Biện chứng các triệu chứng tạng phủ Y học cổ truyền trong chẩn đoán bệnh Phân tích chi tiết các triệu chứng của từng tạng và mối liên quan
Trang 2Mục Lục
TÂM
HỌC THUYẾT TẠNG TÂM 2
TÂM THẬN BẤT GIAO 4
TÂM THẬN DƯƠNG HƯ 5
TÂM CAN HUYẾT HƯ 6
TÂM TỲ LƯỠNG HƯ 7
TÂM HỎA CANG THỊNH 8
TÂM HUYẾT Ứ TRỆ 9
TÂM KHÍ HƯ VÀ TÂM DƯƠNG HƯ 11
TÂM ÂM HƯ 12
TÂM HUYẾT HƯ 14
TÂM DƯƠNG HƯ THOÁT 15
CAN
HỌC THUYẾT TẠNG CAN 16
CAN THẬN ÂM HƯ 18
CAN VỊ BẤT HÒA 19
CAN TỲ BẤT ĐIỀU 20
CAN HỎA PHẠM PHẾ 21
CAN ĐỞM THẤP NHIỆT 22
CAN KHÍ HƯ VÀ CAN DƯƠNG HƯ 23
CHỨNG HÀN TRỆ CAN MẠCH 24
CAN PHONG NỘI ĐỘNG 25
CAN HUYẾT HƯ 28
CAN ÂM HƯ 30
CAN DƯƠNG THƯỢNG CANG 31
CAN HỎA THƯỢNG VIÊM 32
CAN KHÍ UẤT KẾT VÀ CAN KHÍ HOÀNH NGHỊCH 33
TỲ
HỌC THUYẾT TẠNG TỲ 35
TỲ THẬN DƯƠNG HƯ 37
TỲ ÂM HƯ 39
TỲ DƯƠNG HƯ 39
TỲ PHẾ KHÍ HƯ 40
CHỨNG TỲ KHÔNG THỐNG HUYẾT 41
CHỨNG TỲ KHÍ HẠ HÃM 43
CHỨNG TỲ KHÍ HƯ 44
VỊ
VỊ ÂM HƯ .45
VỊ HÀN 46
TỲ VỊ THẤP NHIỆT 47
HUYẾT Ứ VỊ QUẢN 49
THỰC TRỆ VỊ QUẢN 50
PHẾ
HỌC THUYẾT TẠNG PHẾ 51
PHẾ THẬN ÂM HƯ 53
TÁO TÀ PHẠM PHẾ 54
NHIỆT TÀ ÚNG PHẾ 55
PHONG NHIỆT PHẠM PHẾ 56
HÀN TÀ XÂM VÀO PHẾ 57
Trang 3PHONG HÀN THÚC PHẾ 58
PHẾ ÂM HƯ 60
PHẾ KHÍ HƯ 61
ĐÀM
CHỨNG ĐÀM MÊ TÂM KHIẾU 62
CHỨNG HỎA NHIỄU TÂM 63
CHỨNG ĐỞM UẤT ĐÀM NHIỄU 65
THẬN
HỌC THUYẾT TẠNG THẬN 66
CHỨNG THẬN KHÔNG NẠP KHÍ 69
THẬN HƯ THỦY THŨNG 70
THẬN KHÍ BẤT CỐ 71
THẬN TINH KHÔNG ĐỦ 73
THẬN ÂM HƯ 74
THẬN DƯƠNG HƯ 76
BÀNG QUANG THẤP NHIỆT 78
ĐẠI TRƯỜNG
CHỨNG ĐẠI TRƯỜNG THIẾU DỊCH 79
ĐẠI TRƯỜNG HƯ HÀN 80
ĐẠI TRƯỜNG THẤP NHIỆT 81
BÁT CƯƠNG
BÁT CƯƠNG: ÂM – DƯƠNG .83
BÁT CƯƠNG: HƯ – THỰC 85
BÁT CƯƠNG: HÀN – NHIỆT 86
BÁT CƯƠNG: BIỂU – LÝ 88
HUYẾT & KHÍ
CÁC HỘI CHỨNG BỆNH VỀ HUYẾT 90
CÁC HỘI CHỨNG BỆNH VỀ KHÍ 92
Trang 4TÂM HỌC THUYẾT TẠNG TÂM
Tâm thận bất giao
Tâm thận dương hư
Tâm can huyết hư
Tầm tỳ lưỡng hư
Tâm hỏa cang thịnh
Tâm huyết ứ trệ
Tâm khí hư và tâm dương hư
Tâm âm hư
Tâm huyết hư
Tâm dương hư thoát
CAN HỌC THUYẾT TẠNG CAN
Can thận âm hư
Can phong nội động
Can huyết hư
Can âm hư
Can dương thượng cang
Can hỏa thượng viêm
Can khí uất kết và can khí hoành nghịch
TỲ HỌC THUYẾT TẠNG TỲ
Chứng đàm mê tâm khiếu
Chứng hỏa nhiễu tâm
Chứng đởm uất đàm nhiễu
THẬN HỌC THUYẾT TẠNG THẬN
Thận không nạp khí
Thận hư thủy thũng
BÀNG QUANG
Bàng quang thấp nhiệt
Chứng đại trường thiếu dịch
Đại trường hư hàn
Trang 5TÂM
HỌC THUYẾT TẠNG TÂM
1 Chức năng của tâm:
Tâm ở trong ngực, chủ về huyết mạch, tàng giữ thần minh, coi về tướng hoả, chí là mừng, khai khiếu ra lưỡi, sự tươi tốt ở mặt, thể dịch là mồ hôi Đường mạch bắt đầu ở giữa tâm, đi xuống liên lạc với tiểu trường, đi ra dưới nách, theo phía trong cánh tay vào lòng bày tay Thời đại Nội kinh cho rằng, tâm đã chủ huyết mạch, lại chủ thần minh là đã đem công của
tâm và đại não hợp lại là một Đời nhà Minh, Lý Diên có nói: “Có cái tâm của huyết thịt, hình như có cái hoa sen chưa nở ở dưới phế, trên can Có cái tâm của thần minh, thần là cái gốc của khí huyết hoá sinh ra, chủ tể vạn sự, vạn vật, hư linh không tối là như vậy” Đem tâm
chia làm 2 bộ phận là tâm huyết nhục và tâm thần minh
1.1 Tâm chủ huyết mạch:
Tâm khí thúc đẩy huyết dịch đi trong mạch để nuôi dưỡng toàn thân Nếu tâm khí đầy đủ huyết dịch vận hành không ngừng thì cơ thể sẽ được nuôi dưỡng tốt, sắc mặt hồng hào Trái lại, tâm khí không đủ thì ít khí, choáng váng, hồi hộp, mạch tế nhược, kết đại Tâm huyết hư thì sắc mặt không tươi, nhịp mạch rối loạn Tâm huyết vận hành bị trở tắc thì ngực đau, cánh tay đau nhức tê dại Mồ hôi là dịch của tâm, nên tâm bệnh thì nhiều mồ hôi
1.2 Tâm tàng thần:
Tâm là nơi cư trú của thần cho nên nói “tâm tàng thần” Tâm khí và tâm huyết đầy đủ thì
tinh thần sáng suốt, tỉnh táo Tâm huyết hư thì thần không yên sinh các chứng đánh trống ngực, hồi hộp, mất ngủ, chóng quên Tà nhiệt xâm nhiễm làm cho thần không giữ nguyên chỗ thì hôn mê nói sảng
1.3 Tâm coi về tướng hoả:
Trong ngũ hành tâm thuộc hoả Tâm hoả thịnh thì tâm phiền, mất ngủ, miệng lưỡi đỏ, hoặc loét nát, sưng đau, nặng thì phát cuồng Tâm hoả suy hoặc khi bị hàn, dương khí uất kết lại ở trong, xuất hiện các chứng đau tim, mặt xanh, khí lạnh, tay chân lạnh đến khớp
2 Quan hệ giữa tâm với các tổ chức khí quan khác
Thận khí bất cố
Thận tinh không đủ
Thận âm hư
Thận dương hư
Đại trường thấp nhiệt
Bát cương: âm – dương
Trang 62.1 Tâm khai khiếu ở lưỡi :
Biệt lạc của kinh tâm thông ra lưỡi, khí huyết của tâm đi ra lưỡi để duy trì sự hoạt động của chất lưỡi Trên lâm sàng xem chất lưỡi để chẩn đoán bệnh ở tâm như: Chất lưỡi đỏ là tâm nhiệt Chất lưỡi nhợt là tâm huyết hư Chất lưỡi xanh có điểm ứ huyết là huyết ứ trệ
2.2 Tâm biểu hiện sự hoạt động lên mặt:
Tâm hoạt động tốt thì sắc mặt tươi nhuận có thần, tâm bệnh thì mặt nhợt không nhuận, mất thần
3 Tâm liên hệ với các tạng phủ khác:
3.1 Biểu lý với tiểu trường:
Tiểu trường có nhiệm vụ phân thanh giáng trọc Thanh là chất tinh vi của đồ ăn được hấp thu
ở tiểu trường thông qua sự vận hoá của tỳ Trọc là chất cặn bã của đồ ăn được đưa xuống đại trường và bàng quang để thải ra ngoài Khi tiểu trường bị bệnh thì việc phân thanh gián trọc
bị trở ngại gây chứng: sống phân, ỉa chảy, tiểu tiện ít Tâm di nhiệt vào tiểu trường thì không
đi tiểu tiện, tiểu tiện nhỏ từng giọt, hoặc rít, hoặc đau, đầu lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác
3.2 Với phế cùng ở thượng tiêu:
Quan hệ giữa tâm với phế cũng như quân với tướng Tức là sau khi tâm bệnh có thể ảnh hưởng đến phế, xuất hiện các chứng : khí đoản, xuyễn thở, ngực tức
3.3 Với tâm bào lạc:
Là tổ chức bên ngoài bảo vệ tâm không cho tà khí xâm nhập vào tâm Trên lâm sàng bệnh
của tâm và của tâm bào lạc có những biểu hiện tương đồng
3.4 Tương sinh với can tỳ:
– Mộc vượng sinh hoả: can khí quá vượng làm cho tâm hoả cang thịnh
– Mộc không sinh hoả: Trước bệnh can huyết hư, sau bệnh tâm huyết hư
– Hoả không sinh thổ: Tâm dương không đủ, sau đó tỳ mất kiện vận
là thủy không giúp hoả
4 Các triệu chứng bệnh của tâm và tiểu trường:
4.1 Triệu chứng bệnh của tâm:
Thực: bồn chồn, nói sảng, cười nhiều, phát cuồng, không ngủ
Trang 7Hư: tim đập hồi hộp, mất ngủ, hay quên
Nhiệt: tâm phiền, nói sảng, lưỡi nứt, đỏ
Hàn: đau tim đột ngột, chân tay lạnh, mạch trầm trì
4.2 Chứng trạng bệnh của tiểu trường:
Thực: đau bụng xuyên xuống tinh hoàn
Hư: đái nhiều lần, đái són, đau bụng dưới, thích xoa
Nhiệt: đái máu, đái đỏ, đau buốt khi đái
Hàn: đái trong dài, ỉa chảy
TÂM THẬN BẤT GIAO
1 Nguyên nhân:
Chứng tâm thận bất giao là triệu chứng vì quan hệ giữa tâm hoả với thận thủy không nhịp nhàng mà biểu hiện ra Trường hợp vì ngũ chí hoá hoả, tư lự quá độ, bệnh lâu hại âm, dâm dục không điều độ, đều có thể gây ra chứng này
Bệnh lâu hao tổn tinh huyết hoặc khó nhọc, dâm dục quá mức, thì có thể tổn hại đến thận âm, thận âm không đủ làm cho tâm dương bốc lên Ngũ chí quá cực hoặc ngoại cảm nhiệt tà vào
lý hoá nhiệt, tâm hoả bốc mạnh xuống đến thận thủy làm hại chân âm, cũng có thể làm cho tâm thận không giao, thủy hoả mất sự giúp nhau Thận thủy không đủ không lên chế được tâm hoả làm cho tâm thần không yên, thần mất nuôi dưỡng cho nên tâm quý, tâm hiền mất ngủ nhiều chiêm bao
Thận âm suy hư không nuôi dưỡng được xương tuỷ thì eo lưng, đầu gối đau mỏi Thanh khiếu không được nuôi dưỡng thì choáng váng xây xẩm Bể tuỷ trống rỗng cho nên hay quên
Âm hư ở trong âm không liễm được dương, dương hư phù ra ngoài thì gò má đỏ Âm hư sinh nội nhiệt cho nên nóng hầm trong xương Hư hoả bức tân dịch tiết ra ngoài, thì sinh mồ hôi
Trang 8trộm Tân dịch bị tổn thương cho nên miệng khô Hư hoả nhiễu động tinh thất cho nên di tinh Lưỡi đỏ, mạch tế sác là chứng thuộc âm thiếu hoả vượng
Điểm chính để chẩn đoán là: Mất ngủ và tâm hoả bốc lên, cùng xuất hiện với chứng thận âm
hư
4 Luận trị:
– Phép trị: Giao thông tâm thận
– Phương dược:
* Giao thái hoàn (Nghiệm phương)
Hoàng liên 30g Quế tâm 3g Tán bột làm hoàn, uống 2-3g
Phân tích: Hoàng liên để thanh tâm hoả Quế tâm để dẫn hoả quy nguyên, giao thông tâm
thận
* Thiên vương bổ tâm đơn (Nhiếp sinh bí phẫu)
Sinh địa, Nhân sâm, Đan sâm, Huyền sâm, Bạch linh, Ngũ vị tử, Viễn chí, Cát cánh, Đương quy, Thiên môn, Mạch môn, Bá tử nhân, Toan táo nhân Làm hoàn mật áo bằng Chu sa
* Hoàng liên a giao thang:
Hoàng liên 6g Hoàng cầm 6g A giao 6g Bạch thược 9g Kê tử hoàng 2 quả
Phân tích: Hoàng liên, Hoàng cầm để thanh tâm hoả A giao, Kê tử hoàng để tư âm huyết
Bạch thược để liễm âm
TÂM THẬN DƯƠNG HƯ
3 Cơ chế bệnh sinh:
Trang 9Tâm ở trên cách mạc là hoả tạng Dương khí ở thận là căn bản của con người Dương khí của tâm thận hỗ trợ hợp tác nhau, thì có thể sưởi ấm cho tạng phủ, tay chân, gân cốt, vận hành huyết mạch Khi tâm thận dương hư thì thường thấy âm hàn thịnh ở trong, và những bệnh về huyết ứ, nước đọng Tâm thận dương hư không cổ động được, hàn tuỷ ở hạ tiêu không hoá được làm cho thủy tà tràn lên, thủy khí lăng tâm thì tâm quý, chính xung Hàn thủy bắn vào phế thì làm cho thở xuyễn gấp Dương suy không ôn dưỡng được cơ thể, cho nên người lạnh, chân tay lạnh Tâm thận dương hư, khí huyết không nuôi dưỡng lên đầu mặt được cho nên đầu mặt choáng váng, sắc mặt tối xạm, lưỡi bệu sắc lưỡi nhợt Khí hư không vận được huyết mạch thì môi móng xanh tím Dương khí hư nhược, khí hoá thất thường, thủy dịch đọng lại cho nên tiểu tiện không lợi, thủy thấp tràn ra ngoài da, thì toàn thân phù thũng Dương hư thiếu sức vận huyết cho nên mạch trầm vi
Điểm chính để chẩn đoán là: Tâm quý, thủy thũng cùng với chứng dương hư
4 Luận trị:
– Phép trị: Ôn bổ thận dương, an tâm thần
TÂM CAN HUYẾT HƯ
1 Nguyên nhân:
Chứng tâm can huyết hư là những triệu chứng vì 2 tạng tâm và can huyết dịch không đầy đủ
mà biểu hiện ra Những nhân tố gây ra xuất huyết là có nhiều Hoặc lo nghĩ quá độ làm cho khí huyết hao tổn, có thể sinh ra chứng này
2 Chứng trạng:
Tâm quý, hay quên, huyễn vựng, mất ngủ, nhiều chiêm bao, 2 mắt khô sáp, trông lờ mờ không rõ, chân tay, mình mẩy tê mỏi, gân mạch co quắp, sắc mặt trắng nhợt, móng không mượt, tính nóng dễ giận, nữ giới thì kinh bế, kinh ít Lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch tế
3 Cơ chế bệnh sinh:
Tâm chủ huyết, can tàng huyết Tâm huyết không đầy đủ, tâm thần mất nuôi dưỡng, cho nên tâm quý, hay quên, mất ngủ, nhiều chiêm bao Âm huyết suy thiếu, can không có để tàng, gân mạch mất nuôi dưỡng cho nên chân tay mình mẩy tê mỏi, gân mạch co kéo Móng là phần thừa của gân, can huyết hư thì móng không tươi sáng Não không được huyết đầy đủ thì đầu choáng váng Mắt không được huyết dồn đến thì mắt khô ráp, trông không rõ ràng Lưỡi không được huyết lên tươi tốt thì lưỡi nhợt Mặt không được huyết vinh dưỡng thì mặt trắng bạch không tươi Can huyết không đủ, can mất tính điều đạt nhu hoà cho nên tính nóng vội dễ giận Mạch xung nhâm mất đầy đủ thì con gái kinh bế hoặc kinh ít Huyết hư không đầy đủ được cho nên mạch tế
Trang 10Điểm chính để chẩn đoán là: Tâm kiện vong, chân tay tê, tính nóng vội, cộng thêm với chứng
huyết hư
4 Luận trị:
– Phép trị: Bổ huyết dưỡng can an thần
– Phương dược: Có thể dùng các bài sau:
* Nhân sâm dưỡng vinh thang
* Quy tỳ thang : Sâm Kỳ Quy Truật Thảo, Viễn Táo Mộc Phục Long
TÂM TỲ LƯỠNG HƯ
1 Nguyên nhân:
Chứng tâm tỳ lưỡng hư là những triệu chứng vì tâm huyết bất túc, tỳ khí suy hư mà biểu hiện
ra Người lo nghĩ quá độ, ăn uống không chừng độ, bị mất huyết kéo dài, hoặc sau khi bị bệnh không điều bổ đều có thể gây ra chứng này
2 Chứng trạng:
Tim hồi hộp, mạch đập không đều, mất ngủ, nhiều chiêm bao, hay quên, choáng váng, ăn kém, mệt nhọc không có lực, bụng chướng, đại tiện lỏng, hoặc chảy máu da, kinh nguyệt lượng thấp sắc nhợt, nhỏ từng giọt không hết Sắc mặt vàng ải, lưỡi non nhợt, mạch tế
3 Cơ chế bệnh sinh:
Tâm chủ huyết mà tàng thần, tỳ sinh huyết mà thống huyết Ăn uống mất chừng độ, sau khi
bị bệnh không điều bổ hoặc bệnh xuất huyết mạn tính, có thể làm cho tỳ khí hư nhược Tỳ hư thì sinh huyết không đủ, hoặc không thống nhiếp được huyết làm cho tâm huyết mất đầy đủ
Lo nghĩ quá độ làm hao dần khí huyết của tâm cũng không thể tư dưỡng được cho tỳ thổ ở trung tiêu, nên sự vận hoá của tỳ bị thất thường Có thể thấy nhiều nguyên nhân đều có thể sinh chứng tâm tỳ cùng hư
Khí huyết của tâm không đầy đủ thì tâm thần mất nuôi dưỡng, nên sinh chứng tâm quý, chính xung, mất ngủ, chóng quên hoặc có nhiều chiêm bao Tâm huyết không đủ, bể tủy không đầy
đủ cho nên sinh choáng váng hay quên Tỳ khí hư nhược không vận hoá được, cho nên ăn ít đại tiện lỏng Khí có ở trung tiêu không thông lợi thì bụng chướng Tay chân không được khí huyết nhu dưỡng cho nên rũ mỏi, yếu sức Khí huyết sinh hoá không đủ, không lên nuôi dưỡng đầy đủ ở đầu mặt cho nên sắc mặt vàng ải lưỡi non nhợt Huyết thiếu không đầy đủ ở mạch, cho nên mạch tế Tỳ hư không thống nhiếp được huyết dịch, huyết tràn ra ở da thì da chảy máu Mạch xung, mạch nhâm không giữ kín cho nên băng huyết, rong kinh, hoặc huyết
ra từng giọt kéo dài Nếu huyết hư, mạch xung nhâm không đầy đủ thì kinh ít sắc nhợt
Trang 11Điểm chính để chẩn đoán là: Tâm quý, mất ngủ, ăn ít và mất huyết
4 Luận trị:
– Phép trị: Bổ ích tâm tỳ
– Phương dược:
* Quy tỳ thang (Tế sinh phương)
Phân tích: Sâm, Truật, Thảo, Khương, Táo nhân để bổ tỳ ích khí Quy để dưỡng can nhằm
sinh tâm huyết Phục thần, Táo nhân, Long nhãn để dưỡng tâm an thần Viễn chí để giao thông tâm thần, an tâm Mộc hương để lý khí tỉnh tỳ
TÂM HỎA CANG THỊNH
1 Nguyên nhân:
Chứng tâm hoả cang thịnh là triệu chứng do tâm hoả đốt mạnh mà gây ra, ngũ chí lục dâm hoá hoả, hoặc vì lao quyện, hoặc vì ăn uống cay nồng đều có thể sinh ra chứng này (Sốt cao trong bệnh truyền nhiễm, nhiễm trùng)
2 Chứng trạng :
Mặt đỏ, họng khô, thích uống nước, miệng lưỡi nổi nhọt lở hoặc loét, sưng đau, trong tâm phiền nóng, mất ngủ Nước tiểu nhỏ giọt đục hoặc rít hoặc đau Đầu lưỡi đỏ hoặc lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác Hoặc thổ huyết, nục huyết, mửa huyết Hoặc phát cuồng vật vả, nói sảng
3 Cơ chế bệnh sinh:
Tâm chủ tướng hoả, hoả thịnh chưng bốc lên trên thì mặt đỏ, hoả thịnh đốt tân dịch thì họng khô thích uống nước Tâm hoả đốt ở trong thì tim ngực phiền nóng Hoả nhiễu tâm thần thì thần bất an cho nên mất ngủ, nặng thì phát cuồng, vật vã, nói sảng mất Tâm khai khiếu ra ở lưỡi, hoả nhiệt theo đường kinh bốc lên thì đầu lưỡi đỏ Tâm hoả thịnh thì miệng lưỡi sinh
nhọt lở, loét nát, sưng đau,“những chứng nhọt ngứa đau đều thuộc ở tâm” Tâm hoả thịnh
vào tiểu trường thì tiểu tiện đục rít Tâm hoả thịnh thì huyết nhiệt vọng hành, sinh ra thổ nục tiểu tiện ra huyết Đầu lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác đều là triệu chứng thực nhiệt
Điểm chính để chẩn đoán là: Tâm thần bất an và các triệu chứng thực nhiệt
Trang 12– Phép trị: Thanh tả tâm hoả
– Phương dược:
* Tả tâm thang (Kim quỹ yếu lược): Đại hoàng 12g Hoàng liên 6g Hoàng cầm 6g
Phân tích: Bài này để chữa chứng hoả bức huyết vọng hành gây nôn máu, chảy máu cam, táo
bón Gồm các vị Đại hoàng, Hoàng liên, Hoàng cầm đều là thuốc rất đắng, rất lạnh để tả tâm hoả, giải độc, hoá thấp, tiết nhiệt Phương này dùng Đại hoàng làm quân nhưng không phối với Mang tiêu, vì không dùng ý nghĩa tả hạ, mà lấy tính đắng hàn để tả hoả, lại phối với Hoàng liên, Hoàng cầm là những vị tả hoả ở thượng tiêu và trung tiêu
* Đạo xích tán (Tiểu nhi dược chứng trực quyết):
Sinh địa 12g Mộc thông 12g Sinh cam thảo 12g
Tán mịn, mỗi lần uống 9g Hoặc sắc với Trúc diệp uống nóng
Phân tích: Sinh địa để lương huyết tư âm, chế tâm hoả là quân Mộc thông để thanh nhiệt ở
kinh tâm, lợi thủy thông tiểu tiện là thần Sinh cam thảo để thanh nhiệt giải độc, điều hoà các
vị thuốc là tá sứ
TÂM HUYẾT Ứ TRỆ
4 Nguyên nhân:
Chứng tâm huyết ứ trệ là triệu chứng vì huyết ở trong tâm tắc trở không thông mà biểu hiện
ra Người tuổi già sức yếu, hoặc bệnh lâu chính khí hư mà làm cho ứ trở, đàm ngưng, hàn trệ, khí uất đều có thể làm cho tâm mạch không thông mà sinh ra chứng này (Bệnh mạch vành)
3 Biện chứng :
Tâm huyết ứ trở thì lấy chứng đau tim là chứng chính, chứng đau này rất là dữ dội, như sách
Linh Khu nói: “Đau như lấy dùi đâm vào tim” “Tay chân lạnh đến khớp, tim đau dữ dội, sáng phát, chiều chết, chiều phát, sáng chết” Đủ thấy trình độ bệnh nặng và đau dữ dội như
thế nào
Trang 13Chứng này phần nhiều do tâm dương trong không đủ, không có sức vận hành huyết dịch, làm
cho đàm trọc đình tụ, âm hàn ngưng trệ, khí cơ uất trở, những bệnh lý ấy dễ làm cho tâm
huyết ứ trở Cho nên Dụ Gia Ngôn nói: “Vì đàm trọc, âm hàn, khí trệ xâm vào chỗ dương hư, thì sinh chứng hung tý tâm thống”
Kinh thiếu âm tâm theo phía trong cánh tay, ra ở nách đi thẳng lên phế Cho nên tâm mạch trở tắc, ứ huyết ngưng trệ thì xuất hiện các chứng vùng ngực đau như đâm, vai cánh tay đau Dương khí không đủ, tâm mất ôn dưỡng cho nên tâm quý, chính xung Âm thịnh dương hư,
vệ không cố biểu, dương mất sưởi ấm cho nên mồ hôi ra, chân tay lạnh, nằm co, thích tĩnh ứ huyết đọng ở trong thì thấy lưỡi có ban ứ, mặt môi tím tối Huyết mạch ứ trở thì mạch kết đại
Âm hàn thịnh quá làm cho tâm dương mất vội, tâm thần ly tâm thì thần mê, chân tay lạnh mạch vi muốn tuyệt
Chứng này nếu có liên quan đến đàm trọc ngưng tụ thì đau là đau là chính, có thể người bệnh thân mình bệu nặng, nhiều đàm, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch trầm hoạt, những chứng trạng có đàm trọc thịnh ở trong, nếu có liên quan đến âm hàn ngưng trệ thì đau dữ dội, đột nhiên phát
ra, được ấm thì bớt đau Người bệnh có thể thấy sợ lạnh, chân tay lạnh, lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch trầm trì, hoặc trầm khẩn, những chứng trạng này thuộc về hàn tà thịnh ở trong Nếu có liên quan đến khí trệ thì đau lấy chứng đau là chính Khi phát có liên quan đến tính tình thay đổi, người bệnh có thể là sườn chướng, mạch huyền, lưỡi hồng nhợt hoặc hồng tối
4 Luận trị:
– Phép trị:Thông dương hoá ứ
– Phương dược:
* Huyết phủ trục ứ thang (Y lâm cải thác):
Phân tích: Các vị Đào nhân, Hồng hoa, Đương quy, Xuyên khung, Ngưu tất đều là các vị
hoạt huyết tiêu ứ mạnh, Chỉ sác để hành khí vì khí hành thì huyết mới hành Cát cánh để dẫn thuốc đi lên thượng tiêu, Sinh địa để tả hoả dưỡng tâm, Cam thảo điều hoà các vị thuốc Dùng cho trường hợp khí kết ở ngực, trong ngực tắc đầy, khí từ dưới sườn nghịch lên tâm
* Chỉ thực cữu bạch quế chi thang (Kim quỹ yếu lược):
Qua lâu 12g Hậu phác 12g Cữu bạch 9g Chỉ thực 12g
Đào nhân 16g Đương quy 20g Cát cánh 6g
Hồng hoa 12g Sinh địa 12g Ngưu tất 12g
Xuyên khung 6g Cam thảo 4g Chỉ sác 8g
Trang 14Phân tích: Qua lâu để khử đàm, tán kết khai hung Quế chi, Cữu bạch để thông dương tán kết
hành khí chỉ thống, giáng nghịch Chỉ thực, Hậu phác để lý khí tiêu bĩ tán mãn Dùng cho trường hợp đàm trọc kết tụ, ngực đau mạnh nằm ngồi không yên
TÂM KHÍ HƯ VÀ TÂM DƯƠNG HƯ
4 Nguyên nhân:
Là triệu chứng do công năng của tạng suy giảm mà biểu hiện ra Người bẩm phủ không đủ, người tuổi già sức yếu, bệnh lâu hoặc lao tâm quá độ đều có thể gây ra chứng này (Bệnh suy tim, rối loạn thần kinh tim, tâm phế mạn, bệnh mạch vành, thiếu máu)
2 Chứng trạng:
–Tâm khí hư: Tâm khí, chính xung, ngực tức khí đoản, ra mồ hôi, thần mệt, cử động thì mệt
hơn, sắc mặt không tươi, sắc lưỡi nhợt, thể lưỡi bệu, mạch hư
– Tâm dương hư: Tim đau, sợ lạnh, chân tay lạnh, sắc mặt xanh bạc, môi tối lưỡi bệu nhợt,
rêu lưỡi trắng nhuận, mạch kết đại hoặc vi tế
3 Biện chứng :
– Tâm khí hư: thì trong tâm trống rỗng, động lên thoi thóp, cho nên thấy chứng tim hồi hộp,
nặng thì chính xung Tâm ở trong lồng ngực tâm hư khí thì tông khí trong lồng ngực vận chuyển thiếu sức cho nên ngực tức khí đoản Mồ hôi là tâm dịch, tâm khí hư thì cơ biểu không kín chặt, cho nên dễ ra mồ hôi Khí hư không dưỡng được thần cho nên thần mệt Động thì hao khí làm cho tâm khí càng hư, cho nên sau khi động thì các chứng càng tăng thêm Khí hư thì huyết không có sức vận hành, không lên tươi tốt ở mặt và ở lưỡi được cho nên sắc mặt ít tươi, lưỡi nhợt Huyết vận hành không có lực, đường mạch trống rỗng thì mạch
hư
Điểm chính để chẩn đoán là: Tâm quí, khí đoản, thần mệt
– Tâm dương hư: thì trong ngực dương hư không vận chuyển huyết mạch ngưng tắc cho nên
đau tim Dương khí không sưởi được cho da thì sợ lạnh, không đạt ra tay chân thì tay chân lạnh, không đi lên mặt thì mặt xanh bạc Dương hư huyết vận hành không thông lợi thì môi tối, lưỡi nhợt, mạch vi tế hoặc kết đại
Điểm chính để chẩn đoán là: Tâm khí hư và triệu chứng ngoại hàn
Trang 15Đảng sâm 20g Mạch môn 20g Ngũ vị 15g Cam thảo (trích) 10g
* Nhân sâm dưỡng vinh thang (Hoà tễ cục phương):
Nhân sâm 12g Đương qui 8g Ngũ vị tử 6g
Phục linh 6g Thục địa 12g Trần bì 6g
Bạch truật 8g Bạch thược 12g Viễn chí 8g
Cam thảo 6g Hoàng kỳ 12g Đại táo 12g
Xuyên khung 8g Quế nhục 6g Sinh khương 3g
Phân tích: Bài này gồm bài Bát trân để bổ khí bổ huyết, thêm Hoàng kỳ để ích khí cố biểu,
Quế nhục để trợ dương (là bài Thập toàn đại bổ) Ngũ vị tử để cố sáp chỉ hãn, Viễn chí để an thần định chí, Trần bì để lý khí Thêm Đại táo, Sinh khương để dẫn thuốc vào tỳ nhằm mạnh trung khí
4.2 Chứng tâm dương hư:
– Phép trị: Ôn thông tâm dương
– Phương dược:
* Quế chi cam thảo thang:
Quế chi + Cam thảo lượng bằng nhau 10g sắc uống
Phân tích: Quế chi ôn thông tâm dương Cam thảo ích khí bổ tỳ thông mạch
TÂM ÂM HƯ
1 Nguyên nhân:
Chứng tâm âm hư là triệu chứng vì tâm âm không đủ không nhu dưỡng được tâm mà biểu hiện ra Hễ mà suy nghĩ liên tục dương khí của ngũ chí tăng lên nhiều dễ hại âm Hay bệnh nhiệt, bệnh lâu hao tổn âm dịch, hay âm dịch sinh thành không đủ, đều có thể sinh ra chứng này
2 Chứng trạng:
Tâm quý, chính xung, mất ngủ, nhiều chiêm bao, triều nhiệt, ngũ tâm phiền nhiệt, ra mồ hôi trộm, má đỏ, họng khô, lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác
Trang 163 Cơ chế bệnh sinh:
– Tâm âm không đủ làm cho tâm mất sự nuôi dưỡng, tâm động không yên cho nên thấy tâm quý, chính xung Âm không đủ thì thần không được tàng giữ nên mất ngủ, nhiều chiêm bao – Âm hư thì dương cang, hư nhiệt sinh ở trong cho nên trào nhiệt, ngũ tâm phiền nhiệt – Ngủ thì dương khí vào ở âm, tâm dịch bị chưng bốc chảy ra ngoài thành mồ hôi trộm, gò
má đỏ, là dương phù ở trên, họng khô là âm không tiếp lên trên, lưỡi đỏ rêu ít, mạch tế đều là phần âm không đầy đủ
Điểm chính để chẩn đoán là: chứng tâm quý thêm chứng âm hư
4 Luận trị:
– Phép trị: Tư dưỡng tâm âm, an thần định chí
– Phương dược:
* Bá tử dưỡng tâm hoàn (Thể nhân hội biên):
Bá tử nhân 20g Kỷ tử 16g Huyền sâm 16g
Mạch môn 12g Đương qui 12g Thục địa 12g
Xương bồ 12g Phục thần 8g Cam thảo 4g
Phân tích: Bá tử nhân, Phục thần để dưỡng tâm an thần Thục địa, Huyền sâm, Mạch môn để
tư âm thanh nhiệt Đương qui, Kỷ tử để tư âm dưỡng huyết Xương bồ để khai khiếu
* Thiên vương bổ tâm đơn (Nhiếp sinh bí phẫu):
Huyền sâm 20g Bạch linh 20g Ngũ vị tử 40g
Thiên môn 40g Mạch môn 40g Bá tử nhân 40g
Phân tích: Sinh địa, Huyền sâm để bổ âm dưỡng huyết thanh nhiệt, làm tâm thần không bị hư hoả nhiễu động là quân Đan sâm, Đương qui để bổ huyết, dưỡng tâm Nhân sâm, Phục linh để ích khí ninh tâm Bá tử nhân, Viễn chí để dưỡng tâm an thần là thần Thiên
môn, Mạch môn để tư âm thanh hư hoả Toan táo nhân, Ngũ vị tử để thu liễm tâm khí
là tá Cát cánh đưa các vị lên trên, Chu sa dẫn các vị thuốc vào tâm và có tác dụng an thần
là sứ
Trang 17TÂM HUYẾT HƯ
1 Nguyên nhân:
Chứng tâm huyết hư là triệu chứng tâm huyết không đủ, không nhu dưỡng được tâm tạng mà biểu hiện ra Người bẩm phủ tiên thiên kém hoặc hậu thiên dụng tâm quá nhọc, hoặc mất huyết quá nhiều, hoặc bệnh lâu hao huyết đều có thể làm tâm huyết hư hao (SNCT, SNTK, thiếu máu)
Điểm chính để chẩn đoán là: chứng tâm quý thêm chứng huyết hư
Phân tích: Sâm Kỳ Truật Thảo để bổ tỳ ích khí Quy để bổ huyết, dưỡng tâm an thần Viễn
chí, Táo nhân, Phục thần để giao tâm thận định chí an thần Mộc hương lý khí tỉnh tỳ Thêm Sinh khương, Đại táo để đẫn thuốc vào tỳ Bài này đa phần các vị chữa về khí với ý nghĩa khí mạnh thì giữ được huyết, huyết tự về kinh thì bệnh sẽ khỏi Sự vận hoá của tỳ là nguồn gốc sinh hoá để sinh khí huyết, tỳ hư thì huyết thiếu, tâm không được nuôi dưỡng mà hư thêm, bởi vậy dùng phương này bổ ích tâm tỳ, khí vượng, huyết sinh Hải Thượng Lãn Ông nói:
“Bài này chuyên chữa về hậu thiên âm huyết suy tổn, Tâm không chủ huyết, Can không tàng huyết, Tỳ không thống huyết mà sinh ra nhiều biến chứng”
Trang 18TÂM DƯƠNG HƯ THOÁT
1 Nguyên nhân:
Chứng tâm dương hư thoát là chỉ vào chứng âm dương sắp lìa nhau, tâm dương vượt nhanh
mà biểu hiện ra Như Từ Linh Thái nói: “Dương khí vượt ra nhanh, âm dương lìa nhau, mồ hôi ra như dầu, sáu mạch sắp mất, chứng cấp bức xảy ra mới gọi là thoát”
Người ta từ lúc sinh ra đến lúc tuổi già, âm dương lìa nhau trong khoảnh khắc, lìa thì chết Bệnh tình đến ngay nặng, bệnh cấp, bệnh nguy đều có thể xuất hiện chứng này, nếu cứu chữa kịp thời cũng có thể cứu nguy thành an (sốc, truỵ mạch)
Điểm chính để chẩn đoán là: Tâm dương hư và triệu chứng vong dương
4 Luận trị:
– Phép trị: Hồi dương cứu nghịch
– Phương dược:
* Tứ nghịch thang (Thương hàn luận):
Sinh phụ tử 5-10g Can khương 6-9g Cam thảo trích 6g
* Nhân sâm tứ nghịch thang (Thương hàn luận): Nhân sâm 3g + Tứ nghịch thang
* Sâm phụ thang (Chính thể loại yếu): Nhân sâm 9g Phụ tử 6g
Phân tích: Sinh phụ tử đi khắp 12 kinh để bổ ích mệnh môn chân hoả, ôn dương trục hàn
là quân Can khương ôn trung trừ lý hàn Cam thảo để giải độc, hoà hoãn tác dụng mãnh liệt
của Phụ Khương Nhân sâm để đại bổ nguyên khí
Trang 19CAN
HỌC THUYẾT TẠNG CAN
1 Chức năng của can:
Can là tạng phong mộc, chứa giữ được huyết hữu hình, lại có thể sơ tiết được khí vô hình Lấy huyết làm thể, lấy khí làm dụng Tính chủ thăng phát, thích điều đạt, cần được sơ tiết Chí là giận, chủ việc mưu lự, tàng hồn, là gốc của sự bại cực Trong chứa tướng hoả, thông với phong khí Đường kinh mạch đi qua âm bộ, đến bụng dưới, phân bố ở hai bên sườn, lên đỉnh đầu
1.1 Can chủ sơ tiết:
Sơ tiết là sự thư thái, thông xướng, còn gọi là sự “điều đạt” Can khí chủ sơ tiết giúp cho khí
của các tạng được vận hành dễ dàng thông suốt, thăng giáng được điều hoà Can khí sơ tiết kém sẽ có những biểu hiện bệnh lý, đặc biệt ở tình chí và tiêu hoá:
– Về tình chí: Chí của can là giận Can hoả thịnh thì tính nóng, dễ giận, hay cáu gắt
– Về tiêu hoá: Sự sơ tiết của can ảnh hưởng đến sự thăng giáng của tỳ vị Nếu can khí uất kết hay can khí hoành nghịch có thể thấy các chứng đau mạng sườn, đau thượng vị, ăn kém, ợ
hơi, ợ chua, ỉa lỏng, gọi là chứng “can tỳ bất hoà” hay “can vị bất hoà”
1.2 Can chủ tàng huyết:
Tức là tàng trữ và điều tiết lượng huyết trong cơ thể Lúc nghỉ ngơi nhu cầu huyết dịch ít thì huyết được tàng trữ về can Khi hoạt động can lại bài xuất huyết dự trữ để cung cấp kịp thời cho cơ thể Khi chức năng tàng huyết của can bị rối loạn thì sẽ ảnh hưởng đến các tạng phủ khác và sinh các chứng bệnh như:
– Can huyết hư: thì mặt vàng môi nhạt, móng không tươi, chóng mặt, tóc rụng, tay chân tê, gân thịt máu dật, gầy rộc, chất lưỡi nhợt, mạch tế
– Can huyết ứ: thì sườn đau như đâm, dưới sườn có khối đầy
1.3 Các chức năng khác:
– Can chủ mưu lự: Bệnh can thì hay nghĩ, hay lo xa, nghĩ vớ vẫn
– Can là gốc của sự bại cực: can bệnh thì mệt sức không chịu được khó nhịn
– Can tàng hồn: hồn không tàng thì mất ngủ, hay mê, dễ kinh sợ
– Trong can chứa tướng hoả: hoả nghịch lên thì đầu chướng, mặt nóng, mắt đỏ, miệng khô
đắng
– Can thông với phong khí: Can dương cang lên, nhiệt nhiều huyết hư thì có thể sinh phong,
xuất hiện chứng chóng mặt chân tay tê, co giật, lưỡi run
Trang 201.4 Kinh mạch:
Theo bộ vị kinh mạch tuần hành, có thể xuất hiện các chứng đau ở đỉnh đầu, ngực sườn, bụng dưới chướng đau tràng nhạc ở cổ, nách sa hòn dái, hòn dái sưng đau
2 Quan hệ giữa các can với các tổ chức khí quan:
Can khai khiếu ra mắt, can chủ cân, móng là phần thừa của can Mạch xung, mạch nhâm lệ thuộc vào can Cho nên khi can bệnh thì có những biểu hiện sau:
2.3 Mạch xung, mạch nhâm lệ thuộc ở can:
Mạch xung là huyết hải, mạch nhâm chủ về bào thai Can lại là tiên thiên của nữ giới, cho nên hệ thống sinh dục của nữ giới có bệnh thì phần nhiều thuộc về can
3 Liên hệ giữa can với các tạng phủ:
Can với đởm là biểu lý, với tâm thận là tương sinh, với tỳ phế là tương khắc Khi can có bệnh
có thể xuất hiện như sau:
3.1 Biểu lý với đởm:
– Đởm coi về tướng hoả: Hoả nghịch thì đầu chướng, mắt đỏ, họng khô, miệng đắng, hoàng đản, mộng tình (nói chung gọi là chứng can hoả) Hoả suy thì nuốt chua, nôn mửa lợm giọng – Đởm chủ việc quyết đoán: hư thì đởm khiếp, hay sợ, dễ kinh, nằm không yên
– Đởm chủ về bán biểu, bán lý: nóng rét qua lại
– Theo đường tuần hành của kinh đởm: nếu có bệnh thì 2 tai nóng, điếc đột ngột, đau 1 bên đầu, đau sườn
3.2 Tương sinh với tâm thận:
– Thận thủy không sinh can mộc: trước có chứng thận âm hư rồi xuất hiện chứng can âm hư – Can mộc không sinh tâm hoả: là can khí xung tâm, hoặc can khí nhiễu tâm, có thể xuất hiện các chứng ngực đầy khí đoản, nhiệt quyết, tâm thống Can khí hư sau xuất hiện tâm hư
3.3 Tương khắc với tỳ phế
Trang 21– Can mộc khắc tỳ thổ: Can khí vượng thì khắc chế tỳ vị thái quá mà xuất hiện triệu chứng của tỳ vị Can khí hư thì mộc không sợ thổ, cũng sẽ xuất hiện triệu chứng của tỳ vị, không muốn ăn bụng chướng
– Phế kim khắc can mộc: Đó là trước thấy bệnh của phế, sau thấy chứng trạng của can Khi can hoả vượng cũng có thể ảnh hưởng đến phế, tức là mộc hoả hình kim, mộc gõ kim kêu Xuất hiện chứng ho khan ít đàm, mặt, mắt sườn đau, thậm chí khạc máu
4 Các triệu chứng bệnh can đởm:
4.1 Triệu chứng bệnh của can:
Thực: đau cạnh sườn lan đến bụng dưới, nôn nước chua, mạch huyền
Hư: chóng mặt, đau đầu, mắt khô, quáng gà, cân mạch co, móng khô, sắc mặt vàng ải, tóc rụng, mạch tế
Nhiệt: mắt sưng đau, miệng đắng, khát nước, đau cạnh sườn, đau sinh dục ngoài, đái máu, co giật, run, mạch huyền sác
Hàn: đau bụng dưới, trưng hà, nôn đờm dãi, mạch trầm huyền
4.2 Chứng trạng bệnh của đởm:
Thực: cáu gắt, ngực đầy, dưới sườn đau tức, ngủ nhiều, hoàng đản
Hư: chóng mặt, hư phiền mất ngủ được, hay thở dài, hay giật mình
Nhiệt: ù điếc tai, miệng đắng, đau cạnh sườn, hàn nhiệt vãng lai
Hàn: không ngủ được, chóng mặt, nôn, rêu lưỡi hoạt cáu
CAN THẬN ÂM HƯ
1 Nguyên nhân:
Chứng can thận âm hư là những triệu chứng vì 2 tạng can thận âm dịch không đủ mà gây ra Người tuổi già thận suy, người bệnh lâu không khỏi, người tình chí không thoải mái, phòng thất, lao thương đều có thể gây ra chứng này
Trang 22Can thận cùng một nguồn, can tàng huyết, thận tàng tinh, âm của can thận tư sinh lẫn nhau Can âm sung túc thì tàng ở thận, thận âm vượng thịnh thì nuôi cho can Cho nên có thuyết can thận cùng nguồn Khi bị bệnh can âm không đủ có thể làm cho thận âm vì đó mà thiếu, trái lại cũng như vậy
Can thận âm dịch không đủ, không lên đầy đủ cho thanh khiếu cho nên choáng váng ù tai, bể tuỷ không đầy đủ thì sinh ra hay quên Tâm thần mất nuôi dưỡng thì mất ngủ Âm dịch không tiếp lên trên được thì họng khô Âm hư sinh nội nhiệt, hư hoả phù lên thì gò má đỏ hồng, nhiệt bức dịch tiết ra thì mồ hôi trộm Hư nhiệt thịnh ở trong thì ngũ tâm phiền nhiệt Can âm không đủ, can mạch mất tư dưỡng cho nên 2 mạng sườn đau Eo lưng là phủ của thận, thận
âm không đủ thì eo lưng mất nuôi dưỡng cho nên eo lưng đầu gối mỏi đau Hư hoả quấy nhiễu ở trong tinh thất thì sinh mất tinh Mạch xung nhâm không đầy đủ thì kinh ít Lưỡi đỏ, rêu ít, mạch tế sác đều là hiện tượng âm hư nội nhiệt, tân dịch không đủ
Điểm chính để chẩn đoán là: Đau sườn, đau eo lưng, di tinh kèm có chứng âm hư
4 Luận trị:
– Phép trị: Tư bổ can thận
– Phương dược:
* Kỷ cúc địa hoàng hoàn (Y cấp)
Gồm Lục vị để tư bổ thận âm Kỷ tử, Cúc hoa để bổ can, minh mục
* Nhất quán tiễn (Liễu châu y thoại)
Phân tích: Sinh địa tư âm dưỡng huyết bổ can thận Sa sâm, Mạch môn, Quy thân, Kỷ tử tư
âm dưỡng huyết sinh tân nhằm nhu can Xuyên luyện tử để sơ can khí
CAN VỊ BẤT HÒA
1 Nguyên nhân:
Chứng can vị bất hoà là những triệu chứng vì can mất sơ tiết, vị mất hoà giáng mà gây ra
2 Chứng trạng:
Trang 23Hai bên sườn và bụng chướng đau, nấc cồn cào, nuốt chua, nôn mửa, nóng tính dễ giận, hoặc uất ức khó chịu Rêu lưỡi vàng, mạch huyền
3 Cơ chế bệnh sinh:
Can chủ việc sơ tiết, vị chủ việc thu nạp và hoà giáng Can khí được thư thái thì vị khí được giáng Nếu tình chí không thư thái, can khí uất kết, ngang ngược phạm vị, thì can vị không hoà, vị mất hoà giáng Đường kinh mạch của can phân bố ở 2 bên sườn, nếu can uất khí trệ, hoành nghịch phạm vị, thì 2 sườn và bụng chướng đau Vị mất hoà giáng thì nấc, ợ hơi, nặng thì có khi nôn mửa Khí hữu dư tức là hoả, uất ở trong vị sinh ra nhiệt cho nên nuốt chua, cồn cào, rêu lưỡi vàng Can mất điều đạt, khí uất không thư thái, cho nên uất ức dễ giận
Điểm chính để chẩn đoán là: 2 sườn chướng đau & triệu chứng vị mất hoà giáng
4 Luận trị:
– Phép trị: Sơ can hoà vị
– Phương dược:
* Nhị trần thang hợp với Tả kim hoàn
Trần bì, Bán hạ, Phục linh, Cam thảo, Hoàng liên, Ngô thù du
Phân tích: Bán hạ để giáng nghịch hoà vị chỉ nôn Trần bì lý khí táo thấp Linh kiện tỳ thảm
thấp Hoàng liên tả hoả Ngô thù để chế bớt tính hàn của Hoàng liên và giáng nghịch ở can, giúp can vị điều hoà Cam thảo điều hoà các vị thuốc, nhuận phế hoà trung
CAN TỲ BẤT ĐIỀU
1 Nguyên nhân:
Chứng can tỳ bất điều là thứ bệnh chứng vì can không sơ tiết, tỳ không kiện vận được mà sinh ra Trường hợp tình chí không thoả mãn, hại can bệnh liên quan đến tỳ, hoặc ăn uống, khó nhọc hại đến tỳ, bệnh liên cập đến can đều có thể gây ra chứng này
2 Chứng trạng:
Ngực sườn chướng đau, tinh thần uất ức, phiền nóng vật vã, dễ sinh tức giận, không muốn ăn, bụng đầy tức, đại tiện lỏng không phải rặn, ruột sôi trung tiện Hoặc bụng đau đi tả, sau khi tả thì bớt đau Rêu lưỡi trắng hoặc nhờn, mạch huyền
Trang 24thư thái, khí huyết vận hành bị trở cho nên ngực sườn chướng đau Can khí uất kết, khí cơ không lưu lợi, thì tinh thần uất ức Can mất tính điều đạt cho nên nóng nảy vội vã dễ giận Tỳ vận không mạnh thì không muốn ăn; khí cơ uất trệ thì bụng chướng đầy tức; khí trệ thấp trở thì đại tiện lỏng và không thông, ruột sôi, trung tiện, ỉa rồi khí trệ được thông ra cho nên bụng bớt đau Thấp thịnh thì rêu lưỡi nhờn Can bệnh cho nên mạch huyền
Điểm chính để chẩn đoán là: Ngực sườn chướng đau và ăn ít, bụng chướng, phân lỏng
4 Luận trị:
– Phép trị: Hoà giải can t ỳ
– Phương dược:
* Tiêu giao tán : Sài hồ, Đương quy, Bạch thược, Bạch truật, Bạch linh mỗi vị 40g
Tán thành bột, mỗi lần uống 8g với nước gừng và Bạc hà Tác dụng: Sơ can giải uất, kiện tỳ dưỡng huyết
Phân tích: Sài hồ sơ can giải uất là quân Quy Thược bổ huyết dưỡng can là thần Linh Truật
kiện tỳ bổ trung là tá Gừng giúp Quy Thược điều hoà khí huyết, Bạc hà giúp Sài hồ sơ can giải uất là sứ
* Bài thuốc nam hoà giải can tỳ (Nam dược thần hiệu): Tía tô (sấy), Chỉ sác (bỏ ruột sao),
Quế chi, Lương khương (sao), Thanh bì (sao), Nga truật (sấy), Xương bồ (tẩm nước vo gạo), Hậu phác (sao nước gừng), Hương phụ mễ, Hoắc hương
Lượng bằng nhau tán bột dùng dấm hoà với nước khuấy hồ làm viên, mỗi lần dung sắc với nước gừng làm thang
CAN HỎA PHẠM PHẾ
1 Nguyên nhân:
Chứng can hoả phạm phế là triệu chứng vì can hoả nghịch lên ở phế mà biểu hiện ra Mỗi khi ngũ chí quá cực can hoả thịnh lên, hoặc nhiệt tà trong can nghịch lên phạm đến phế đều có thể sinh ra chứng này
2 Chứng trạng:
Ngực sườn nóng đau, nóng nảy dễ giận, phiền nhiệt miệng đắng, choáng váng mắt đỏ, ho khí nghịch khạc đàm khó ra, đàm ít mà dính đặc, nặng thì ho nôn ra máu tươi, hoặc trong đàm có máu; lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác
3 Cơ chế bệnh sinh:
Phế chủ việc túc giáng, can chủ việc thăng phát, thăng giáng thích nghi thì khí cơ lưu lợi, nếu tình chí không toại, uất mà hoá hoả, hoặc tà nhiệt uất kết ở can kinh, làm cho khí hoả ở can
Trang 25kinh nghịch lên phạm phế Mộc hoả hình kim, phế mất thanh túc, ho nghịch lên không yên
mà xuất hiện chứng này Can khí thăng giáng thái quá, mất sự điều đạt, cho nên sinh nóng nảy dễ cáu giận Kinh túc quyết âm can đi qua ngực sườn, khí hoả đi ngang, đi ngược thì ngực sườn nóng đau Can hoả thịnh ở trong thì sinh phiền nhiệt, hoả bốc lên phạm vào thanh khiếu thì miệng đắng, choáng váng, mắt đỏ Can hoả đưa lên phạm vào phế, phế khí không thanh túc được, cho nên ho mà khí nghịch lên Phế tân bị đốt, cho nên đàm ít mà dính đặc, khó khạc Nếu hoả nhiệt tổn thương phế lạc thì khạc nôn ra máu tươi; hoặc trong đàm có máu Lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác đều là hiện tượng can hoả cang thịnh
Điểm chính để chẩn đoán là: Ngực sườn nóng đau, nóng nảy vật vã và cùng xuất hiện với
chứng ho
4 Luận trị:
– Phép trị: Thanh can tả phế
– Phương dược:
* Tả bạch tán (Tiểu nhi dược chứng trị quyết)
Địa cốt bì 12g, Tang bạch bì 12g, Cam thảo 4g, Ngạnh mễ 1nắm
Phân tích: Tang bạch bì tả phế thanh uất nhiệt Địa cốt bì tả phục hoả ở phế, thanh hư nhiệt
Cam thảo, Ngạnh mễ để nâng phế khí Thêm Hoàng cầm 12g để thanh can hoả
CAN ĐỞM THẤP NHIỆT
1 Nguyên nhân:
Chứng can đởm thấp nhiệt là triệu chứng vì thấp nhiệt kết tụ ở can đởm mà sinh ra, có thể
vì tà khí thấp nhiệt xâm vào, hoặc thích ăn những thứ ngon béo, hoá thấp sinh nhiệt, hoặc tỳ mất kiện vận, tụ thấp ở trong, lâu rồi hoá nhiệt (Bệnh viêm gan virus, xơ gan còn bù)
2 Triệu chứng:
Nóng rét qua lại, miệng đắng, ngực sườn chướng đau, ăn kém, nôn mửa, bụng chướng, đại tiện hơi lỏng, hoặc đi không thông, tiểu tiện ngắn đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch huyền sác; hoặc mình, mắt đều vàng, xương sườn cụt đầy có khối; hoặc hòn dái sưng chướng nóng đau; hoặc đái đục, ngứa âm bộ
3 Cơ chế bệnh sinh:
* Tà nhiệt lưu trệ ở đởm, đởm khí vì đó mà tràn lên cho nên thấy nóng rét qua lại, miệng đắng Thấp nhiệt kết tụ ở can đởm, can khí không được sơ tiết, khí trệ huyết ứ nên ngực sườn chướng đau hoặc có khối cứng
Trang 26* Tỳ mất kiện vận, vị mất hoà giáng cho nên ăn kém, nôn mửa, bụng chướng
Thấp nhiệt chứa đọng ở trong, thấp nặng hơn nhiệt thì đại tiện hơi lỏng, nhiệt nặng hơn thấp thì đại tiện không thông suốt Bàng quang mất việc khí hoá thì tiểu tiện ngắn đỏ Lưỡi đỏ rêu vàng nhờn, mạch huyền sác là hiện tượng thấp nhiệt uất kết ở can đởm
* Sách Lâm chứng chỉ nam nói: “thấp theo hoả hoá, ứ nhiệt ở lý, đởm nhiệt, dịch tiết cùng hợp với trọc khí của vị, trên không vượt lên được, dưới không tiết xuống được, huân chứng át uất, mình mắt đều phát vàng” Nói rõ thấp nhiệt xông đốt, thấp nhiệt không đi theo đúng đường mà tràn ra ngoài cho nên da, mắt, mặt đều vàng
* Can mạch đi qua vùng âm bộ, tà khí thấp nhiệt chứa ở can đởm theo đường kinh đi xuống, chạy vào hòn daí, úng tắc huyết lạc cho nên hòn dái sưng chướng nóng đau, dồn vào âm đạo thì đới trọc mùi thối, ngoài âm bộ ngứa
Điểm chính để chẩn đoán là: ngực sườn chướng đau, nước tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn
4 Luận trị:
– Phép trị: Thanh nhiệt trừ thấp, thoái hoàng
– Phương dược:
* Nhân trần ngũ linh thang (Kim quỹ yếu lược):
Phân tích: Phương này dựa trên cơ sở của bài Ngũ linh tán có tác dụng lý khí lợi thủy trừ
thấp (Bạch truật, Quế chi để thẩm thấp kiện tỳ hoà khí Trạch tả, Trư linh, Phục linh để lợi thuỷ trừ thấp thanh nhiệt), thêm Nhân trần để lợi đởm thoái hoàng, trị thấp nhiệt
CAN KHÍ HƯ VÀ CAN DƯƠNG HƯ
1 Nguyên nhân:
Chứng can khí hư với chứng can dương hư là chỉ vào triệu chứng vì công năng của can giảm sút mà sinh ra, người bẩm thụ hư nhược, bệnh lâu hại khí đều có thể gây ra chứng này Ngoài
ra như can khí uất kết hoặc hoành nghịch, bệnh lâu thì hao tổn đến dương khí của can Hoặc
âm huyết của can không đủ, lâu thì âm tổn hại đến dương, cũng có thể làm cho can khí hư và can dương hư
2 Chứng trạng:
Nhân trần 20g Phục linh 12g Trạch tả 12g
Bạch truật 12g Trư linh 8g Quế chi 6g
Trang 27Ngực sườn đau trống không, ưu uất, đởm khiếp, khí đoản, thần mệt, yếu sức, vùng bụng đầy tức, không muốn ăn uống, lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch hư đó là can khí hư Nếu kiêm có sợ lạnh, chân tay không ấm, âm bộ lạnh, mạch trầm vô lực thì đó là can dương hư
3 Biện chứng :
Thiên bản thần sách Linh khu nói: “can khí hư thì sợ”; sách Thánh Huệ Phương cũng nói:
“can hư thì sinh lạnh”, đủ thấy bệnh can là có dương hư hàn Khi can khí hư thì ngoài những
chứng khí hư như khí đoản, thần mệt, yếu sức, lưỡi nhợt, mạch hư ra, còn có triệu chứng của bệnh can như ngực sườn trống rỗng mà đau, đởm khiếp Can khí hư mà phát triển thêm thì thành chứng can dương hư như sợ lạnh, chân tay không ấm, âm bộ lạnh, đều là biểu hiện dương khí không đủ, mất sự sưởi ấm Thường cùng xuất hiện với chứng tỳ thận dương hư
2 Chứng trạng:
Bụng dưới kéo đến hòn dái lạnh đau, hoặc bìu dái thu vào, nữ thì hành kinh lạnh đau, gặp lạnh thì đau dữ dội, được ấm thì bớt đau, đồng thời xuất hiện người lạnh, chân tay lạnh, nôn mửa ra nước dãi trong, rêu lưỡi trắng trơn, mạch trầm huyền
3 Biện chứng
Kinh túc quyết âm can theo mé trong đùi, qua âm hộ đến bụng dưới Hàn là âm tà, tính ngưng trệ thu vào, hàn tà vào ở can mạch, dương khí bị lấn át, khí huyết ngưng trệ, làm cho bụng dưới kéo xuống bìu dái lạnh đau, người lạnh, chân tay lạnh Gân mạch vì hàn ngưng mà co căng cho nên bìu dái thu vào Hàn thì khí huyết ngưng trệ, nhiệt thì khí huyết vận hành, nên đau gặp lạnh thì tăng, được ấm thì bớt Âm hàn vào lý, thủy dịch không hoá cho nên nôn mửa
ra nước trong Âm hàn thì rêu lưỡi trắng trơn Trầm chủ bệnh ở lý, huyền là chủ hàn lại chủ
về bệnh ở can cho nên mạch trầm huyền là chủ hàn ngưng ở can mạch
* Điểm chính để chẩn đoán là: bụng dưới và âm bộ chướng lạnh đau
Trang 28* Noãn can tiễn (Cảnh Nhạc toàn thư): Đương qui 9g, Kỷ tử 9g, Tiểu hồi 6g, Ô dược 6g
(hoặc Mộc hương), Nhục quế 6g, Trầm hương 3g, Phục linh 6g
Phân tích: Quế, Hồi để ôn can tán hàn Đương qui, Kỷ tử để ôn bổ can thận Ô dược, Trầm
hương để hành khí chỉ đau Phục linh để thảm thấp kiện tỳ Thêm 3 nhát gừng tươi để tán hàn hoà vị
* Đương qui tứ nghịch thang (Thương hàn luận):
Phân tích: Đương qui, Bạch thược để bổ huyết Quế chi, Tế tân để ôn kinh tán hàn Cam
thảo, Đại táo để kiện tỳ ích khí Thông thảo để thông kinh mạch Thêm Ngô thù, Tiểu hồi, Sinh khương để ôn dương tán hàn
CAN PHONG NỘI ĐỘNG
Chứng can phong nội động là chứng trạng do nội phong nhiễu động gây ra Dựa vào nguyên nhân sinh nội phong mà chia thành 4 chứng:
– Can dương hoá phong
– Nhiệt cực sinh phong
– Huyết hư sinh phong
– Âm hư động phong
Can là tạng phong mộc, nếu can dương quá vượng, nhiệt thịnh, âm hư, huyết hư đều có thể sinh phong Vì khác với phong ở ngoài xâm nhập vào cho nên gọi là nội phong Tính phong
giao động cho nên hay thấy chứng choáng váng ngã ra, run rẩy, co giật Tố Vấn nói: “các chứng lay lắc choáng váng đều thuộc can” đó là chỉ vào can phong
Đương qui 9g Quế chi 9g Đại táo 25g Thược dược 9g Tế tân 9g
Cam thảo 6g Thông thảo 6g
Trang 291 Can dương hoá phong
1.1 Nguyên nhân:
Chứng can dương hoá phong còn gọi là chứng quyết dương hoá phong, là chỉ vào can dương cang thịnh không có kiềm chế, mà bỗng nhiên xuất hiện chứng động phong, phần nhiều vì can thận âm dịch cực hư, không tiềm tàng được can dương tiến lên mà hoá phong (Thuộc bệnh Trúng phong – tai biến mạch máu não)
1.2 Chứng trạng:
– Trúng phong kinh lạc: choáng váng muốn ngã ra, đau đầu, gáy cứng, chân tay run, đi không vững, nói ngượng không rõ, miệng méo mắt xếch, bán thân bất toại, lưỡi đỏ, mạch huyền – Trúng phong tạng phủ: bỗng nhiên hôn mê không biết gì, lưỡi cứng không nói được
+ Chứng bế: các khiếu bế lại, không đại tiểu tiện được
+ Chứng thoát: có triệu chứng dương thoát
1.3 Cơ chế bệnh sinh:
Chứng can dương hoá phong hay thấy ở người can thận âm dịch vốn thiếu, can dương mất sự tiềm giữ, có bệnh sử can dương thượng cang, có khi chứng can dương thượng cang không rõ, cũng có khi bỗng nhiên xuất hiện chứng này
* Can dương hoá phong, phong dương xoáy ở trên, nên choáng váng muốn ngã ra Khi huyết úng ở trên trở trệ huyết cực lạc cho nên đau đầu Gân mất nuôi dưỡng thì gáy cứng, chân tay run Phong xoáy ở trên, âm thiếu ở dưới cho nên đi không ổn định
* Can dương cang thịnh đốt dịch thành đàm Phong đàm trở lạc làm khí huyết vận hành không lợi cho nên miệng méo mắt xếch, bán thân bất toại Can phong hiệp với đàm che lấp tâm khiếu, làm cho tâm thần tối tăm cho nên bỗng nhiên hôn mê ngã ra không biết gì
* Lưỡi đỏ là âm hư nội nhiệt, mạch huyền chủ về bệnh can
+ Thông kinh hoạt lạc: Tang ký sinh, Uy linh tiên, Tần giao, Đỗ trọng, Ngưu tất
+ Thuốc trấn kinh tiềm dương: Thạch quyết minh, Long cốt, Mẫu lệ…
– Phương dược:
* Thiên ma câu đằng ẩm (Tạp bệnh chính trị tân nghĩa):
Trang 30Thiên ma 9g Thạch quyết minh 18g ích mẫu 9g
Câu đằng 12g Tang ký sinh 9g Đỗ trọng 9g
Phục thần 9g Hoàng cầm 9g Ngưu tất 12g
Dạ giao đằng 9g Sơn chi 9g
(Chú ý: Thạch quyết minh cho vào sắc trước, Câu đằng cho vào sau)
Phân tích: Thiên ma, Câu đằng, Thạch quyết minh để bình can tức phong Sơn chi, Hoàng
cầm để thanh nhiệt tả hoả ích mẫu để hoạt huyết lợi thủy Ngưu tất để dẫn thuốc đi xuống, hợp với Đỗ trọng để bổ can thận Tang ký sinh để thông kinh hoạt lạc Dạ giao đằng, Phục thần để an thần định chí Bài này để chữa cao huyết áp, liệt nửa người do trúng phong
· Trúng phong tạng phủ thể bế chứng:
– Phép trị: Khai khiếu thông quan
– Phương dược:
* Thông quan tán (Đan khê tâm pháp phu dư): Tạo giác bỏ hạt nướng, Tế tân, hai vị bằng
nhau tán bột thổi vào mũi
* An cung ngưu hoàng hoàn (Ôn bệnh điều biện):
Ngưu hoàng Hoàng liên Mai phiến Uất kim Hùng hoàng Xạ hương
Tê giác Sơn chi Chân châu Hoàng cầm Chu sa Tán bột làm hoàn
Phân tích: Ngưu hoàng, Tê giác để thanh tâm giải độc, bên trong thấu bào lạc Hoàng cầm,
Hoàng liên, Sơn chi thanh nhiệt tả hoả Uất kim thông tâm khí để khai khiếu Chu sa, Chân châu để chấn tâm an thần Xạ hương, Băng phiến, Hùng hoàng để hoá đàm giải độc
· Trúng phong tạng phủ thể thoát chứng:
– Phép trị: Hồi dương cố thoát
– Phương dược: Sâm phụ thang (Chính thể loại yếu): Nhân sâm, Phụ tử sắc cho uống
· Giai đoạn di chứng:
– Phép trị: Hoạt huyết khứ ứ, thông kinh hoạt lạc, bổ can thận
2 Chứng nhiệt cực sinh phong:
2.1 Nguyên nhân:
Chứng nhiệt cực sinh phong là chỉ vào trong bệnh ngoại cảm, vì nhiệt tà cang thịnh, nhiệt truyền vào tâm bào mà động đến can phong (Thuộc bệnh sốt cao co giật)
Trang 312.4 Luận trị:
– Phép trị: Thanh nhiệt trừ phong
– Phương dược: Bạch hổ thang (Thương hàn luận) gia vị:
Bạch hổ thang gồm: Thạch cao, Tri mẫu, Cam thảo, Nghạnh mễ có tác dụng thanh nhiệt Gia các vị trừ phong có tính hàn, bình như: Câu đằng, Thuyền thoái, Thiên ma, Cương tàm
3 Chứng huyết hư sinh phong
Chứng huyết hư sinh phong là chỉ vào triệu chứng động phong, vì huyết hư thì cân mạch mất nuôi dưỡng mà gây ra (Thuộc bệnh thiếu máu, hạ đường huyết, TBMM não, Packinson) – Biểu hiện: chân tay, cân mạch co quắp, run giật
– Phép trị: Bổ huyết trừ phong
4 Chứng âm hư động phong
Chứng âm hư động phong là triệu chứng vì can thận âm dịch suy hư dẫn đến động can phong Thời kỳ cuối của bệnh ngoại cảm, hoặc bệnh nội thương lâu ngày, đều có thể xuất hiện âm dịch suy hư mà thấy chứng này
CAN HUYẾT HƯ
1 Nguyên nhân:
Chứng can huyết hư là triệu chứng vì huyết dịch ở can hư mà gây ra, có thể vì bẩm phủ không đủ, hoặc vì tỳ vị hư nhược thiếu nguồn sinh hoá, hoặc thất tình quá độ hao tổn âm huyết, hoặc bệnh lâu hao huyết, hoặc các bệnh mất huyết tính gây ra
Trang 322 Chứng trạng:
Sắc mặt vàng ải hoặc xanh bạc, môi mỏng sắc nhợt, mắt nhìn giảm sút hoặc tối gà, choáng váng, tâm quý, ít ngủ Có khi tay chân tê dại, co duỗi khó khăn, tay chân run rẩy, cơ thịt máy động Kinh ít chậm kỳ hoặc kinh bế, chất lưỡi nhợt, mạch tế (Thuộc bệnh thiếu máu, bệnh nhãn khoa, bệnh kinh nguyệt)
3 Cơ chế bệnh sinh:
Chứng can huyết hư và chứng huyết hư trên lâm sàng biểu hiện gần giống nhau:
Huyết hư thì hình héo cho nên sắc mặt vàng ải, môi móng nhợt Huyết thiếu không nuôi dưỡng lên ở trên thì choáng váng, lưỡi nhợt Huyết suy không dưỡng được tâm thì tâm quý, mất ngủ Kinh mạch không được huyết nuôi dưỡng thì tay chân tê dại, huyết không dưỡng được cân thì khớp co duỗi khó khăn Huyết không đủ thì bể huyết không đầy cho nên kinh ít, chậm kỳ, hoặc bế kinh Huyết không đầy đủ cho mạch thì mạch tế
Can huyết hư thì biểu hiện: Can huyết hư thì mắt không được nuôi dưỡng nên thị lực giảm sút, nặng thì mắt thanh manh Gân mạch mất nuôi dưỡng cho nên chân tay run, thịt máy dật, khớp khó co duỗi Xuất hiện triệu chứng cử động không cố định, hoặc hoạt động khó khăn
4 Luận trị:
– Phép trị: Bổ huyết dưỡng can
– Dược vị: các vị thuốc bổ huyết như: Thục địa, A giao, Hà thủ ô, Quy thân, Bạch thược, Kỷ
tử, Long nhãn, Tang thầm, Tử hà sa, Kê huyết đằng…
– Phương dược:
* Tứ vật thang (Hoà tễ cục phương):
ý nghĩa: Thục địa để tư âm dưỡng huyết làm quân Đương qui để bổ huyết dưỡng can, hoà
huyết điều kinh làm thần Bạch thược dưỡng huyết hoà âm, Xuyên khung hành khí hoạt huyết, thông xướng khí huyết là tá sứ
Gia giảm: Kiêm khí hư gia Nhân sâm, Hoàng kỳ Kiêm đàm huyết mà nôn gia Hồng hoa,
Đào nhân Huyết hư có hàn gia Nhục quế, Bào khương Huyết hư có nhiệt gia Hoàng cầm, Đan bì Muốn hành huyết thì bỏ Thược dược Muốn chỉ huyết thì bỏ Xuyên khung
Thục địa Đương qui Bạch thược Xuyên khung
Trang 33CAN ÂM HƯ
1 Nguyên nhân:
Chứng can âm hư là những triệu chứng vì âm dịch của can không đủ mà biểu hiện ra Phần nhiều vì tính khí không thoả mãn, khi uất hoá hoả, hoặc bệnh mãn tính, bệnh ôn nhiệt làm hao thương can âm sinh ra
2 Chứng trạng:
Choáng váng, 2 mắt khô sáp, họng khô, tai ù, mặt nóng đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt, đạo hãn, xương sườn cụt đau nóng, có khi tay chân nhu động Lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác
3 Cơ chế bệnh sinh:
Chứng can âm hư có triệu chứng thường thấy của chứng âm hư và triệu chứng riêng của can:
* Chứng âm hư như hoả bốc lên thì mặt nóng bừng, hư nhiệt sinh ra ở trong thì triều nhiệt, ngũ tâm phiền nhiệt, hư hoả nhiễu dinh thì sinh đạo hãn, tự hãn, âm dịch suy hao không nhuận lên trên được thì họng khô, âm hư nội nhiệt thì lưỡi đỏ ít rêu
* Chứng can âm hư liên quan đến thận âm, không tư nhuận cho đầu mặt nên chóng mặt ù tai,
2 mắt khô sáp Hư hoả đốt nóng can lạc cho nên xương sườn cụt đau, nóng Can âm suy hư gân mạch mất nuôi dưỡng cho nên tay chân nhu động Mạch huyền thuộc can, tế thuộc âm
hư, sác là có nhiệt, cho nên mạch huyền tế sác là can âm bất túc, hư nhiệt đốt ở trong
4 Luận trị:
Phép trị: Tư bổ can thận
Phương dược:
* Kỷ cúc địa hoàng hoàn: Gồm lục vị để bổ thận thuỷ (bổ mẹ), Kỷ tử để dưỡng can, minh
mục, Cúc hoa để giáng áp, chỉ đầu thống
Phân biệt 3 chứng: Can dương thượng cang, Can hoả bốc và Can âm hư:
– Can dương cang lên thì lấy chứng trạng cang lên là chính, như đầu mặt chướng đau, choáng váng nóng bừng kèm theo có triệu chứng âm hư ở dưới như đau lưng gối mỏi… Bệnh trình tương đối ngắn, bệnh thể tương đối chậm, triệu chứng âm hư hoả vượng, thuộc về bản hư, tiêu thực; trên thực dưới hư (hư trung hiệp thực)
– Can hoả bốc lên thì lấy triệu chứng hoả nhiệt làm chính, như mặt đỏ, mắt đỏ, miệng đắng, đại tiện bí sáp Bệnh trình tương đối ngắn, thể bệnh tương đối cấp, triệu chứng hoả nhiệt rõ rệt, thuộc về chứng thực
– Can âm hư thường kèm với thận âm hư thì triệu chứng âm hư là chính như: đau lưng, mỏi gối, đau đầu, ù tai, kèm theo có triệu chứng nội nhiệt như triều nhiệt, đạo hãn, ngũ tâm phiền nhiệt Bệnh trình dài, bệnh thể chậm, thuộc về hư chứng rõ rệt
Trang 34CAN DƯƠNG THƯỢNG CANG
1 Nguyên nhân:
Chứng can dương thượng cang là vì can thận âm hư không chế được dương, làm cho can dương phù động lên trên mà thành, phần nhiều vì âm dịch của can thận không đủ, âm không liễm được dương rồi can dương cang lên, trên thực dưới hư hoặc vì ngũ chí hoá hoả hao tân hại âm, cũng có thể làm cho âm dịch ở hạ tiêu suy thiếu, thủy không nuôi dưỡng được mộc, làm cho can dương cang lên (Thuộc bệnh Huyết áp cao, Rối loạn TKTV)
2 Chứng trạng:
Đầu mắt chướng đau, choáng váng, đầu nặng, chân nhẹ, tai ù, hoặc mặt nóng, họng khô, tâm phiền, dễ giận, ngủ ít, mắt mờ, nhiều chiêm bao, lưng gối đau mềm, lưỡi đỏ rêu ít, mạch huyền
3 Cơ chế bệnh sinh:
* Can thận âm dịch không đầy đủ, làm cho âm dương mất điều hoà, can dương cang thịnh không có kiềm chế, khí huyết cùng xung lên trên, cho nên sinh các chứng đầu mắt chướng đau, chóng mặt tai ù, mặt đỏ hoặc nóng bừng, họng khô
* Dương cang nhiễu loạn, thần chí, hồn không tàng ở trong thì tâm phiền dễ giận, ngủ ít, nhiều chiêm bao
* Eo lưng là phủ của thận, đầu gối là phủ của cân Can thận âm hư thì eo lưng và đầu gối mỏi yếu
* Can dương cang ở trên thì trên thịnh, can thận ở dưới thiếu thì dưới hư Trên thực dưới hư cho nên đầu nặng chân nhẹ Lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền là hiện tượng can dương cang thịnh,
âm dịch không đủ
4 Luận trị:
– Phép điều trị: Tư âm tiềm dương
– Phương dược: Lục vị địa hoàng gia giảm:
Ý nghĩa: Bài lục vị để tư bổ can thận Gia thêm các vị: Thiên ma, Câu đằng để bình can tức
phong; Thạch quyết minh, Mẫu lệ, Long cốt để bình can tiềm dương, trọng trấn an thần; Chi
tử, Hạ khô thảo, Thảo quyết minh để thanh tả can hoả; Cam thảo điều hoà các vị thuốc Nếu
Phục linh Thạch quyết minh Thảo quyết minh
Trang 35đau đầu nhiều thì gia Cúc hoa, Mạn kinh tử, Cốc tinh thảo Ngủ ít gia Bá tử nhân, Toan táo nhân
CAN HỎA THƯỢNG VIÊM
1 Nguyên nhân:
Chứng can hoả thượng viêm là triệu chứng biểu hiện do can hoả nghịch lên Có thể vì can khí
mất sơ tiết, rồi hoả xông lên, tức là “khí hữu dư tức là hoả” Hoặc vì giận dữ quá hại can, can
khí chướng ra quá mạnh làm cho can hoả thăng lên, hoặc vì tình chí không thoả mãn, ngũ chí hoá hoả, hoặc nhiệt tà xâm vào động đến can hoả mà sinh chứng này
2 Chứng trạng:
Mặt đỏ bừng, mắt đỏ, miệng đắng, họng khô, tai ù hoặc điếc đột ngột, đầu choáng váng, chướng đau, phát sốt, phía sườn nóng đau, phiền nóng, dễ giận, nhiều chiêm bao, ít ngủ, đại tiểu tiện bí sáp, tiểu tiện ngắn đỏ, thổ nục lạc huyết, rìa lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác
3 Cơ chế bệnh sinh:
Can khí hữu dư chuyển hoá thành hoả Vương Húc Cao nói: “Can khí hoả đốt nóng, du hành khắp tam tiêu, khắp trên dưới trong ngoài toàn thân đều có thể gây bệnh” Cho nên chứng
này biểu hiện có 2 phần chính: 1 là thực nhiệt, 1 là thượng xung, và thế đến gấp vội
* Hoả tính là bốc lên, can hoả theo đường kinh đến xương sườn cụt, rồi tiến lên quấy nhiễu thanh khiếu, đi lên đầu, mặt, tai, mắt Cho nên vùng sườn nóng đau, phát sốt, mặt đỏ, mắt đỏ, họng khô, tai điếc, đầu choáng chướng đau
* Can nhiệt truyền đởm làm nước mật tràn lên cho nên miệng đắng
* Nhiệt quấy nhiễu thần hồn cho nên phiền giận, nhiều chiêm bao
* Nhiệt bức huyết vọng hành thì huyết chạy loạn cho nên thổ nục, khái huyết Hoả có thể đốt
âm hoá tân, cho nên hầu họng khô ráo, đại tiểu tiện bí kết
4 Luận trị:
– Phép điều trị: Thanh tả can hoả
– Phương dược: Long đởm tả can thang (Y phương tập giải)
Long đởm thảo 10g Sài hồ 10g Sinh địa 15g
Chi tử 15g Hoàng cầm 15g Sinh cam thảo 10g
Mộc thông 15g Trạch tả 20g
Đương qui 5g Xa tiền tử 15g
Trang 36Ý nghĩa: Long đởm thảo để tả thực hoả của can đởm, tả thấp nhiệt ở hạ tiêu là thần dược
Hoàng cầm, Chi tử để tả hoả là quân Trạch tả, Mộc thông, Xa tiền tử để thanh nhiệt lợi thấp đưa ra bằng tiểu tiện, Sinh địa, Đương qui để tư âm dưỡng huyết là tá Sài hồ dẫn thuốc vào can đởm, Cam thảo điều hoà các vị thuốc là sứ Nếu không đỡ thì gia Hoàng liên để tả tâm (tả con)
CAN KHÍ UẤT KẾT VÀ CAN KHÍ HOÀNH NGHỊCH
1 Nguyên nhân:
– Chứng can khí uất kết là những triệu chứng vì can sơ tiết không kịp, khí cơ không thông lợi
mà biểu hiện ra
– Chứng can khí hoành nghịch là chứng do can sơ tiết thái quá, khí cơ hoành nghịch mà biểu hiện ra Mỗi khi tình chí uất ức hoặc vì những nguyên nhân khác mà làm cho can mất tính sơ tiết thì sẽ gây nên 2 chứng này (Thuộc bệnh SNTK do Stress, các bệnh lý gan mật)
2 Chứng trạng:
Tinh thần uất ức thiếu vui, dễ giận, tính nóng, ngực sườn đầy tức hoặc chướng đau, trong họng có vướng mắc (mai hạch khí), hoặc cổ gáy nổi bướu, tràng nhạc, ăn uống kém, hay chiêm bao, dễ kinh sợ, 2 vú chướng đau, kinh nguyệt rối loạn, đau xuống bụng dưới, sườn bụng có khối cứng, mạch huyền
– Chứng can khí uất kết: uất ức không vui, ngực sườn tức đầy
– Chứng can khí hoành nghịch: dễ giận, 2 sườn chướng đau, hoặc đau xuống bụng dưới, hay chiêm bao, dễ kinh sợ
3 Cơ chế bệnh sinh:
Can là tạng cương tính, can mộc thăng tán thích thoải mái, nếu tình chí không thông xướng
do kích thích quá độ, làm mất tính khoan khoái của can sẽ sinh ra chứng can khí uất kết Can khí uất kết sẽ luỵ đến các tạng phủ khác như: can khí thừa tỳ, xung tâm, phạm phế Can khí không sơ tiết, uất kết ở trong, tính khí mất điều hoà cho nên thấy uất ức, ngực sườn đầy tức,
vú chướng, trong họng như hóc (mai hạch khí) Khí không điều đạt, ảnh hưởng đến trung tiêu, mộc không sợ thổ cho nên thấy đầy hơi không muốn ăn uống Khí uất đã lâu, ảnh hưởng đến sự vận hành của huyết và sự vận hoá cơm nước, mà sinh ra đàm ngưng huyết ứ, cho nên sinh tràng nhạc bướu cổ, ngực sườn có khối cứng Can khí mất điều hoà, mạch xung, mạch nhâm cũng theo đó mà không hoà, nên kinh nguyệt rối loạn, hay đau bụng kinh Can khí hoành nghịch thì thần hồn không yên, cho nên dễ giận, ngực sườn đau chạy, hay chiêm bao, dễ kinh sợ Can khí hoành nghịch, mộc mạch thừa thổ, phạm vị, khắc tỳ nên không muốn ăn và tiêu hoá không tốt
Trang 374 Luận trị:
– Phép điều trị: Sơ can lý khí
– Dược vị:
Thuốc sơ can giải uất: Sài hồ
Thuốc lý khí: Ô dược, Chỉ thực, Chỉ sác, Hương phụ, Trần bì, Uất kim, Xuyên luyện tử, Huyền hồ, Trầm hương
– Phương dược:
* Tứ nghịch tán (Thương hàn luận):
Cam thảo 8g Thược dược 12g
ý nghĩa: Sài hồ để thâu tà thăng dương nhằm sơ can giải uất là quân dược; Chỉ thực để hạ khí
kết hợp với Sài hồ làm khí thăng giáng điều hoà lại là thần; Thược dược để ích âm dưỡng huyết, hợp với Sài hồ để sơ can lý khí là tá; Cam thảo ích khí kiện tỳ, điều hoà các vị thuốc là
sứ
* Sài hồ sơ can tán (Cảnh Nhạc toàn thư):
Ý nghĩa: Bài này chính là bài Tứ nghịch tán để sơ can giải uất, gia Trần bì, Hương phụ làm
tăng tác dụng lý khí, Xuyên khung để dưỡng can huyết
Sa sâm, Mạch môn, Quy thân, Kỷ tử, Xuyên luyện tử (Bài Nhất quán tiễn)
– Can khí uất phạm tỳ vị thì gia các vị kiện tỳ như Bạch truật, Bạch linh, Đảng sâm
– Can khí uất lâu có thể sinh đàm thì gia các vị trừ đàm như Bán hạ, Nam tinh
Thược dược 15g Hương phụ 15g Chỉ sác 15g Xuyên khung 15g Cam thảo 5g
Trang 38TỲ
HỌC THUYẾT TẠNG TỲ
1 Chức năng của tỳ vị:
Tỳ vị ở vùng trung tiêu, tỳ chủ việc vận hoá cơm nước, vị chủ việc thu nạp thức ăn đồ uống
Tỳ khí có tính thăng lên, vị khí có tính giáng xuống Hai cơ quan này cũng coi về khí trung tiêu, là gốc của hậu thiên, là gốc sinh hoá ra khí huyết Tỳ ghét thấp, thống huyết
1.1 Tỳ chủ việc vận hoá đồ ăn và thủy thấp:
– Vận hoá đồ ăn là sự tiêu hoá, hấp thu và vận chuyển chất tinh vi của đồ ăn Thức ăn sau khi vào vị sẽ được vị chứa đựng và làm nhừ rồi đưa xuống tiểu trường Tại đó, chất tinh vi của đồ
ăn được tỳ hấp thu và chuyển lên phế, được phế đưa vào huyết mạch để rồi tâm đẩy huyết
đem đi nuôi dưỡng toàn thân Công năng vận hoá đồ ăn của tỳ gọi là “kiện vận” Nếu tỳ mất
kiện vận thì sinh các chứng rối loạn tiêu hoá: không muốn ăn, ăn khó tiêu, bụng chướng, tiết
tả, bệnh lâu không ăn uống được là khí của hậu thiên muốn tuyệt
– Vận hoá thủy thấp: tỳ đưa nước đến các tổ chức cơ thể để nuôi dưỡng, sau đó chuyển xuống thận rồi bàng quang để bài tiết ra ngoài Như vậy việc đại tạ của nước trong cơ thể là do sự vận hoá của tỳ phối hợp với sự túc giáng của phế và sự khí hoá của thận Sự vận hoá thủy thấp của tỳ kém sẽ gây chứng đàm ẩm, nước tràn ra tứ chi gây chứng phù thũng, xuống đại trường gây ỉa chảy, vào khoang bụng thành cổ trướng
Sự kiện vận của tỳ vị là gốc của hậu thiên, là gốc sinh hoá ra khí huyết của cơ thể, nên nói tỳ
vị chủ về trung khí Trên lâm sàng, công tác chẩn đoán và điều trị bệnh đều chú trọng đến sự thịnh suy của tỳ vị Khí của tỳ vị gọi là trung khí hay vị khí dùng để tiên lượng sự tốt hay xấu
của bệnh và dự kiến kết quả công tác điều trị Người xưa nói: “Vị khí là gốc của con người”,
“còn vị khí thì sống, hết vị khí thì chết” Lý Đông Viên nói: “Nguyên khí sung túc, đều do khí của tỳ vị không bị tổn thương Khi khí của tỳ vị đã tổn thương thì nguyên khí cũng không đầy
đủ được, các bệnh do đó mà sinh ra” Tác gia y đời sau tuân theo thuyết ấy coi trọng biện
chứng về bệnh tỳ vị
1.4 Tỳ chủ cơ nhục và tứ chi:
Tỳ đem các chất tinh vi của đồ ăn đến nuôi dưỡng cơ nhục và tứ chi, nếu tỳ khí đầy đủ thì cơ nhục rắn chắc, tứ chi linh hoạt Trái lại, nếu tỳ khí hư thì cơ nhục mềm yếu, gây các chứng
Trang 39thoát vị như sa trực tràng, sa sinh dục, sa dạ dày, tứ chi mỏi yếu sức, hoặc bại liệt thân mình nặng nề
1.5 Theo đường tuần hành của kinh lạc:
Đường kinh của tỳ bắt đầu ở chân qua gối, đùi vào bụng, liên lạc với hai bên họng, tán ra dưới lưỡi Đường kinh có bệnh thì có thể xuất hiện các chứng cổ sưng, bụng sưng, đầu gối đau, đùi đau Vị kinh có bệnh thấy các chứng đau đầu vùng trán đau, họng đau, răng lợi sưng đau, mũi ra máu
2 Quan hệ giữa tỳ với các tổ chức khí quan khác:
2.1 Tỳ khai khiếu ở miệng:
Khai khiếu ở miệng là nói về sự ăn uống, khẩu vị Tỳ mạnh thì muốn ăn, ăn ngon miệng Tỳ
hư thì chán ăn Thấp trở ở trong thì miệng nhạt, miệng dính nhờn, lưỡi bệu, rêu dày Thấp nhiệt chứa đọng ở trong thì miệng ngọt, miệng thối, miệng lưỡi sinh lở
2.2 Tươi tốt ở môi:
Tỳ chủ cơ nhục, lại khai khiếu ra miệng cho nên biểu hiện sự vinh nhuận ở môi Tỳ mạnh thì môi hồng nhuận Tỳ hư thì môi trắng bệch, tỳ nhiệt thì môi đỏ, môi nứt
2.3 Tỳ khí nên thăng, vị khí nên giáng:
Tỳ khí không thăng thì sinh huyễn vững, tỳ khí hãm xuống dưới thì bụng chướng, bụng dưới chướng trụy, thoát giang Vị mất hoà giáng thì ợ hơi, nôn mửa
3 Quan hệ giữa tỳ với các tạng phủ:
Tỳ với vị là biểu lý, với tâm phế là tương sinh, với can thận là tương khắc
3.1 Với vị là biểu lý:
Vị chứa đựng và làm nhừ đồ ăn rồi đưa xuống tiểu trường Tỳ và vị có quan hệ biểu lý với
nhau, cùng giúp cho sự vận hoá đồ ăn, nên gọi chung là “gốc của hậu thiên”
Sự khác nhau giữa bệnh tỳ vị, thì từ thời xưa cho rằng: “Thực thì bệnh vị, hư thì bệnh tỳ”, tức
là bệnh tỳ phần nhiều là chứng hư Lấy khí hư là gốc, lưu thấp là ngọn Bệnh vị phần nhiều là chứng thực Tính vị thích nhuận mà ghét táo, khí nên hoà giáng Khi có bệnh thì chính khí nghịch, thiếu tâm là thường thấy
3.2 Tương sinh với tâm phế:
– Hoả không sinh thổ: Trước là tâm dương hư, sau xuất hiện chứng tỳ không kiện vận
Trang 40– Thổ không sinh kim: Trước là tỳ nhược, sau là phế hư
3.3 Tương khắc với can thận:
– Mộc khắc thổ: Trước bệnh can, sau xuất hiện chứng tỳ không kiện vận
– Thổ khắc thủy: Trước xuất hiện bệnh tỳ, sau xuất hiện thận hư
4 Các triệu chứng bệnh của tỳ vị:
4.1 Triệu chứng bệnh của tỳ:
Thực: Khí tích, thực tích, đàm ẩm, cổ trướng, bụng đầy đau
Hư: Sắc mặt vàng xạm, chân tay mềm yếu, mệt mỏi, đoản hơi, lòi dom, ỉa chảy
Nhiệt: môi đỏ, chốc mép, mồm ngọt, nước dãi đặc dính, bụng đau, ỉa khẳm
Hàn: ăn không tiêu, bụng đau, ỉa chảy, chân tay lạnh, môi lưỡi nhạt, mạch trì
4.2 Chứng trạng bệnh của vị:
Thực: bụng đầy đau, ợ chua, hơi nặng mùi, đại tiện kết
Hư: môi lưỡi nhạt, không muốn ăn, nôn
Nhiệt: mồm hôi, môi đỏ, loét mồm, ăn nhiều chóng đói, uống nhiều hay khát, bụng cồn cào, lợi sưng
Hàn: dạ dày đau âm ỉ, nôn chất trong, môi lưỡi bệch, mạch trầm trì, thích nóng