1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Hóa học: Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm Hóa hữu cơ lớp 11

148 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương Pháp Giải Bài Tập Trắc Nghiệm Hóa Hữu Cơ Lớp 11
Tác giả Nguyen Tan Quoc
Người hướng dẫn Thạc sĩ Vũ Thị Tho
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Tp.Hcm
Chuyên ngành Hóa Học
Thể loại luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 42,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ưu khuyết điểm của phương pháp kiểm tra trắc nghiệm _@Uudiểẩm — - : - Kiểm tra được nhiều kiến thức của nhiều nội dung trong chương trình môn học trong một thời gian ngăn bao quát được t

Trang 1

BỘ GIAO ĐỤC VA DAO TẠO TRUONG ĐẠI HỌC SU PHAM TP.HCM

x) LU ca

LUAN VAN TOT NGHIEP

CU NHAN HOA HOC

CHUYEN NGANH: PHUONG PHAP GIANG DAY

Trang 2

Một lần nữa xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, thay cô, bạn bè,

những học sinh thân yêu Chúc mọi người luôn thành công và hạnh phúc!

Lan dau làm quen với việc nghiên cửu, với thời gian va khả nang còn hạn chếluận văn không thé tránh khỏi những thiếu sót, rat mong nhận được sự góp ý của

thay cô va bạn bẻ

Hồ Chí Minh tháng 5 năm 2008

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Tân Quốc

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

PHAN]: MỞỚĐẢU ~ 1

L — Lý do chon dé tai |

Il — Mục tiêu của dé tai |

II Nhiệm vụ của dé tài |

IV Khách thé và đôi tượng nghiên cứu |

II — Trắc nghiệm khách quan 9

CHUONG II: Tinh hình day và học môn Hóa học ở trường THPT hiệnnay = 18

I Tình hình day môn Hóa học ở trường THPT hiện nay 18

Il Tinh hình học môn Hóa học của hoc sinh ở một số trường THPT

thuộc TP.HCM hiện nay 23

CHUONG IIL: THỰC NGHIỆM SƯ PHAM 33

CHƯƠNG IV: PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TAP TRAC NGHIỆM HOA

HỮU CƠ LỚP 11 39

A Tóm tắt lý thuyết và phương pháp làm trắc nghiệm 39

Van dé !: Đại cương về hóa hữu cơ 39

Van dé 2: Hidrocacbon no 47

Vấn dé 3: Hidrocacbon không no 51

Van dé 4: Hidrocacbon thơm 59

Van dé 5: Hệ thong hóa về hidrocacbon 63

Van dé 6: Dẫn xuất halogen — Ancol — Phenol 73

Van dé 7: Andehit — Xeton - Axit cacboxylic 85

B Bai tập trắc nghiệm 96

Van dé l: Đại cương về hóa hữu cơ 96 Van dé 2: Hidrocacbon no 10)

Van dé 3: Hidrocacbon không no 104

Van dé 4: Hidrocacbon thom 116

Van dé 5: Hệ thông hóa về hiđrocacbon 120

Van dé 6: Dẫn xuất halogen - Ancol - Phenol 123

Van dé 7: Andehit — Xeton — Axit cacboxylic 133

CHƯƠNG VY: KET LUẬN VA DE XUAT 140

PHU LUC 142

Phu luc f: Dap án các câu hoi trắc nghiệm 142

Phu lục 2: Thi trắc nghiệm: một số thú thuật can thiết 144 Phụ lục 3: Tai liệu tham khảo 145

Trang 4

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: VŨ THỊ THO

A ¬ A

Phan 1: MO DAU

1 LY DO CHON DE TAI

Trong năm 2007, Bộ GD&DT đã quyết định tô chức thi Tết nghiệp trung học

phỏ thông và Đại học bằng hình thức trắc nghiệm ở một số môn như: Hóa Lý Sinh.

Anh van.

Dé giải một dé thi trắc nghiệm hóa học với thời gian 90 phút (50 cầu) cho tuy én

sinh Dat va 60 phat (40 cau) cho thi tốt nghiệp, theo quy định của Bộ GD& ĐT là

một van dé hóc búa khó có thẻ vượt qua để dàng nêu học sinh không có phương pháp

và tư đuy học tập thích hợp.

Học sinh không những phải năm vững những kiến thức cơ bản vẻ hóa tỉnh các chat ma còn phải chủ ý đến các tinh chất vật lý, công thức cầu tạo của hợp chất hữu cơ (nhừng kiến thức mà học sinh thường xem nhẹ) Nếu học sinh không nim vững múi

quan hẻ mật thiết giữa hóa tính lý tính, vả cầu trúc các chat thi khong hiéu duge thau

đáo va đương nhiên sẽ không thé giải ding các câu trắc nghiệm nhanh vả chính xác trong thời gian quy định.

Các câu trắc nghiệm trong phần hóa hữu cơ có phần khác các câu hỏi của hóa

vô cơ đo tính phức tạp và đa dạng của các hợp chất hữu cơ, ảnh hưởng của điều kiện

thực nghiệm (nhiệt độ anh sáng, xúc tác) tạo ra những sản phẩm khác nhau, sự liên hệ

qua lại giữa các nhóm chức (hiđrocacbon rượu, andchit, axit, este, amin, ) Có thẻ

nói, phương trình phản ứng chỉ là phần ngọn của hóa hữu cơ Nếu chi thuộc lòng

phương trình = ứng mà không tim hiểu điều kiện để có được phản ứng ấy thì học

sinh không thê nào giải tốt các câu hỏi trắc nghiệm.

Để giúp các em học sinh trong việc làm quen và giải nhanh bải tập trắc nghiệm

hữu cơ (đặc biệt là phần toán) tôi chọn đề tài; “Phuong pháp giải bai tập trắc nghiệm

hóa hữu cơ lớp 11”.

H MỤC TIÊU CUA DE TÀI

- Cũng cố các kiến thức một cách hệ thống về phần hữu cơ lớp 11

- Hình thanh kĩ năng giải bai tập đưới hình thức trắc nghiệm cho học sinh,

- Phát triển năng lực tư duy sáng tạo của học sinh va làm cho học sinh yêu thích môn

học,

~ Làm tai liệu tham khảo cho giáo viên THPT trong quá trình giảng day.

HI NHIỆM VỤ CUA ĐÈ TÀI

- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng việc day và học bộ môn Hóa học ở trường THPT

hiện nay.

- Nghiên cứu những van đẻ liên quan đến kiến thức của phan hữu cơ lớp 11.

- Nghiên cứu, sưu tim các dang bài tập hóa hữu cơ và phương pháp giải đưới hình

thức trắc nghiệm.

- Đưa ra các bài tập làm ví dụ minh họa.

- Đưa ra một số bai tập tự luyện có hướng din và đáp án.

IV KHÁCH THE VA DOI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cửu: Bai tập trắc nghiệm có liên quan đến phản hữu cơ lớp IL.

~ Khach thé nghiên cứu: Qua trình day va học hóa học ở trưởng THPT

SVTH: NGUYÊN TAN QUỐC Trang |

Trang 5

LUAN VAN TOT NGHIỆP - GVHD: VŨ THỊ THƠ

V GIA THIET KHOA HOC

Nếu giao viên hướng dan, rén luyện cho học sinh phương pháp giai bai tập trắc

ld mot cách khoa hoc, thuần thục thì:

bi với học sinh:

- Định RE va tìm ra phương pháp giải bai tập hợp lý từ đó sé năm chắc cúng cỏ

kiến thức.

- Thém yêu thích môn hoe.

- Van dé thoi gian trong thi ctr, kiểm tra không phải là một van dé hóc búa, không giải

quyết được

~ Tích lũy được kinh nghiệm trong quả trình dạy học.

- Nâng cao hiệu quả day học,

V PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIEN NGHIEN CUU

- Đọc va nghiên cứu sách gido khoa các tai liệu tham khảo có liên quan tới phan hữu

cơ lớp II.

~ Phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết và bai tập

- Phương pháp phỏng van giáo viên, học sinh.

- Phương pháp lập phiéu thăm dò điều tra.

- Phương pháp thông kê, phân tích

SVTH: NGUYEN TAN QUOC Trang 2

Trang 6

LUẬN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THƠ

Phần 2: NỘI DUNG NGHIÊN CUU

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA DE TÀI NGHIÊN CỨU

1 BÀI TẠP HÓA HỌC

1 Khai niệm

Theo các nhà lý luận dạy học: bải tập hóa học lả một dạng bài làm gôm những

bai toán, những câu hỏi hay đồng thời cả những bài toán và những câu hỏi mà khi

hoàn thành học sinh nắm vững tri thức hay một ki nang nhất định hoặc hoản thiện

chủng.

Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Bải tập hóa học là những bải ra cho học

sinh dé vận dụng những kiến thức đã học.

Bải tập hóa học là cầu nỗi giữa lý thuyé ét và đời sống, bài tập hóa học lả công cụ

rat hữu hiệu dé khắc sâu kiến thức và hệ thống hóa kiến thức Thông qua bài tập hóa

học giúp học sinh nhận thức rõ hơn về môn Hóa học đồng thời có cái nhìn tông thể vềthé giới quan, Bài tập hóa học giúp học sinh phát triển tư duy, trí tuệ và hiểu rõ các

quy luật tạo nên các chất trong tự nhiên

2 Tác dụng của bài tập hóa học

* Phát huy tính tích cực sáng tao của học sinh,

VD: Đổi với học sinh cấp II, sau khi hiểu rõ về nguyên tử, phân tử, khải niệm mol

giáo viên có thể yêu cau học sinh tinh số nguyên tứ, phân tử của các nguyên tổ trong

24 gCH¡.

Để làm được bài toán này yêu cầu học sinh hiểu rõ về nguyên tử, phân tử, khái

niệm mol và phải có tính sáng tạo.

Số mol của CH, = 24 : 16 = 1,5 (mol)

Trong | mol CH, có | mol C và 4 mol H

1,5 mol CH, cỏ 1,5 mol C va 6 mol H

Cứ | mol nguyên tử có 6,023.10” nguyên tửVậy: Trong 24 g CH, có; 9,0345.10”” nguyên tử C

36,138.10" nguyên tử H

* Giúp học sinh hiểu rõ và khắc sâu kiến thức

VD: Sau khi học sinh đã học về bảng hệ thống tuần hoàn giáo viên có thé yêu cầu học

sinh xác định vị trí của nguyên tổ có số hiệu nguyên tử là 20 trong bảng hệ thống tuânhoản.

Dé trá lời câu hỏi trén học sinh phải biết:

Trang 7

LUAN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THO

Qua bài nay học sinh hiểu rd hơn ve tắm quan trọng của VIỆc viết cấu hình

clcctron của mot nguyên tô và thay được mỗi liên hệ giữa các yêu tỏ trong bang hệ

thông tuần hoàn.

® On tập củng có và hệ thông hóa kiến thức: Trong khi on tập nêu chi don

thudn nhắc lại học sinh sẽ cam thay chan vi không có gi mới mè, hap dan Thực tế học sinh khá giỏi chỉ thích giải bài tap trong giờ ôn tập.

VD: Đói với học sinh lớp 10 sau khi học “Chương phản ứng oxi hóa khử” các em đều

biết chất khử là chất cho điện tử còn chat oxi hóa là chất nhận điện tử Vi vậy dé cúng

có và hệ thông hóa kiến thức phan này giáo viên có thé ra bai tập như sau:

Trong các phan ứng sau, phản ứng nao là phản ứng oxi hóa khử ? Hãy xác định

chất oxi hóa, chất khử và cân bằng phương trình phản ứng đó:

a CaCO; —> CaO + CO;+

b 2Na + Cl—» 2NaCl

c.2Fe(OH); + O; + HạO —+ 2Fe(OH),

d.NHCE©> NH;†® + HCI+

e.CuyS + I2HNO;—» Cu(NO¿); + CuSO, + 10NO‡4 + 6H,O

Dé giải quyết bai toan nay hoc sinh phai:

- Xác định số oxi hóa của tất cả các nguyên tô.

- Xác định phản ứng trong đỏ có sự thay đổi số oxi hóa của các nguyên tỏ.

- Viết các quá trình cho nhận electron

e Cu:S+HNO: + Cu(NOs), +CuSO.+NO, +H:0

Các phan ứng b, ¢, e có sự thay đổi số oxi hóa của các nguyén tố trước và sau phan

ứng Viviy các phản ứng b, c, e là các phản ứng oxi hóa khứ.

b.Na +Cls °ì NaCl

2x Na -lc—> Na : quá trình oxi hóa, Natri là chất khử

Ix |CI› +2e > 2C1: qua trình khử, Cl; la chất oxi hóa

PTPU: 2Na + Cl; > 2NaC|

s} 3 8 ụ + 2 * 26

c Fe(OH), +O) +H: O => Fe(OH),

x| Fe-le->»Fe + quá trình oxi hỏa, Fe(OH); là chất nhứ

Ix! Ò: 4e —>2Ó: quá trình khử, O; la chất oxi hóa.

PIPU: 4Fe(OHD; + O; + 2H,O > 4Fe(OH),

e.Cu:S+HNÓ, + Cu( NOs \, +CuSO.+NOs HHO

SVTH: NGUYEN TAN QUOC Trang 4

Trang 8

LUAN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VU THI THO

ụ 3 + *

Ix ne —+2Cut+S : qua trình oxi hóa, CuyS là chất khử.

10x | N+le ->N : quá trình khử, HNO; là chất oxi hóa.

* Rèn luyện những kĩ năng can thiết như: Kĩ năng cân băng phương trình phản

ứng kĩ năng tính toán theo công thức hóa học va phương trình hóa học, ki năng thực

hành như: dun, say, lọc, hỏa tan ki năng nhận biết các chat

VD; Chi dùng quỷ tim hãy nhận biết các dung dịch sau: H;SO;, HCl, NaOH, KCI,

Do bài toán nhận biết gồm nhiều dạng khác nhau nên học sinh can phải bámsát, phân tích dé thật kĩ Từ đó định hướng phương pháp giải Nhờ vậy rèn luyện chohọc sinh kĩ năng nhận biết các chat

Như vậy đối với bài tập trên học sinh lưu ý là chỉ dùng quỷ tim đẻ nhận biết các chất

Giải:

Nhúng quỷ tím vào Š mẫu thử ứng với 5 dung dịch đã cho, sau đó phân 5 dung

dịch đó ra làm 3 nhóm:

Nhóm |: Quy tím hóa xanh: NaOH

Nhóm 2: Quy tím hóa đỏ: H,SO,, HCI

Nhóm 3 : Quy tím không đổi màu: KCI, BaCl;

Nhận ra dung dịch NaOH

- Trich mẫu thử của 4 dung dịch thuộc nhóm 2, 3 một lượng nhỏ.

- Cho từng dung dịch thuộc nhóm 2 vào nhóm 3 nếu có xuất hiện kết tủa trắngBaSO¿, nhận ra được dung dịch H;SO,, và dung dịch BaCl;, rồi suy ra dung địch còn

lại là KCI, HCI.

Nhận ra dung dich BaCl;, KCI, H;SO,, HCI

* Phát triển năng lực nhận thức, trí thông minh cho học sinh

Thông thường một bài tập có nhiều cách giải theo các bước quen thuộc nhưngcũng có cách giải nhanh, gọn, độc đáo và chính xác, Dé tác dụng này đạt hiệu quả caoyêu cầu học sinh phải giải bằng nhiều cách, sau đó tìm ra cách giải ngắn nhất, hay nhất

phù hợp với năng lực của bản thân.

VD: Viết tat cả các đồng phân mạch hé của hợp chất có công thức phân tử là C;H,O;

Dé giải bài toán trên trước tiên học sinh phải xác định độ bat bảo hòa A (xác định

Trang 9

LUẬN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THƠ

* Gido duc ne tưởng, dao đức tác phong cũng như tính kiên nhân, trưng thực.

sảng tạo, chính xác, khoa học Nang cao lòng yêu thích bộ môn Hóa Rèn luyện tác

phong lao động có văn hóa lao động có tỏ chức, có kế hoạch, gon gang ngăn nấp.

sạch sẽ nơi làm việc thông qua việc giải các bài tập thực nghiệm.

Tóm lại: Bai tập hóa học là phương tiện cơ bản dé tập học sinh vận dụng các

kién thức hóa học vào thực tế cuộc song, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học Kiến thức học sinh tiếp thu chỉ có ích khi nó được sử dụng Thông qua bai tập hóa học giáo

viên có điều kiện phát hiện những học sinh có năng lực về môn Hóa

3 Phân loại bài tập hóa học

đ) - ơ sở phân loại

Có nhiều cách phân loại bài tập tùy thuộc vào cơ sở phân loại Có thé dya vào các

cơ sở sau đây:

+ Dựa vào hình thai hoạt động của học sinh khi giải bài tập có thẻ chia thành bài tập

lý thuyết và bài tập thực nghiệm.

+ Dựa vào tinh chất của bai tập có thé chia thành bai tập dinh tinh va bai tập định

lượng.

+ Dựa vào kiểu bài hoặc dang bài có thé chia thành: bài tập xác định công thức phân

tử của hợp chất, tính thành phần phan trăm của hỗn hợp, nhận biết, tách các chất ra

khỏi hỗn hợp, điều ch.

+ Dựa vao nội dung có thé chia thành: bai tập nông độ, điện phân áp suất

+ Dựa vào chức năng có thé phân chia thành: bài tập kiểm tra sự hiểu và nhớ, bài tập

đánh giá khả năng vẽ sơ dé, tìm tài liệu, tổng kết Bài tập rèn luyện tư duy, khoa học

như: phân tích, tông hợp, quy nap, diễn dich.

+ Dựa vào khối lượng kiến thức, mức độ đơn giản hay phức tạp có thẻ chia thành bài

tập cơ bản và bài tập tông hợp.

b) Phân loại chỉ tiết bài tập hóa học ở trường phô thông

* Bai tập lý thuyết định tinh gom các dạng sau:

+ Viết công thức electron, công thức cấu tạo, công thức đồng phan

+ Viết phương trình phản ứng biểu diễn dãy biến hóa của các chất.

+ Bài tập hình vẽ.

+ Nhận biết hay phân biệt các chất

+ Tách các chất ra khỏi hỗn hợp

+ Điều chế

+ Xác định cấu tạo của một chất dựa vào tính chất của nó

+ Trinh bay tinh chất hóa học của một chat,

+ Trình bảy các định luật hóa học vả các học thuyết hóa học các khái niệm hóa học

cơ bản.

¥ Đài toán hóa hoc gồm các dạng chính sau:

+ Tinh khối lượng phan tử của một chất Đôi từ gam ra mol nguyên tử hoặc mol phân

tử vi ngược lại.

+ Tính theo công thức hóa học.

+ Tinh tí lệ khối lượng giữa các nguyên tố.

SVTH: NGU YEN TAN QUỐC Trang 6

Trang 10

LUAN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THƠ

+ Tinh thành phan phần tram vẻ khôi lượng của các nguyên té trong hợp chat

+ Tinh khôi lượng nguyên tứ của một nguyên, tổ khi biết công thức phân tử của một

chất vả thành phân phân trăm của các nguyên tô còn lại.

+ Tính theo phương + trình hóa học (cần bằng phương trình).

+ Tính lượng chất tan và dung môi dé pha chế một dung dich có nồng độ cho trước

hoặc tỉnh nông độ của dung dịch.

+ Xúc định nguyên tổ hóa học

+ Xác định công thức phân tử của một hợp chat

+ Tinh thành phan phần trăm về khối lượng của hỗn hợp.

+ Tính tốc độ của phản ứng hóa học

+ Tính độ điện ly, hằng số axit, bazơ

+ Tính hiệu ứng nhiệt của phản ứng.

+ Tính hiệu suất của phản ứng.

+ Quan sát, mô tả, giải thích hiện tượng.

+ Làm thí nghiệm nghiên cứu tính chất của một chất hoặc một phản ứng hóa học

+ Nhận biết các chất.

+ Tách các chất ra khỏi hỗn hợp

+ Điều chế các chất

* Bài tập thực nghiệm định lượng:

Tùy theo nội dung hay phương pháp tiến hành thực nghiệm ta có thể chia bài

tập định lượng thành các dạng chính sau:

- Xác định khối lượng, thé tích, khối lượng riêng của cúc chit

VD: Cho các kim loại: Pb, Sn, Zn, AI ở dang viên nhỏ Bằng thực nghiệm hãy xác định khối lượng riêng của mỗi kim loại.

Rót nước vào ống đong, sau đó miện lượt từng viên kim loại vào dng để nước

dang lên dung lem’ Đổ nước đi, sau đó lấy các viên kim loại sấy khd, cân Kết quả

thu được là khối lượng riêng.

- Xác định tỉ khối của một chất khi nảy so với một chất khí khác hay khối lượng

phân tử của một chất khi.

- Xác định lượng nước có trong các chất và công thức phân tử của mudi ngậm

nước.

- Xúc định độ tan các chất và nông độ dung dịch

- Xác định thành phan phan tram vẻ khối lượng của hỗn hợp.

VD: Cho hỗn hợp BaCl; 2H,O và NayCO;.10H)O Hãy tim cách xác định thành phan

phan trăm vẻ khối lượng của hỗn hợp bang thực nghiệm.

SVTH: NGUYÊN TÂN QUỐC ˆ Trang 7

Trang 11

LUẬN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THƠ

Hướng giải:

Can lầy một lượng hỗn hợp m; (g) Say hỗn hợp làm mat nước kết tỉnh cỏn lại mạ (g).

- Điều chế các chất và tính hiệu suất của phan ứng hoặc tinh chế một chất rdi

tinh độ tinh khiết.

VD: Hãy điều chế CuO từ l(g) CuCO; Cu(OH); và tính hiệu suất của phản ứng điều

nhiệm, Gây hứng thủ học tập trong môn Hóa học và phát triên nang lực nghiên cứu.

4 Chọn, hướng dẫn, chữa bài tập

a) Chọn bài tap

- Mục đích: giúp học sinh vận dụng những kiến thức đã học dé giải quyết những bài

toán Đồng thời củng cổ hệ thông hóa kiến thức cho học sinh,

~ Cách chọn:

+ Bài tập phải sát chương trình.

+ Bai tập phải nỗi bật trong tâm.

+ Bài tập phải đa dạng phù hợp với trình độ học sinh.

+ Bài tập phải gắn liền với cuộc sống.

Trước khi chọn bài tập giáo viên cần phải:

+ Phân tích kĩ tác dụng của từng loại bài tập.

+ Tìm phương pháp giải bài tập bằng mọi cách Rút ra những ưu khuyết điểm từng

cách.

+ Dự đoán trước-những khó khăn ma học sinh có thể mắc phải.

+ Tránh chọn bai tập một cách tùy tiện đặc biệt nhắc nhở học sinh hoàn thành bài tap

sách giáo khoa và sách bài tập.

+ Khi dạy xong một chương, hay một bài giáo viên phải chọn bài tập lam nỏi bật

trọng tâm của bài.

+ Cần chọn lọc bai tập cho học sinh nâng cao dan từ dé đến khó dé động viên kích thích toàn lớp học tập Nhưng cần phải chú ý chọn những bài tập khó nhằm phát hiện

những em có năng khiếu

b) Hướng din giải bài tập+ Đọc, phân tích yêu cầu của dé bai

+ Tóm tat bài toán

+ Định hướng vả tìm phương pháp giải.

+ Tùy thuộc vào từng bài toán và giáo viên có nhiều cách hướng dẫn khác nhau

©) Chữa bai tập

+ Xúc định rõ mục dich của từng bai tập.

SVTH: NGUYÊN TÂN QUỐC _ Trang 8

Trang 12

LUẬN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THO

+ Mục đích của tiết bài tập.

+ On tập kiên thức gi?

+ Bồi dưỡng kiến thức gi?

+ Bỏ sung kiến thức bị hụt hang.

+ Hình thành phương pháp giải với một dạng bai tập nào đó —

-+ Chọn chữa những bai tập tiêu biéu, điện hình, tránh trùng lap kiên thức cũng như các

đạng bài tập Chú ý các bài:

- _ Có trọng tâm kiến thức cân khắc sâu

- Có phương pháp giải mới.

- Dang bai quan trong phổ biến hay thi

+ Phải nghiên cứu chuân bj thật kĩ càng.

+ Tinh trước kết quả.

+ Giải nhiều cách khác nhau.

+ Dự kiến những sai lim học sinh hay mắc phải

+ Giúp học sinh nắm chắc phương pháp giải các dang bài tập cơ bản.

+ Chữa bải tập mẫu thật kĩ.

+ Cho bài tập tương tự vẻ nhà làm

5 Một số lưu ý khi giải bài tập hóa học

+ Đọc và hiểu rõ nội dung từng câu, từng chữ

+ Tóm tắt bài toán.

+ Hiệu rõ yêu câu bài tập.

+ Định hướng và tìm phương pháp giải.

H TRÁC NGHIỆM KHÁCH QUAN

1 Khái niệm

- La hình thức kiểm tra trong đó dé bai là hệ thống các câu hỏi có kèm theo các

phương án trả lời, cung cắp cho học sinh toàn bộ hay một phần thông tin về vấn đẻ, đòi hỏi học sinh chọn một trong những phương án đó dé trả lời hay bổ sung phương án

trả lời khác đúng hơn.

- Thuật ngữ “khách quan” là dé chỉ tính chất khách quan khi chấm bài (kết quả không

phụ thuộc vào người chấm), còn về nội dung, cấu trúc, đặc điểm của câu hỏi thì vẫn

mang tính chất chủ quan của người soạn câu hỏi.

2 Ưu khuyết điểm của phương pháp kiểm tra trắc nghiệm

_@Uudiểẩm — - :

- Kiểm tra được nhiều kiến thức của nhiều nội dung trong chương trình môn học trong

một thời gian ngăn (bao quát được toàn bộ chương trình môn học)

- Khách quan, chính xác, công bằng trong chim điểm

- Tiệt kiệm được nhiều thời gian va công sức của các giám khảo.

- Trắc nghiệm khách quan_có thể được sử dung khá tốt khi kiểm tra độ bền vững của

kiên thức vẻ các sự kiện, vé mức độ hiểu rd các khái niệm.

- Kiểm tra được kha năng phân tích và chọn lựa.

b) Khuyết điểm

- Khỏ khan khi kiểm tra kĩ năng khai quát hóa va vận dụng kiên thức một cách sáng

tạo trong những tình huỗng khác nhau

- Không kiém tra được kha nang lý luận.

- Không kiểm tra được cách trình bảy, giải quyết một vấn đẻ

SVTH: NGUYÊN TÂN QUOC ‘Trang 9

Trang 13

LUAN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THO

- Soan thao dé trắc nghiệm mat nhiều thời gian.

- Đối với các khái niệm, định nghĩa dải, nhiều khia cạnh, nhiều chỉ tiết, có nhiều cách phát biéu thì không thé đưa vào kiểm tra trong bai trắc nghiệm.

3 Các quan diém chưa chính xác về trắc nghiệm và các kết quả nghiên cứu

thực nghiệm

s Trắc nghiệm khuyến khích sự đoán mỏ?

+ Thực ra, về mặt lý thuyết thì một học sinh có thể đoán mò các câu tra lời trên một

bài trắc nghiệm khách quan Và nêu đó là một bài trắc nghiệm ngắn gồm những câu

hói 2 lựa chọn (đúng, sai) ma em ấy cũng có thé nhờ đoán mo ma đạt được điểm caohơn mong muốn

Nhưng thực tế thi it học sinh có kỷ vọng đạt được điểm cao trên một bai trắc nghiệm

dai, gôm nhiều cau hỏi va mỗi câu hỏi có nhiều lựu chọn Thông thường học sinh

không đoán mỏ mà chi là không chắc chắn hoan toàn vẻ câu trả lời của mình sau khi

đã suy nghĩ mà thôi Việc đoán mỏ chỉ Xây ra nếu học sinh không có chút kiến thức nảo lên quan đến câu hỏi hay khi đã gắn hết thời gian quy định.

+ Nếu một học sinh cỏ chút hiểu biết nao đỏ liên quan đến câu hỏi vả vận dụng tối đa

sự hiểu biết của minh dé tim câu trả lời thì lỗi giải đáp câu hỏi của học sinh ay cũng đã đóng góp một cách hiệu qua vào việc đo lường thành qua học tập của chính em Đó là

phan đoán có suy nghĩ chứ không phải lỗi chọn may rủi nhu mọi người vẫn phé phán.

Đó là những phán đoán khoa học, không hề có hại.

+ Ngoài ra, ta có thể biết được học sinh có đoán mò hay không qua việc xem xét độ tin cậy của một bài trắc nghiệm Đối với một dé trắc nghiệm được thiết kế cn thận, có hệ

số tin cậy cao thì ta hoàn toan có thé tin tưởng rằng sự đoán mò chỉ đóng góp một phần

rất nhỏ vào các điểm số của học sinh.

* Trắc nghiệm chỉ đòi hỏi người học nhận ra thay vì nhớ thông tin?

+ Người ta thường chỉ trích, cho rằng trắc nghiệm chỉ đòi hỏi thí sinh “nhan ra” những

gì đã học qua các câu trả lời cho sẵn thay vì “nhớ” các thông tìn ấy và viết ra trên giấy.

Thật ra lôi phê phán này dựa trên cảm tính hơn là trên kết quả nghiên cửu thực

nghiệm.

Các nha nghiên cứu đã thực hiện nhiều công trình thực nghiệm so sảnh trắc

nghiệm với luận đẻ và đã chúng minh được rằng MÃ nghiệm cũng có khả năng tiên

đoán thảnh quả tổng quát của học sinh không thua kém gì luận đề Không phải cứ

kiểm tra trắc nghiệm là sẽ hạn ghê nhiều mặt của quá trình kiểm tra.

+ Hơn thé nữa, kha năng nhớ các thông tin tuy cân thiết nhưng nó vẫn chỉ là lĩnh vực

kiến thức thấp nhất mà thôi Một bài kiểm tra đù là luận đẻ hay trắc nghiệm, không

chỉ nhằm mục đích khảo sát khả năng * "nhớ” lại những gì đã nghe, đã học, mà còn phải

hướng dẫn đến các khả nang cao hơn thé Do đó phê phán này không đáng dé quan

tâm.

* Trắc nghiệm không khao sát mức độ cao của các quá trình tư duy?

+ Nhiéu người nghĩ rằng chi có luận dé mới khảo sát được các quá trình tư duy cao

còn trắc nghiệm chỉ khảo sát được kĩ năng nắm vững thông tin mang tỉnh chất sự kiện

mà thôi Thật ra điều này chỉ khá đúng với những bài trắc nghiệm soạn thảo câu thả hay do người soạn thảo chưa năm vững các mục tiêu giảng dạy vả đánh giả.

+ Các quá trình tư duy cao có thé được mô tả bảng nhiều cách (khả năng suy luận, khái

quát hóa, suy luận trừu tượng khả nang suy diễn quy nạp phán đoán, tưởng tượng ).

SVTH: NGUYENTAN QUOC Trang 10

Trang 14

LUAN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VU THI THO

Mục tiéu khio sat của trác nghiệm that ra chính là các kha ning nảy Việc người soạn

trắc nghiệm quan tâm đầu tiên trước va trong khi soạn thao các câu trắc nghiệm chính

là soạn câu trắc nghiệm như thé nao dé có thé khảo sát các khả năng nay, chử không

phải là ngược lại như người ta thường phé phán.

* Trắc nghiệm không khảo sát được khá năng sáng tạo?

Người ta thường cho ring luận đẻ khuyen khích sự sáng tạo Quả that đây 1a

một trong các ưu điểm của luận dé Nhung trong thực tẻ, nhất là trong các kì thị ở

nước ta, các bài thi luận dé thường chỉ nhằm khảo sát khả năng “nhớ" hay học thuộc lòng những gì học sinh đã học qua bài giảng hay sách vớ Khả năng sáng tạo khả năng

đưa ra những ý tưởng độc dao it khi được khuyến khích trai lại có khi gây bất lợi cho

học sinh.

Trắc nghiệm khách quan gom những câu hỏi với những câu trả lời cho sẵn ma

học sinh chỉ việc lưa chọn va điểm số của học sinh ay lả tông số các câu trả lời đúng.

Như vậy, một bài trắc nghiệm hoàn toàn khách quan khó có thể Lớn sát khả năng

sing tạo Tuy nhiên, gần đây, các nhà nghiên cứu trắc nghiệm trên thé giới thường xen

vào bài kiểm tra trắc nghiệm những câu hỏi thuộc loại điền khuyết hay kết hợp với câu

hỏi - trả lời ngăn Các câu trả lời này được đánh giá theo mức độ đạt được các tiêu chuẩn sáng tạo đã định sẵn Đây là hình thức được xem như có sự phối hợp cả trắc

nghiệm khách quan lẫn luận đẻ, tính khách quan của nó có thể giảm sút đôi chút

Khuyến khích sự sáng tạo là một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục

nhưng đo lường được khả năng ấy một cách đáng tin cậy là điều hết sức khó khăn, bởi

vì khả năng sáng tạo có tính chất bat định, dao động tùy theo các điều kiện hay hoàncảnh Do đó, thật ra cái gọi la "khuyến khích sáng tạo qua các bải kiểm tra” dù dưới

hình thức nào củng chí mang tính chất tương đối bởi vì môi trường thí cứ chắc chắn không phải là môi trường thích hợp dé đòi hỏi tài năng sáng tạo phải được bộc lộ bằng

cách này hay cách khác.

Kết luận

Do ban đầu hình thức kiểm tra trắc nghiệm còn quá xa lạ với người Việt Nam,với các giáo viên Việt Nam ở mọi cấp học nên đã cỏ sự hiểu lầm về trắc nghiệm vasức chống đối do hiểu lầm đó khá mãnh mẽ Tuy nhiên, theo thời gian, những hiểu lầm

ấy din được tháo gở và trắc nghiệm được nhìn nhận với một con mắt khách quan hơn, khoa học hơn: “Trắc nghiệm là một loại dụng cụ đo lường khả nang của người học, ở

bat cử cấp học nao, bat cứ môn học nao, trong lĩnh vực khoa học tự nhiên hay khoa

học xã hội” (trích Lời nói đâu của TS Dương Thiệu Tông trong quyền “Trắc nghiệm

và đo lường thành quả học tập”)

Ngày nay với những ưu điểm nỏi trội mà phương pháp luận dé không thé có

được, trắc nghiệm đã và đang được sử dụng rộng rãi, mạnh mẽ, và được quan tâm nghiên cứu dé ngày càng phát trién.

4 Các hình thức trắc nghiệm khách quan

a) Câu đúng/ sai (yes/no question)

+ Câu trúc: Gôm một câu phát biêu và phan học sinh tra lời bang cách lựa chon Ding

(Ð) hoặc Sai (S)

+ Uu điểm:

SVTH: NGUYEN TAN QUOC Trang II

Trang 15

LUẬN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THO

Có thé đặt được nhiều câu hỏi trong một bài trắc nghiệm với thời gian cho trước

=> Tang độ tin cậy của bài trac nghiệm nẻu các céu Ð — S được soạn thảo đúng

quy cách.

- it tén thời gian biên soạn câu trắc nghiệm.

- Do cấu trúc đơn giản nên loại trắc nghiệm nay ít phạm những lỗi lam vẻ mặt kỹ

thuật.

+ Khuyết điểm:

- Dé may rủi cao (50%) => dé khuyết khích học sinh trả lời đoán mò => khá năng

phân biệt thấp và kết quả đánh giá có độ chính xác không cao

- Khó biên soạn dé đạt chất lượng tôt.

VD: Sự khử là quá trình nhường electron:

A) Đúng B) Sai

b) Câu trắc nghiệm có nhiều lựa chon (multiple choice question —MCO)

+ Cầu trúc: pềm có hai phan

- Phần gốc: | 1a một câu hỏi (kết thúc là dấu hỏi) hay câu bỏ lửng (chưa hoan tắt).

Trong phân gốc, người soạn đặt một vấn dé hay một ý tưởng rd ràng giúp học sinh

hiểu rõ câu trắc nghiệm 4 muốn hỏi điều gi để lựa chọn câu trả lời thích hợp Thông

thường phần gốc được ay ngắn dé giảm bớt thời gian đọc, dành nhiều thời gian hơn

cho việc giải đáp.

- Phần lựa chọn: thường có 4, 5 câu, gồm một số câu trả lời hay câu bỏ túc cho câu

“gốc” còn bỏ lửng, trong đó chỉ có một cau đúng nhất (gọi là “đáp án”) còn lại là

những câu sai (gọi là * “mỗi nhir”).

Yêu cẩu: tat ca các câu lựa chọn đều phải hấp dẫn ngang nhau đối với những học

sinh chưa năm vững lí thuyết, chưa hiểu kỹ bài học.

+ Ưu điểm:

- Độ may rủi thấp (< 25%) => giảm thiểu sự đoán mò va tỉ lệ làm đúng do đoán mò.

- Nếu soạn đúng quy cách => kết quả có tinh tin cậy và tinh giá trị cao.

- _ Có thể phân tích được tính chất của câu trắc nghiệm, của từng mỗi nhử => để chỉnh

sữa dé câu đạt được độ tin cậy mong muốn

- Hình thức trắc nghiệm này rất linh động, có thể trình bày dưới nhiều dạng khác

nhau eg phan gốc có thé là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng hay cũng có thé là hình

- Soạn thao mat nhiéu thoi gian.

- Câu trúc > ra tap hon nén dé phạm phải những sai lam

VD: Cho biết cách sắp xếp nào đúng theo chiều tinh kim loại giảm dan?

A) K, Na Be Mẹ C) K, Na, Mg, Be B) Na, K, Mg, Be D) K Na, Be, Mg

©) Đánh dau bảng kê khai (chon những câu phát b biểu đúng)

+ Cấu trúc: Loại trắc nghiệm nảy cũng gdm có 2 phan: phân * "gốc” và phan “lựa chọn”

giéng như câu hỏi nhiều lựa chọn Tuy nhiên, trong phân lựa ‘chon khong phai chi co

có một câu là đúng ma là có nhiều câu Số cầu đúng học sinh không hẻ biết trước.

SVTH: NGUYÊN TÂN QUỐC ˆ ' _ Trang 12

Trang 16

LUAN WAN TOT NGHIỆP _ GVHD: VŨ THỊ THO

*Uu điểm: L oal trắc nghiệm là loại giảm thiểu tôi da khả nang đoán mo cua học sinh.

Dé có thé làm tt bai trắc nghiệm loại nay học sinh phải học bai tương doi day du va

phai hiểu bai dé có thẻ suy luận chọn lựa cho chính xác.

+ Khuyét điểm: Đây là loại trắc nghiệm khó => it phỏ biến, nhất là ở trình độ THPT,

d) Câu hoi ghép doi: (matching items)

* Cấu trúc: Gồm 3 phân.

- Phan chi dan cach trả lời.

- Phân gốc (cột 1): g6m những cau ngan, doan chữ

Phan lưa chon (cột 2): cũng g6m những câu ngắn, chữ, SỐ

Học sinh phải ghép những câu tương thích của cột | với những câu phù hợp (nêu

có) ở cột 2, sao cho dung với yếu cầu ma câu trắc nghiệm đã neu.

[hông thường người soạn dé hay cho số lựa chọn (số cầu) hai cột không tương đương

nhau đẻ học sinh không thẻ dùng phương pháp loại trừ đẻ đoán ra cập đôi cuối cùng.

Khi soạn câu hỏi cũng như cột lựa chọn nẻn chủ ý đẻ không viết qua dải lam học sinh

mat nhiều thời gian dé đọc và tìm cầu tương ứng để cập đôi.

+ Khuyết điểm: Không thẻ đánh giá từng mức độ kiến thức thu nhận của học sinh =>

it phỏ biến.

VD: Hay tim ở cột bên phải công thức hóa học của các hợp chat trong cột bên trai:

1 Clorua vôi a.CaSO,

2 Kaliclorua b KCIO;

3 Da voi c CaOCl,

4 Kaliclorat d CaCO,

e KCl Trả lời: I-c, 2-e, 3-d, 4-b

e) Câu điển khuyết (supply items)

+ Cau trúc: Có 2 dang:

© Dạng 1: Gồm những câu hỏi với lời giải đáp ngắn

© Dang 2: Gồm những câu phát biểu với | hay nhiều chỗ để trống mà người trả

lời phải điển vào bằng một từ hay một nhóm từ ngắn

Người ta sử dụng loại câu điền khuyết trong một bài trắc nghiệm khách quan ở lớp

học trong 2 trường hợp sau:

- Khi câu trả lời rất ngắn và tiêu chuẩn đúng/sai rõ rệt.

- Khi người soạn đề không tìm ra được số câu “mỗi nhữ” tôi thiểu can thiết cho loại

câu nhiều lựa chọn.

+ Ưu điểm: ở hinh thức nay, các câu hỏi được dat ra chỉ đòi hỏi những câu trả lời rất

ngăn Kiến thức ding dé tra lời không phải là toàn bộ nội dung được hoc ma chi 1a

một phần nhỏ mà thôi, vì thế câu trả lời rit ngắn gọn, ít tốn thời gian Vi vậy, kiến

thức tuy cần phải ghi nhớ nhưng gánh nặng học bài giảm đi được rat nhiều, nếu chỉ

học hiểu thi van có kha nang lam tốt.

+ Khuyét diém:

- Cach cham diém khong dé dang va điểm số không dat được tinh khách quan tối da

trừ phi giáo viên có the đoản chắc rang chỉ có một cách trả lời duy nhất cho câu hỏi

-một điều ít khi xảy ra.

~ Thong thường thi có nhiều cách trả lời khác nhau nhưng vẫn đúng nén việc cham rất khó khan và mat nhiều thời gian.

SVTH: NGUYEN TAN QUOC Trang 13

Trang 17

LUAN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THO

- Chủ yéu chi kiếm tra được kha nang “nhớ”, khó phát hiện được những sai lắm của học sinh,

VD: Hãy điển vào chỗ trồng sau:

Chu kỷ là day các nguyên tô ma nguyên tử của chúng có cùng va được xép

theo chiều điện tích hạt nhân ting dan.

Tra loi số lớp electron

Nhan xét

So với những loại câu trắc nghiệm khác thi loại câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn

rd rang có những ưu điểm vượt trội.

5 Quy trình soạn thảo một bài trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

a) Muc đích của một bài trắc nghiệm

Một bai trắc nghiệm có thể phục vụ cho nhiều mục đích nhưng bai trắc nghiệm

ich lợi và có hiệu qua nhất khi nó được soạn thảo dé nhâm phục vụ cho một mục địch

chuyên biệt nao đỏ: ;

+ Nếu bai trắc nghiệm là bài thi cuối kỳ, nhim cho điểm va xép hạng học sinh thi cáccâu hói phải được soạn thảo làm sao cho các điểm số được phân tán khá rộng, như vậy

mới phát hiện ra được sự khác biệt giữa các học sinh giỏi và kém.

+ Nêu bài trắc nghiệm là một bài kiểm tra thông thường nhằm kiểm tra những điều

hiểu biết tối thiểu vẻ một phan nào đó của môn học thì câu hỏi phải được soạn thảo sao

cho hau hết học sinh đạt điểm tối da, nếu chúng đã that sự tiếp thu được bai học nhất

là về căn bản.

+ Nếu bài trắc nghiệm được soạn thảo nhằm mục đích chuẩn đoán, tìm ra những chỗ

mạnh chỗ yếu của học sinh dé giúp ta quy hoạch việc giảng day cần thiết sao cho có

hiệu quả hơn thi các câu trắc nghiệm phải được soạn thảo làm sao để tạo cơ hội cho

bine sinh hạn abt ck mọi tai lầm có ib cũ, nến chay bok,

+ Nếu bài trắc nghiệm dùng dé luyện tập, giúp cho học sinh hiểu thêm bai học và cũng

làm quen với lối thi trắc nghiệm thì ta không cần ghi điểm số của học sinh.

b) Xác định mức độ nhận thức cần đạt của học sinh

Trước khi chuẩn bị soạn thảo một bài trắc nghiệm đẻ đo lường thành quả học

tập của học sinh cần xác định mức độ nhận thức cin đo lường

Căn cứ trên chức năng trí tuệ cơ bản tử thấp tới cao, Bmjamin S.Bloom đã chiathành quả học tập ở lĩnh vực nhận thức thành 6 bậc: nhận biết, thông hiểu, ứng dụng

phân tích, tổng hợp, đánh giá.

c) Phân tích nội dung môn học

+ Bude |: Tim ra những ý tưởng chính yếu của môn học.

+ Bước 2: Tim ra những khai niệm quan trọng trong nội dung môn học dé đem ra kháo

sát trong các câu trắc nghiệm.

+ Bude 3: Phản loại hai dạng thông tin được trình bảy trong môn học (hay chương)

(1) Những thông tin nhằm mục đích giải nghĩa hay minh họa.

(2) Những khái niệm quan trọng của môn học (hay chương).

+ Bước 4: Lua chọn mot số thông tin va ý tưởng đòi hỏi học sinh phải có kha nâng

ứng dụng những điều da biết đẻ giải quyết van đẻ trong những tinh huỏng mới

d) Thiết lập dàn bài trắc nghiệm

SVTH: NGUYEN TAN QUỐC Trang 14

Trang 18

LUAN VAN TOT NGHIỆP SỐ GVHD: VŨ THỊ THƠ

Một trong nhưng phương pháp thông dụng lá lập một bang quy định hai chiếu,

với một chiều biểu thị cho nói dụng và chiêu kia biểu thị cho các qua trình tư duy (mục

tiêu) ma bai trắc nghiệm muốn khảo sát,

Với một bai trắc nghiệm ở lớp học nhằm khảo sát một phan nào đó của môn

học (VD: một chương vài chương) ta có thé áp dụng bảng quy định hai chiều đơn

giản như sau:

Chủ đẻ |

Chủ dé II

Chủ đẻ Il

[rong đó:

(1) Các ý tưởng phức tap, các nguyễn tắc, các mỗi liên hệ các điều khái quát

hóa ma học sinh sẽ phải giải thích, giải nghĩa.

(2) Các từ ngữ, khái niệm, kí hiệu, các ý tưởng đơn giản ma học sinh sẽ phải

giải thích, giải nghĩa.

(3) Các loại thông tin (sự kiện, ngay, tháng, tén tuổi ) mà học sinh phái nhớ

hoặc nhận ra được.

e) Số câu hỏi trong bài trắc nghiệm

+ Số câu hỏi trong bai trắc nghiệm tùy thuộc phần lớn thời gian có thé làm cho nó.

Thời gian càng dài càng có câu hỏi.

+ Số câu trong một bài trắc nghiệm thường được quyết định bởi những yếu 16: mục

tiêu đánh giá đặt ra, thời gian và điều kiện cho phép, độ khó của câu trắc nghiệm

4 Tie Do co SOẠN bà MÁC gett CUNG CỊ HƠI NON, MU ents gác Tối đa có thể

dén 120 phút

+ Ngoài vấn để thời gian, còn có vấn đề quan trọng hơn là làm sao cho số câu hỏi

trong bai trắc nghiệm tiêu biểu cho toàn thể kiến thức ma ta đòi hỏi học sinh qua môn

học hay bài học Muốn làm tốt điều này, ta cần thiết lập din bài trắc nghiệm một cách

kĩ cảng và căn cứ trên thời gian quy định cho bải trắc nghiệm ma phân bổ số câu hỏi hợp lý cho từng phan của nội dung vả mục tiêu giảng huan.

0) Mức độ khó của các câu trắc nghiệm

+ Để đạt được hiểu quả đo lường khả năng, giáo viên nén lựa chọn các câu trắc

nghiệm sao cho điểm trung bình trên bài trắc nghiệm xấp xi bảng 50% sé câu trắc

nghiệm.

+ Trong một số trường hợp đặc biết, ta có thể soạn một bải trắc nghiệm khó hay rất

khó nhưng điều nay chi 4p dụng khi can tìm kiếm một s6 rất nhỏ những ửng viên

(chẳng hạn đẻ cấp học bồng) Ngược lại cũng cỏ khi ta can ra bai trắc nghiệm rat dé,

chăng hạn đề lựa chọn một sé học sinh kém dé cho theo học lớn phụ dao

#) (Những diéu kiện cần thiết giúp giáo viên soạn bài trắc nghiệm

SVTH: NGUYÊN TAN QUOC s Trang 15

Trang 19

LUẬN VAN TOT NGHIỆP ` GVHD: VŨ THỊ THƠ

+ Giiỏi chuyển môn Từ đó mới dẻ dang định ra các trong tâm và mức độ cho các mục tiểu khảo sát viết được những cau hỏi phù hợp.

+ Am hiểu kĩ thuật soạn trắc nghiệm Kha năng nay không tự nhiên mà có Phải được

học và rén luyện dan dẫn qua nhiều lần soạn tháo cầu trắc nghiệm Một giáo viên cần

tích cực nghiên cứu trắc nghiệm có ý thức tìm và tham khảo kĩ thuật viết câu hỏi trắc nghiệm do các nha chuyên môn va các giáo viên có kinh nghiệm soạn thảo.

+ Khả năng viết ngắn, rd, chính xác các ý tưởng Phan câu hỏi của các loại câu trắc

nghiệm déu phai làm rõ ý muốn hỏi, bảo đảm tính đơn nhất, chỉ tập trung vào một khía

cạnh một dau hiểu, mot chủ điểm.

+ Các câu hỏi lựa chọn phải được điển đạt sao cho tách bạch rõ ý câu chọn đúng, câu

chọn sai trong các câu sai phải chứa những điều hợp logic, có phan đúng nhưng cái

đúng không thuộc bản chất.

+ Phải tuân thủ các yêu cầu về nội dung trọng tim, các mục tiều vẻ nhận thức Các chủ

điểm quan trọng phải có nhiều câu hơn Yêu cầu phải đạt về các trí thức và kĩ năng

hơn là tùy hứng thú của giáo viên.

6 Viết các câu trắc nghiệm

a) Các yêu cầu cần lưu ý khi viết các câu trắc nghiệm nhiễu lựa chọn

* Thỏa đảng vẻ mặt nội dung:

Nội dung các câu cẩn sát hợp với các mục tiêu, mỗi câu hỏi nẻn gắn với một

mục tiêu nhất định, có như vậy mới đo được cái cân đo

* Sáng súa về hình thức điển đạt:

+ Phần "gốc":

- _ Phải đặt vấn dé một cách ngắn gon, rd ring và sáng sila.

- _ Phải mang trọn ý nghĩa.

+ Phan trả lời:

Các câu lựa chọn (kể cả môi nhừ) đều phải hợp lý và phải hap dan, liên hệ với

phân gốc cả vẻ mặt nội dung lẫn văn phạm.

Tránh những hình thức tiết lộ câu trả lời:

+ Độ dài giữa các câu trá lời nên gần bằng nhau, tránh tiết lộ câu trả lời qua chiều dai

của các câu lựa chọn.

+ Các câu trả lời nên có dạng đồng nhất với nhau, tránh tiết lộ câu trả lời qua cách

ding những danh từ khỏ so với các lựa chon khác.

+ Tránh dùn a những từ “không bao giờ", “bất cứ lúc nào”, “tat ca”, “thường thường”,

"đôi khi" để không làm tiết lộ câu đúng câu sai qua cách dùng chữ hay chọn ý.

+ Tránh viết các câu lựa chọn đổi chọi hay phản nghĩa với nhau hoặc là quá giếng

nhau về tính chât.

+ Tránh viết những mỏi nhử trùng ý với nhau

+ Lưu ý để mỗi nhử không quá ngây ngô không có ý nghĩa thực tẻ

+ Lưu ý cách đặt câu hỏi dé không có các đầu mỗi dan đến câu trả lời.

+ Than trọng khi dùng “tit cả đều sai” hay “tat cả đều đúng” lắm câu lựa chọn.

+ Phải chắc chan chi có một câu trả lời ding trong các phương an trả lời.

+ Cần ra soát lại câu hỏi: việc nay giúp ta tim ra những thiểu sót, sai lim Có thé nhờ

các chuyẻn gia đồng nghiệp đọc lại câu trắc nghiệm đẻ phát hiện ra những từ ngữ mà

có thẻ lam nội dung câu bị hiệu khác di.

SVTH: NGUYÊN TÂN QUỐC Trang 16

Trang 20

LUẬN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THƠ

+ Các câu hỏi nhăm do kha năng thông hiểu vận dụng nén được trình bay dưới hình

thức mới (khác sách giáo khoa).

+ Câu trả lời đúng phải được sắp đặt theo lỗi ngẫu nhiên

b) Một sé gợi ý dé soạn thảo những câu trắc nghiệm nhiều hia chọn

+ Lựa chọn những y tưởng quan trọng vả viết ra các ý tưởng ấy một cách rõ ràng dé

làm căn bản cho việc Soạn thao các cầu trắc nghiệm

+ Chọn ý tưởng và viết câu trắc nghiệm sao cho có the tôi da hóa khả nang phân biệt

học sinh giỏi và học sinh kém (bằng cách lựa chọn can thận chủ đẻ, ý tưởng khảo sát,

lựa chọn vả viết các câu ding làm môi nhử).

+ Nên soạn các câu trắc nghiệm trên giấy nhap và sắp đặt chúng sao cho có thể sửa

chữa và ghép chúng lại với nhau thành một bai trắc nghiệm hoàn chỉnh,

SVTH: NGUYÊN TÂN QUỐC — Trang 17

Trang 21

LUAN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THƠ

CHƯƠNG I

TINH HÌNH DAY VA HỌC MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG

HỌC PHÓ THÔNG HIỆN NAY

1 TINH HÌNH DAY MON HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY

1 Mục đích tìm hiệu

Đánh giá khách quan những thuận lợi và khó khăn của quá trình giảng dạy môn

hóa ở trường THPT hiện nay.

Tim hiểu một số van đề liên quan đến việc kiểm tra trắc nghiệm hóa học

2 Hình thức - Đối tượng

a) Hình thức :

+ Phat phiếu điều tra đưới hình thức trắc nghiệm

+ Phỏng vân giáo viên.

b) Déi tượng

+ Giáo viên va giáo sinh đang thực tập tại một số trường THPT trong Thành phố Hồ

Chí Minh:

Lê Quý Đôn Phan Đăng Lưu

Thực hảnh Sư phạm Nguyễn Công Trứ

Gia Định Võ Thị Sáu Trần Khai Nguy rên Tran Đại Nghĩa

+ Phỏng vấn cô Nguyễn Huyền Chương, tổ trưởng bộ môn Hóa học trường THPT Lê Quý Đôn, QI, thành phố Hồ Chí Minh.

3 Kết quả tìm hiểu+ Tổng số phiếu phát ra: 100

+ Tổng số phiếu thu vào: 70

Với khối lượng kiến thức môn Hóa như hiện n nay chỉ được phân bỏ 2 tiểu 1 tuan

là qua it (61,43%) sự không cân doi giữa số tiết học và khôi lượng kiến thức là một

trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh không năm vững kiến thức, khanang vận dụng kiến thức còn yếu Nhận thấy được điều nảy, một số trường đã cô gang

tăng them | đến 2 tiết tức 3 tiếu 1 tuần (18.57%) hay 4 tiét/ 1 tuần (20,00%) Thiết

nghĩ Bộ giáo dục nên tinh gián nội dung chương trình cho phù hợp với thời gian đã

SVTH: NGUYÊN TÂN QUỐC | —— Trang]

Trang 22

-LUAN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VU THI THO

phan bỏ dé dem lại hiệu qua cao trong day học va nâng cao chat lượng học tập bộ môn

Hóa học của học sinh.

Với những lớp chuyên, lớp chon, lớp Phu” cao, số tiết Hóa một tuần được tũng

lên từ 4 - 5 tiế/! tuần (52,15%), thậm chí 6 - 7 tiểU| tuần (27,70%), Điều nay tao

điều kiện thuận lợi cho giáo viên mở rộng kiến thức và rèn luyện kĩ năng giải bai tập

cho học sinh.

—E —— — — )

Ca sở vật chat, chat, phuon 9 tiện, thiết bị day học củ của † ong - ị Tike |

Day du 34.43% |

[ương đối day đủ 59,01%

Hóa học là môn khoa học thực nghệ, học sinh chỉ cỏ thé hiểu bai một cách sâu sắc, nhớ lâu, và thật sự tin tưởng vào kiến thức minh thu nhận được khi tận mắt thay được mô hình, vật thật, trực tiếp quan sát những thi nghiệm bicu dién của giáo viên hay tự tay thực hiện những thí nghiệm dé kiểm Me lại những kiến thức minh

đã học Có như thé việc học môn hóa học mới trở nên dé dàng và bộ môn hóa học mới

trở nên hap dan, lôi cudn các em That dang mừng lả trong các trường điều tra thi cơ

Sở val chất, trang thiết bị, phương tiện day học của trường 1a day đủ chiếm 34.43%, là

tương đổi đầy đủ chiếm 59,01%, điều này đáp img được phan nao cho sự đổi mới

phương pháp day học đặc biệt là môn Hóa hoc, Cần nói thêm qua trao đổi với một số

giáo sinh thì tôi được biết phan lớn các trường THPT hiện nay đều tạo điều kiện cho

học sinh có những tiết thực hành (thực hành sau mỗi chương lớp chia thành các nhóm

nhỏ, mỗi nhóm tir 4 — 5 học sinh) nhăm cùng cổ kiến thức, rèn luyện kĩ năng thực hành

cho các em Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một phần nhỏ (6,56%) chưa đáp ứng được

yêu cầu trên, cơ sở vật chất còn thiểu thén và không đám bảo chất lượng như thiếudụng cụ thi nghiệm, thiếu hóa chất hay hóa chất hết hạn sử dung, ) điều này ảnh

hưởng rất lớn đến việc giảng day Bộ giáo dục cần quan tâm hỗ trợ, tích cực trang bị

kịp thời và đầy đủ cho các trường này theo yêu aay hoc

Đàm thoại nêu vấn dé 25,00%

Phương pháp trực quan 17,71%

Học sinh chuẩn bị bài trước vả lên thuyết trình 8.33%

Luôn thay đổi va phối hợp 34.38%

Qua kết qua điều tra thì ti lệ giáo viên thường xuyên thay đổi va phối hợp các

phương pháp trong quá trình dạy học chiếm 34,38%, chính điều này đã làm cho giờhóa học trở nên sinh động, hap dan, tránh sự đơn điệu, nham chan, giúp các em lâu

mệt mỏi và có điều kiện tiếp thu bài một cách thuận lợi Việc giáo viên lựa chọn

phương pháp day học thích hợp với tiến trình cia bài es cũng góp phan đáng kẻ

trong việc nâng cao hiệu qua dạy học Song, đẻ việc phôi hợp các phương pháp giảng day thành công thi đòi hoi người giáo viên phải không ngừng học hoi nang cao trình

độ chuyên môn vả năng lực sư phạm không ngừng hoàn thiện mình.

Như chúng ta đã biết thi một trong những xu hướng đổi mới phương pháp day

học hiện nay là phát huy tỉnh tích cực, sáng tạo của học sinh chuyên trọng tâm hoạt

động từ giáo viên sang học sinh Tuy nhiên vẫn còn một BẠN© viên (14.58%) vẫn——

| Truang © yt ieee Set onP ^ re Pail !

SVTH: NGUYÊN TAN QUOC Trang 19

Trang 23

LUAN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THO

giảng day theo lôi dién giáng làm hoe sinh học tập một cach thụ dong, không khơi day

được hứng thủ học tập của học sinh va điều nay cũng không phù hợp với sách giáo

khoa mới Nếu giao viên chỉ sử dụng phương pháp đảm thoại nều van dé thôi

(25,00%) hay phương pháp trực quan thôi (17,71%) là van chưa dd mà can phải phối hợp các phương pháp thi qua trình dạy học mới đạt hiệu quả cao.

Hiện nay một số giáo viên thường xuyeén sử dụng hình thức tô chức day học: học sinh chuẩn bị bai trước và lên thuyết trình giáo viên điều khiến và chót lại những

Ý chính (8,33%) Day là hình thức day học không phải là mới doi với các nước phát

triển song đối với nước ta nó rat mới mẻ và mang lại nhiều tác dụng tích cực: học

sinh chủ động năng động sáng tạo trong việc học, rèn luyện khả năng hoạt động theo

nhóm cho học sinh, việc giảng dạy của giáo viên trở nên nhẹ nhàng hơn Tuy nhiên,

hình thức này chỉ thật sự hiệu qua nêu có sự chuẩn bị thật kĩ lưỡng của cá giáo viên vả

học sinh, nêu quá lạm dụng hình thức này (sử dụng ở mọi tiết học) hay không có sự

dau tư vẻ thời gian thi sẽ dan đến những tac dung tiêu cực: giờ học nhạt nhẽo, Ôn ảo,

học sinh chi chủ tâm đến phản thuyết trình của minh, không phi chép bài được .

Việc sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học Hóa học của thay (cô)

-Thuong xuyên

Thinh thoảng Chỉ khi thao giảng Không bao giờ

Việc gắn bộ môn Hóa học với công nghệ thông tin la hết sức cần thiết vi:

+ Trong quá trình| day học, ‹ có nhiều khái niệm trừu tượng (sự chuyển động của các

electron, đây chuyển sản xuất một số hóa chất quan trọng), có nhiều thi nghiệm độc

hại, khó thành công, cần nhiều thời gian hoặc không có điều kiện để tiến hành Họcsinh chỉ có thể quan sát được qua các hình ảnh mô phỏng một cách sống động và thực

hóa, hay chỉ có thể xem qua những đoạn phim được quay sẵn.

+ Với khối lượng kiến thức lớn thì việc sử dụng công nghệ thông tin sẽ giúp giáo viên

sử dụng thời gian có hiệu quả và có nhiều thời gian quan sát va theo đôi học sinh

+ Góp phan đổi mới phương pháp dạy học

Mặc dầu vậy hiện nay chí có khoảng 25.00% giáo viên thường xuyên sử dụng

công nghệ thông tin vào day học Hóa học, thỉnh thoảng sử dụng chiếm 60,29% hay chỉ

sử dụng khi thao giảng chiêm 14,71% Việc hạn chế sử dung công nghệ thông tin vào

dạy học Hóa học hiện nay là do giáo viên cho rằng: việc soạn một giáo án điện tử tốn

rat nhiều thời gian học sinh không ghi chép bài được, và lớp rat on ào Thiết nghĩ,những khó khăn nảy không phải là những vấn đề lớn, không thể giải quyết được mà cóthé hạn chế thậm chí triệt tiểu nếu như ở người giáo viền có một sự nhiệt tinh, chịu

khỏ vả có long yêu nghẻ hết minh vì học sinh.

Vin dé cân đặt ra là làm cách nao sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học hóa

học một cách có hiệu quá ? ? Điều này được quyết định rat lớn bởi nang lực của người

giáo viên , bởi nêu giáo viên khong đủ nắng lực thi bai giảng rat đơn điệu, nham chan,

tiết học không có hiệu quả gay an tượng xâu đôi với học sinh Can chú y rằng việc sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học hóa học không thẻ tách rời với cải bang su

phối hợp nhịp nhang giữa chúng sé làm cho lớp học sông động và hoản hảo Can nhắc

thêm việc ghi chép của học sinh sé thuận lợi khi các em được cung cap cudn tập có

sẵn sườn bài dé biết minh phải ghi chép những gi.

SVTH: NGUYÊN TAN QUOC Trang 20

Trang 24

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: VO THỊ THO

Cũng thông qua cuộc trò chuyện với một số bạn giáo sinh trong dot thực tập

vừa qua thi tỏi nhân thay ring bẻn cạnh những khó khăn còn ton tại ở một so trường THPT hiện nay thi da sô các trường vẫn có những thuận lợi sau:

+ Sự quan tam, giúp đỡ và động viên của bạn giảm hiệu nhà trường.

+ Da số giáo viên có lòng yêu nghe có tinh than trách nhiệm cao có kiến thức chuyên

mon vững.

+ O học sinh phần nao có sự năng động, tích cực chủ động trong học tập hơn trước.

Tinh than này cần nên được phat huy va can được giáo viên tạo điều kiện dé phát huy lâu dải.

+ Sự hỗ trợ của phụ huynh học sinh vẻ mat tinh than va vật chat.

Những thuận lợi trên phan nào khắc phục khó khăn trong công tic giảng day.

b) Một số vẫn dé liên quan đến việc kiểm tra trắc nghiệm hỏa học

Khi được hỏi vẻ suy nghĩ của mình khi việc kiểm tra và thi cứ bộ môn Hóa học

đang điển ra đưới hình thức trắc nghiệm, có Nguyễn Huyền Chương (tô trưởng Hóa, trường THPT Lẻ Quy Don) cho biết cô rất ủng hộ ( 70.52% ủng hộ, 29,48% chấp

nhân 0 % phản đổi qua phiếu điều tra) vì có những thuận lợi sau:

* Ve phía học sinh:

* Đôi hỏi kiến thức rong nhưng không quá sâu do đó phù hợp với học sinh tốt

nghiệp phỏ thông và mụctiều phé cập giáo dục THPT hiện nay ở nước ta.

+ Không bị yếu tô con người tác động vào (khách quan) nên công bằng đổi với mọi học sinh.

* Vé phía giáo viên:

+ Không cẩn day quá sâu kiến thức chuyên môn các giáo viên ở vùng sâu, vùng xa không có điều kiện tham khảo sách để nâng cao trình độ chuyển môn chỉ dạy

trong sách giáo khoa vẫn đáp ứng được như cầu cho học sinh.

+ Việc giảng day trở nên dé dàng hơn và không phải day tủ.

+ Chấm bài nhanh và khách quan nên tiết kiệm được thời gian và công sức.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đó vẫn tồn tại những khó khăn sau:

* Về phía học sinh:

+ Học sinh chưa quen với hình thức kiểm tra trắc nghiệm nên vẫn chưa chịu chăm học và cảm thấy có lúc đề quá khó (Mặc dù vậy, đa số học sinh thích thi trắc

nghiệm vi không phải học nhiều kiến thức quá khó, chỉ cần nhanh trí vả biết cách suy

luận là đáp ứng được đẻ, khả năng bị điểm dưới 5 không cao).

+ Do mới áp dụng nên dé thường ra không chuẩn và quá rộng có những câu

không phù hợp để đưa vao trắc nghiệm điều này làm cho học sinh không dé đạt

điểm 10.

* Vệ phía giáo viên:

Cô Huyền | Churong cho biết đổi với bản thân cô thi cô không gặp khó khăn gi

(điều nảy cũng dé hiểu đôi với một giáo viên đã có trên 30 năm tuôi nghé) Song theo

cô Chương thi những khó khăn mà một số giáo viên có thẻ mắc phải là: không biết

cách chỉ cho học sinh cách học dé đáp ứng đẻ trắc nghiệm không biết cách chi cho học sinh từ tự luận sang trắc nghiệm.

Khi được hoi: * Theo cô thi những yếu tô nao giúp cho học sinh làm tốt một bai

kiểm tra trắc nghiệm Hoa học” có Huyền Chương cho biết:

SVTH: NGUYEN TAN QUOC Trang 21

Trang 25

LUAN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THO

Dau tién la hoc sinh phai năm vừng kiến thức, nghĩa li các em phải thuộc bai

rộng, hiểu bài vá biểt vận dụng kiến thúc.

Trên cơ sở năm vững kiến thức thì phải nhanh trí (tư duy nhanh) muôn vậy cân

phải có sự giúp đỡ của giáo viên trong suốt quá trình học.

Phương pháp làm bai tập trắc nghiệm (những thủ thuật, mẹo giải toán, ) tuy

không phải là yêu tổ quan trọng nhất, không phải đóng vai trò quyết định nhưng đó lại

là một công cụ, một vũ khí lợi hại giúp cho học sinh vượt que trở ngại về thời gian để

đạt kết quả cao hơn, thậm chí đạt điểm tuyệt đối một cách dé dang (10 điểm).

Các yêu tô trên đòi hỏi người giáo viên Hóa học phải thẻ hiện tôi đa va có hiệu

quả những yêu câu sau:

+L am cho học sinh thuộc bai, nắm vững, hiểu sâu và rộng kiến thức, không nên bỏ

qua bắt cứ phân nao

+ Day cho học sinh cách làm tự luận dé hiểu bai.

+ Thường xuyên ra những câu trắc nghiệm mà nêu học sinh không hiểu bai thì khó

chọn được đáp án đúng.

+ Thường xuyên giới thiệu cho các em các phương pháp làm toán nhanh.

Cô Huyền Chương cũng nhiệt tình cho biết một vài kinh nghiệm khi ra đề kiểm tra

trắc nghiệm hóa

+ Vi yêu cau 'kiến thức rộng nén phái hoi xuyên suốt hết chương trình nhưng

với tỉ lệ thích hợp tùy vào mức độ quan trọng của kiến thức.

+ Khi phát hiện học sinh yếu ở những kiến thức nào thi nên gây nhiều cảng

nhiều ở những kiến thức đó.

+ Bam sâu vào sách giáo khoa va sách bai tập, nghiền ngẫm, biến đổi sao cho

xuất hiện nhiều mỗi nhử hay có tác dụng câu học sinh yếu kém hay chưa vững kiến

thức càng nhiều cảng tét

SVTH: NGUYEN TAN QUỐC Trang 22

Trang 26

LUẬN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THO

II TINH HINH HỌC HÓA HỌC CUA HỌC SINH Ở MOT SO TRUONG

THPH THUỘC TP HO CHÍ MINH HIEN NAY

1 Mục đích điều tra

+ Tim hiểu về sở thích, ý thức và thái độ của học sinh đối với môn Hóa học.

+ Tim hiểu về suy nghĩ, những khó khăn và thuận lợi của học sinh về kiểm tra trắc

Lê Quỷ Đôn Gia Định

Nguyễn Công Trứ Trần Khai Nguyên Phan Đăng Lưu Trần Đại Nghĩa

Võ Thị Sáu

3 Kết quả tìm hiểu:

+ Tổng số phiếu phát ra: 1300 + Tổng số phiếu thu vào: 912 a) Sở thích đối với môn Hóa

Em có thích môn Hóa học không ?

2478

3 8 & Ss 16.67

Rétthich Thich Chấp nhận Khéng thich

SVTH: NGUYEN TAN QUOC Trang 23

Trang 27

LUẬN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THO

Em thích mén Hóa học vì ?

Đố

60 8 C6 natu thi ngtuém la, snd

động hap din WLöên quan nletu đến tharc tế cuộc

anes [C4 nbibe cái không tan

Trả lời câu hỏi “Bạn có thích học môn hóa học khéng?”, phần đông các em học

sinh trả lời thích (49,01%), thậm chi rat thích (16,67% ) Tuy nhiên, vẫn có một tỉ lệđáng kế các em cảm thấy học hóa là bình thường, các em chấp nhận học Hóa vi đó làmôn học bắt buộc trong nhà trường (24,78%) Va cuối cùng, 9,54% học sinh được

khảo sát thăng thăn thừa nhận mình không thích, không chịu đựng được môn học quái

qui này.

Nhận định về sự quái qui của môn Hóa học, đại đa số các em không thích hochóa cho rằng kiến thức Hóa học quá nhiễu, khó hiểu, khó nhớ (ti lệ này chiếm 97,7%).Hóa học cũng là môn cỏ nhiều cái không theo qui luật dẫn đến sự khó năm bắt kiếnthức nhất 40,23% các em không thích học Hóa đồng tinh với y kiến này 29,88% còn

lại thi không thích kiểu vừa phải học lí thuyết (lượng lí thuyết khổng lô của đủ các hợp

chất hóa học) vừa phải làm nhiều, làm đủ các dạng bài tập

Giải thích một chút về sự quái qui của Hóa học, trước hết phải nói rằng Hóahọc la môn học thực nghiệm Cho nên, bản thân Hóa học chửa đựng rat nhiều kiếnthức không đi theo qui luật chung, không thé lí giải theo những định lí, định luật nhất

định ma các kiến thức đó phụ thuộc rất nhiều vào kết quả thực nghiệm Vi dụ các hợp

chất cùng nhỏm trong bang HTTH (ngoai những tinh chất chung của nhóm) vẫn có

những phan ứng đặc trưng của minh Tuy nhiên, những phan ứng đặc trưng, khôn

theo qui luật này lại chính là dau hiệu nhận biết mỗi chat, là đầu mỗi quan trọng đ

SVTH: NGUYÊN TAN QUOC Trang 24

Trang 28

LUẬN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THƠ

giải rat hiệu quả nhiều dạng bai tập hóa học hiện nay Đây là nét quái qui, đồng thời

cũng là nét a của Hóa học đó!

Thực té, chỉ cần vượt qua được cảm giác ngại những cái không theo qui luật là

các em đều nhận thấy hóa học là một môn học hap dẫn Các em yêu thích Hóa học đã

khăng định lí do hứng thú với môn học như sau Không khi nao các em được chứng

kiến nhiều thi nghiệm lạ, sinh động, trực quan như trong giờ hóa học (66,61%) Các

kiến thức hóa học rat bồ ich, vi chúng liên quan nhiều đến thực tế cuộc sống (52,25%)

Hóa học dé học hơn ~~ môn học khác (21,2%) Dac biệt, có 17,86% học sinh thích

Học hóa vi các em hiểu bai và làm bai được điểm cao Có thé hai lí do sau là không

bản chất, nghĩa là các em vẫn chưa nhận ra được cái hay, cai đẹp của môn Hóa học Nhưng chỉ cần thích học hóa, tôi tin tưởng rằng đến một lúc nào đó các em cũng sẽ

nhân ra, va càng yêu thích Hóa học hơn nữa.

Em có thích phương pháp dạy của giáo viên hóa học khôn ?

Trang 29

LUẬN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VO THỊ THƠ

Em không thích phương pháp dạy của giáo viên Hóa học vì?

Một lí do quan trọng khác có thé thúc day niềm yêu - ghét Hóa hoc của học sinh

là giáo viên va phương pháp giảng day hóa học của giáo viên, Chính những thí nghiệm

trực quan sinh động, sự truyền dat hap dẫn, rõ ràng, cùng với tinh yêu mãnh liệt đối

với hóa học của giáo viên sẽ sục sôi lên trong học trò niêm say mê Hóa học Ngược

lai, những giáo viên chỉ day lí thuyết suông, truyền đạt nặng nề sẽ tạo nên sự khó nuốt

kiến thức cho học trò, từ đó nảy sinh cảm giác dn đôi với môn Hóa học

Theo kết quả khảo sát, có 39,91% học sinh thích phương pháp day của giáo

viên Ti lệ này đổi với các em trả lời rất thích là 14,47%, trong khi 35,09% học sinh

cảm thấy bình thường và 10,53% học sinh không thích.

Với các em thích phương pháp giảng dạy của giáo viên, 57.46% các em thích

giáo viên nhiệt tình, tôn trọng học sinh, 50% thích giáo viên luôn tạo không khí sôi động trong giờ học, 42,94% thích giáo viên thường xuyên sử dụng phương tiện dạy

học trực quan Diéu nảy là rất cần thiết đối với môn Hóa hoc 32,46% các em thích

được giáo viên giúp thuộc bài ngay trên lớp.

Với những em trả lời không thích (con số này là 104/912 em), 72,92% học sinh

than phién rằng giáo viên chỉ chú trọng dạy lí thuyết mà it để ý đến thi nghiệm, thực hành 40,63% khác không đồng ý việc giáo viên không chịu thay đổi phương pháp

giảng dạy Cần phải nói rằng với hình thức kiểm tra trắc nghiệm như hiện nay, việc

giáo viên giải bài tập bằng trên một mặt bảng chỉ chít chữ (hay đại loại như thể) sẽ khiến nhiều học sinh nản lòng Cuối cùng, 18,13% học sinh không chap nhận lỗi dạy không tạo điều kiện giúp học sinh mở rộng kiến thức của giáo viên Dé ý rằng nhiều

học sinh thích học Hóa cũng đã đánh dấu vào ô này Có thể giáo viên chỉ dạy ngangsức học sinh trung bình Kiểu dạy không đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sứcchung và tinh vừa sức riêng lả sai nguyên tắc day học

SVTH: NGUYEN TAN QUOC Trang 26

Trang 30

LUẬN VAN TOT NGHIỆP GVHD: V0 THỊ THƠ

@ Chăm chủ nghe pảng vá gtu bài

so @ Nghe ping phát biểu ý kiến va

gt bài l

0 0 Chỉ im lăng nghe ing |

@ Chi un lặng gha ba 20

0

Thường muyên Ít khá Không beo po

Nghe giảng, phát biểu ý kiến và ghi bai là thái độ rat tích cực của học sinh trong

giờ học, và đã có 47,3% các em khẳng định mình đã tích cực (ti lệ các em trả lời ít khi

la 45%, va không bao giờ phát biểu ý kiến la 7,7%) thực hiện việc nay, Còn lại, đại da

số (652/884) các em chỉ chăm chú nghe giảng và ghi bai, trong đó 49,03% học sinh chỉ

im lặng nghe giảng va 44,9% chỉ im lặng ghi bai Việc chi im lặng nghe giảng để nuốt

từng lời của giáo viên ma không ghi lại những kiến thức trọng tâm ma giáo viên nhân

nhá nhiều lan, hoặc chi im lặng chép bài mà không làm nếi được những ý chính của

bài dẫn đến kiểu học tràn lan, không trọng tâm, dé gây khó khăn và chán nan trong

việc học Hóa về sau

Ý thức và thái độ học tập ở nhà?

Vite hoá: thánh: bài tập wt nhá

Đọc sách pao khoa để chuẩn bị

bà tập

Đọc sách tham khảo để my

SVTH: NGUYEN TAN QUOC Trang 27

Trang 31

LUẬN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THƠ——ˆˆềễễễ::nnnŨỖờỪờ————

Việc hoàn thành bài tập về nha thể hiện rõ nét mức độ tự giác của học sinh

Việc làm này nếu được tiến hành thưởng xuyên sẽ giúp các em quen dạng bai tập va

hinh thành cho bản thân kĩ năng giải toán hóa hoc Tuy vay, vẫn còn 20,76% chỉ thựchiện khi cần (giáo viên kiểm tra) Kiểu học đổi phó va không tha thiết lam bài tập vềnha (vì để dang chép sách giải) khiển cho học sinh dẫn dan rơi rung kiến thức vì li

thuyet không được ap dụng vao thực hành sẽ mau chóng bị lãng quên.

Việc đọc sách giáo khoa để chuẩn bị bài trước giúp học sinh làm quen với kiên

thức mới Lên lớp, việc giao viên giảng lại một lần nữa chuỗi kiên thức nay sẽ giúp

các em hiểu và nhớ bài lâu hơn, đồng thời cũng làm sáng tỏ những vấn để mà ở nhà

các em còn mơ hỗ, chưa nắm được bản chat Như vậy việc học trên lớp của các em sẽchủ động hơn, các em có thé phát biểu xây dựng bai và trao đổi với giáo viên về những

vân dé thay cô giảng rồi ma em vẫn chưa hiểu Tuy nhiên, vẫn còn một tỉ lệ không nhỏ học sinh (14,33%) không bao giờ thực hiện bước chuẩn bị quan trọng này

Có thé qui thời gian ở nha của học sinh hiện nay qua han hẹp Thời gian danh

cho hóa học càng khiêm tôn hon, Cho nên, câu tra lời thỉnh thoảng được các em ưu

tiên lựa chọn: thính thoảng lam bai tập thêm ở nhà (54,69%), thỉnh thoảng đọc sách

giao khoa chuan bị bai trước (47,31%) va (thật đảng hoan nghênh!) thỉnh thoảng đọc

sách tham khảo dé mở rộng kiến thức (45,24%)

Khi gặp một bài tập khó ?

0

Khônàm Svyngiiim Hỏibanbe Tham khảo

cáh gi laygáov#n sách

Cổ gắng suy nghĩ dé tìm ra cách giải (chiếm 31,79% câu trả lời của học sinh),

tham khảo sách (chiếm 24,51%), hỏi bạn bè hoặc giáo viên ngay (33,74% - tỉ lệ cao

nhất) vả tệ nhất là không làm (9,95%)

Với câu hỏi nảy, nhiều em không trả lời bằng cách lựa chọn một giải pháp duy

nhất, Thường các em lựa chọn cả một chuỗi các giải pháp như: cỗ gắng suy nghĩ để

tim cách giải, sau đó mới hỏi bạn bè vả giáo viên và cuối cùng lả tham khảo sách Lựa

chọn nay lả hợp lí, va cũng hoan nghênh thải độ tự giác của các em Con với câu trả

lời không lâm, có thể giải thích rằng các em lười suy nghĩ (học sinh khả giỏi) ma cũng

có thé do các em biết lượng sức minh (học sinh trung binh, yếu) Giáo viên không nên

chê trách mả cần có biện pháp thích hợp nhằm thúc day tính chiu suy nghĩ của học

sinh khá giỏi, đồng thời cũng tạo ra tình huống có vấn để thật vừa sức cho các học

sinh học yêu hơn.

SVTH: NGUYEN TAN QUOC Trang 28

Trang 32

LUAN VAN TOT NGHIỆP GVHD; VŨ THỊ THO

c) Kiểm tra trắc nghiệm hóa học

Em có suy nghĩ gì về việc kiêm tra Hóa học dưới hình thức trắc nghiệm?

10 GB Khong danh ga được tinh

Hau hết học sinh ủng hộ hình thức kiểm tra trắc nghiệm Cac em cho rằng trắc nghiệm sẽ giúp hen chế tinh trạng học tủ, học lệch (38,05%) Các em cũng không phải

giải những bài tập hóa học dai và khó (37,5%) Hình thức trắc nghiệm cũng giúp các

em không cân phải quả băn khoăn vé khả năng diễn đạt của minh 11,51% học sinh chịu làm trắc nghiệm vi lí do như thế.

Tuy nhiên, vẫn còn 18,42 % học sinh không ủng hộ thi trắc nghiệm Các em

cho rằng thi trắc nghiệm không đánh giá được trình độ học sinh Có lễ, nguyên nhân là

do các em không biết rằng trắc nghiệm là hình thức kiểm tra khách quan nhất của loài

người Vì kết quả trắc nghiệm không phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của con n

(cách châm bài của thay cô) Cũng có thể các em thấy rằng, thi trắc nghiệm rất dễ hỏi

bải, dễ kiểm tra đáp số lẫn nhau, dẫn đến kết quả kiểm tra không công bằng Rõ ràng,

tinh trang nay sẽ không thể hiện ra trong những ki thi nghiêm túc.

Những khó khăn của em khi làm kiểm tra trắc nghiệm hóa học ?

D Đời hỏi tư duy nhanh nhạy,

SVTH: NGUYEN TAN QUOC Trang 29

Trang 33

LUẬN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THƠ

$2,96% học sinh odi lam trắc nghiệm vi hinh thức trắc nghiệm doi hỏi tư duy

nhanh, nhạy, chinh xác 52,08% nhận định răng dé làm được bai thi trắc nghiệm can

phải có phương pháp giải nhanh các dang bai tập hóa học 41,67% e€ ngại rằng kiên

thức trong một bải thị trắc nghiệm quá rộng, khó ôn tập Va 29,28% học sinh than thở

để thi trắc nghiệm quá dài

Công tat cả các phan trăm ở trên, ta thây tông của chủng đã vượt quá 100% rat

nhiều Li do la học sinh có thé chon nhiều van dé ma minh cam thay khó khăn Cho nên, có học sinh hoang mang đến mức đã đánh dau hết cả 4 khó khăn mà phiếu điều

tra đã gợi ý Thậm chi có học sinh nêu nhiều ý kiến khác như: dé nhằm lẫn sang câu

khác, số lượng câu hỏi lí thuyết hay bải tập en tụ

Những thuận lợi của em khí làm kiém tra trắc nghiệm hóa học

Có tới 65,68% học sinh thích làm trắc nghiệm vì hình thức kiểm tra này không

đòi hỏi kha năng diễn đạt, trình bảy Quả thật, để giải một bai tập hóa học theo

phương pháp tự luận, nhiều học sinh phải vã mô hôi vì những bước lập luận légic dai

ding vả ngoằn ngoèo 38,93% học sinh chịu làm trắc nghiệm vì kết quả có sẵn dễ

đoán Có một vài giáo viên day học sinh làm bài trắc nghiệm theo kiểu loại trừ, thử

các kết quả, loại thẳng tay kết qua nao tinh số mol ra lẻ (có phần thập phân vô hạn tuần

hoàn) Đây là một ki kiểu kê nghiên thú, vụn vặt, không thấy được bản chất của

trắc nghiệm hóa học Cudi cùng, có 28,07% học sinh thay được cái lợi lâu đài của hinh thức trắc nghiệm: chuẩn bị bài kĩ thì lúc kiểm tra trắc nghiệm, việc ôn tập thật nhẹ

nhàng.

SVTH: NGUYEN TAN QUOC Trang 30

Trang 34

LUẬN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VO THỊ THƠ

Hay chọn 3 yếu tố em cho là quan trọng dé làm tốt bài kiếm tra trắc nghiệm hóa

40 8 Phân chúa thối gian hợp ly

I Nhân dang bài tập tốt

Phiêu diéu tra yêu cau học sinh lựa chon 5 yếu tô mà các em cho là quan trọng

nhất khi làm bài trắc nghiệm Và kết quả như sau:

Yếu tổ nắm vững kiến thức giữ vị trí hang đầu với 86,84% học sinh lựa chọn.Ding là như vay, để thi trắc nghiệm sẽ không có những van dé to tát ngoải phạm visách giáo khoa vả sách bai tập hóa học Cho nên, việc nắm vững kiến thức chính là

nên tảng cho một bài làm trắc nghiệm thành công.

Yếu tố thứ hai ma 83,77% học sinh dé cao chính lả tư duy nhanh nhạy, chính

xác Quả thật, tư duy nhanh nhạy, chính xác sẽ giúp cho việc vận dụng lí thuyết, biếnnhững kiến thức sẵn có thanh nguyên liệu dé lập luận, giải quyết bài tập một cách suôn

sẻ, dễ dang.

Phương pháp làm bài trắc nghiệm cũng quan trọng không kém 76,97% học

sinh đã nhận ra được sự cần thiết cia yếu tố này Nếu biết phương pháp lam bài trắc

nghiệm, tốc độ làm bài của các em sẽ được đẩy nhanh hơn Các em không cỏn quá băn

khoăn vé yếu tổ thời gian nữa :

61,62% học sinh thấy được tâm quan trọng của việc nhận dạng bài tập tốt và51,1% các em thấy cần một trí nhớ tốt Việc làm nhiều bài trắc nghiệm để quen taychiếm 46,93% học sinh đồng tình Và cuối cùng, 40,68% các em đặt nặng yếu tố phân

chia thời gian li.

Tóm lại, tat cả các yếu tố trên đều quan trọng va can thiết cho một bai lam trắcnghiệm Học sinh nên kết hợp va rèn luyện cho minh các yếu tố nói trên để việc kiểm

tra dưới hình thức trắc nghiệm được nhẹ nhàng và suôn sẻ.

SVTH: NGUYÊN TAN QUOC Trang 31

Trang 35

LUẬN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VO THỊ THƠ

Giáo viên hóa học có hướng dẫn em phương pháp làm trắc nghiệm không?

Câu trả lời không mong đợi là ít khi lại chiếm đa số với S1 64% học sinh Mức

độ thường xuyên được 27,71% học sinh lựa chọn Nhưng đáng lo nhất là vẫn có

20,65% học sinh thừa nhận sự thật phd phang là giáo viên chưa bao giờ day các em

phương pháp lam bai trắc nghiệm.

Nhu đã nỏi ở trên, phương pháp làm bai trắc nghiệm nằm trong top 3 các yêu tô

quan trọng để làm một bài trắc nghiệm thanh công (do học sinh lựa chon) Cho nên,việc giáo viên không đá động gì tới phương pháp làm bải trắc nghiệm lả một sự thiệtthòi, hơn nữa còn gây mất cảm tình trong việc học Hỏa của học sinh Cho nên, tôi thathiết dé nghị các giáo viên hiện nay có sự quan tâm đúng mức đến công việc nay

SVTH: NGUYÊN TÂN QUOC Trang 32

Trang 36

LUẬN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THO

CHƯƠNG II

THỰC NGHIỆM SƯ PHAM

1L MỤC DICH - HÌNH THỨC ~ DOL TƯỢNG

1 Mục đích

+ Đánh giá khả năng hiểu va vận dụng kiến thức của học sinh

+ Đánh giá kĩ năng giải bai tập trắc nghiệm của của học sinh

+ Cho học sinh thay được tầm quan trọng của phương pháp làm bai tập trắc nghiệm

2 Hình thức — đối tượng

a) Hình thức

Cho học sinh làm kiểm tra trắc nghiệm 25 phút, để kiểm tra thuộc về nội dungcác bai: ankan, xicloankan, anken Dé gồm 16 câu:

+ 7 câu lí thuyết mang tỉnh chất hiểu và vận dụng: goi tên, nhận biết,

+ 9 câu bài tập xoay quanh các phản ứng mả các em được học: phản ửng thế, phản ứng

cộng va phản ứng chảy,

b) Déi tượngHọc sinh 2 lớp: 11AB, va 11AB‹ của trường THPT Lê Quý Đôn, Q1, TP Hỗ

Chi Minh Đặc điểm của 2 lớp:

+ Mỗi lớp có 24 học sinh va củng được ! giáo viên Hóa giảng day

+ La 2 lớp học chương trình nâng cao.

+ Số học sinh giỏi của lớp: 11 AB, là 6 em, 11AB, là 5 em, còn lại hầu hết là học sinh

khá.

+ Lớp 11 AB,: Được giáo sinh thường xuyên dạy về phương pháp làm trắc nghiệm

trong suốt thời gian thực tập.

+ Lớp II ABs: Là lớp dùng để đối chứng

II DE KIEM TRA (Thời gian : 25 phit)

Câu 1: Đốt cháy hoàn toàn 3,36 lít (đktc) hỗn hợp 2 ankan liên tiếp thu được 4,48 lít

CO; Vậy CTPT của 2 ankan là:

Câu 3: Đốt cháy hoàn toàn 1,12 lit (đktc) hỗn hợp 2 ankan liên tiếp thu được 4,14g

nước Dẫn sản phẩm cháy qua dung dich vôi trong du, khối lượng kết tủa thu được lả:

Trang 37

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: VŨ THỊ THO

C 2-metylpropen D but-2-en Cau 6: Khi cộng nước (xt: H”) vào 2-metylbut-2-en thu được sản phẩm chỉnh là:

Câu 7: Cho 3,36 lit (đktc) hỗn hợp 2 anken ké tiếp nhau di qua bình chứa dung dịch

Br, ‘CCl, dur thay khối lượng bình tang thêm 7.7g CTPT của 2 anken lả:

C €;H, và C;H; D CH, va CcHyp

Cau 8: Dat cháy một hỗn hợp hiđrocacbon thu được 2,24 lít ( dktc) khi CO, va 2,7 g

H;O Thé tích O» (đktc) tham gia phan ứng cháy la:

A 2,48 lít B 4,53 lít

Câu 9: Dét cháy hoàn toản hỗn hợp gồm ankan A va anken B Cho sản phẩm cháy lan

lượt qua bình | chứa P;Os dư và bình 2 chứa KOH rắn dư, thấy bình | tăng 4,14 gam,

bình 2 tăng 6,16 gam Số mol ankan A trong hỗn hợp là:

Câu 11: Để phân biệt: etan, xiclopropan, etilen, ta dùng thuốc thử theo thứ tự như sau:

A dd Br;,, dd KMnO, B dd KMnO,, dd Bry

C Cả A, B đều sai D Cả A, B đều đúng

nay Ti khối hơi của hỗn hợp X gồm metan vả ctan đối với không khi là 0,6 Khi

t cháy hết 1 mol X, thé tích khí CO; thu được ở dkte là:

A 8,72 lít B 24,64 lít

C 22,4 lít D 44,8 lít Câu 13: Công thức CH) = f —=CH; có tên là:

C;H;

A 2-etylpropen B 2-metylbut-2-en

C, 3-metylbut-3-en D 2-metylbut- |-en

Câu 14: Đốt cháy m gam hỗn hợp hiđrocacbon thu được 11,2 lít CO, (đktc) va 9.9

gam H,O Gia trị m:

A.ó.§ B.7.I C.7.8 D 86 Câu 15: Một hidrocacbon A ở thẻ khi ở điều kiện thường A khong làm dung dich Br,

mat mau, A khi phan ứng với Clo (1:1) chi cho một sản phẩm thé Vay A là:

A propen l etan

C, isobutan D neopentan

SVTH: NGUYEN TAN QUOC ˆ Trang 34

Trang 38

LUAN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VO THỊ THO

SVTH: NGUYEN TAN QUỐC Trang 35 `

Trang 39

LUAN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VŨ THỊ THƠ

Trang 40

LUAN VAN TOT NGHIỆP GVHD: VO THỊ THƠ

Biểu dé điểm kiểm tra của hai lớp 114B, (trái) và 11ABs (phải)

Nhin vào kết quả (bang điểm và biểu đồ), nhận xét dau tiên ma ai cũng nói

được la Lớp 1IAB, lam bai tốt hơn lớp LIAB Nhung để trả lời câu hỏi “Tai sao?”

thi qua thật không dé chút nao Nguyên nhân không phải là lớp 11AB, học giỏi hon

lớp }TABs Và bài trắc nghiệm cũng không hưởng đến su so sảnh lớp nao giỏi hơn lớp

náo Afd ý tưởng bai trắc nghiệm hướng đến, và kết quả bài trắc nghiệm cũng đã cho thay điều đó: Lớp 11AB, làm trắc nghiệm hiệu quả hơn lớp 11ABs.

Bai trắc nghiệm có hai phân: 7 câu lí thuyết va 9 câu bai tập, Chúng ta sẽ xét

kết quả lam trắc nghiệm của từng phân dé lam 1d nhận xét trên.

Trước tiên, vẻ phan lí thuyết, kết quả điểm của hai lớp nhìn chung la ngangnhau Hầu như học sinh hai lớp đều làm được dễ dàng, việc trả lời đúng từ 5 câu lí

thuyết trở lên chiếm da số (19/24 học sinh lớp 11AB, va 18/24 học sinh lớp 11AB,).

thậm chí có nhiều em tra lời ding cả 7 câu, được điểm tôi đa ở phần nay (5 học sinh

ni an va 7 học sinh lớp !1AB‹) Riêng lớp 11AB¿ có 1 học sinh chi đúng 2 câu lí thu

Cân phải nói thêm rằng, cả 7 câu lí thuyết đều mang tinh chất hiểu vả vận dụng,không phái là lí thuyết suông để chỉ cần học thuộc lòng lả làm được hết Cho nên, việctrả lời được 7 câu lí thuyết đòi hỏi ở các em khả năng hiểu và vận dụng kiến thức.Nhin chung hau hết học sinh của hai lớp đều đã hình thành và vận dụng khá tốt kha

năng này vào bai kiểm tra

Vẻ phan bài tập, đã có sự khác biệt rd rang trong kết quả kiểm tra của hai lớp

Đôi với lớp 1LAB¿, phần lớn học sinh (18/24 em, chiếm 2/3 lớp ) giải đúng từ 7 câu

bài tập trở lên, trong đó, có đến 8 học sinh (chiếm 1/3 lớp giải đúng cả 9 câu bai tập)

Còn bên lớp 1 AB, hậu hết học sinh giải đúng tử 5 câu bai tập trở xuống (con số nay

là 14 em, gồm 9 em đúng 5 câu, 5 em dung 4) Chi có 2 học sinh lớp 11AB; đạt điểm

tôi đa trong phan nay

Chủ ý thêm rằng: ở lớp 11 ABs cỏ nhiều em dung 6 thâm chi cả 7 cầu li thuyết, nhưng điểm vẫn không cao, do các em nảy đuôi ở phân bai tap: chỉ đúng được 5, tệ

hon lá 4 câu bai tập Ngược lại, bên lớp 11AB,, em chi đúng 2 câu lí thuyết (như đã

noi ở trên) lại giải được tới 7 cau bai tập ;

Như vậy, việc lớp 11 AB, lam bai hiệu qua hơn lớp 1 LAB‹ có thé giải thích qua

kết quá giải bái tập trắc nghiệm Do lớp 11 AB, thường xuyên được hướng dẫn phương

SVTH: NGUYEN TAN QUOC Trang 37

Ngày đăng: 05/02/2025, 22:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Van Bình . Rèn luyện kT năng giải bài tập hỏa học cho học sinh. Đề tài tốtnghiệp. khoa Hóa, DHSP TP.HCM - 1999 Khác
2, Nguyễn Hiền Hoàng. Phương pháp làm bài tập trắc nghiệm hóa học phan hitu cơ.NXB GD Khác
3. Nhuyén Thanh Khuyén. Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm hữu cơ. NXBĐHQG Ha Nội Khác
4. Nguyễn Ngọc Quang. Li luận day học hóa học. NXB GD - HN 1994 Khác
5. Tử Minh Thanh. Giáo trình hóa hữu cơ. ĐHSP TP.HCM Khác
6. Phạm Kiểu Trang. Rèn /uyén A năng giải bài tập hóa học cho học sinh THPT. Dé tải tốt nghiệp. khoa Hóa. ĐHSP TP.HCM - 2000 Khác
7. Lé Thanh Xuân. Phdn loại phương pháp giải bài tập trắc nghiệm hóa hữu co, NXB~ Thanh Hóa Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. Hình thức - Đối tượng - Khóa luận tốt nghiệp Hóa học: Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm Hóa hữu cơ lớp 11
2. Hình thức - Đối tượng (Trang 21)
2. Hình thức — đối tượng - Khóa luận tốt nghiệp Hóa học: Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm Hóa hữu cơ lớp 11
2. Hình thức — đối tượng (Trang 26)
Sơ đồ phản  ứng: C,H,,..——&gt; nCO, - Khóa luận tốt nghiệp Hóa học: Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm Hóa hữu cơ lớp 11
Sơ đồ ph ản ứng: C,H,,..——&gt; nCO, (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm