TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 VIỆN NGHIÊN CỨU SƯ PHẠM
LỚP BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC-
CAO ĐẲNG KHÓA NVSP K13.2024 LIÊN VIỆT
Chuyên đề: PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH VÀ TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH
ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC
Họ và tên: LÊ THỊ MAI HƯƠNG Ngày sinh: 24/11/2001
Nơi sinh: Yên Thịnh, Yên Mô, Ninh Bình SBD: 16
Trang 2
2
MỤC LỤC
I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 3
1 Tín chỉ 3
2 Giờ tín chỉ 3
3 Các loại học phần 4
3.1 Học phần bắt buộc 4
3.2 Học phần tự chọn 4
3.3 Học phần chuyên ngành 4
3.4 Học phần tương đương và học phần thay thế 5
3.5 Học phần học trước 5
II MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ 5
1 Tính tất yếu của việc triển khai đào tạo theo tín chỉ 5
2 Đặc điểm của đào tạo theo hệ thống tín chỉ 6
3 Ưu điểm của đào tạo theo hệ thống tín chỉ 8
3.1 Hiệu quả đào tạo cao 8
3.2 Tính chủ động và sự phù hợp 8
3.3 Tính liên thông và chuyển đổi cao trong đào tạo 9
3.4 Tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao 9
4 Nhược điểm của đào tạo theo hệ thống tín chỉ 9
4.1 Lượng kiến thức không đủ 9
4.2 Khó tạo sự gắn kết giữa các sinh viên 9
4.3 Thời gian đào tạo dễ bị kéo dài 10
5 Những yêu cầu trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ 10
5.1 Xây dựng chương trình đào tạo 10
5.2 Tổ chức quản lý trong đào tạo 11
6 Giải pháp cải tiến chất lượng 12
Trang 33
I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1 Tín chỉ
- Theo quyết định 31/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 30/07/2001 về việc thí điểm tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi công và công nhận tốt nghiệp đại
học, cao đẳng hệ chính qui theo hệ thống tín chỉ quy định rõ:
“Tín chỉ là đơn vị dùng để đo khối lượng kiến thức đồng thời là đơn
vị để đánh giá kết quả học tập của sinh viên dựa trên số lượng tín chỉ
đã được tích lũy được
Mỗi tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết Để tiếp thu được
01 tiết học lý thuyết, sinh viên cần ít nhất 02 tiết chuẩn bị cá nhân Cứ
30 tiết thảo luận trên lớp, bài tập thí nghiệm hoặc 45-60 tiết thực tập, kiến tập, làm tiểu luận, đồ án, khóa luận tốt nghiệp được tính tương đương 01 tín chỉ”
- Theo quy chế 43, một tín chỉ (credit unit) được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30-45 tiết thực hành / thí nghiệm / thảo luận; 45-90 giờ thực tập tại cơ sở; 45-60 giờ làm tiểu luậ, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa
luận tốt nghiệp
2 Giờ tín chỉ
- Giờ tín chỉ thường được tính dựa trên thời gian học trên lớp và thời gian tự học của sinh viên Một tín chỉ thường tương ứng với khoảng 15-20 giờ học trên lớp và 30-45 giờ tự học hoặc làm bài tập ngoài giờ
- Giá trị tính:
+ 01 giờ học trên lớp và 02 giờ chuẩn bị bài/ 1 tuần + 02 giờ thực hành và 01 giờ chuẩn bị bài/ 1 tuần + 03 giờ tự học, tự nghiên cứu/ 1 tuần
(Thời gian tuyệt đối cho một giờ tín chỉ không nhỏ hơn 3)
- Hình thức tổ chức giờ tín chỉ: cách thức tổ chức các hoạt động tương ứng với cách tổ chức chương trình học (tự học, nghiên cứu, thực tập, thực hành để tích lũy khối lượng kiến thức)
Trang 44
- Các hình thức:
+ Dạy học trên lớp + Dạy học trong phòng thí nghiệm + Ngoài lớp: tự học, tự nghiên cứu, học nhóm, thảo luận,…
3 Các loại học phần
3.1 Học phần bắt buộc:
- Khái niệm: Là học phần của chương trình đào tạo chứa đựng những nội dung chính yếu của nhóm ngành và ngành đào tạo mà sinh viên thuộc ngành đó bắt buộc phải theo học
- Mục đích: đảm bảo cho sinh viên có đủ kiến thức, kỹ năng cơ bản để tiếp cận các môn học nâng cao hơn trong chuyên ngành của mình
- Ví dụ: Học phần “Ngữ pháp tiếng Anh”, “Kỹ năng nghe / nói / đọc / viết” trong ngành Ngôn Ngữ Anh
3.2 Học phần tự chọn
- Khái niệm: Là các học phần chứa đựng những nội dung chính yếu của ngành đào tạo, sinh viên phải chọn trọng các học phần quy định
- Mục đích: tạo điều kiện cho sinh viên phát triển linh hoạt và sáng tạo trong việc học cũng như theo điểu sở thích, chuyên ngành phụ
- Ví dụ: Học phần “Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế”; “Thương Mại điện tử căn bản”; “Marketing du lịch”;… tạo điều kiện cho sinh viên chuyên ngành Tiếng Anh Thương Mại có thể tham khảo học chuyên sâu thêm, phục vụ cho nghề nghiệp tương lai
3.3 Học phần chuyên ngành
- Khái niệm: Là những môn học liên quan trực tiếp đến lĩnh vực chuyên môn mà sinh viên theo đuổi Những môn học này giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên sâu trong ngành học của mình
- Mục đích: Cung cấp kiến thức và kỹ năng chuyên sâu, phục vụ cho công việc và nghiên cứu trong chuyên ngành
- Ví dụ: Trong ngành Ngôn ngữ Anh (chuyên ngành Tiếng Anh Thương Mại), sinh viên sẽ có học phần chuyên ngành là “Tiếng Anh Thương
Trang 55
Mại”; “Văn hóa Anh”; Văn hóa Mỹ”; “Thực hành biên dịch / phiên dịch”
3.4 Học phần tương đương và học phần thay thế
- Khái niệm học phần tương đương: là học phần có thể thay cho học phần khác có trong chương trình đào tạo
- Khái niệm học phần thay thế: là học phần có thể thay thế cho một học phần khác đã có trong chương trình đào tạo trước đây hoặc là thay cho một học phần tự chọn mà sinh viên đã thi nhưng không đạt
- Mục đích: cung cấp sự linh hoạt khi có các yếu tố khác tác động
- Ví dụ: Bạn A ở học kì này lỡ môn học “Ngữ dụng học”, kì sau trường lại không đào tạo môn đó nữa Bạn A sẽ phải học một học phần thay thế
3.5 Học phần học trước
- Khái niệm: là một môn học mà sinh viên phải hoàn thành trước khi có thể đăng ký học một môn học khác trong chương trình đào tạo
- Mục đích: cung cấp kiến thức nền tảng cần thiết để sinh viên có thể hiểu và học tốt học phần nâng cao sau này
- Ví dụ: Học phần “Thực hành phiên dịch” sẽ phải được hoàn thành trước khi đăng kí học phần “Phiên dịch nâng cao” Sinh viên sẽ không được tham gia lớp “Phiên dịch nâng cao nếu chưa hoàn thành học phần
“Thực hành phiên dịch”
II MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
1 Tính tất yếu của việc triển khai đào tạo theo tín chỉ
Bước đột phá của việc biến thông tin thành tri thức qua hệ thống phương pháp và kỹ năng trong giai đoạn đầu của cải cách giáo dục đại học Việt Nam, đó là việc thực hiện việc đào tạo theo hệ thống tín chỉ Ngày nay, các trường Đại học hầu hết quản lý và đổi mới giáo dục sang chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ bởi nền giáo dục đại học truyền thống (đào tạo theo niên chế) được cho là kém hiệu quả, không quan tâm đến quyền lựa chọn của sinh viên
Trang 66
Yêu cầu đổi mới của giáo dục đại học là tìm kiếm những phương pháp,
kỹ năng để giáo dục và đào tạo đạt chất lượng nhất, giá trị nhất, liên quan chặt chẽ với nhu cầu và lợi ích của người về kiến thức, kinh nghiệm Một chương trình đào tạo luôn gắn với những công nghệ mới, luôn theo sát với nhu cầu thực tế sẽ đảm bảo tốt nhất cho người học, đó là chương trình học trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Đào tạo tín chỉ hình thành cho sinh viên năng lực tự học, tự tìm kiếm, nghiên cứu để thích nghi với nền sản xuất liên tục thay đổi Bên cạnh đó, người học cũng sẽ tự rèn luyện và hình thành thói quen học tập suốt đời Thế giới vẫn luôn tìm kiếm tiếng nói chung cho nền giáo dục đại học toàn cầu Việc đào tạo theo hệ thống tín chỉ là một lựa chọn tốt nhất, mang đến những điều kiện thuận lợi để xúc tiến quá trình hội nhập và quốc tế hóa giáo dục đại học
2 Đặc điểm của đào tạo theo hệ thống tín chỉ
- Quá trình học là sự tích lũy kiến thức theo từng học phần
Hệ thống tín chỉ phân chia chương trình học thành các học phần cụ thể, mỗi học phần tương ứng với một số tín chỉ nhất định, phản ánh khối lượng công việc và thời gian học mà sinh viên cần bỏ ra Sinh viên tích lũy kiến thức theo từng học phần, qua đó có thể theo dõi và điều chỉnh quá trình học tập của mình
- Lớp học tổ chức theo học phần, sinh viên đăng ký học các học phần ở đầu mỗi học kỳ
Sinh viên có quyền tự chọn các học phần mà mình muốn học và đầu mỗi học kỳ (tối thiểu 10 tín chỉ) tạo ra sự linh hoạt trong việc lựa chọn môn học phù hợp với sở thích và kế hoạch học tập Điều này giúp sinh viên chủ động hơn khi xây dựng lộ trình học và phát triển bản thân
- Kiến thức được cấu trúc thành các mô-đun (học phần)
Việc chia chương trình đào tạo thành các mô-đun (học phần) giúp sinh viên dễ dàng tiếp thu từng phần kiến thức cụ thể và có thể kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của mình theo từng đơn vị học tập Các học phần cũng giúp việc tổ chức và quản lý chương trình đào tạo trở nên khoa học hơn
Trang 77
- Quy định khối lượng kiến thức phải tích lũy cho từng văn bằng và xếp năm học cho sinh viên theo khối lượng kiến thức đã tích lũy
Để đạt được một văn bằng, sinh viên phải hoàn thành một số lượng tín chỉ nhất định trong suốt chương trình đào tạo Điều này giúp sinh viên
có mục tiêu rõ ràng về khối lượng kiến thức cần đạt được và thời gian dự kiến để hoàn thành chương trình học
- Không thi tốt nghiệp
Thay vì thi tốt nghiệp như hệ thống đào tạo truyền thống, đào tạo theo tín chỉ không yêu cầu sinh viên phải thi tốt nghiệp Điều này giảm bớt áp lực thi cử cho sinh viên và thay vào đó, đánh giá kết quả học tập sẽ được thực hiện qua quá trình học và kết quả từng học phần
- Chỉ có một văn bằng chính quy (tập trung / không tập trung), không
có bằng tại chức
Hệ thống tín chỉ đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong việc cấp bằng, chỉ có một văn bằng chính quy cho mọi loại hình đào tạo, không phân biệt giữa hệ chính quy và hệ tại chức Điều này giúp nâng cao giá trị bằng cấp và tránh sự phân biệt giữa các loại hình đào tạo
- Chương trình đào tạo mềm dẻo và tính liên thông cao
Sinh viên đủ điều kiện có thể tham gia học văn bằng 2 từ năm thứ 2 Ngoài ra, hệ thống tín chỉ giúp sinh viên dễ dàng chuyển đổi giữa các trường đại học trong nước và quốc tế vì tín chỏ có thể được công nhận
và chuyển giao giữa các cơ sở giáo dục khác nhau Điều này tạo ra sự linh hoạt trong việc học tập và trao đổi sinh viên
- Đơn vị học vụ là học kỳ, xét kết quả theo học kỳ chính (một năm học
có 2 học kỳ chính, có thể có thêm học kỳ phụ là kỳ hè)
- Tuyển sinh và xét tốt nghiệp theo kỳ
Tuyển sinh và xét tốt nghiệp theo học kỳ giúp sinh viên có cơ hội nhập học và tốt nghiệp linh hoạt hơn, không bị phụ thuộc vào một lịch trình
cố định trong suốt năm Điều này giúp sinh viên có thể bắt đầu học tập vào thời gian thuận lợi nhất và hoàn thành chương trình học khi đủ điều kiện
Trang 88
- Về đề cương chi tiết các học phần
Trong đào tạo tín chỉ, việc xây dựng đề cương chi tiết các học phần là rất quan trọng, có quyết định đến phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá
và thực hiện việc cho người học tự nghiên cứu lý thuyết, bài tập ở nhà
Vì vậy, đề cương chi tiết cần thể hiện rõ việc phân bổ thời gian, số tiết lý thuyết, thực hành/thí nghiệm, thảo luận (bao gồm cả nội dung); giáo trình chính, sách tham khảo; chỉ dẫn sử dụng tài liệu nào ở phần nào; nhiệm
vụ của người học,
- Yêu cầu cao về hoạt động tự học của sinh viên
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ khuyến khích sinh viên phát triển kỹ năng
tự học Sinh viên sẽ phải quản lý thời gian học và hoàn thành nhiệm vụ
cá nhân Ngoài việc học theo kế hoạch, sinh viên còn có thể tham gia các khóa học bổ sung hoặc học tập trong các kỳ nghỉ hè, học kỳ ngắn hạn
3 Ưu điểm của đào tạo theo hệ thống tín chỉ
3.1 Hiệu quả đào tạo cao
Đào tạo theo tín chỉ tạo điều kiện cho người học năng động hơn và có khả năng thích ứng tốt hơn những biến đổi nhanh chóng của cuộc sống xã hội hiện đại (do được lựa chọn HP phù hợp và ảnh hưởng từ các phương pháp học tập tích cực và được đánh giá theo quá trình) Nếu như trong đào tạo theo niên chế, người học hoàn toàn thụ động tuân thủ kế hoạch học tập của trường, thì trong đào tạo theo tín chỉ đòi hỏi người học phải chủ động xây dựng kế hoạch học tập phù hợp, có hiệu quả cao nhất cho bản thân
3.2 Tính chủ động và sự phù hợp
Với phương thức đào tạo này, người học tự chủ động quyết định tiến độ học tập tùy theo khả năng và điều kiện cá nhân Người học có thể rút ngắn hoặc kéo dài thời gian học tập theo mục đích riêng Những người học giỏi
có thể hoàn thành chương trình sớm hơn dự kiến, những người học không
có đủ điều kiện kinh tế có thể chia nhỏ số lượng các học phần trong một
kỳ để có thể vừa học, vừa làm thêm để trang trải kinh phí mà không bị ảnh hưởng đến kết quả học tập
Trang 99
3.3 Tính liên thông và chuyển đổi cao trong đào tạo
Chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên có thể chọn học phần tự chọn ngoài các môn bắt buộc, giúp mở rộng kiến thức Ví dụ một sinh viên kinh tế có thể đăng kí học các môn công nghệ thông tin, ngoại ngữ để bổ trợ thêm kiến thức Bên cạnh đó, sinh viên bắt đầu từ năm học thứ 2 nếu đủ điều kiện về điểm, kinh tế có thể đăng ký xét học thêm văn bằng thứ 2 tại trường đang theo học hoặc liên thông sang trường khác Điều này không chỉ giúp sinh viên mở rộng tầm nhìn mà còn tăng
cơ hội cạnh tranh trong thị trường lao động sau khi tốt nghiệp
3.4 Tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao
Với hệ thống tín chỉ, các trường có thể thay đổi (mở thêm/rút bớt) các ngành học, học phần hoặc cải tiến chương trình học dựa theo nhu cầu của thị trường lao động và tính lựa chọn của sinh viên
4 Nhược điểm của đào tạo theo hệ thống tín chỉ
4.1 Lượng kiến thức không đủ
Mỗi học phần chỉ chiếm thời gian nhỏ (cỡ 2-4 tín chỉ) nên thường giảng viên và sinh viên không có nhiều thời gian trao đổi, giảng viên cũng sẽ không đủ thời gian để trình bày kiến thức một cách đầy đủ, liên tục nên kiến thức sẽ bị ngắt quãng, đứt đoạn làm bài
4.2 Khó tạo sự gắn kết giữa các sinh viên
Các lớp học phần của hệ thống tín chỉ không cố định, các sinh viên được
tự do đăng kí giáo viên, ca học theo quỹ thời gian của cá nhân sẽ khiến tập thể khó được gắn kết chặt chẽ như các lớp theo khóa học niên chế Các hoạt động theo lớp, đoàn, quản lý sinh viên sẽ gặp khó khăn, tính cộng đồng của sinh viên sẽ bị giảm sút
Vậy nên, để tăng tính liên kết giữa các sinh viên trong cùng 1 lớp, thường các trường đại học sẽ xây dựng các tập thể tương đối ổn định ở năm thứ nhất bừng cách sắp xếp lịch học cố định ở một số học phần cơ bản
Trang 1010
4.3 Thời gian đào tạo dễ bị kéo dài
Một số sinh viên khi đăng kí học tiến độ chậm (số lượng ít học phần/ kì học) sẽ bị kéo dài sang năm 5,6,7… (thường ở các trường hệ 4 năm quy định thời gian tối đa học là 7 năm) Điều này sẽ chi phối, ảnh hướng đến công tác tổ chức đào tạo và quản lý sinh viên của trường
5 Những yêu cầu trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ
5.1 Xây dựng chương trình đào tạo
- Yêu cầu chính của chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ:
+ Quy hoạch tường minh khối lượng, nội dung và trình độ kiến thức của người học phải tích lũy được để đạt văn bằng chứng chỉ
+ Quy hoạch liên thông giữa các khối kiến thức/học phần trong chương trình đào tạp để người học tích lũy một cách linh hoạt
+ Đề cương chi tiết học phần phải được soạn kỹ, đi kèm với bài giảng, tài liệu tham khảo và ngân hàng câu hỏi (trắc nghiệm/ tự luận)
- Khối lượng:
+ Khối lượng tích lũy: được xây dựng dựa vào thời gian của người học, mức độ phức tạp của chương trình để có thể tích lũy đủ số tín chỉ của chuyên ngành đào tạo
+ Tín chỉ: là đơn vị đo công sức người học phải bỏ ra để tích lũy năng lực Phần lớn các trường đại học xây dựng chương trình đào tạo chỉ gồm 120 – 140 tín chỉ
- Nội dung:
+ Nội dung tổng quát gồm 3 năng lực:
• Năng lực nhận thức (8 bậc) và năng lực tư duy (4 bậc)
• Năng lực thực hành (5 bậc)
• Năng lực xã hội (3 bậc) + Nội dung cụ thể:
• Năng lực thu thập thông tin chuyên ngành
• Năng lực xử lý thông tin chuyên ngành
• Năng lực giải quyết vấn đề hay ra quyết định cho ngành