BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ BÁN CÔNG TP HCM KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC Đề tài: TÌM HIỂU TÁC NHÂN GÂY VIÊM PHỔI BỆNH VIỆN TRÊN BỆNH NHÂN NẶNG KHOA HỒI SỨC UỐN VÁN BV BỆNH
Pseudomonas aeruginosa 9
Giòng Pseudomonas là vi khuẩn Gram âm, hiếu khí, thường xuất hiện trong môi trường như đất, nước, và cây cối Một số loại Pseudomonas chỉ gây bệnh cho thực vật, trong khi những loại khác có thể gây hại cho con người và động vật như ngựa Hiện có hơn 300 loại Pseudomonas, trong đó 11 loại liên quan đến bệnh ở người Ba loại Pseudomonas gây bệnh quan trọng nhất là Pseudomonas aeruginosa, Pseudomonas pseudomallei, và Pseudomonas cepacia.
Pseudomonas aeruginosa là loại vi khuẩn gây bệnh phổ biến nhất ở người, thường xuất hiện trong môi trường tự nhiên như đất và nước, đặc biệt là ở những khu vực ẩm ướt, bao gồm cả bệnh viện Vi khuẩn này thường sống ở các vùng da ẩm và có thể cộng sinh trong đường tiêu hóa của con người.
Pseudomonas aeruginosa có mặt trong nhiều sản phẩm và môi trường khác nhau, bao gồm dung dịch nhỏ mắt, mỹ phẩm, dung dịch Phenol loãng, Benzalkonium Chloride, xà phòng Hexachlorophen, kem, nước trong chậu cắm hoa, bồn tắm, máy hút ẩm, máy thông khí, và vải trải giường tại bệnh viện Ngoài ra, vi khuẩn này cũng được phát hiện trong các túi máu và huyết tương nhiễm khuẩn tại ngân hàng máu.
2.1.1.Đặc điểm vi sinh học
Pseudomonas aeruginosa là những trực khuẩn Gram âm, có dạng thẳng hay hơi cong, có đơn mao ở 1 đầu , nhờ đó nó di động được, kích thước 0,6x2m
Tuy nhiên hình dạng của vi khuẩn có thể thay đổi trong lứa cấy già
Pseudomonas aeruginosa dễ nuôi cấy, mọc dễ trên các môi trường thông thường
Lứa cấy toả ra mùi thơm nhẹ giống như mùi nho (Grapelike - odor)
Vi khuẩn tăng trưởng tốt ở 35 0 C – 42 0 C, có thể mọc ở 42 0 C Đây là tính chất để phân biệt Pseudomonas aeruginosa với các loại Pseudomonas khác
Trên môi trường thạch, khúm vi khuẩn thường có hình dạng dẹt hoặc hơi lồi, với biên không đều và có xu hướng mọc tràn, đặc biệt là trên thạch dinh dưỡng hoặc Trypticase soy agar Trên thạch máu, khúm vi khuẩn thường gây tiêu huyết Beta Trong khi đó, trên thạch MacConkey (MC) hoặc Eosin Methylene Blue (EMB), khúm vi khuẩn không có màu do không lên men Lactose.
+Trong môi trường lỏng: vi khuẩn làm đục môi trường và có lớp ván mỏng trên mặt môi trường (loại hiếu khí tuyệt đối)
*Pseudomonas aeruginosa có thể tiết ra 4 loại sắc tố :
Pyocyanin là một sắc tố chủ yếu được sản xuất bởi vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa, với khoảng 96% các chủng vi khuẩn này có khả năng tiết ra pyocyanin Sắc tố này thường không phát huỳnh quang và có khả năng hòa tan, do đó có thể khuếch tán trong môi trường, tạo ra màu xanh lục đặc trưng Chỉ có 4% P aeruginosa không sản xuất pyocyanin, làm cho nó trở thành vi khuẩn duy nhất có khả năng này.
+Pyoverdin: màu xanh lá cây, phát huỳnh quang dưới tia cực tím(Fluorescein)
TÍNH CHẤT SINH HOÁ CỦA PSEUDOMONAS
Traộc nghieọm Pseudomonas aeruginosa Pseudomonas pseudomallei
Vi khuẩn không lên men đường Glucose, Lactose, mà chỉ oxy hoá đường
Thử nghiệm OF ( Oxidation – Fermentation : oxy hoá – lên men ) dùng phân biệt các loại Pseudomonas
Indol (-), di động (+), khử Nitrate (+), Citrate (+), Urease ( +/-)
Pseudomonas aeruginosa là loại vi khuẩn gây nhiễm trùng khủng sinh mủ xanh, có thể xuất hiện ở nhiều vị trí trong cơ thể như tai, mắt, xoang, vết thương, vết bỏng, đường tiểu, đường hô hấp, dịch não tuỷ và nhiễm khuẩn huyết Từ ổ nhiễm khuẩn ban đầu, vi khuẩn này có khả năng lan rộng vào các mô sâu trong cơ thể.
Pseudomonas aeruginosa gây bệnh thông qua việc tiết ra nhiều loại enzym và độc tố, bao gồm Hemolysin, Lipase, Deoxyribonuclease, độc tố ruột và nội độc tố Những độc tố này chỉ gây bệnh khi gặp các điều kiện nhất định.
+Niêm mạc và da của bệnh nhân bị tổn thương
+Bệnh nhân dùng Corticoid lâu ngày
+Nhiễm khuẩn từ dụng cụ y khoa như: thông tiểu, gây mê, chọc dò, mở thông khí quản, tiêm thuốc…
+Hoá trị liệu, xạ trị
Hiện nay, Pseudomonas aeruginosa được coi là nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn ở bệnh nhân nằm viện lâu ngày, thường được gọi là nhiễm khuẩn mắc phải Sự gia tăng nghiêm trọng của nhiễm khuẩn do Pseudomonas aeruginosa chủ yếu là do khả năng kháng thuốc mạnh mẽ của vi khuẩn này đối với nhiều loại kháng sinh.
Nguồn lây bệnh do Pseudomonas aeruginosa cho người là môi trường ẩm thấp và người lành mang bệnh là nguồn lây bệnh quan trọng nhất
Bệnh phẩm: tuỳ theo bệnh có thể là mủ vết thương, vết phỏng, dịch rửa khí phế quản, máu, dịch não tuỷ, nước tiểu…
Nhuộm Gram :vi khuẩn hình que, Gram âm, không có hình ảnh đặc trưng
Nuôi cấy :có thể dùng môi trường thạch máu, Mac Conkey, EMB
Khảo sát đặc tính lứa cấy sau khi ủ: khóm điển hình, sắc tố xanh lá cây, có mùi thụm (muứi nho)
Các phản ứng sinh hoá định danh: Oxidase, KIA, IM, Citrate, Urease, phản ứng OF (nếu có)
Thường phải phối hợp kháng sinh trong điều trị Pseudomonas aeruginosa vì vi khuẩn này rất dễ trở nên kháng thuốc
Kháng sinh thường dùng phối hợp là: một loại kháng sinh thuộc họ Penicillin với một loại kháng sinh thuộc họ Aminoglycoside
Khuẩn lạc Pseudomonas pseudomallei trên môi trường thạch máu
Staphylococci do Pasteur tìm ra năm 1878 trong mủ những mụn nhọt.
Staphyloccocci có thể có mặt khắp nơi trong đất nước, không khí, thức ăn hay trên da động vật
Staphylococci có trên 20 loài (spices) khác nhau, trong đó vi khuẩn thường gặp nhưng ít gây bệnh cho người là Staphylococcus aureus Các loại Staphylococcus epidermidis và Staphylococcus saprophyticus
2.2.1.Đặc điểm vi sinh học
Staphylococci là những cầu khuẩn Gram (+), đường kớnh 0,5-1àm.Thường xếp thành đám, chùm không đều nhau, không di động, không bào tử và không có nang
Trong môi trường lỏng vi khuẩn thường đứng riêng lẻ, từng đôi hay chuỗi ngắn, do đó dễ lầm với Streptococci
Staphylococci là loại vi khuẩn hiếu khí hay kỵ khí tuỳ ý
Tăng trưởng dễ dàng trên các môi trường thông thường như NA (Nutrient – Agar) Có thể mọc được ở nhiệt độ từ 15-40 0 C, thích hợp nhất là 37 0 C, pH thuận lợi là 7,5
Sau 24 giờ nuôi cấy ở 37°C trên môi trường thạch, vi khuẩn phát triển thành những khúm tròn có đường kính từ 2 đến 4 mm, hơi lồi như mặt kính đồng hồ, với bề mặt đục hoặc óng ánh và biên đều Chúng cũng tạo ra các sắc tố khác nhau.
Màu trắng sứ : Staphylococcus albus
Màu vàng chanh: Staphylococcus citreus
Màu vàng kim đậm: Staphylococcus aureus
+Trên thạch máu ( 5-10 % máu cừu, thỏ):
Staphylococcus aureus cho hiện tượng tiêu huyết hoàn toàn
Staphylococcus epidermidis thường không cho hiện tượng tiêu huyết
+Trong môi trường lỏng: vi khuẩn mọc làm đục đều môi trường, có thể có màng mỏng trên sau 24 h , có cặn lắng xuống đáy
Staphylococci có khả năng phát triển trong môi trường có nồng độ muối cao, cụ thể là 9% NaCl Chúng có thể sinh trưởng tốt trong môi trường 7,5% NaCl, vì vậy môi trường chọn lọc cho Staphylococci là MSA (Mannitol Salt Agar) MSA chứa 7,5% NaCl, giúp Staphylococci phát triển mạnh mẽ trong khi các loại vi khuẩn khác bị ức chế.
Dễ bị ức chế bởi một số thuốc nhuộm như Violet de Gentiane với nồng độ 1/100.000 – 1/200.000
Có thể chịu được sự khô lạnh
Nhiều dòng Staphylococci tiết ra men Penicillinase giúp vi khuẩn kháng được
Lên men chậm các loại đường như Glucose, Saccharose, Galactose và Mannitol mà không sinh hơi là đặc điểm quan trọng Tính chất lên men Mannitol giúp phân biệt giữa các loại Tụ cầu gây bệnh và loại không gây bệnh.
Kháng nguyên của Staphylococci chủ yếu là polysaccharide và protein, giúp phân biệt các dòng vi khuẩn này Bên cạnh đó, một số thành phần quan trọng trong cấu trúc vách tế bào như peptidoglycan và axit teichoic cũng có tính kháng nguyên.
2.2.4 Các chất do tụ cầu tiết ra ( Enzymes và Toxins )
Staphylococci sản xuất ra một số chất Enzymes và một số chất khác được xem là Toxins
* Catalase: men này có tác dụng thuỷ phân Hydrogen peroxide thành H2O
Phản ứng Catalase dùng để phân biệt Streptococci và Streptococcus pneumoniae
Coagulase là một enzym được sản xuất bởi tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), có khả năng làm đông huyết tương của thỏ có Oxalate và người ở nhiệt độ 37 độ C Đây được coi là yếu tố độc lực của vi khuẩn, giúp tạo thành lớp fibrin trên bề mặt vi khuẩn, từ đó chống lại hiện tượng thực bào.
• Hyaluronidase: phá huỷ hyaluronic acid là thành phần của mô liên kết giúp vi khuẩn xâm nhập vào mô dễ dàng
• Deoxyribonuclease: phá huỷ ADN của tế bào
• Staphylokinase: làm tan sợi huyết
Exotoxin (ngoại độc tố) là các độc tố có khả năng gây hoại tử da và tử vong cho động vật thí nghiệm khi được tiêm vào Chúng bao gồm nhiều loại hemolysins, như α-hemolysin, β-hemolysin, γ-hemolysin và δ-hemolysin, trong đó α-hemolysin và β-hemolysin là hai loại quan trọng nhất.
*Leucocidin: là độc tố có thể làm chết bạch cầu của súc vật thí nghiệm
Khoảng 50% các gốc Staphylococcus aureus sản xuất ra độc tố ruột, loại độc tố này bền với nhiệt, có thể chịu được nhiệt độ 100°C trong 30 phút và không bị phân hủy bởi men tiêu hóa Enterotoxin có tính kháng nguyên, gây ra triệu chứng ói mửa ở người và khỉ Khi tiêu thụ thực phẩm thiu chứa độc tố này, bệnh nhân thường xuất hiện triệu chứng ói mửa và tiêu chảy trong khoảng thời gian từ 2 đến 4 giờ.
*Exfoliative toxin: độc tố này gây nên những nốt phỏng ở ngoài da do nhiễm
*Toxic Shock Syndrom Toxin I ( TSST I ): độc tố gây nên hội chứng shock nhiễm độc
Staphylococci coagulase (+): là loại Staphylococci gây bệnh ( Staphylococcus aureus ), đây là loại vi khuẩn có thể gây nhiều thể bệnh khác nhau ở khắp mọi cơ quan
- Bệnh ngoài da: nhiễm khuẩn có mũ ở da ( mụn nhọt, abces)
- Vieõm loồ tai, vieõm xoang muừi
- Viêm màng phổi, abces phổi, viêm khớp xương, viêm nội tâm mạc, abces thận và viêm tuỷ xương thường gặp nhất
Acinetobacter 21
Acinetobacter là một nhóm vi khuẩn Gram âm, hiếu khí, thường trú trong đường hô hấp, có khả năng gây ra các bệnh viêm nhiễm như viêm phổi và nhiễm khuẩn huyết Những vi khuẩn này dễ dàng phát triển trên các môi trường phân lập thông thường và không lên men hầu hết các loại đường, với hầu hết các trắc nghiệm sinh hóa cơ bản cho kết quả âm tính.
Oxidase (-) Định danh sinh hoá bằng bộ API 20 NE
Bộ định danh sinh hóa API 20 NE (Lab.Vi sinh BVBNĐ)
Bộ định danh sinh hóa vi khuẩn tại Lab.Vi sinh BVBNĐ (KIM,Citrate,Urease,IM, MR)
3 KỸ THUẬT THU MẪU BỆNH PHẨM
3.1 Duùng cuù Ống hút số 14, dài 50 cm, có lỗ tận bên.
Bơm tiêm 50 cc, lọ vô trùng 50cc, găng tay vô trùng, NaCl 0,9%
Tất cả bệnh nhân đã được dùng an thần và thở oxy trước khi thực hiện kỹ thuật Hút bỏ đàm ở lỗ cannula và xung quanh cannula
Bơm tiêm 50 cc chứa 20 ml NaCl 0,9 % gắn với ống hút vô trùng
Mang găng vô trùng đưa ống hút qua lỗ cannula cho đến lúc gặp trở ngại ( khoảng
Bôm 20 ml NaCl 0,9% voâ oáng huùt trong 5 giaây
Rút nước bơm ngay sau khi kết thúc động tác đưa vào
Thể tích hút được khoảng 10 -15 ml
Không được hút thêm dịch trong khi rút ống nhằm tránh nhiễm bẩn
4 QUI TRÌNH CẤY ĐỊNH LƯỢNG VI KHUẨN DỊCH RỬA PHẾ QUẢN [4,8,10,15]
Mẫu bệnh phẩm được chuyển đến phòng xét nghiệm trong vòng 1 giờ
Nhuộm gram mẫu bệnh phẩm, đánh giá số lượng tế bào biểu mô
Xử lý dịch rửa và cấy định lượng theo qui trình Định danh sinh hoá ẹũnh danh API (neỏu caàn)
02 hộp BA Pneumo ( Blood agar base Pneumo)
02 lọ MRD ( Maximum recovery dicuent)
- Nếu trên hộp thạch cấy dịch rửa phế quản BA và MC pha loãng10 -2 mọc
> /= 10 khóm khuẩn → kết quả: nghĩ tới vi khuẩn gây bệnh
- 10 khóm khuẩn trên đĩa không pha loãng # 10 3 cfu/ml
- 10 khóm khuẩn trên đĩa pha loãng 1/10 # 10 4 cfu/ml
- 10 khóm khuẩn trên đĩa pha loãng 1/100 # 10 5 cfu/ml
- 10 khómkhuẩn trên đĩa pha loãng 1/1000 # 10 6 cfu/ml…
Thực hiện kháng sinh đồ theo phương pháp Kirby-Bauer
4.4 Sơ đồ qui trình cấy định lượng dịch rửa phế quản
5 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN KHÁNG SINH ĐỒ
5.1 Định nghĩa kháng sinh đồ
Kháng sinh đồ là kỹ thuật xác định độ nhạy cảm của vi khuẩn đối với các loại kháng sinh Phương pháp phổ biến để thực hiện kháng sinh đồ là khuếch tán kháng sinh trên môi trường thạch, thường được biết đến với tên gọi phương pháp Kirby-Bauer.
MH theo tiêu chuẩn chọn lựa đĩa kháng sinh NCCLS 1998-2000 [4,10,15]
Thuốc kháng sinh thấm vào đĩa và khuyếch tán ra môi trường xung quanh, ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn Đường kính vùng bị chặn cho thấy tính cảm ứng của vi khuẩn đối với thuốc; nếu không có vùng bị chặn, điều đó chứng tỏ vi khuẩn đã kháng lại thuốc kháng sinh.
Cách tiến hành như sau :
▪ Từ mầm cấy vi khuẩn không quá 24 giờ trên môi trường phân lập, dùng que cấy vô trùng lấy một vài khuẩn lạc
▪ Pha các khuẩn lạc này vào nước cất vô trùng để đạt đươc độ đục 0,5 Mc.Farland
Đổ huyền dịch vi khuẩn đã chuẩn bị vào đĩa môi trường MH, sau đó tráng đều trên bề mặt thạch Sử dụng ống tiêm vô trùng để rút bớt lượng dịch thừa trong đĩa, đảm bảo bề mặt thạch thật ráo.
▪ Xác định bộ đĩa kháng sinh nào đặt lên mặt thạch
▪ Sau khi đổ đĩa không quá 15 phút, ta phải tiến hành đặt đĩa kháng sinh
Để đặt đĩa kháng sinh đúng cách, cần đặt một đĩa ở giữa và các đĩa khác xung quanh với khoảng cách tối thiểu 15 mm từ thành hộp petri đến tâm đĩa và 25 mm giữa các tâm đĩa Sử dụng kẹp vô trùng để đặt các đĩa kháng sinh lên mặt thạch, đảm bảo ép nhẹ để chúng tiếp xúc hoàn toàn với bề mặt thạch Sau khi đã đặt xong, không được di chuyển đĩa kháng sinh, vì kháng sinh sẽ nhanh chóng khuếch tán vào môi trường thạch ngay khi tiếp xúc.
▪ Trong vòng 15 phút sau khi đặt đĩa, ủ các hộp thạch này vào tủ ấm ( 35 o /24 giờ )
▪ Đọc kết quả bằng cách đo đường kính vô khuẩn xung quanh các đĩa giấy, đơn vị là mm
▪ Trên số liệu đường kính vòng vô khuẩn, biện luận kết quả kháng sinh đồ theo chuẩn mực NCCLS phiên bản January năm 2003
⇒ Đĩa giấy kháng sinh được sản xuất bởi:
OXOID LIMITED Basingstoke, Hampshire, England
Kháng sinh đồ của Pseudomonas aeruginosa trên môi trường MH
(tại Lab Vi sinh BVBNĐ)
6 ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA VI KHUẨN
Sự kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn 27
Khi thuốc kháng sinh mới được phát hiện, vi khuẩn rất nhạy cảm với chúng Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh liên tục trong điều trị đã dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong độ nhạy cảm của vi khuẩn, với sự gia tăng đáng kể các chủng kháng thuốc.
Trong những năm đầu sử dụng Penicillin để điều trị nhiễm trùng do Tụ cầu, việc phân lập chủng Tụ cầu kháng thuốc rất hiếm Tuy nhiên, khi Penicillin được sử dụng rộng rãi, tỷ lệ chủng Tụ cầu kháng thuốc ngày càng gia tăng Đến năm 1950, hầu hết các bệnh do Tụ cầu phân lập được ở các bệnh viện trên toàn thế giới đều do chủng kháng thuốc gây ra.
Các trực khuẩn Gram âm có rất nhiều chủng kháng thuốc, đáng chú ý là các loại vi khuẩn đường ruột và trực khuẩn mủ xanh
Một số vi khuẩn như liên cầu nhóm A có khả năng kháng thuốc thấp, gây ra các bệnh như thấp khớp cấp và viêm cầu thận cấp Trong khi đó, liên cầu nhóm D, hay còn gọi là cầu khuẩn ruột, lại thể hiện khả năng kháng sinh mạnh mẽ hơn.
Sự thay đổi trong nguyên nhân bệnh sinh và hình ảnh lâm sàng của các bệnh nhiễm khuẩn hiện nay đang gia tăng Các bệnh nhiễm khuẩn ngày càng trở nên kháng thuốc, trong khi các bệnh nghiêm trọng do tụ cầu, cầu khuẩn và trực khuẩn đường ruột, cũng như trực khuẩn mủ xanh lại tăng cao, dẫn đến khó khăn trong việc điều trị.
6.2 Cơ chế kháng thuốc của vsv gây bệnh [5,6]
6.2.1 Vi khuẩn sản xuất enzyme để phá huỷ hoạt tính của thuốc
Penicillin G-resistant Staphylococci produce β-lactamase, an enzyme also produced by some Gram-negative bacteria Gram-negative bacteria exhibit resistance to Aminoglycosides through enzymes such as Adenylylase, Phosphorylase, or acetylase, while resistance to Chloramphenicol is attributed to the secretion of Chloramphenicol acetyltransferase by these bacteria.
6.2.2 Vi khuẩn làm thay đổi khả năng thẩm thấu của màng tế bào đối với thuốc
Tetracyclines tích tụ trong vi khuẩn nhạy cảm, nhưng không thể thẩm thấu vào vi khuẩn kháng thuốc Vi khuẩn kháng polymixins, amikacin và một số aminoglycosides khác cũng gặp khó khăn trong việc hấp thụ do cấu trúc màng tế bào.
6.2.3 Điểm gắn của thuốc có cấu trúc bị thay đổi
Một số vi khuẩn kháng aminoglycosides do đột biến nhiễm sắc thể, dẫn đến sự mất hoặc thay đổi protein đặc biệt ở tiểu đơn vị 30S của ribô thể, làm giảm hiệu quả của thuốc Vi khuẩn kháng Erythromycin cũng do sự thay đổi thụ thể trên tiểu đơn vị 50S, trong khi kháng Penicillins xảy ra khi vi khuẩn mất hoặc biến đổi các protein gắn kết penicillin (PBPs).
6.2.4 Vi khuẩn thay đổi đường biến dưỡng làm mất tác dụng của thuốc
Một số vi khuẩn kháng Sulfonamides đã phát triển khả năng không cần PABA từ môi trường bên ngoài để tổng hợp acid folic, mà thay vào đó, chúng có thể sử dụng acid folic có sẵn để phục vụ cho quá trình chuyển hóa của mình.
6.2.5 Vi khuẩn có enzyme đã bị thay đổi
Enzym bị thay đổi vẫn duy trì chức năng biến dưỡng nhưng ít bị ảnh hưởng bởi thuốc hơn so với enzyme ở vi khuẩn nhạy cảm Đối với vi khuẩn nhạy cảm với Sulfonamides, enzyme Tetrahydropteroic acid synthetase có ái lực cao hơn nhiều với Sulfonamides so với PABA Ngược lại, ở vi khuẩn kháng Sulfonamides do đột biến, tình trạng ái lực này bị đảo ngược.
7 TÌNH HÌNH KHÁNG THUỐC HIỆN NAY CỦA CÁC
VI KHUẨN GÂY BỆNH TẠI CÁC KHOA SSĐB [1,3]
Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra sự gia tăng đáng lo ngại về tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh trong các khoa Sản - Sơ sinh - Đẻ bệnh.
7.1 Các loại vi khuẩn kháng thuốc thường gặp
Common antibiotic-resistant bacteria found in hospitals include Methicillin-resistant Staphylococcus aureus (MRSA), coagulase-negative staphylococci, vancomycin-resistant Enterococcus faecalis and Enterococcus faecium (VRE), as well as Enterobacteriaceae with plasmid-encoded extended-spectrum beta-lactamase (ESBL) and various multidrug-resistant strains.
Streptococcus pneumoniae và Pseudomonas aeruginosa
7.2 Sự phân bố tỉ lệ kháng thuốc
Data from the ICARE project (Intensive Care Antimicrobial Resistance Epidemiology) reveals that the highest rates of antibiotic resistance are found in intensive care settings, while the lowest rates occur in outpatient areas Additionally, these studies indicate that antibiotic usage is also highest in intensive care units, correlating with the observed resistance patterns.
7.3 Tình trạng gia tăng tỉ lệ kháng thuốc
Trong thập niên 90, tần suất kháng thuốc của các tác nhân gây bệnh tại bệnh viện ở các khoa SSĐB đã gia tăng đáng kể, đặc biệt là ở các nhóm như MRSA, VRE, P.aeruginosa kháng Quinolone và P.aeruginosa kháng Imipenem.
Hồi cứu mô tả cắt ngang
Bệnh nhân uốn ván nặng có mở khí quản nằm viện tại khoa hồi sức uốn ván trong khoảng thời gian 01/7/2003 đến 30/6/2004
Chọn theo bảng ngẫu nhiên
Tất cả bệnh nhân nặng mở khí quản có chẩn đoán VP nằm viện tại khoa
HSUV trong thời gian nêu trên
-Bệnh nhân được chẩn đoán viêm phổi trước khi được mở khí quản
-Bệnh nhân được chẩn đoán viêm phổi ngay sau khi được mở khí quản (trong vòng 48 giờ)
Thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án vào mẫu thu thập dữ liệu soạn sẵn
Dữ liệu dược mô tả,phân tích bằng phần mềm Microsft Word 2002 SP-2, Microsoft Excel 2002 SP-2 theo trình tự sau:
Tần số và tỉ lệ % các biến số nghiên cứu
Phân tích sự liên hệ giữa các biến số để có sự so sánh như mục tiêu đã đề ra
P.aer A.spp P.spp Kleb Stap.aureus Thành phần khác
1 TỈ LỆ VI KHUẨN THEO LOÀI
Qua việc hồi cứu 40 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân uốn ván nặng có mở khí quản và chẩn đoán viêm phổi tại bệnh viện, các tác nhân vi khuẩn được phát hiện trong mẫu cấy dịch rửa phế quản đã được ghi nhận.
Tên vi khuẩn Số lượng chủng Tỉ lệ %
Số còn lại chiếm 9% gồm các tác nhân sau:
Trong số các tác nhân gây viêm phổi bệnh viện, Pseudomonas aeruginosa chiếm tỉ lệ cao nhất ( 26% ), kế đến là Acinetobacter spp ( 21 % ) và Klebsiella pneumoniae (
20 % ) Đặc biệt đối với chủng Klebsiella pneumoniae thì số lượng mẫu có ESBL (+) chiếm khá cao là 11/24 trường hợp
Một điều đáng lưu ý nữ a là trong số 7 ca hiện diện Staphylococcus aereus đã có
So sánh với nghiên cứu của BS Tô Song Diệp năm 2002 về tác nhân phân lập từ dịch rửa khí phế quản với tổng số 93 chủng, Klebsiella chiếm tỷ lệ cao nhất với 28%, tiếp theo là Pseudomonas aeruginosa (16%), Acinobacter (17%), Staphylococcus aureus (12%), và các loài khác chiếm 27%.
Khảo sát nhiễm khuẩn bệnh viện tại khoa săn sóc đặc biệt bệnh viện Chợ Rẫy
(2001) [3] của tác giả Võ hồng Lĩnh cho ta thấy tác nhân gây viêm phổi hiện diện với taàn suaỏt nhử sau :Pseudomonas aeruginosa (33%), Acinobacter (16%), Klebsiella (12%),
Staphylococcus aureus (9%), Enterobacter (9%), còn lại là các thành phần khác