QUÁ TRÌNH ĐẢNG TỪNG BƯỚC GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT VỚI PHÁP TRƯỚC KHI QUYẾT ĐỊNH PHÁT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC 19/12/19446.... Nhiệm vụ của đ ềtài Một là, làm rõ
Quá trình Đảng từng bước giải quyết xung đột với Pháp và nội dung đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp .- - - ô+ ng ng 9 TIỂU KẾT CHƯƠNG I . ©22- 2© EESEESEEEEEEEEEEE1E11E212111171E 1111112 Ece 15 Chương 2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG TỪNG BƯỚC GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT VỚI MỸ TRƯỚC KHI QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG BẠO LỰC CÁCH MẠNG (01/1959)
1.2.1 Quá trình Đảng giải quyết xung đột với Pháp
Từ tháng 9 năm 1945, theo thỏa thuận của phe Đồng minh, 20.000 quân đội Anh - Ấn đã đổ bộ vào Sài Gòn với nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật Bản sau khi thua trận ở miền Nam Việt Nam.
Vào sáng sớm ngày 23/9/1945, quân đội Anh đã hỗ trợ quân Nhật trong việc tấn công và chiếm đóng Sài Gòn - Chợ Lớn, khởi đầu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp tại Việt Nam.
Phía Nam vĩ tuyến 16, quân đội Anh đã thực hiện nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật và hỗ trợ thực dân Pháp quay lại Đông Dương Vào ngày 23/09/1945, với sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp đã nổ súng tấn công Sài Gòn, khởi đầu cuộc xâm lược lần thứ hai vào Việt Nam.
Vào thời điểm đó, trên lãnh thổ Việt Nam có khoảng 60.000 quân Nhật đang chờ giải giáp Một số lực lượng Nhật đã tuân thủ lệnh của quân Anh, phối hợp cùng họ để dọn đường cho quân Pháp mở rộng vùng chiếm đóng tại miền Nam.
Sau khi tuyên bố độc lập, Chính phủ lâm thời đã xác định ba nhiệm vụ cấp bách: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm Vào ngày 25/11/1945, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, trong đó nhận định tình hình thế giới và trong nước, đồng thời chỉ ra những thuận lợi và thử thách lớn lao của cách mạng Trung ương Đảng khẳng định rằng cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại vẫn mang tính chất dân tộc giải phóng và chưa hoàn thành vì nước ta chưa hoàn toàn độc lập Khẩu hiệu của chúng ta trong giai đoạn này vẫn tiếp tục được duy trì.
“Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết” thể hiện tinh thần đoàn kết chống lại âm mưu của các đế quốc tại Đông Dương Trung ương nhấn mạnh rằng kẻ thù chính hiện tại là thực dân Pháp xâm lược, và cần tập trung đấu tranh vào họ Do đó, việc thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp là cần thiết, đồng thời mở rộng Mặt trận Việt Minh để thu hút mọi tầng lớp nhân dân Cần thống nhất Mặt trận Việt - Miên - Lào và kiên quyết giành độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc.
Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc xác định nhiệm vụ quan trọng của nhân dân Việt Nam hiện nay là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, loại bỏ nội phản và cải thiện đời sống cho nhân dân Để thực hiện những nhiệm vụ này, Trung ương đã đề ra các công tác cụ thể.
V ềnội chính: xúc tiến việc b*ầi cử Quốc hội, thành lập chính phủ chính thức, lập Hiến pháp, củng cố chính quy ân nhân dân
V €quan sw: động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài
Về ngoại giao, Việt Nam kiên trì nguyên tắc “bình đẳng tương trợ”, mở rộng mối quan hệ hữu nghị và giảm thiểu xung đột Đặc biệt, Việt Nam thực hiện khẩu hiệu “Hoa - Việt thân thiện” trong quan hệ với quân đội Tưởng Giới Thạch, nhằm thúc đẩy sự hợp tác và hiểu biết lẫn nhau.
“độc lập v`êchính trị, nhân nhượng v`êkinh tế” đối với Pháp
Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc đã kịp thời giải quyết những vấn đề quan trọng liên quan đến chỉ đạo chiến lược và sách lược cách mạng, nhằm ứng phó khéo léo trong bối cảnh hiểm nghèo của đất nước.
Vào ngày 28 tháng 2 năm 1946, chính quyền Tưởng Giới Thạch và Chính phủ Pháp đã ký kết Hiệp ước Pháp - Hoa, trong đó trao cho thực dân Pháp quyền thay thế quân đội Tưởng để tước vũ khí quân Nhật tại miền Bắc Việt Nam Đồng thời, Pháp cũng đồng ý nhượng lại một số quyền lợi kinh tế trong thỏa thuận này.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đại diện Chính phủ Việt Nam ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 với Chính phủ Pháp, trong đó Pháp công nhận Việt Nam là quốc gia tự do với nghị viện, chính phủ, quân đội và tài chính riêng, thuộc Liên bang Đông Dương và Khối liên hiệp Pháp Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế quân Tưởng, với điều kiện sau 5 năm quân Pháp phải rút hết Hai bên cũng cam kết đình chỉ xung đột ở miền Nam và tiến hành đàm phán để ký hiệp định chính thức.
Sau khi ký Hiệp định sơ bộ, thực dân Pháp đã tìm cách trì hoãn đàm phán chính thức với Việt Nam và sớm vi phạm thỏa thuận Đảng lãnh đạo Chính phủ đã đấu tranh buộc Pháp phải mở cuộc đàm phán tại Pháp, nhưng hội nghị trù bị ở Đà Lạt vào ngày 19/04/1946 không đạt được thỏa thuận do thiếu thiện chí từ phía Pháp Trong thời gian ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với các đảng phái chính trị và tổ chức quốc tế, thể hiện lập trường hòa bình và nguyện vọng độc lập của Việt Nam Để thể hiện thiện chí, trước khi rời Pháp, Người đã ký bản Tạm ước với Chính phủ Pháp vào ngày 14/09/1946, thỏa thuận về quan hệ kinh tế, văn hóa và đình chỉ xung đột tại miền Nam, đồng thời hứa hẹn tiếp tục đàm phán vào tháng 01/1947.
Thiện chí và các hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam, mặc dù không đạt được mục tiêu ký hiệp định chính thức, đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và sự ủng hộ của nhân dân Pháp đối với Việt Nam Điều này cũng thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế, giúp họ hiểu rõ hơn về nguyện vọng hòa bình mãnh liệt của dân tộc Việt Nam Nhờ đó, chúng ta đã duy trì được một khoảng thời gian hòa bình quý giá, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển lực lượng trên mọi lĩnh vực.
Theo Hiệp ước Hoa - Pháp, quân đội Tưởng Giới Thạch có trách nhiệm rút khỏi miền Bắc Đông Dương trước ngày 31/03/1946 Tuy nhiên, thực tế đòi hỏi chúng ta phải tiến hành một cuộc đấu tranh kiên quyết để đảm bảo thực hiện cam kết này.
Cuối tháng 9 năm 1946, các lực lượng đã rút hết, trong khi bọn Việt quốc và Việt cách tan rã hoặc chạy ra nước ngoài Việc phanh phui vụ Ôn Như Hi và ngăn chặn âm mưu đảo chính của bọn phản cách mạng tay sai Pháp vào tháng 7 năm 1946 đã đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của chúng.
Bối cảnh lịch sử Việt Nam sau khi ký Hiệp định Giơnevơ và những hành động ¡183011 0e 0 P8
Hệ thống xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của Liên Xô, đã đóng góp tích cực vào sự lớn mạnh về kinh tế, quân sự và khoa học kỹ thuật Đồng thời, phong trào giải phóng dân tộc cũng tiếp tục phát triển mạnh mẽ, cùng với phong trào hòa bình và dân chủ đang gia tăng ở các nước tư bản.
Trong bối cảnh khó khăn, đế quốc Mỹ đã nổi lên với âm mưu bá chủ thế giới thông qua các chiến lược phản cách mạng liên tục được thực hiện bởi các tổng thống Thế giới bước vào thời kỳ chiến tranh lạnh và chạy đua vũ trang, dẫn đến sự bất đồng và chia rẽ trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là giữa Liên Xô và Trung Quốc.
Mỹ đã thay thế Pháp thực hiện chiến lược “lấp chỗ trống” tại miền Nam Việt Nam, đưa Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống và thiết lập một chính quyền tay sai Là một đế quốc với sức mạnh kinh tế và quân sự hàng đầu thế giới, Mỹ đã đặt ra một thách thức khắc nghiệt cho dân tộc Việt Nam khi phải đối đầu với kẻ thù mạnh nhất.
2.1.2 Bối cảnh trong nước và những hành động hiếu chiến của Mỹ
Bối cảnh Việt Nam sau tháng 7/1954
Sau khi ký hiệp định Giơnevơ vào tháng 7 năm 1954, Việt Nam tạm thời chia thành hai miền Nam - Bắc qua vĩ tuyến 17 Các bên tham gia Hội nghị nhấn mạnh rằng sự chia cắt này chỉ là tạm thời và không thể coi là biên giới chính trị Hai miền phải thống nhất trước tháng 7 năm 1956 thông qua tổng tuyển cử tự do và dân chủ Trong thời hạn 300 ngày, quân Pháp phải rút khỏi miền Bắc, trong khi Việt Minh rút khỏi miền Nam, và người dân có quyền lựa chọn nơi cư trú.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019) đã phát hành Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, dành riêng cho sinh viên đại học không chuyên ngành Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, được xuất bản bởi Nxb Chính trị quốc gia.
17 thời gian đó, họ được tự do đi lại Nghiêm cấm quân đội nước ngoài xâm nhập lãnh thổ Việt Nam
Với việc hoàn toàn giải phóng Vĩnh Thạnh, Lợi, Mỹ và Bắc, khu vực này đã trở thành căn cứ địa quan trọng cho sự phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa Sau 9 năm kháng chiến, sức mạnh của cách mạng đã được củng cố, thể hiện rõ ý chí độc lập và thống nhất của nhân dân cả nước.
Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn khi đất nước bị chia cắt thành hai miền với chế độ chính trị khác nhau Miền Nam dưới sự kiểm soát của đế quốc và tay sai không thực hiện hòa bình thống nhất Trong khi đó, miền Bắc vẫn còn nghèo nàn và lạc hậu về kinh tế Đế quốc Mỹ đã trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân Việt Nam.
Trước tình hình phức tạp, Đảng C3 đã xác định chiến lược đúng đắn để tiến hành cách mạng Việt Nam phù hợp với tình hình mới và xu thế phát triển của thời đại Kể từ tháng 7/1954, Đảng quyết định chuyển từ đấu tranh quân sự sang đấu tranh chính trị, lãnh đạo quần chúng yêu cầu đối phương thi hành Hiệp định và tiếp tục thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (15-17/07/1954), đã nhấn mạnh rằng đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và là mối đe dọa trực tiếp đối với nhân dân Đông Dương, do đó, mọi hoạt động của chúng ta cần tập trung vào việc chống lại đế quốc Mỹ.
Mỹ có âm mưu xâm lược nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài đất nước Họ dự định xây dựng miền Nam thành căn cứ quân sự để tấn công ra Bắc và đối phó với hệ thống xã hội chủ nghĩa từ phía Đông Nam, đồng thời biến miền Nam thành mắt xích trong hệ thống căn cứ quân sự ở Đông Nam Á nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội trong khu vực.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019) đã phát hành Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm phục vụ cho sinh viên đại học không chuyên ngành Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, do Nxb Chính trị quốc gia xuất bản.
Đế quốc Mỹ đã sử dụng nhiều thủ đoạn chính trị, kinh tế, văn hóa và quân sự để thiết lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Ngô Đình Diệm lãnh đạo, với sự hỗ trợ từ Mỹ Chính quyền này bất hợp pháp và xây dựng lực lượng quân đội trang bị vũ khí hiện đại Lực lượng quân đội Sài Gòn trở thành công cụ thực hiện chính sách thực dân mới của Mỹ tại miền Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm đã ra sức đàn áp các lực lượng cách mạng, khủng bố những người yêu nước và thực hiện các chính sách “tố cộng”, “diệt cộng” Với khẩu hiệu “giết nhầm còn hơn bỏ sót”, chính quyền này đã gây ra nhiều vụ thảm sát đẫm máu, đàn áp phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ Ngày 13/05/1957, Ngô Đình Diệm đã thăm Mỹ và tuyên bố rằng “Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17”, thể hiện rõ ràng hành động bán nước của ông.
Mỹ đang nỗ lực xây dựng các đô thị miền Nam nhằm cải thiện bộ mặt kinh tế, nhưng thực chất lại muốn tranh giành đất đai và dân cư tại đây Điều này tạo ra bước đệm cho các cuộc chiến tranh xâm lược miền Bắc và mở rộng sang các nước láng giềng như Lào và Campuchia trong giai đoạn 1954-1959.
Quá trình Đảng từng bước giải quyết xung đột với Mỹ và nội dung Nghị quyết
2.2.1 Quá trình Đảng giải quyết xung đột với Mỹ
Các hành động hiếu chiến của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, được xem là tay sai của Mỹ tại Nam Việt Nam, đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc hòa bình và thống nhất dân tộc Việt Nam, như được nêu trong hiệp định Giơnevơ.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019) đã phát hành Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm phục vụ cho sinh viên đại học không chuyên ngành Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tài liệu này được xuất bản bởi Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
Các bên tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Lào và Campuchia, bao gồm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời cam kết không can thiệp vào công việc nội bộ của ba nước này Mỹ đã can thiệp vào chính quyền Việt Nam bằng cách thành lập và làm "cố vấn" cho chính quyền Ngô Đình Diệm, dẫn đến các cuộc thảm sát và khủng bố nhằm tiêu diệt các thành viên của Đảng.
Vĩ tuyến 17 tại Việt Nam được thiết lập làm giới tuyến quân sự tạm thời, với khu phi quân sự ở hai bên, nơi Quân đội nhân dân Việt Nam tập kết ở phía Bắc và Quân đội Liên hiệp Pháp ở phía Nam Đây không phải là ranh giới chính trị hay lãnh thổ, mà chỉ là một giới hạn tạm thời Sau hai năm, quân Pháp phải rút khỏi Việt Nam, và nhân dân sẽ tiến hành tổng tuyển cử để thống nhất đất nước Tuy nhiên, chính sách “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ-Ngụy đã dẫn đến việc khủng bố và bắt bớ những người yêu cầu hiệp thương tổng tuyển cử, gây ra nhiều khó khăn cho quá trình thống nhất.
Sau khi ký kết Hiệp định Giơnevơ, Đảng đã rút quân về miền Bắc, chỉ để lại hơn 100.000 quân, bao gồm cả các chiến sĩ cũ ở miền Nam, chờ đợi cuộc tổng tuyển cử hai năm sau để sáp nhập miền Bắc và miền Nam Tuy nhiên, Mỹ đã dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm với âm mưu phá hoại Hiệp định Giơnevơ, dẫn đến nhiều cuộc thảm sát ở miền Nam Việt Nam từ năm 1954 đến 1959 Theo Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, những sự kiện này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình chính trị tại Việt Nam.
“Trong nhitng nim 1954 - 1959, & mi Nam đã có 466.000 đảng viên và những người yêu nước bị bắt giam, 400.000 người bị đưa đi đày và 68.000 người bị giết 993
Trước tình hình căng thẳng do hành động hiếu chiến của Mỹ và sự chênh lệch rõ rệt về quân sự, kinh tế, chính trị giữa hai bên, Đảng quyết định theo đuổi giải pháp hòa bình Đảng tập hợp lực lượng quần chúng, dựa vào sức mạnh của nhân dân, kết hợp với lực lượng vũ trang nhằm đánh bại sự thống trị của đế quốc và phong kiến, từ đó xây dựng chính quyền cách mạng của nhân dân.
Hiệp định Giơ-ne-vơ được xem là một thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam, theo TS Nguyễn Bình từ Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Bài viết đăng trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân năm 2014 đã nêu bật những thành tựu quan trọng mà hiệp định này mang lại cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước.
Hiệp định Giơ-ne-vơ được coi là một thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đất nước Nghiên cứu của TS Nguyễn Bình từ Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã phân tích sâu sắc những tác động của hiệp định này đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước Tạp chí Quốc phòng toàn dân năm 2014 đã đăng tải bài viết, nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử và chính trị của sự kiện này trong bối cảnh quốc tế và khu vực.
3 Ngọc Quang (Tổng hợp), GNn 160 nghìn đảng viên hy sinh trong hai cu&(tháng chiến cứu nước Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, 2015
Vào tháng 6/1956, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam đã họp và ban hành Nghị quyết về tình hình, nhiệm vụ và công tác miền Nam, khẳng định rằng hình thức đấu tranh chính hiện nay là đấu tranh chính trị, không phải vũ trang Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là không sử dụng vũ trang tự vệ trong những tình huống cần thiết hoặc không tận dụng lực lượng vũ trang của các giáo phái chống Diệm Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh việc củng cố lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có, xây dựng các căn cứ làm chỗ dựa, và tổ chức tự vệ trong quần chúng để bảo vệ các cuộc đấu tranh và giải thoát cán bộ khi cần thiết Đồng thời, miền Bắc cũng tích cực tăng gia sản xuất và đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng làm hậu phương cho cuộc kháng chiến lâu dài ở miền Nam.
Theo chỉ đạo của Đảng nhân dân, các miền Nam đã tổ chức các cuộc biểu tình để bảo vệ quyền lợi, tính mạng và tài sản của mình Tuy nhiên, những cuộc đấu tranh chính trị này đã bị đàn áp một cách đẫm máu.
Vào ngày 27/9/1954, lính tiểu đoàn 601 Quân đội Quốc gia Việt Nam tiếp quản Tiên Phước và bắt giữ anh Nguyễn Thông, nguyên chủ tịch Ủy ban Kháng chiến — Hành chính xã, dẫn đến sự phản đối mạnh mẽ từ hơn 5.000 người dân Trước sự phản kháng này, quân lính đã nổ súng vào đoàn biểu tình, khiến hơn 330 người dân Tiên Phước thiệt mạng Mặc dù Đảng đã cố gắng giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình, nhưng các cuộc tàn sát của Mỹ-Ngụy vẫn diễn ra, gây ra cái chết cho hàng nghìn người vô tội Đến năm 1959, trước tình hình căm thù ngày càng gia tăng trong nhân dân, Đảng quyết định lãnh đạo cuộc đấu tranh bằng bạo lực cách mạng.
Về phía Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, họ không có ý định thực hiện các hiệp định đã ký kết mà quyết tâm chống phá, nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ Họ thực hiện những hành động và chiến dịch đàn áp vô cùng tàn bạo, không chỉ nhắm vào các chiến sĩ cộng sản mà còn tàn sát cả dân thường, với quan điểm thà giết nhầm còn hơn bỏ sót.
Quyết định sử dụng bạo lực cách mạng của Đảng được đưa ra trong bối cảnh chính quyền Mỹ-Ngụy thực hiện nhiều hành động tội ác, khiến cuộc đấu tranh chính trị trở nên không hiệu quả và gây ra thiệt hại lớn về tài sản cũng như sinh mạng hàng nghìn chiến sĩ và người dân Sự căm thù của nhân dân đối với Mỹ-Ngụy đã đạt đến đỉnh điểm, buộc họ phải xem bạo lực cách mạng là biện pháp duy nhất khả thi, không còn lựa chọn nào khác cho nhân dân miền Nam Nghị quyết Trung ương 15 (khóa TT) năm 1959 đã phản ánh nội dung và giá trị quan trọng trong việc xác định hướng đi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Nội dung Nghị quyết Trung ương 15
Sau khi Hiệp nghị Giơnevơ được ký kết, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam-Bắc với hai chế độ chính trị khác nhau Miền Bắc tiến vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng cuộc sống mới hòa bình và hạnh phúc cho nhân dân, đồng thời trở thành căn cứ cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Trong khi đó, miền Nam chưa được giải phóng, dưới sự kiểm soát của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm, với mục tiêu duy trì ách thống trị của đế quốc Nghị quyết nêu rõ hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam: một là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và giai cấp địa chủ phong kiến với nhân dân Việt Nam; hai là mâu thuẫn giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa ở miền Bắc Mặc dù hai mâu thuẫn này có tính chất khác nhau, chúng lại có mối quan hệ biện chứng và tác động mạnh mẽ lẫn nhau.
Hội nghị Trung ương lần thứ 15 khẳng định rằng cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo hiện đang thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Mặc dù hai nhiệm vụ này có tính chất khác nhau, nhưng chúng có mối quan hệ hữu cơ, tiến hành song song và ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau Mục tiêu chung của hai nhiệm vụ này là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất đất nước và tạo điều kiện thuận lợi để đưa Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội.
GIAI PHAP GOP PHAN BAO VE CHU QUY EN BIEN, DAO CUA VIET
Kết quả quá trình bảo vệ chủ quy ân biển, đảo của Việt Nam
3.2.1 Thành tựu, nguyên nhân của thành tựu
Thông qua việc tổ chức các hoạt động tuyên truyền, biên soạn và phát hành tài liệu về việc bảo vệ và phát triển chủ quyền biển, đảo, chúng ta đã nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn thể người dân, từ quân nhân đến các cấp chính quyền Điều này không chỉ giúp quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng mà còn củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam Việc phát triển ý thức về vai trò của biển, đảo trong phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền quốc gia đã được thể hiện qua các cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử, giúp người dân tiếp cận thông tin chính thống một cách thuận tiện, từ đó tránh được những luận điệu xuyên tạc từ các thế lực thù địch.
Việc xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển trong những năm gần đây đã tập trung vào phát triển toàn diện kinh tế biển, quản lý và bảo vệ tài nguyên môi trường biển, cũng như ứng phó với thiên tai Điều này bao gồm việc phát triển khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực con người để khai thác bền vững tài nguyên biển, đồng thời ngăn chặn ô nhiễm và khai thác quá mức Chính phủ cũng đã hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật để ứng phó hiệu quả với các thách thức, bảo vệ chủ quyền biển đảo và phát huy tiềm năng biển đảo Việt Nam Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực biển ngày càng được nâng cao, mang lại nhiều kết quả tích cực cho nền kinh tế và quan hệ của Việt Nam với các quốc gia khác.
Dưới sự quản lý của CDC, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lịch sử dân tộc cũng như môi trường biển đã được cải thiện đáng kể Điều này không chỉ ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống người dân mà còn tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa cộng đồng và môi trường biển, nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Việt Nam đang tích cực xây dựng và hoàn thiện pháp luật quốc gia về biển, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ chủ quyền biển đảo Các chế độ pháp lý này không chỉ nhằm bảo vệ chủ quyền mà còn giải quyết tranh chấp biển đảo theo đúng Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nhấn mạnh việc giải quyết tranh chấp trên biển thông qua đàm phán hòa bình và tuân thủ luật pháp quốc tế Đồng thời, nghị quyết cũng xác định vị trí quan trọng của biển đảo trong việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
28 tục chủ trương giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế
Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 Khóa X về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” đã đạt được hiệu quả nhờ sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các tổ chức đoàn thể Qua việc chỉ đạo, phối hợp và giám sát, việc tuyên truyền về Nghị quyết đã nâng cao ý thức của người dân về bảo vệ chủ quyền biển đảo và phát triển kinh tế biển bền vững Hơn nữa, các tầng lớp nhân dân cũng được khuyến khích tích cực tham gia và giám sát quá trình thực hiện Nghị quyết.
3.2.2 Một số hạn chế, nguyên nhân của hạn chế
Việc khai thác tài nguyên biển hiện nay chưa đồng bộ với bảo vệ môi trường bền vững Quản lý và hạn chế ô nhiễm môi trường biển vẫn còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng khai thác quá mức một số tài nguyên Bên cạnh đó, công tác bảo vệ an ninh môi trường biển, ứng phó với thiên tai, biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn vẫn còn nhiều bất cập.
Các chỉ tiêu và nhiệm vụ đề ra vẫn chưa đạt được, dẫn đến tình trạng trì trệ trong việc thực hiện Việc xây dựng và phát triển chiến lược đánh giá tiềm năng lợi thế về các khu vực biển còn nhiều thiếu sót, chưa đảm bảo sự kết nối hài hòa giữa bảo tồn và phát triển Tiềm năng, lợi thế và bản sắc văn hóa của biển chưa được phát huy đúng mức Cơ chế hỗ trợ và nâng cao chất lượng đào tạo trong khoa học công nghệ, cũng như việc thúc đẩy giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực biển, vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thị trường, dẫn đến đội ngũ chuyên gia và các cơ chế hỗ trợ chưa đủ hiệu quả.
Sự liên kết giữa các vùng biển và ven biển, cũng như giữa các địa phương có biển và không có biển, còn thiếu chặt chẽ và hiệu quả Hợp tác quốc tế về biển cũng chưa đạt được kết quả như mong đợi Đặc biệt, khoảng cách giàu - nghèo của người dân sống ven biển đang có xu hướng gia tăng.
Các hạn chế và bất cập trong phát triển kinh tế biển chủ yếu xuất phát từ nguyên nhân chủ quan, bên cạnh một số nguyên nhân khách quan Cả cơ quan địa phương lẫn người dân vẫn chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của chủ quyền biển đảo và phát triển kinh tế ven biển Cách thức lãnh đạo và thực hiện các chính sách chưa phù hợp với tình hình phát triển khu vực, dẫn đến việc triển khai các chủ trương còn chậm trễ và thiếu đồng bộ Đầu tư cho khoa học công nghệ và nguồn lực con người trong khu vực ven biển chưa được đáp ứng, trong khi hạ tầng kinh tế - xã hội vẫn còn thiếu hụt Điều này ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận và ứng dụng khoa học công nghệ, làm giảm năng lực bảo đảm an ninh quốc phòng trên biển, cũng như khả năng thực hiện các hoạt động cứu hộ và ứng phó thiên tai.
Ð `êxuất một số giải pháp của nhóm - 65 +23 SE ng re 32 I0I208.9509:10/9)1© 111157 OA
Một là, tuyên truy nâng cao nhận thức, trách nhiệm của nhân dân
Thống nhất tư tưởng và nhận thức về vị trí, vai trò của biển là rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, điều này cần được thực hiện trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.
Nâng cao nhận thức và tăng cường lãnh đạo là rất quan trọng trong việc đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền về chủ trương của Đảng và các cấp ủy chính quyền Điều này cần thiết để thực hiện hiệu quả các giải pháp phát triển kinh tế biển Các thành phần kinh tế cần tích cực tham gia vào quá trình này, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của kinh tế biển.
Khẳng định chủ trương nhất quán của Việt Nam là duy trì mồi trưởng hòa bình, ổn định và tôn trọng pháp luật quốc tế
Tuyên truyền và phát triển các chính sách đặc biệt nhằm thu hút nhân tài và đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu lao động trong các ngành kinh tế biển, đồng thời hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người dân.
Tuyên truy `&, khẳng định những chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý không thể tranh cói v`ờchủ quy `&ủn của nước ta trờn Biển Đụng
Tuyên truyền và phổ biến kiến thức về tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, cũng như phòng chống và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai ở môi trường biển, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn Đồng thời, đấu tranh chống lại các hành vi vi phạm như an toàn giao thông trên biển, buôn bán hàng cấm, trốn thuế, và khai thác tài nguyên môi trường quá mức Kiên quyết phản bác các hành vi xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam, phù hợp với các công ước và thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam đã tham gia Đặc biệt, cần phản bác những luận điệu sai trái từ các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Hãy cùng nhau tham gia các phong trào và cuộc vận động nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo, góp phần xây dựng một nền kinh tế biển đảo vững mạnh và tăng cường quốc phòng.
Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa biển, đồng thời xây dựng một xã hội gắn kết và thân thiện với biển là rất quan trọng Cần đảm bảo sự tham gia, hưởng lợi và trách nhiệm của người dân trong việc phát triển kinh tế biển bền vững.
Xây dựng lực lượng công an khu vực ven biển và đảo là cần thiết để đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại các khu đô thị ven biển Cần đẩy mạnh giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực biển, đồng thời phát triển khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả quản lý vùng biển Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát tại các khu vực này cũng là yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ an ninh biển đảo.
Để phát triển bền vững kinh tế biển, cần hoàn thiện các thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch, đồng thời tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi Điều này sẽ giúp huy động các nguồn lực trong và ngoài nước cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và chuyển giao tri thức về biển.
Huy động nguồn lực và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cho phát triển bền vững biển là rất quan trọng Cần xây dựng các tập đoàn kinh tế biển mạnh thông qua việc thu hút nguồn lực từ nhiều nguồn khác nhau Đồng thời, ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước cho các huyện đảo xa bờ và viễn dương để thúc đẩy sự phát triển kinh tế biển.
Tình hình Biển Đông và các tranh chấp về chủ quyền của Việt Nam vẫn diễn ra căng thẳng Đảng và Nhà nước đã nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ chủ quyền biển đảo, đòi hỏi một kế hoạch chặt chẽ nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân về vai trò của biển đảo và phát triển kinh tế vùng biển Sức mạnh tổng hợp về chính trị và quốc phòng cần được củng cố thông qua phát triển và đầu tư Những thành tựu trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo đã chứng minh tầm quan trọng của vấn đề này đối với đời sống nhân dân trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và quân sự Tuy nhiên, quá trình bảo vệ chủ quyền vẫn gặp nhiều khó khăn và bất cập Nhóm đã đề xuất một số giải pháp phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc nhằm duy trì môi trường hòa bình trên biển và phát triển kinh tế - xã hội, cũng như hội nhập quốc tế.
Bài tiểu luận đã làm rõ bối cảnh lịch sử Việt Nam sau cách mạng tháng Tám, phân tích quá trình Đảng chủ động tuyên truyền và sử dụng biện pháp ôn hòa để đấu tranh, đồng thời huy động sức mạnh quần chúng chống lại kẻ thù Chúng ta đã biết cách tranh thủ thời cơ, vượt qua khó khăn, chuẩn bị lực lượng và loại bỏ kẻ thù khỏi lãnh thổ, giành lại độc lập dân tộc Bài viết cũng nêu rõ thực trạng phức tạp của biển, đảo Việt Nam hiện nay, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và xác định nhiệm vụ, trách nhiệm của Nhà nước và toàn dân trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
Xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển đảo là trách nhiệm của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý thống nhất của Nhà nước, với lực lượng vũ trang đóng vai trò nòng cốt Biển đảo không chỉ mang lại nhiều lợi ích cho mỗi quốc gia mà còn đặc biệt quý giá khi chứa đựng nguồn khoáng sản phong phú Không phải quốc gia nào cũng có biển và không phải biển nào cũng giàu tài nguyên, trong khi Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi với một vùng biển đáng mơ ước.
Mỗi công dân cần nhận thức rõ ràng về tình hình hiện tại và có trách nhiệm bảo vệ từng tấc đất, từng hòn đảo nhỏ bé, không để rơi vào tay kẻ thù.
Mỗi sinh viên cần nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc gia, cũng như các chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc bảo vệ và xây dựng chủ quyền này Từ đó, sinh viên cần nâng cao ý thức và trách nhiệm công dân, tích cực học tập và thực hiện tốt các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng tại Học viện, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Trong quá trình thực hiện tiểu luận, việc xảy ra sai sót là điều không thể tránh khỏi Chúng tôi rất mong quy th 4, c6 xem xét và góp ý để giúp tiểu luận hoàn thiện hơn trong các lần sửa bài tiếp theo.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO