1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước Đầu tìm hiểu về lỗi dùng từ viết câu của học sinh tiểu học (qua khảo sát học sinh của trường xuân hiệp hiệp phú long thạnh mỹ quận thủ Đức và quận 9)

111 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bước Đầu Tìm Hiểu Về Lỗi Dùng Từ Viết Câu Của Học Sinh Tiểu Học
Tác giả Nguyễn Thị Tõm, Nguyễn Xuân Khỏnh, Huỳnh Lờ Thanh Thựy
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Võ Thành Sinh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm - Đại Học Quốc Gia T.P Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo Dục Tiểu Học
Thể loại Tiểu Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 1999
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 5,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc sử dụng tiếng mẹ đẻ trong học sinh còn nhiễu sai sót, kết quả bài tập làm văn của các em từ lớp 8, lớp 4, lớp 5 còn nhiễu hạn chế.. Tuy nhiên cũng có những nguyên nhân chủ quan về

Trang 1

4 2109

ĐẠI HỌC QUỐC GIA T.P HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

——v——

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP 0Ï NHÂN TIỂU HỌ0

CUA HOC SINH TIỂU HỌC (Qua khảo sát học sinh của trường XUÂN HIỆP - HIỆP PHÚ -

LONG MỸ Quận Thủ Đức và Quận 9)

Huỳnh Lê Thanh Thùy

Thanh Phé Hé Chi Minh 1999

Trang 2

PHAN I: DAN NHAP

PHAN II: NOI DUNG

V Đối tượng nghiên cứu

VI Đóng góp của tiểu luận

VI Cấu trúc của tiểu luận

1 Miêu tả phân loại lỗi

1 Sai do không hiểu nghĩa của từ

Trang 3

5 Lỗi dùng khẩu ngữ trong viết văn

6 Lỗi do lặp từ hay thừa từ trong câu

1 Lỗi vẻ dùng dấu câu

1 Miêu tả phân loại

2 Thống kê

1LLỗi về cấu trúc câu

1 Miêu tả phân loại

1 1 Cấu tạo câi

CHƯƠNG III: Một số kiến nghị vẻ việc dạy từ câu cho học sinh

Trang 4

i ——mn_

¿ 4/21 227) ÄW sgườt đã cận thui đong

1» gliife dit ching em hein thank bit

ching em aust thit glan bhba hee diin ra

Nha nhing htin thiz thy cb dé trang

be, ching em cb thé tin tutng ring cbug

eo tde chuyin min cia ching em sdf tht 08 cb

LN hing thud Upt nhdt duke

Ching 261 cing git lit chen cv đấu tip

w 16d baw gid hitu va gide wien ede trating

| tila hee Long Thank My, (6v đạc TA

¢ Phat Zudn 9 vd thu hee Tuin 7H42 2,4»

| chee thie ba lim ca bee siuh 9p phd

| ede thamh chug cita tlhe luda

Nhóm Sinh Viên : Nguyễn Thị Tâm

Nguyễn Xuân Khánh

Trang 6

Ngôn ngữ là công cụ nhận thức, là công cụ tư duy phát huy

chức năng này, ngôn ngữ trực tiếp và chủ yếu khai thác công dụng

của từ ngữ Có thể nói từ ngữ là những bản sao hiện thực khách

quan, một kiểu sao chép đặc biệt Nếu ta không vận dụng đúng

cách thì không thể nào nhận thức được đúng mức hiện thực, không

thể nào phán đoán để có những suy lí chính xác, điểu này cho thấy

ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc dạy từ ngữ ở nhà trường

Mặt khác, không nắm vững từ thì không đạt được hiệu quả giao tiếp bằng ngôn ngữ Người khác nói, (viết) mình không hiểu hết hoặc hiểu sai lệch ý người ta Bản thân mình nói (viết) thì lại khó làm cho người ta hiểu được ý mình muốn trình bày

Việc dạy từ Tiếng Việt tạo cho học sinh năng lực ngôn ngữ,

nắm tiếng mẹ đẻ tốt hơn, tạo diéu kiện để các em học tập tiếp theo

7

Trang 7

9 ie ata php et EEO Thee BAe

và phát triển một cách toàn diện Vốn từ càng giàu có, phong phú bao nhiêu thì việc chọn lựa từ càng chính xác bấy nhiêu

Việc dạy từ ngữ Tiếng Việt thông qua tất cả các phân môn

tiểu học

Qua nhiều năm trực tiếp đứng lớp, chúng tôi nhận thấy một

điểu: Hiện nay, môn Tiếng Việt trong trường Tiểu học chưa thu

hút được sự tập trung chú ý của các em Việc sử dụng tiếng mẹ đẻ

trong học sinh còn nhiễu sai sót, kết quả bài tập làm văn của các

em từ lớp 8, lớp 4, lớp 5 còn nhiễu hạn chế Tìm hiểu, chúng tôi thấy có nhiễu nguyên nhân Ngoài những nguyên nhân khách quan

liên quan đến tâm lí lứa tuổi, vốn sống, vốn kinh nghiệm của các

em còn có hạn Tuy nhiên cũng có những nguyên nhân chủ quan về

cả người biên soạn và phân phối chương trình, người dạy và người học đó là các em chưa được dạy kỹ để hiểu vẻ từ, chưa biết cách

dùng từ hay cũng như chưa hiểu tác dụng và vai trò của dấu câu,

các thành phản trong câu, như thời lượng đành cho chương trình

chưa hợp lý, khả năng tiếp thu ở lứa tuổi tiểu học còn mang đậm

nét trực quan

Để góp phẩn khấc phục những vướng mắc, khó khăn mà trong khi dạy và học Tiếng Việt cả thầy và trò nhà trường tiểu

học đang mắc phải, trong bài tập cuối khóa này, nhóm sinh viên

Trang 8

 7121600044 5ãGNGREGG:EHUTRL- Si TH

chúng tôi quyết định chọn nghiên cứu dé tài “Một số lỗi dùng từ và

viết câu của học sinh tiểu học”

I, LICH SU VAN DE

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình của nhiều nhà khoa học nghiên cứu về các linh vực từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm Tiếng Việt , nhiều sách, nhiễu bài báo viết vẻ các phương pháp dạy Tiếng Việt cũng như dạy sửa lỗi từ, lỗi câu, dạy học sinh sử dụng

dấu câu sao cho đúng Có thể kể ra đây một số công trình chúng tôi

4 Lê Phương Nga dạy ngữ pháp ở tiểu học NXB GD - HN

5 Hà Thúc Hoan Tiếng Việt thực hành (Tái bản)

6 Phan Thiểu - Nguyễn Quốc Túy - Nguyễn Thanh Tùng Giảng dạy từ ngữ ở trường phổ thông NXB GD 1983

Với những công trình và nhiều bài báo cáo đã được nghiệm thu cho ra mắt bạn đọc, người dạy cũng như người học đã có cơ sở

Trang 9

giải thích được những mâu thuẫn mà trước đó họ thường gặp phải

như vấn để phân biệt động từ, tính từ, phân biệt nghĩa của từ láy,

từ ghép, từ ghép và cụm từ, các qui tắc viết chính tả v.v

Tuy nhiên, phản sửa lỗi dùng từ, viết câu của học sinh tiểu họchình như chưa mấy công trình để cập đến Chúng tôi, những giáo viên trực tiếp giảng đạy đã phát hiện ra rất nhiều những lỗi trong khi các em thực hành nói và viết Tiếng Việt nhưng để sửa được tất cả những lỗi ấy chúng tôi gặp khá nhiều khó khăn

Kế thừa các thành quả của những người đi trước cộng với

kinh nghiệm của bản thân, chúng tôi làm một cuộc khảo sát “ Lỗi dùng từ viết câu của học sinh tiểu học” qua bài tập làm văn cuối năm của 240 học sinh khối lớp 8, 4, 5 thuộc các trường trong quận

9 và quận Thủ Đức Từ các lỗi thutduge chúng tôi tìm hiểu nguyên

nhân và mạnh đạn đưa ra một vài biện pháp khắc phục với mong muốn là các em sử dụng đúng ngôn ngữ Việt khi nói cũng như khi

viết nhằm góp phần giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Là những người gắn bó tâm huyết với nghẻ nghiệp, chúng tôi luôn luôn trăn trở bởi những câu hỏi: Dạy để làm gì; Dạy như thế nào để học sinh có hứng thú khi học Tiếng Việt, đặc biệt là học

môn tập làm văn Để làm được bài tập làm văn đúng, hay và đúc

tích quả là một việc cực kỳ khó đòi hỏi người làm ra nó phải có kỹ

10

Trang 10

năng về dùng từ, tạo câu, liên kết câu, liên kết đoạn tạo thành văn bản, bên cạnh việc sử dụng đúng, kỹ năng quy tắc chính tả, dấu câu trong văn bản

Một thực tế không thể phủ nhận là hiện nay có không ít giáo viên tiểu học, khi chấm bài làm Tiếng Việt của học sinh mới chỉ chú ý đến việc đánh giá nội dung sự vật được nói đến trong bài viết còn các yếu tố khác như nói để làm gì, nói cho ai nghe, nói

như thế nào cho có trình tự đầu đuôi, mạch lạc hấp dẫn chưa được

để cập đến Từ đó dẫn đến hiện tượng một bài có số điểm cao có

khi mắc nhiêu lỗi về hình thức hơn so với bài được điểm thấp

Để tìm câu trả lời cho câu hỏi tại sao học sinh tiểu học hiện nay còn mắc lỗi dùng từ cũng như viết câu quá nhiều như vậy Chúng tôi làm bài khảo sát này với mong muốn tìm được nguyên nhân và để xuất một vài giải pháp nhằm khắc phục dẫn những lỗi học sinh tiểu học hay mắc trong khi thực hành giao tiếp bằng Tiếng Việt

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, NGUỒN

DẪN LIỆU

Trên cơ sở bài làm cuối năm học 1998 - 1999 của học sinh

ba khối: lớp 3, lớp 4, lớp 5 Chúng tôi chấm 80 bài một khối Tổng công 240 bài Sau khi nhặt ra những lỗi sai của từng bài dựa trên

+1 E

Trang 11

~_ Lỗi cấu trúc câu

~_ Lỗi sử dụng đấu câu

Khi đã có những số liệu cụ thể, chúng tôi tiến hành so sánh

mức độ sai của các lớp có những đặc điểm khác nhau về thời gian

học tập ở trường, về địa bàn dân cư, về trình độ tay nghề của giáo

viên trực tiếp giảng dạy cũng như sự chỉ đạo chuyên môn của người quản kí Khi so sánh từng khối lớp chúng tôi sẽ thấy đước mức độ phạm lỗi khác biệt của các lớp có thay đổi giữa đâu cấp và cuối cấp

Ngoài phần nêu nguyên nhân, kiến nghị Chúng tôi còn chọn

ra một số hình thức bài tập khác với những bài có trong sách giáo khoa và vở bài tập nhằm giúp học sinh được làm quen với nhiều dạng bài rèn luyện ngôn ngữ

Chúng tôi chọn 240 học sinh với 240 bài tập làm văn của cả

ba khối: lớp 3, lớp 4, lớp 5 của ba trường: Hiệp Phú (Khối 3), Long Thạnh Mỹ (Khối 4) thuộc Quận 9 Trường Xuân Hiệp (Khối 5) Quận Thủ Đức

Trang 12

Cả ba trường có những điểm tương đổng về đối tượng học

sinh Ngoài số lượng học sinh là người địa phương, chúng tôi còn

tiếp nhận một số học sinh do sự tăng dân số cơ học từ các nơi

chuyển vẽ Đa số các em dễ thích nghỉ với môi trường sống mới, có những em phát triển được năng khiếu bẩm sinh của mình nhưng

bên cạnh đó cũng có một số ít các em quá tuổi hoặc bỏ học nửa

chừng phải học lại Trong sáu lớp chúng tôi tiến hành khảo sát có hai lớp học hai buổi và bốn lớp học một buổi Với kết quả cuối năm như sau:

3° lớp hai buổi:

Số lượng học sinh xếp loại giỏi: 25 / 40

Giỏi bộ môn Tiếng Việt: 8 / 40

3P lớp một buổi:

Số lượng học sinh xếp loại giỏi: 5 / 40 Giỏi bộ môn Tiếng Việt: 1 / 40

4* lớp hai buổi:

Số lượng học sinh xếp loại giỏi: 4/40

Giỏi bộ môn Tiếng Việt: 2 / 40

4° lớp một buổi:

Số lượng học sinh xếp loại giỏi: 1/40 Giỏi bộ môn Tiếng Việt: 00

13

Trang 13

Nhưng cũng có điểm chưa tương đồng giữa việc sử dụng

đấu câu: Dấu chấm, dấu phẩy của các lớp 3, 4 và 5 Nguyên

nhân vì sao có sự khác biệt đó, chúng tôi sẽ nêu trong phần

thống kê của từng loại lỗi

VI ĐÓNG GÓP CỦA TIỂU LUẬN

Trong phạm vi một bài luận ngắn, thời gian nghiên cứu không dài, bước dau tìm hiểu vẻ lỗi dùng từ viết câu của học sinh tiểu học Nhóm nghiên cứu chúng tôi mong muốn góp thêm một số

ý kiến vào việc xây dựng chương trình cũng như phương pháp giảng dạy từ và câu Tiếng Việt tốt hơn, nhằm đạt hiệu quả cao hơn trong công tác chuyên môn của mình Cũng như làm cơ sở cho

việc trao đối giữa các đồng nghiệp cùng cấp

Trang 14

Trước hết, bài nghiên cứu này sẽ giúp chúng tôi có cái nhìn

khái quát hơn trong việc dạy học sinh thực hành rèn luyện ngôn ngữ thông qua tất cả các phân môn được học trong nhà trường, làm

sao cho các phân môn vừa là đối tượng học tập vừa là phương tiện

để các em rèn luyện ngôn ngữ nói và viết của mình

VI CẤU TRÚC CỦA TIỂU LUẬN

Tiểu luận 89 trang

Chính văn 64 trang

“Thư mục tham khảo,

Ngoài phẩn mở đầu, nội dung chính gồm 3 chương Mỗi chương có nhiệm vụ riêng

Chương I: LỖI DÙNG TỪ

1 Miêu tả phân loại

1 Sai do không hiểu nghĩa cia tir

2 Sai sắc thái biểu cảm

3 Sai do dùng từ đồng âm, gắn âm

4 Sai do dùng từ địa phương,

5 Sai đo dùng khẩu ngữ

6 Sai đo lặp từ thừa từ không cần thiết

Chương II: LỖI VỀ CÂU

1 Lỗi về đấu câu

1 Miêu tả phân loại

5

Trang 15

1.1 Lỗi đấu chấm

1⁄2 Lỗi dấu phẩy

1:3 Lỗi đấu chấm hỏi

1⁄4 Lỗi đấu chấm cảm

2 Thống kê 1L Lãi về cấu trúc ngữ pháp

1, Miêu tả phân loại

1.1 Lỗi về cấu tạo

1.1.1 Câu thiếu chủ ngữ 1.12 Câu thiếu vị ngữ 1.1.8 Câu thiếu chủ ngữ ~ vị ngữ 1.2 Cau sai logich

Trang 16

Smee Ast

PHAN 1: NOI DUNG

Trước khi di vào phân loại lỗi cụ thể chúng tôi điểm qua một

từ chỉ có một tiếng tạo thành (tuần 3 lớp 4)

"Từ còn chia ra các loại: Từ đơn - từ láy - từ ghép ; danh từ

động từ ~ tính từ

2.Khái niệm câu

Câu là một đoạn lời (hoặc là một phần của lời nói) nhỏ nhất, diễn đạt được một ý (tiết 2 lớp 4) Câu là đơn vị nhỏ nhất để tạo lập văn bản

7

Trang 17

- Dựa vào mục đích nói, người ta chia ra làm các kiểu

khác nhau: Câu kể, câu hỏi, câu cẩu khiến, câu cảm Những kiểu

câu này thường gắn với một dấu hiệu hình thức nhất định

«_ Câu kế là câu nhằm mục đích kể lại một số sự việc, hoặc tả lại một cảnh, một vật Cuối câu kể phải ghỉ dấu chấm (.) chữ cái đầu phải viết hoa

« Câu hỏi là kiểu câu dùng để nêu điểu gì đó cẩn

được người nghe trả lời, giải đáp Khi viết cuối câu hỏi phải ghi dấu chấm hỏi (9)

«_ Câu cầu khiến là kiểu câu nêu lên điểu câu khiến, mong muốn hoặc đồi hỏi người nghe phải thực hiện Cuối câu cầu khiến thường ghỉ dấu chấm cảm ())

« _ Câu cảm là câu ding để biểu lộ cảm xúc của người

nói Khi nói, câu cảm có giọng thay đổi phù hợp với cảm xúc Khi viết, cuối câu cảm có dấu chấm cảm (!) Ngoài ra, có bài sử dụng câu hội thoại

- Nội dung các bài vé từ và câu được dạy từ lớp 2 Lên các

lớp trên các em được mở rộng thêm để củng cố các khái niệm, cing

như rèn kỹ năng thực hiện giao tiếp bằng hành động ngôn ngữ

Chương trình Tiếng Việt được cấu trúc theo kiểu déng tâm là như

vậy.

Trang 18

'Trước đây khi nghiên cứu về lỗi viết câu, người ta thường xét

những câu sai một cách cô lập nên chỉ chú ý đến các lỗi trong cấu trúc nội bộ câu Đồng thời người ta cũng chỉ chú ý đến cấu trúc cú

pháp, ít chú ý đến nghĩa khi xem xét câu Cách làm như vậy là chưa thỏa đáng Bởi vì câu chỉ có thể thực hiện chức năng của mình

trong một đơn vị lớnhhơnlvăn bảy cho nên khi bàn về lỗi viết câu,

chúng ta cần đặt câu trong văn bản để xem xét và dựa vào yêu cầu

về câu trong văn bản làm chuẩn để đối chiếu, xác định một câu như

| thế nào bị xem là mắc lỗi Đặt câu trong văn bản để xem xét, có

€ | thể hình dung ra bức tranh toàn cục vẻ lỗi viết câu của học sinh

tiểu học Có thể chia làm hai mảng lớn:

« Lỗi trong câu

«_ Lỗi ngoài câu

* Lỗi trong câu lại được chia ra nhiều loại lỗi nữa

«_ Lỗi về cấu tạo ngữ pháp

«© Lỗi về nghĩa

« Lỗi về đấu câu

* Lỗi ngoài câu cũng vậy

« _ Câu không phù hợp với câu khác trong văn bản

« _ Câu không phù hợp với nhân vật giao tiếp

+ _ Oâu không phù hợp phong cách

Sau đây ta xét một/rường hợp tiêu biểu mà học sinh tiểu

học hay mắc

19

Trang 19

CHƯƠNG I : LỖI DÙNG TỪ CUA HỌC SINH

1 MIÊU TẢ - PHÂN LOẠI

1 Sai do không hiểu nghĩa của từ : 339 / 1510 chiếm

22,1% tổng số lỗi dùng từ

a Nguyên nhân

- Do vốn từ nghèo, các em không hiểu nghĩa của từ cẩn phải dùng để biểu đạt nội dung Vì vậy, các em đã chọn một từ sai

hoặc một từ chưa sát nghĩa với nội dung cân biểu dat

- Do không được rèn luyện để hiểu hình thức ngữ âm và

chữ viết `

b Biện pháp khắc phục

- Trang bị cho các em vốn từ phong phú theo các tiêu chí:

* Lựa chọn và phân bố từ cẩn cung cấp một cách có cơ

sở trong số rất nhiễu từ mới mẻ trong một bài học nói chung

Có dạng bài tập để kiểm tra mức độ hiểu nghĩa từ của các

em đến đâu

Ví dụ: Đặt một câu với từ xấu hổ, ngượng nghịu

(Bai hoe qui - TVS - T1)

Trang 20

Sau đây là một số ví dụ tiêu biểu:

Ví dụ 1: Hằng ngày em thường quét nhà hœ¿ buổi, buổi sáng

và buổi chiều

Nên sửa lại: Hằng ngày, em thường quét nhà hai lần vào

buổi sáng và buổi chiều

Ví dụ 2: Những nét chổi nối tiếp từng nhát một

Nên sửa lại: Những nhát chổi nối tiếp nhau

a

Trang 21

(Kể lại việc quét nhà — TLV lớp 3)

Ví dụ 4: Em có một con gử mái Mỗi sáng, gờ mới gáy ò ó o như đánh thức em đậy

Nên sửa lại: Em có một con gà trống Mỗi sáng, gà trống gáy

ò ó o như đánh thức em dậy

Ví dụ 5: Người chú gà có màu sắc rất láng

Nên sửa lại: Chú khoác trên người bộ lông óng mượt

(Mượn lời cô chủ Tập làm văn lớp 4)

Ví dụ 6: Em bé nặng bao nhiêu ký? Chắc nó máp lắm nhỉ? Nên sửa lại: Em bé nặng bao nhiêu ký? Chắc nó bụ bẫm lắm nhỉ?

Ví dụ 7: Bạn sẽ #ấy được nhiều ấm thư như mình

Nên sửa lại: Bạn sẽ nhận được nhiễu bức thư như mình

Ví dụ 8: Nhớ ngày nào mình lên nhà ông chơi, được đệm

hưởng nhiều quả táo ngon ngọt.

Trang 22

Nên sửa lại: Nhớ ngày nào mình lên nhà ông chơi, chúng

mình được thưởng thức những quả táo ngon ngọt

(Viết thu cho ban TLV 5)

2.Lỗi dùng từ sai sắc thái biểu cảm: 88 / 1510 chiếm

5,8% số lỗi

a Nguyên nhân

- Lỗi này các em hay sai bởi lẽ chưa nấm vững những biện

pháp tu từ Vẻ mặt hình thức, loại câu này thường không sai cấu

trúc ngữ pháp nhưng dùng từ sai sắc thái làm cho người đọc, người

nghe hiểu sai vé tình cảm của người nói, người viết với đối tượng

mà người nói, người viết đang hướng tới

- Học sinh tiểu học tư duy còn rất đơn giản vốn từ còn

nghèo không hiểu hết ý nghĩa của từ trong cùng một lớp, chưa có cách lựa chọn từ cụ thể để biểu thị một sấc thái tình cảm với mỗi đối tượng cụ thể

Ví dụ: Ăn (từ trung tính)

Xơi, mời, dùng (nghĩa dương tính)

Xực, đớp, táp (nghĩa âm tính)

Trang 23

b Biện pháp khắc phục

- Cho học sinh tiếp xúc với nhiễu lớp từ cùng nghia gần

nghĩa đặt câu để phân biệt sắc thái khác nhau của từ

- Làm nhiều dạng bài tập thay thế từ phối hợp với vị thế nhân vật giao tiếp

Ví dụ: Anh chiến sĩ bắn chế? một tên biệt kích rồi anh hy

sinh một cách vẻ vang

Khảo sát một số ví dụ sau

Ví dụ 1: Bố mẹ khen em rất ngoan và cho em một cây chổi

vừa tâm với em thôi

Nên sửa lại: Bố mẹ khen em rất ngoan và tặng em một cây

Trang 24

Ví dụ 8: Mặt của bé tròn như cái bá¿, thật đáng yêu!

Nên sửa lại: Mặt của bé tròn trịa trông thật đáng yêu

(Viết thư cho bạn TLV 5)

Ví dụ 4: Em yêu con chó của em lấm hàng ngày chú ta thường quấn quýt bên em

Nên sửa lại: Em yêu cún con lắm Hàng ngày, cún thường

quấn quýt bên em

Ví dụ 5: Con gà trống liển sự bộ lông óng ánh xuống

Nên sửa lại: Con gà trống liễn rũ bộ lông óng ánh xuống

Ví dụ 6: Nhìn thấy con vịt, em chạy ra bảo bà: Bà đổi cho cháu con vịt di, cháu đưa cho bà con gà mái

Nên sửa lại: Nhìn thấy con vịt, em thích quá liên chạy lại

thưa với bà: Bà ơi, Bà đổi cho cháu con vịt này, cháu sẽ đưa lại con

gà mái cho bà!

Ví dụ 7: Lắn này ta lấy vịt đổi chó mày đó

Nên sửa lại: Lần này ta lấy vịt đổi chú mày đấy

‘Vi du 8: Mỗi bữa em cho chó ăn cơm, nó thích lắm xực lia lịa

Nên sửa lại: Mỗi bữa em cho chó ăn cơm, nó thích lắm táp lia lịa

Trang 25

b Biện pháp khắc phục

Cách duy nhất là khi cung cấp vốn từ cho học sinh phải cho các em nắm lấy một cách chính xác hình thức ngữ âm và chữ viết của từ Tiếp nhận từ ngữ bằng con đường thính giác, các em dễ nhằm lẫn, để ghỉ nhận vào ý thức của mình những đơn vị mang một diện mạo ngữ âm bị bóp méo sai lệch

Trang 26

Ví dụ 3: Em đưa từng nhác chổi liên đáp nhau

Nên sửa lại: Em đưa từng nhát chối liên tiếp nhau

Ví dụ 4: Xong oiệt nhà, em rất vui vì đã biết giúp ba mẹ đỡ

vất vả

Nên sửa lại: Xong việc nhà, em rất vui vì đã biết giúp ba mẹ

đỡ vất vả

Ví dụ 5: Em gôm rác lại rồi dùng kỉ hốt đi

Nên sửa lại: Em gom rác lại rồi dùng ki hốt di

Ví du 6: Em lấy cây chối trò mau mau ra vườn quét những chiết lá rụng

Nên sửa lại: Em lấy cây chổi chà mau mau ra vườn quét

những chiếc lá rụng

Ví dụ 7: Nhìn căn nhà sạch sẽ, gọn gền, em cảm thấy vui

Trang 27

Nên sửa lại: Nhìn căn nhà sạch sẽ, gọn gàng, em cảm thấy

Vui vui

(Kể công việc nhà TLV 8)

‘Vi du 8: Em gidt vit cing ra sông tấm Vịt cing em ra sa

Nên sửa lại: Em dắt vịt cùng ra sông tắm Vịt cùng em ra xa

Ví dụ 9: Cái màu ga sụ xuống

Cún cụp đưi lủi vào gm giường

“Tối đó, cún cạỳ cửa bỏ đi

Gà trống mổ những hạt khóc trên tay cô

Nên sửa lại: Cái mào gà sụ xuống

Cain cụp đuôi lủi vào gầm giường

"Tối đó, cún cạy cửa bỏ đi

Gà trống mổ những hạt thóc trên tay cô

Trang 28

4 Lỗi dùng từ địa phương: 50 / 110 chiếm 8,3% số lỗi

Miễn Nam: Không phân biệt V /D

Không có âm cuối t ( at thành ae)

Không có âm cuối n (an thành ang) Không phân biệt: ich / it

Không phân biệt: inh / in Không phân biệt: ? / ~

Di vé <-> di dé

'Vô nhà <-> đô nhà

Rac <-> gác

Trang 29

Cá rô <-> cá gô

Này <-> nây Lugm <-> lum Khi làm bài, học sinh sử dụng vốn từ có sẵn của mình để thể hiện suy nghĩ, tình cảm vào bài làm mà chưa biết lựa chọn đúng từ phổ thông để thay thế Lỗi này tuy không nhiễu nhưng cũng nói lên (một) khả năng sử dụng Tiếng Việt của các em còn hạn chế

b Biện pháp khắc phục

- Nên tăng cường các tiết rèn luyện từ ngữ, sửa lỗi từ qua các bài tập làm văn viết, đạy từ qua bài tập đọc, bài luyện tập

chính tả Cho các em đọc thêm sách báo bổ ích để có sự so sánh cái

hay, cái đẹp của một số từ Cần cho các em biết: Từ địa phương có

thể được sử dụng trong những văn bản nghệ thuật nhưng để viết

đúng cân có một trình độ viết văn nhất định

Ví dụ;

Mẹ ơi súng đẹp quá chừng

Con đi đánh giặc mẹ đừng lo chỉ

Mẹ cười thiệt giống cha mỉ Chẳng ăn chỉ cả cứ đi đánh hoài

(Tế Hữu)

Trang 30

Nên sửa lại: Gà trống vỗ cánh gáy ò ó o vang cả xóm

5 Lỗi dùng khẩu ngữ: 135 / 1510 chiếm 8,9%

a Nguyên nhân Khả năng dùng từ học sinh có hạn, các em thường nhầm tưởng văn nói cũng chính là văn viết nên nghĩ được gì, các em viết,

ra cái ấy không có sự chọn lọc

b Biện pháp khắc phục

- Trong khi dạy từ dạy câu giáo viên cần chú ý phân biệt, tìm sự khác nhau của văn nói, văn viết

- Ở văn nói, người nói có thể dùng các yếu tố phụ như các

từ chêm, xen, đưa đẩy, điệu bộ, cử chỉ Làm cho các câu chuyện trở

nên phong phú, hấp dẫn, nhưng trong văn viết thì không được Khi viết văn phải biết sử dụng từ trong sáng, các từ liên kết sao cho

câu văn thể hiện nghiêm túc ngữ pháp cũng như nội dung cẩn biểu đạt.

Trang 31

Vị dụ: Ngày nào em cũng quét nhà để mẹ khen em hoài

Sáng nào nó cũng kêư em dậy

Em dùng chổi bông cỏ để quét dưới đích bàn ghế, tủ

Hót rác xong, em dục tất cả vào thùng rác

Em ding nai dé dé lau bàn

Con gái mẹ hôm nay ngoan øậy cà

Em biểu bác đổi cho em con chó, em đưa bác con vịt

Ông Tư bất được, trói hai đứa vào gốc cây điều chỗ có tổ kiến

Một lát sau, mình đứa nào đứa nấy sưng chù dù lên

Lân sau có mua gì thì iợš đây mua nhé!

Nên sửa lại: Ngày nào em cũng quét nhà để mẹ khen em Sáng nào nó cũng gọi em dậy

Em dùng chổi bông cỏ để quét dưới gảm bàn ghế, tủ

Hốt rác xong, em đổ chúng vào thùng rác

Em ding gié để lau bàn

32

Trang 32

Con gái mẹ hôm nay ngoan quát

Em xin bác đổi cho em con chó, em đưa bác con vit

Ông Tư bất được, trói hai đứa vào gốc cây điều, chỗ có tổ kiến vàng Một lát sau, mình đứa nào đứa nấy sưng vù lên

6 Lỗi lặp từ - thừa từ : 527 / 1510 chiếm 34,9 %

a Nguyên nhân

Đây là số lỗi có tần số cao nhất trong các lỗi dùng từ của học sinh tiểu học

Vì dùng nhiều từ thừa, nhiêu từ được nhắc đi nhắc lại nhiễu

lân không cẩn thiết làm cho câu văn của các em trở nên lủng củng, rườm rà

b Biện pháp khắc phục

Để sửa lỗi này, khi dạy các phân môn Tiếng Việt nhất là

đạy phân môn tập đọc, tập làm văn nói Cẩn đi từ đơn vị câu đến việc khai thác nội dung Cách làm từ trước đến nay của một số giáo viên tiểu học chủ yếu khai thác nội dung bài học mà quên mất yếu

tố nghệ thuật của câu, của đoạn Từ đó dẫn đến khả năng cảm thụ văn học của các em còn rất hạn chế, việc sử dụng từ cũng hạn chế.

Trang 33

#

Ví dụ sửa một câu trả lời chưa gãy gọn của bạn, nêu một nhận xét

vẻ một sự việc gì đó cho mạch lạc

- Thường xuyên xen kẽ việc sửa lỗi câu trong các tiết học

~ Đặt một lời giải toán sao cho hay và chính xác

Khảo sát một số ví dụ sau

Ví dụ 1: Khi thấy nhà sạch sẽ, mát mẻ em lại thấy lòng sung sướng và ba mẹ em cũng vui mỗi khi thấy nhà sạch mẹ lại khen em biết giúp đỡ gia đình

Nên sửa lại: Khi thấy nhà sạch sẽ, mát mẻ em thấy lòng

mình vui sướng, ba mẹ cũng vui lây Mẹ khen em biết giúp đỡ gia

đình

Ví dụ 3: Em dùng chổi lông gà em quét bụi bặm trên mặt

ban vd mat ti vd mặt ghế Xong rồi em dùng chổi bông cỏ để quét nhà rổi em bỏ rác vào rồi em cất chổi vào chổ cũ

Nên sửa lại: Em dùng chổi lông gà quét bụi bặm bám trên mặt bàn, mặt tủ, mặt ghế Sau đó, em dùng chổi bông cỏ để quét nhà Em moi hết rác ở dưới gầm tủ, gầm bàn dổn lại, hốt đổ vào

thùng rác Xong xuôi, em cất chổi vào chổ cũ và rửa tay sạch sẽ

Ví dụ 3: Xong rồi em đi đổ rác, em đổ rác ở bãi đổ rée.

Trang 34

Nên sửa lại: Xong rồi, em mang rác ra bãi qui định gần đó

để đổ

Ví dụ 4: Trong những câu chuyện cổ tích mà em đã học ở

lớp 3 em nghe thay gido kể rất nhiều câu chuyện cổ tích trong đó

em thích nhất là câu chuyện cô chủ không biết quí tình bạn sau

đây em xin kể lại câu chuyện cổ tích đó

Nên sửa lại: Trong năm học lớp 3, em đã nghe thầy kể rất nhiều câu chuyện Trong số đó, em thích nhất là câu chuyện "cô chủ không biết quí tình bạn” Sau đây em sẽ kể lại cậu chuyện lý

thú ấy

Ví dụ õ: Mỗi sáng ga trống gọi cô chủ lại gắn chứ gà trống

và mổ những hạt thóc trên tay cô

Nên sửa lại: Mỗi sáng, cô chủ gọi gà trống lại gần Nó thích

thú mổ những hạt thóc trên tay cô

Ví dụ 6: Mình rất mừng và rất vui và mình rất muốn viết,

thư gửi lên bạn để chúc mừng bạn thi đậu vào đại học

Nên sửa lại: Mình rất vui mừng khi biết bạn đạt kết quả cao trong kỳ thi vừa qua Hôm nay, mình viết thư chia vui cùng bạn đây

Trên đây là một số lỗi tiêu biểu trong việc dùng từ, viết câu của học sinh các lớp mà chúng tôi đã khảo sát Ngoài ra còn nhiều

35

Trang 36

ad | 40 | 26 | 76 | 80 | H0 | 25 19 | 386 Khối 3| 80 37| IIỊ 1265| 212 46| 28| 869

Khối 6| 80 a1 88| 98| 198| 71 0| 406

16 |2l9 |229 |300 |174

Trang 37

Nhận xét chung

- Mặc dù để bài của ba khối lớp có khác nhau, số lượng tiếng từ trong mỗi bài làm cũng không đồng nhất nhưng qua bảng

thống kê tổng hợp ta cũng rút ra được một số nhận xét

* Trong mỗi khối lớp

+ Tỉ số mắc lỗ cùng loại giữa lớp học hai buổi ngày so với học một buổi ngày là tỉ lệ nghịch

+ Tân số lỗi sai tập trung chủ yếu vào hei lỗi sai về

nghĩa từ, dùng từ gắn âm, đông âm và đặc biệt là sai do lặp lại từ

ngữ trong câu Mặt bằng lỗi chung: Các lỗi đều có sự giảm dẫn

đáng kể từ khối 8 đến khối 5

+ 559 (khối 3) + 545 (khối 4) + 234 (khối 5)

Có thể nêu lên một số nguyên nhân

- Thời gian rèn luyện ngôn ngữ của lớp hai buổi nhiễu hơn lớp một buổi Sự đầu tu vé trình độ tay nghề giáo viên cho các lớp hai buổi cũng có tác động tích cực đến việc rèn luyện kỹ năng sử dụng từ trong học sinh tiểu học Bên cạnh đó có sự quan tâm của phụ huynh đến việc học tập nói chung của con em họ

- Càng lên cao, năng lực tư duy cũng như kinh nghiệm sử dụng từ của các em có tăng rõ rệt.

Trang 38

(iE eno,

Biểu đồ: LOI DUNG TU KHOI 3

LOL DUNG TH KHOI 3

Trang 39

#4 Tiểu Luận fố ngíệp cả nhân ñiếu ñọc — GYMD Thec St Ya Thi An

Biểu đỏ: LỖI DÙNG TỪ KHỐI 4

LỚI DƯNG TƯ KHỔI4

Đây là bài văn mang tính tự sự, kể vé mình, bài văn đã có

trong chương trình nên khi chép lại các em cố nhớ viết lại nhiều

chỉ tiết đã diễn ra cho thật đúng bài mẫu nhưng vì không nhớ được

chính xác từng từ, ưaaag)câu trong bài, em đành phải chọn những

từ khác thay thế, do vậy lỗi từ gắn âm, đổng âm sai nghĩa khá cao,

lỗi lặp đi lặp lại từ theo kiểu nói còn nhiều.

Trang 40

# Tid Lndn 18t nghitp cit mban tiéu hoc GVHD Thee St Ya Thi An

Vẽ sơ đồ: LỖI DÙNG TỪ KHỐI 5

đã vội thể hiện ra bằng ngôn từ, ít có chất lọc, lựa chọn Vì vậy

ngoài những lỗi chung như các lớp dưới, bài này các em mắc lỗi dùng khẩu ngữ khá nhiều

at

Ngày đăng: 12/02/2025, 15:35

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w