HUE UNIVERSITY OPEN AND INFORMyATICS INSTITUTE ---ASSIGNMENT CROSS-CULTURAL COMMUNICATION THE ROLES OF CROSS - CULTURAL COMMUNICATION AND HOW VIETNAMESE CULTURE INFLUENCE ON LEARNING AN
Trang 1HUE UNIVERSITY OPEN AND INFORMyATICS INSTITUTE
-ASSIGNMENT CROSS-CULTURAL COMMUNICATION
THE ROLES OF CROSS - CULTURAL COMMUNICATION AND HOW VIETNAMESE CULTURE INFLUENCE ON LEARNING AND TEACHING ENGLISH
PHÂN CÔNG GIAO TIẾP XUYÊN VĂN HÓA
VAI TRÒ CỦA CROSS - GIAO TIẾP VĂN HÓA
VÀ ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA VIỆT NAM ĐẾN NHƯ THẾ NÀO
HỌC VÀ DẠY TIẾNG ANH
Trang 2Language is a means of expression We express our feelings, emotions, thoughts, needs, desires etc in words, symbols and gesture which is considered as language Language can be defined as verbal, physical, biologically innate, and a basic form of communi cation Culture is the characteristics of a particular group of people, defined by everything from language, religion, cuisine, social habits, music and arts Thus culture finds its expression in language; so, learning a new language without familiarity wi th its culture remains incomplete This article aims at defining culture, its relationship with language and what role it plays in teaching and learning English as a foreign or second language This paper also aims at a deep looking into Vietnamese culture to find out how this culture influence on learning and teaching foreign language and in this case it
is English As a result, once we have knowledge about this matter, we will find the best way to fit into Vietnamese culture at the same time achieving English proficiency as wishing
Unquestionably, in the line with globalization which is the widespread trend nowadays, English is becoming global language It leads to the need of teaching and learning this international language everywhere in the whole world However, no one can deny that language and culture cannot be separate from our daily lives (Maley, 1996) It means that language the most important communication tool of human -plays an essential role in the perpetuation of culture (Kramsch, 2000) Language is one part which contributes in forming culture of one community and cultural factor presents
in all aspect of language communication Therefore, 'different cultural traditions do embody different attitudes to knowledge' (Ballard and Clanchy, 1997: 9) and this forms variety of Englishes, for example, Singlish (English of Singaporean) With the same way of thinking, Pennycook (1997) also supposes that language needs to be understood within the particular context in which it is used.English which belongs to Western culture, stands in the opposite side This feature causes difficulties not only for learners but also for teachers who both directly involve in learning and teaching English
1 GIỚI THIỆU
Ngôn ngữ là phương tiện biểu đạt Chúng ta thể hiện cảm xúc, cảm xúc, suy nghĩ, nhu cầu, mong muốn, v.v bằng lời nói, biểu tượng và cử chỉ được coi là ngôn ngữ Ngôn ngữ có thể được định nghĩa là lời nói, thể chất, bẩm sinh về mặt sinh học và là hình thức giao tiếp cơ bản Văn hóa là đặc điểm của một nhóm người
cụ thể, được xác định bởi mọi thứ từ ngôn ngữ, tôn giáo, ẩm thực, thói quen xã hội, âm nhạc và nghệ thuật Vì vậy, văn hóa tìm thấy sự thể hiện của nó trong ngôn ngữ; vì vậy, việc học một ngôn ngữ mới mà không làm quen với văn hóa của nó vẫn chưa đầy đủ Bài viết này nhằm mục đích xác định văn hóa, mối quan
hệ của nó với ngôn ngữ và vai trò của nó trong việc dạy và học tiếng Anh như ngôn ngữ nước ngoài hay ngôn ngữ thứ hai Bài
Trang 3viết này cũng nhằm mục đích tìm hiểu sâu về văn hóa Việt Nam
để tìm hiểu xem nền văn hóa này ảnh hưởng như thế nào đến việc học và dạy ngoại ngữ và trong trường hợp này là tiếng Anh Nhờ đó, khi đã có kiến thức về vấn đề này, chúng ta sẽ tìm ra cách tốt nhất để hòa nhập với văn hóa Việt Nam đồng thời đạt được trình độ tiếng Anh như mong muốn
Không thể phủ nhận, cùng với xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra rộng rãi hiện nay, tiếng Anh đang dần trở thành ngôn ngữ toàn cầu Dẫn đến nhu cầu dạy và học ngôn ngữ quốc tế này ở khắp mọi nơi trên toàn thế giới Tuy nhiên, không ai có thể phủ nhận rằng ngôn ngữ và văn hóa không thể tách rời khỏi cuộc sống hàng ngày của chúng ta (Maley, 1996) Điều đó có nghĩa là ngôn ngữ - công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người - đóng một vai trò thiết yếu trong sự tồn tại của văn hóa (Kramsch, 2000) Ngôn ngữ là một phần góp phần hình thành văn hóa của một cộng đồng và là yếu tố văn hóa hiện diện trong mọi mặt của giao tiếp ngôn ngữ Do đó, 'các truyền thống văn hóa khác nhau thể hiện thái độ khác nhau đối với kiến thức' (Ballard và Clanchy, 1997: 9) và điều này hình thành nên sự đa dạng của tiếng Anh,
ví dụ như Singlish (tiếng Anh của người Singapore) Với cách suy nghĩ tương tự, Pennycook (1997) cũng cho rằng ngôn ngữ cần phải được hiểu trong bối cảnh cụ thể mà nó được sử dụng Tiếng Anh thuộc nền văn hóa phương Tây thì ngược lại Đặc điểm này gây khó khăn không chỉ cho người học mà còn cho cả giáo viên, những người trực tiếp tham gia vào việc học và dạy tiếng Anh
2.CONTENT
2.1 Vietnamese culture influence on learning and teaching English
Vietnamese has to face with cross-culture issue witth the teaching and learning English as Vietnamese culture is ‘villagers culture’ which consider relationship in village as family relations and an emphasis “on hierarchical, social order in their dealings with one other'' (Ellis, 1995: 9) with a traditional teaching method which is teacher - centered, book - centered, grammar - translation method and an emphasis on rote memory (Liu & Little Wood, 1997), English which belongs to Western culture, stands in the opposite side This paper aims at a deep looking into Vietnamese culture
to find out how this culture influence on learning and teaching foreign language and in this case it is English Consequently, the differences between cultures can reduce the effectiveness of learning and teaching activity Therefore, both learners and teachers
Trang 4should be aware of these distinctive features to help themselves overcome cultural barriers in learning and teaching process with the best achievement
2.NỘI DUNG
2.1 Ảnh hưởng văn hóa Việt Nam đến việc học và dạy tiếng Anh Người Việt Nam phải đối mặt với vấn đề xuyên văn hóa trong việc dạy và học tiếng Anh vì văn hóa Việt Nam là 'văn hóa dân làng' coi mối quan hệ trong làng là quan hệ gia đình và nhấn mạnh vào “thứ bậc, trật tự xã hội trong cách họ ứng xử với nhau” (Ellis , 1995: 9) với phương pháp dạy học truyền thống lấy giáo viên làm trung tâm, lấy sách làm trung tâm, ngữ pháp -dịch thuật và nhấn mạnh vào trí nhớ thuộc lòng (Liu & Little Wood, 1997), tiếng Anh vốn thuộc về văn hóa phương Tây, thì ngược lại bên Bài viết này nhằm mục đích đi sâu tìm hiểu văn hóa Việt Nam để tìm hiểu xem nền văn hóa này ảnh hưởng như thế nào đến việc học và dạy ngoại ngữ và trong trường hợp này
là tiếng Anh Do đó, sự khác biệt giữa các nền văn hóa có thể làm giảm hiệu quả của hoạt động dạy và học Vì vậy, cả người dạy và người học đều cần nhận thức được những đặc điểm nổi bật này để giúp bản thân vượt qua những rào cản văn hóa trong quá trình dạy và học đạt kết quả tốt nhất
2.1.1 How these cultural features affecting on teaching and learning English
in Vietnam andsome recommendations
Firstly, the typical characteristic of Vietnamese which have influence on learning
is the hesitation and shyness As Duong, Diller and Sutherland (1975: 126)
states:“According to Vietnamese custom, one should remain modest and humble, showing the extent of knowledge or skills only when asked In Vietnam, there is the motto of saying less than what one actually knows, often and admirable characteristic Modesty and humility for Vietnamese are very important social graces, and deeply ingrained into their identity”.
Besides, as Tomlinson &BaoDat (2004) find out “one student started a little but correctly is more important than verbalizing a lot but wrongly, and attitude that came from many of her teachers in the past who had paid much emphasis on perfection This coincides with Lewis & McCook (2002: 147) view that verbal perfection has been traditionally valued across many Asian cultures This makes learners are rather quiet in class and seldom volunteer to express theirideas or to contribute to the lesson, let alone asking question to the teachers It leads to “one way question” all the time in class In other words, only teachers give out the question and learners just wait for the answer
Trang 5And when they are asked to make questions, their response questions usually carry practicing characteristic
Secondly, when discussing and presenting ideas before their group or the whole class, learners’ ideas are all prepared beforehand which lack of quick reaction in communication Even when teachers encourage debate or discussion, the conflict or discussion still occupy with very small percentage of the time That is because of harmony characteristic of Vietnamese As it result, Vietnamese people tent to concede
to others and “try to avoid disagreement to the extent that they may express agreement while privately disagreeing” (Brick & Louie, 1984: 53) Besides that, the reason for conflict avoidance also is the fear of losing face Because when people feel that they have been shamed or lost face, they may “react impassively and withdraw from the situation or relationship”
2.1.1 Những nét văn hóa này ảnh hưởng như thế nào đến việc dạy và học tiếng Anh ở Việt Nam và một số kiến nghị
Thứ nhất, đặc điểm điển hình của người Việt có ảnh hưởng đến việc học là sự ngại ngùng, nhút nhát Như Dương, Diller và Sutherland (1975: 126) nêu rõ: “Theo phong tục của người Việt, người ta phải khiêm tốn và khiêm tốn, chỉ thể hiện mức độ hiểu biết hoặc kỹ năng khi được hỏi Ở Việt Nam có phương châm nói
ít hơn những gì mình biết, đó là một đặc điểm đáng ngưỡng mộ
Sự khiêm tốn, khiêm nhường đối với người Việt Nam là đức tính
xã hội rất quan trọng, đã ăn sâu vào bản sắc của họ”
Bên cạnh đó, như Tomlinson & BaoDat (2004) nhận thấy “một học sinh bắt đầu một chút nhưng đúng còn quan trọng hơn là nói nhiều nhưng sai, và thái độ đó đến từ nhiều giáo viên trước đây của cô, những người rất chú trọng đến sự hoàn hảo Điều này trùng hợp với quan điểm của Lewis & McCook (2002: 147) rằng
sự hoàn hảo trong lời nói đã được coi trọng theo truyền thống ở nhiều nền văn hóa châu Á Điều này khiến cho người học khá im lặng trong lớp và ít khi tự nguyện phát biểu ý kiến hay đóng góp vào bài học chứ chưa nói đến việc đặt câu hỏi cho giáo viên Nó luôn dẫn đến “câu hỏi một chiều” trong lớp Nói cách khác, chỉ
có giáo viên đưa ra câu hỏi và người học chỉ chờ đợi câu trả lời
Và khi được yêu cầu đặt câu hỏi, những câu trả lời của họ thường mang tính chất thực hành
Thứ hai, khi thảo luận và trình bày ý tưởng trước nhóm hoặc cả lớp, ý tưởng của người học đều được chuẩn bị sẵn, thiếu phản ứng nhanh trong giao tiếp Ngay cả khi giáo viên khuyến khích tranh luận hoặc thảo luận thì xung đột hoặc thảo luận vẫn chiếm
Trang 6tỷ lệ rất nhỏ trong thời gian Đó là vì sự hòa hợp đặc trưng của người Việt Kết quả là, người Việt Nam có xu hướng nhượng bộ người khác và “cố gắng tránh sự bất đồng đến mức họ có thể bày tỏ sự đồng tình trong khi lại không đồng ý một cách riêng tư” (Brick & Louie, 1984: 53) Ngoài ra, lý do né tránh xung đột còn là sợ mất mặt Bởi vì khi mọi người cảm thấy mình bị xấu hổ hoặc mất mặt, họ có thể “phản ứng một cách thiếu kiên nhẫn và rút lui khỏi tình huống hoặc mối quan hệ”
Finally, with the “suspicious of creativity” (Ellis, 1995: 10), both teachers and learners feel more comfortable when teaching and learning strictly base on textbook (with teachers are lesson plans) They prefer the concrete-sequential and linear manner All improvisation or variations which out of preparation are not highly evaluated from both sides This create a tedious or repetition and also create no motivation for teachers and learners.Hofstede (1991) shows that “one of the reasons why so many solutions do not work or cannot be implemented is that differences in thinking among the partner have been ignored”.Therefore, with the Vietnamese learners, they should show their willingness to make any necessary changing to adapt new way of learning to take them closer to the new language as the same as new culture
With the teachers, in order to have a better result in teaching, they should have
an open-minded to realize what they should apply or what hey should adjust in teaching Firstly, teacher should realize the obstacles, needs and abilities of learners, and accept their learning styles and find the way to help them develop the suitable learning strategies Base on learners learning styles to readjust teachers’ teaching methods and techniques Teachers can ask students about their favourite ways of learning, what assistance they need from their teachers or let them write diaries (for days, weeks, or months) about what they like and what they dislike, or what they thinking about English periods In this way, teachers always can update with their learners’ information Secondly, when having enough data about their students, teachers try to alter teaching style to create the matching for both students and teachers When learners are provided with a variety of learning activities to meet the needs of each student, then all students will have at least some activities that appeal to meet their needs and ability They are more likely to successful in those activities Thirdly, teachers should create a friendly and trustful environment to facilitate learners to a feeling that “teachers as a member of their family” as Vietnamese learners are very open when they think their teachers and themselves both in one group with the same interest Teachers should not let students think that “all teachers are outsiders to the cultures of their students” (Holliday, 1994) The comfort and trustfulness are crucial psychology and cultural factors in learning and teaching English
Cuối cùng, với “nghi ngờ về tính sáng tạo” (Ellis, 1995: 10), cả người dạy và người học đều cảm thấy thoải mái hơn khi dạy và
Trang 7học theo đúng SGK (với giáo viên là giáo án) Họ thích cách thức tuần tự cụ thể và tuyến tính Mọi sự ngẫu hứng hay biến tấu không có sự chuẩn bị đều không được hai bên đánh giá cao Điều này tạo ra sự nhàm chán, lặp đi lặp lại và cũng không tạo được động lực cho người dạy và người học Hofstede (1991) cho thấy
“một trong những nguyên nhân khiến nhiều giải pháp không hiệu quả hoặc không thể thực hiện được là do sự khác biệt trong suy nghĩ giữa các đối tác đã bị bỏ qua” Vì vậy, với người học tiếng Việt, họ nên thể hiện sự sẵn sàng thực hiện những thay đổi cần thiết để thích ứng với cách học mới nhằm đưa họ đến gần hơn với ngôn ngữ mới cũng như nền văn hóa mới
Với giáo viên, để đạt được kết quả giảng dạy tốt hơn, họ cần có
tư duy cởi mở để nhận ra mình nên áp dụng điều gì, điều gì cần điều chỉnh trong quá trình giảng dạy Trước hết, giáo viên cần nhận thấy những trở ngại, nhu cầu, khả năng của người học, chấp nhận cách học của họ và tìm cách giúp họ xây dựng chiến lược học tập phù hợp Căn cứ vào cách học của người học để điều chỉnh phương pháp, kỹ thuật giảng dạy của giáo viên Giáo viên có thể hỏi học sinh về cách học yêu thích của các em, những trợ giúp nào từ giáo viên hoặc để các em viết nhật ký (theo ngày, tuần hoặc tháng) về những gì các em thích và những
gì các em không thích hoặc các em nghĩ gì về các tiết học tiếng Anh Bằng cách này, giáo viên luôn có thể cập nhật thông tin của người học Thứ hai, khi có đủ dữ liệu về học sinh, giáo viên cố gắng thay đổi cách dạy để tạo sự phù hợp cho cả học sinh và giáo viên Khi người học được cung cấp nhiều hoạt động học tập
đa dạng đáp ứng nhu cầu của từng học sinh thì tất cả học sinh
sẽ có ít nhất một số hoạt động hấp dẫn đáp ứng được nhu cầu và khả năng của mình Họ có nhiều khả năng thành công hơn trong những hoạt động đó Thứ ba, giáo viên cần tạo môi trường thân thiện, tin cậy để người học có cảm giác “giáo viên như thành viên trong gia đình” cũng như người học Việt Nam, họ rất cởi mở khi coi cả giáo viên và bản thân mình đều ở trong một nhóm có cùng mối quan tâm Giáo viên không nên để học sinh nghĩ rằng
“tất cả giáo viên đều là người ngoài cuộc đối với nền văn hóa của học sinh” (Holliday, 1994) Sự thoải mái, tin cậy là yếu tố tâm lý, văn hóa quan trọng trong việc học và dạy tiếng Anh
Trang 8teaching English
(a) Collectivism: There is a significant difference exists in educational situations
in individualist and collectivist cultures As other collectivism culture, in Vietnam homes and schools, the children are expected to take their opinions from others and to
go along with what is best for the group
One of the features which have great influence on education is that decisions are often based on means, not ends All decisions about career and tertiary study fields are made by family, not in dividuals Students may have their fees and living expenses paid
by their extended families The assumption is that they will always return to their homes and when they do all the family will share in a greater income the graduate can then earn
(b) Face saving: In a sense everyone is interlocked in the group face That is one
of the reason why Vietnamese student are accustomed to listening to the teachers and accepting what s/he says and it is difficult for students to askquestion in class They are afraid of loosing face and also afraid of causing the teacher to lose face as though disagreeing with what he or she says is adverse criticism, implying that the teacher is less than perfect One way to avoid that is Vietnamese students will try to ask in private afterwards or rather ask their classmates
© High context: The context level refers to how much you have before effective
communication can occur Collectivist cultures belong to high context and individualist cultures belongs to low context In high context culture like Vietnam, they have a lot of implicit meaning in what is said, using a shared code, concentrating on group orientations and stressing nonverbal communication Members of high context culture tend to use an indirect style of speech because the image of group harmony is essential (Gudykunst, 1991:96) They want to know others' status and background in order to reduce uncertainty and know which version of the language to use (as there are different ways to speak to people who are superiors, equals or inferiors)
(d) Vietnamese communication practices: Once of the most important feature
of Vietnamese communication practices is the differentiation between ingroup and outgroup members Ingroup members are the people have close relationship, same value system, cultural standards, symbols and beliefs Ingroup members are considered
as "I" or "we" and are behaves as "members of the family" On the other hand, outgroup members are strangers who seems to not have "the same voice" or "on the same boat" Vietnamese tend to treat them in a safe and effective way as "honor guest."
2.1.2 Một số đặc điểm văn hóa Việt Nam ảnh hưởng đến việc học và dạy tiếng Anh
(a) Chủ nghĩa tập thể: Có sự khác biệt đáng kể về tình hình giáo dục ở các nền văn hóa theo chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể Giống như các nền văn hóa chủ nghĩa tập thể khác, ở gia
Trang 9đình và trường học ở Việt Nam, trẻ em được mong đợi sẽ tiếp thu
ý kiến của người khác và làm theo những gì tốt nhất cho nhóm Một trong những đặc điểm có ảnh hưởng lớn đến giáo dục là các quyết định thường dựa trên phương tiện chứ không phải mục đích Mọi quyết định về nghề nghiệp và lĩnh vực học tập đại học đều do gia đình đưa ra chứ không phải của từng cá nhân Học sinh có thể được đại gia đình chi trả học phí và chi phí sinh hoạt Giả định là họ sẽ luôn quay trở lại nhà của mình và khi họ làm như vậy, cả gia đình sẽ chia sẻ thu nhập lớn hơn mà người tốt nghiệp có thể kiếm được
(b) Tiết kiệm khuôn mặt: Theo một nghĩa nào đó, mọi người đều gắn kết với nhau trong khuôn mặt nhóm Đó là một trong những
lý do khiến học sinh Việt Nam có thói quen lắng nghe giáo viên
và tiếp thu những gì giáo viên nói và rất khó đặt câu hỏi trong lớp Họ sợ mất mặt và cũng sợ làm thầy mất mặt như thể không đồng tình với những gì mình nói là phê phán bất lợi, ám chỉ thầy chưa hoàn hảo Một cách để tránh điều đó là sau đó sinh viên Việt Nam sẽ cố gắng hỏi riêng hoặc hỏi các bạn cùng lớp
© Ngữ cảnh cao: Mức độ ngữ cảnh đề cập đến mức độ bạn có trước khi giao tiếp hiệu quả có thể diễn ra Văn hóa tập thể thuộc bối cảnh cao và văn hóa cá nhân thuộc bối cảnh thấp Trong văn hóa ngữ cảnh cao như Việt Nam, lời nói mang nhiều
ẩn ý, sử dụng mật mã chung, tập trung vào định hướng nhóm và nhấn mạnh vào giao tiếp phi ngôn ngữ Các thành viên của văn hóa ngữ cảnh cao có xu hướng sử dụng phong cách nói gián tiếp
vì hình ảnh hòa hợp của nhóm là điều cần thiết (Gudykunst, 1991:96) Họ muốn biết địa vị và lý lịch của người khác để giảm bớt sự không chắc chắn và biết nên sử dụng phiên bản ngôn ngữ nào (vì có nhiều cách khác nhau để nói chuyện với những người cấp trên, ngang bằng hoặc thấp kém hơn)
(d) Thực tiễn giao tiếp tiếng Việt: Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của thực tiễn giao tiếp tiếng Việt là sự khác biệt giữa các thành viên trong nhóm và ngoài nhóm Các thành viên trong nhóm là những người có mối quan hệ chặt chẽ, cùng hệ giá trị, chuẩn mực văn hóa, biểu tượng và tín ngưỡng Các thành viên trong nhóm được coi là "tôi" hoặc "chúng tôi" và cư xử như
"thành viên của gia đình" Mặt khác, các thành viên outgroup là những người xa lạ, dường như không có “tiếng nói chung” hay
Trang 10“chung thuyền” Người Việt có xu hướng đối xử với họ một cách
an toàn và hiệu quả như những “khách danh dự”
2.2 The roles of cross - cultural communication in learning and teaching English
2.2.1 Language
Communication is one of the most important activities of human being and language is one of the most powerful and prevalent means of communication systems (such as music, dance, gestures, language, etc.) Definition of Lewis (1990) shows that language is a tool of communication releasing information but it is much more than that, it has strengths and weakness, which plan national character an philosophy As in Pauwells and other (1998: 9) : “communication through language (spoken, written or signed) can only take place when the communication partners know and share the rules for combining sounds, graphic symbols, or sign into acceptable and recognizable words and the rules on conventions for combining words into sentences and longer texts” Because, people are living in different values, norms or cultural traditions, the language people use will be linked to and shaped by their social and cultural practices And again, like culture, language is not static They change in lexicon, grammar, pronunciation, spelling, signing or even the use of language According to these authors, language consists of 6 functions: medium of communication, means of identification, a symbol of identity, means of cognitive development, instrument of action and major tool in the construction and transmission of culture Cythia& Victor (1997) also have the same idea that language is an excellent medium for transmitting cultural values Knowing a language is not only knowing the units of language and how
to connect them to construct meanings but also knowing how to use language promptly
in a wide range of contexts
2.2 Vai trò của giao tiếp đa văn hóa trong việc dạy và học tiếng Anh 2.2.1 Ngôn ngữ
Giao tiếp là một trong những hoạt động quan trọng nhất của con người và ngôn ngữ là một trong những phương tiện mạnh mẽ và phổ biến nhất của
hệ thống giao tiếp (như âm nhạc, khiêu vũ, cử chỉ, ngôn ngữ, v.v.) Định nghĩa của Lewis (1990) cho thấy ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, giải phóng thông tin nhưng nó còn hơn thế nữa, nó có điểm mạnh và điểm yếu, quy định tính cách dân tộc thành một triết lý Như trong Pauwells và tác giả khác (1998: 9): “giao tiếp bằng ngôn ngữ (nói, viết hoặc ký hiệu) chỉ có thể diễn ra khi các đối tác giao tiếp biết và chia sẻ các quy tắc kết hợp âm thanh, ký hiệu đồ họa hoặc ký hiệu thành các từ và từ được chấp nhận và
dễ nhận biết quy định về quy ước ghép từ thành câu và đoạn văn dài hơn” Bởi vì, mọi người đang sống trong những giá trị, chuẩn mực hoặc truyền thống văn hóa khác nhau, ngôn ngữ mà mọi người sử dụng sẽ được liên kết
và định hình bởi các tập quán văn hóa và xã hội của họ Và một lần nữa,