sát của đại biểu Quốc hội.13 1.1 Mục tiêu 13

2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội 13

C KẾT LUẬN 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 3

A MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

Trong suốt chiều dài lịch sử, Bộ máy Nhà nước Việt Nam đã không ngừng thay đổi và cải tiến để xây dựng đất nước ngày một phát triển và lớn mạnh Ra đời trong khói lửa của cuộc đấu tranh cách mạng, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là thành quả, biểu tượng cao quý của độc lập dân tộc, thống nhất đất nước - nơi hội

tụ, lan tỏa ý chí, niềm tin và sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc ta Trải qua 75 năm hình thành và phát triển, ở mỗi giai đoạn cách mạng và từng nhiệm kỳ, Quốc hội ngày càng lớn mạnh, phát triển, không ngừng hoàn thiện về tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, hoàn thành tốt sứ mệnh lịch sử, nhiệm

vụ cách mạng được Đảng, Nhân dân và cử tri tin tưởng giao phó; khẳng định vững chắc vị trí, vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cùng với vị trí là trách nhiệm mà nhân dân đã tin tưởng trao cho, một trong số

đó là hoạt động giám sát của Quốc hội

Tuy nhiên hiện nay, ta cần nhận thấy vẫn còn nhiều sai phạm trong việc quản lý, điều hành của Quốc hội Trong quá trình tiến hành công tác kiểm tra, giám sát thiếu linh hoạt, hiệu quả chưa cao, chưa phát huy được tinh thần xây dựng Tính hình thức cứng nhắc, rườm rà trong quá trình hoạt đô cng của Quốc

hô ci vẫn còn, công tác giám sát của chdng ta còn châ cm, chất lượng chưa cao Để lọt hoặc phát hiện chậm những sai phạm, gây ra hậu quả gây phận nỗ cho người dân, từ đó làm mất niềm tin, tín nhiệm của người dân đối với bộ máy Nhà nước Vậy nên, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội,

em quyết định lựa chọn đề tài: “Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội” là đề tài cho bài tiểu luận của mình để phân tích

và làm rõ hơn khẳng định được đưa ra ở đề tài này

Trang 4

B NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC

HỘI

1 Khái quát lý luận về hoạt đồng giám sát của đại biểu Quốc hội

1.1 Một số vấn đề về hoạt động giám sát của Quốc hội

- Khái niệm giám sát

Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015 Giám sát là việc Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc,

Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

- Giám sát tối cao của Quốc hội được thể hiện qua một số nội dung sau:

 Về chủ thể thực hiện quyền giám sát: Chủ thể duy nhất thực hiện quyền giám sát tối cao là Quốc hội Quốc hội ở đây được hiểu là toàn thể các ĐBQH tại các kỳ họp Quốc hội

 Về đối tượng giám sát: Đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội là các cơ quan và cá nhân do Quốc hội thành lập, bầu hoặc phê chuẩn, bao gồm: Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Hội đồng Bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập

- Về nội dung giám sát tối cao: Về cơ bản, nội dung giám sát tối cao của Quốc hội bao gồm:

 Giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;

 Giám sát tối cao hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Hội

Trang 5

đồng Bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

 Quốc hội còn tiến hành giám sát tối cao Văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước; giám sát tối cao nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa

án Nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tối cao

Giám sát là một chức năng cơ bản, quyền đặc biệt của Quốc hội, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất Hoạt động giám sát của Quốc hội xuất phát từ yêu cầu đảm bảo cho Hiến pháp, luật, Nghị quyết do Quốc hội ban hành được thực hiện trên thực tế, đánh giá hiệu quả hoạt động của cơ quan hành pháp trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình Quyền giám sát của Quốc hội mang tính quyền lực Nhà nước cao nhất Quốc hội có thể tiến hành giám sát ở mức cao nhất hoạt động quản lý Nhà nước, đối với các đối tượng kể cả đối với những người giữ chức vụ cao nhất trong bộ máy Nhà nước Hoạt động giám sát của Quốc hội mang tính tổng quát, bao trùm, mang tính định hướng nhất định đối với những vấn đề thuộc tầm vĩ mô, những vấn đề mà Nhân dân cả nước quan tâm Khi tiến hành hoạt động giám sát Quốc hội có thể áp dụng những biện pháp mang tính quyền lực Nhà nước cao nhất để xử lý những vấn đề nảy sinh trong giám sát và trách nhiệm pháp lý đối với những người bị giám sát (kể cả việc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hoặc miễn nhiệm, bãi nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm… đối với những người giữ chức vụ cao trong bộ máy Nhà nước Theo đó, thực hiện chức năng giám sát có quan hệ chặt chẽ, có

Trang 6

vai trò đặc biệt đối với chức năng lập pháp và chức năng quyết định những vấn

đề quan trọng của đất nước được trao cho Quốc hội nói chung và từng đại biểu Quốc hội nói riêng

2 Vị trí, vai trò, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát của đại biểu Quốc hội

2.1 Vị trí của đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân

ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước; là người thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội

2.2 Vai trò của đại biểu Quốc hội

- Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm trước cử tri và trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình

- Đại biểu Quốc hội bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội

- Đại biểu Quốc hội chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát văn bản quy phạm pháp luật, giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

3 Hình thức hoạt động giám sát của Quốc hội.

- Đại biểu Quốc hội giám sát thông qua các hoạt động sau đây:

 Chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ,

Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

 Giám sát văn bản quy phạm pháp luật; giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương;

- Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dânĐại biểu Quốc hội

tự mình tiến hành hoạt động giám sát hoặc tham gia hoạt động giám sát

Trang 7

của Đoàn đại biểu Quốc hội; tham gia Đoàn giám sát của Uỷ ban thường

vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội tại địa phương khi

có yêu cầu

3.1 Chất vấn của đại biểu Quốc hội

Chất vấn là hình thức giám sát trực tiếp và quan trọng của Quốc hội, đồng thời là quyền quan trọng của đại biểu Quốc hội được Hiến pháp quy định Chất vấn tuy là quyền cá nhân của đại biểu Quốc hội nhưng khi thực hiện quyền này thì nó được coi là một trong những hoạt động giám sát của Quốc hội

Chất vấn của Đại biểu Quốc hội là yêu cầu của Đại biểu đó với tư cách là người đại diện có thẩm quyền của Nhân dân đối với người bị chất vấn theo quy định của pháp luật, buộc người bị chất vấn phải giải thích trước cơ quan quyền lực Nhà nước về những khuyết điểm, những tồn tại trong hoạt động, công tác của

cơ quan mà cá nhân đó phụ trách, trả lời về trách nhiệm, về nguyên nhân và biện pháp khắc phục

Ở nước ta, Hiến pháp và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân ghi nhận Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn đối với các chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn, ở cả ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp “Chất vấn là việc đại biểu Quốc hội nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước” Cốt lõi của hoạt động chất vấn là việc đại biểu Quốc hội yêu cầu các quan chức cao cấp của Nhà nước trả lời (thường là trước phiên họp toàn thể) về trách nhiệm của mình trong việc thi hành chính sách quốc gia, hay về một vấn đề thời sự nào đó mà xã hội quan tâm Được coi là một hình thức giám sát trực tiếp của Quốc hội, chất vấn là hoạt động bảo đảm chế độ trách nhiệm ở tầm cao nhất, đó là tầm thực hiện chính sách Khi quyền hoạch định và thi hành chính sách được trao vào tay của các quan chức cao cấp, thì điều quan trọng là phải có sự kiểm tra, nhắc nhở và cảnh báo kịp thời Và

Trang 8

chất vấn là cách thức ưu việt nhất mà một thiết chế hoạt động theo chế độ hội nghị như Quốc hội mới có đủ quyền năng thực hiện

3.2 Giám sát của đại biểu Quốc hội

Đại biểu Quốc hội lập chương trình giám sát sáu tháng, hàng năm của mình

và gửi đến Đoàn đại biểu Quốc hội

Đoàn đại biểu Quốc hội căn cứ vào chương trình giám sát của từng đại biểu Quốc hội, chương trình giám sát của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, tình hình thực tế của địa phương, đề nghị của

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và ý kiến, kiến nghị của cử tri tại địa phương lập chương trình giám sát sáu tháng, hàng năm của Đoàn và báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức thực hiện các hoạt động giám sát của Đoàn và tổ chức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện chương trình giám sát của mình

Sáu tháng và hàng năm, Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm báo cáo

Uỷ ban thường vụ Quốc hội về việc thực hiện chương trình giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội và của các đại biểu Quốc hội trong Đoàn

4 Các tiêu chí xác định sự tác động của công tác kiểm tra, giám sát của đâị biểu Quốc hội

Thứ nhất, công tác kiểm tra, giám sát góp phần thực hiện tốt cương lĩnh chính trị, đường lối, quy định của Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan

có thẩm quyền xử lý

Thứ hai, công tác kiểm tra, giám sát không chỉ phát hiện sai phạm để xử lý

mà còn phát hiện sai sót, kẽ hở trong cơ chế, chính sách để đề nghị sửa đổi, bảo đảm cơ chế, chính sách đi vào cuộc sống

Thứ ba, công tác kiểm tra, giám sát góp phần thực hiện tốt các hoạt động của Quốc hội, bảo đảm sự phối hợp trong hệ thống chính trị

Thứ tư, công tác kiểm tra, giám sát góp phần tăng cường ý thức trách nhiệm, nâng cao tính tiên phong gương mẫu của từng đại biểu Quốc hội

Trang 9

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẠI BIỂU

QUỐC HỘI

1 Khái quát thực trạng hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội

- Thực trang hoạt động giám sát theo báo cáo của tỉnh Hậu Giang:

 Trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XIV Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh đã tổ chức được 14 cuộc giám sát Ngoài ra, các vị đại biểu Quốc hội tỉnh còn tham gia các Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội đến giám sát tại địa bàn tỉnh và các tỉnh, thành phố trong cả nước

 Thực hiện Luật tổ chức Quốc hội; Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; Luật tiếp công dân; Nghị quyết số 759/2014/UBTVQH13; Quy chế phối hợp tiếp công dân giữa Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hàng tuần đều có phân công công chức làm nhiệm vụ trực tiếp công dân tại trụ sở Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh và Trụ sở tiếp công dân của tỉnh Trong nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIV, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hậu Giang đã tiếp được

232 lượt công dân, trong đó: Tổ chức tiếp công dân định kỳ được 38 cuộc và tiếp thường xuyên tại trụ sở cơ quan, trụ sở tiếp công dân của tỉnh được 194 lượt Những nội dung khiếu nại, phản ảnh trực tiếp về những vụ việc bức xdc của công dân, về những quy định pháp luật đều được các vị đại biểu Quốc hội, công chức Văn phòng trực tiếp công dân giải thích, hướng dẫn thỏa đáng; đồng thời, ghi nhận những vấn đề phản ánh, kiến nghị của công dân, yêu cầu các cơ quan chức năng xem xét, giải quyết và thông báo kết quả xử lý đến Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh và công dân theo quy định

 Đã nhận trực tiếp và nhận qua đường bưu điện được 459 đơn, trong đó Kết quả xử lý: Đã giải thích, hướng dẫn và tham mưu cho lãnh đạo Đoàn xem xét,

xử lý 100% số đơn (hướng dẫn và chuyển trả 217 đơn; lưu do trùng lắp hoặc hết thời hiệu, đã có kết quả giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền 219

Trang 10

đơn) Trong đó thực hiện quyền giám sát trực tiếp được 08 trường hợp theo đơn khiếu nại và đơn yêu cầu của công dân tại xã Phương Bình, xã Tân Phước Hưng huyện Phụng Hiệp; phường Bình Thạnh, phường Thuận An thị

xã Long Mỹ; thị trấn Ngã Sáu, thị trấn Mái Dầm huyện Châu Thành; thị trấn Nàng Mau huyện Vị Thuỷ

 Trong nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIV đã tổ chức được 149 cuộc tiếp xdc cử tri trong đó: Có 17 cuộc tiếp xdc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực hoặc nhóm đối tượng, có 25.940 lượt cử tri tham dự ghi nhận được 1.337 lượt ý kiến, kiến nghị Trước kỳ họp thứ Chín và thứ Mười Quốc hội Khoá XIV do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh phối hợp cùng Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức tiếp xdc cử tri bằng hình thức phát phiếu lấy ý kiến cử tri tại 75 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh với 7.500 phiếu và ghi nhận 3.545 lượt ý kiến gửi đến Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp trong đó: Có 306 ý kiến, kiến nghị gửi đến các cơ quan Trung ương

 Việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri do Đoàn đại biểu Quốc hội gửi đến kỳ họp Quốc hội đều được các cơ quan Trung ương xem xét, trả lời nghiêm tdc, việc trả lời ý kiến, kiến nghị cử tri của các Bộ, ngành đều đảm bảo yêu cầu về mặt thời gian Công tác phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức tiếp xdc cử tri có ldc chưa chặt chẽ, tiếp xdc cử tri còn mang tính đại trà, chính quyền địa phương mời cử tri tham dự còn mang tính đại diện Trong nhiệm kỳ Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh nhận được 182 văn bản trả lời ý kiến của cử tri tỉnh Hậu Giang trong đó: Có 166 văn bản trả lời của các cơ quan Trung ương và 16 văn bản trả lời của các cơ quan của tỉnh

 Trong nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIV đã tổ chức được 149 cuộc tiếp xdc cử tri trong đó: Có 17 cuộc tiếp xdc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực hoặc nhóm đối tượng, có 25.940 lượt cử tri tham dự ghi nhận được 1.337 lượt ý kiến, kiến nghị Trước kỳ họp thứ Chín và thứ Mười Quốc hội Khoá XIV do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh phối hợp

Ngày đăng: 14/02/2025, 15:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm