1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thi cuối kì môn cơ sở khảo cổ học Đề tài văn hóa óc eo ở nam bộ việt nam

37 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa Óc Eo Ở Nam Bộ Việt Nam
Tác giả Đoàn Thanh Thanh, Lê Kim Ngọc, Lê Thị Thanh Trúc, Nguyễn Thị Xuân Nhi, Trương Thái Minh Thư
Người hướng dẫn PGS.TS Đặng Văn Thắng
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn - ĐHQG TPHCM
Chuyên ngành Cơ Sở Khảo Cổ Học
Thể loại Bài thi
Năm xuất bản 2022-2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, các nền văn hóa cổ ngày càng hiện ra rõnét hơn các nhà khảo cổ học đã lội ngược thời gian về quá khứ “đào bới” để giải đáp thắcmắc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN - ĐHQG TPHCM

BÀI THI CUỐI KÌ MÔN: CƠ SỞ KHẢO CỔ HỌC

ĐỀ TÀI: VĂN HÓA ÓC EO Ở NAM BỘ VIỆT NAM

Sinh viên thực hiệnĐoàn Thanh Thanh MSSV : 2256040089

Lê Kim Ngọc MSSV : 2256040056

Lê Thị Thanh Trúc MSSV : 2256040101

Nguyễn Thị Xuân Nhi MSSV : 2256040067

Trương Thái Minh Thư MSSV : 2256040087

Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Đặng Văn Thắng

Năm học: 2022-2023

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

Phần 1: DẪN LUẬN 4

Chương I: Quá trình phát hiện và nghiên cứu văn hóa Óc Eo.Niên đại văn hóa Óc Eo 4

1 Quá trình phát hiện và nghiên cứu văn hóa Óc Eo 4

2 Địa bàn phân bố văn hóa Óc Eo 4

Chương II: những di vật văn hóa Óc Eo Miền Nam Việt Nam 13

1 Đồ đá 13

2 Đồ gốm 14

Chương 3: Đời sống văn hóa cư dân Óc Eo thông qua tư liệu khảo cổ 24

1 Đời sống vật chất 24

2 Đời sống văn hóa tinh thần 32

PHẦN 2: TỔNG KẾT 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, các nền văn hóa cổ ngày càng hiện ra rõnét hơn các nhà khảo cổ học đã lội ngược thời gian về quá khứ “đào bới” để giải đáp thắcmắc trong hiện tại cho nhân loại Và nền văn hóa Óc Eo là một trong số đó Một trong 3nền văn hóa cổ đại lớn từng tồn tại, cũng như trải dài trên lãnh thổ Việt Nam, gồm vănhóa Đông Sơn ở miền Bắc, văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung và miền Nam là văn hóa Óc

Eo Đây là một đề tài hấp dẫn, khai phá, cung cấp cho chúng ta những kiến thức, hiểubiết, nhận thức được một văn hóa cổ đã từng hiện diện Với một niềm đam mê tìm tòi họchỏi thì đây là đề tài chúng tôi muốn hướng đến

Văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa khảo cổ, được giới khoa học biết đến từ cuối thế

kỷ XIX Văn hóa Óc Eo tồn tại trong một không gian rộng và một thời gian dài, trãi quanhiều thời kỳ khác nhau, nó được nhìn nhận là chứng cứ vật chất của một “vương quốc”lớn có địa vực bao trùm cả một vùng Nam Đông Dương mà thư tịch cổ Trung Quốc gọi

là “Phù Nam” Bên cạnh đó, khu di tích Óc Eo luôn được coi như một điểm giao hội củavăn hóa Đông - Tây, là "kho" hàng hoá lớn trên con đường thương mại quốc tế, giữa haichâu lục Âu - Á Mang trong mình những tác phẩm nghệ thuật đầy tinh thần và sự sángtạo Từ những di vật còn xót lại, những dấu tích khẳng định nền văn hóa này có tồn tại

mà còn có sự ảnh hưởng đến một số nước Đông Nam Á và Thế Giới

Các hiện vật đã được phát hiện, sưu tầm ngày một nhiều, hiện đang lưu giữ trongcác bảo tàng trung ương và bảo tàng các tỉnh, tiêu biểu là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.Được bảo vệ, truyền đạt kiến thức và lưu giữ thông tin lịch sử Sách, bài viết, và các tácphẩm văn hóa khác là các công cụ quan trọng để truyền đạt và duy trì kiến thức và thôngtin qua các thế hệ Việt Nam đã được thừa hưởng từ thiên nhiên và từ con người mộtthiên hướng quan trọng góp phần vào sự phát triển của khoa học xã hội

Trang 4

Phần 1: DẪN LUẬNChương I: Quá trình phát hiện và nghiên cứu văn hóa Óc Eo.Niên đại văn hóa Óc

Hình ảnh: Di chỉ Óc Eo - tỉnh An Giang

b

Quá trình nghiên cứu:

Văn hóa Óc Eo được biết đến từ rất sớm qua các thư tịch cổ Trung Quốc Người đầu tiên thu thập và dịch những tư liệu này chính là nhà nghiên cứu người Pháp P Pelliot Vào nhữngnăm 1938 - 1945, L Malleret và các cộng sự đã tổ chức nhiều cuộc thăm dò, khảo sát, khai quật và phát hiện nhiều di tích mới ở vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long Đến năm 1959 - 1963, những nghiên cứu trước đó của ông, chủ yếu là cuộc khai quật ở

Óc Eo, lần lượt được giới thiệu trong 4 tập sách: “L’archéologie du Delta du Mékong” Tập I (1959) mô tả khá chi tiết các loại hình di tích, di vật được phát hiện ở vùng Hậu Giang Tập II (1960) trình bày những nghiên cứu của mình về các hiện vật thu được, đặc biệt là đồ gốm Tập III (1962) khảo cứu các loại hình đồ trang sức bằng kim loại quý, đá quý… Tập IV (1963) ngoài phần trình bày những phát hiện mới ở vùng Tiền Giang, ông còn phân tích diện mạo của nền văn minh Óc Eo ở vùng ĐBSCL Công trình này (4 tập)

đã công bố những phát hiện, mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nhà khoa học Nhiều dấu vết kiến trúc bằng gạch, bằng đá; nhiều cọc gỗ, nhà sàn; nhiều di vật bằng gốm, đất nung, đá, đồng, chì, thiếc, vàng, bạc, đá quý, thuỷ tinh…; nhiều tàn tích thực vật, xương cốt động vật nằm trong hai lớp cư trú khác nhau, ở độ sâu từ 0,60 - 2,20m đã được L.Malleret phân tích, từ đó đưa ra nhận định: Óc Eo là một đô thị có hoạt động mậu dịch,thương mại - là một thành phố cảng có vị trí quan trọng về kinh tế, văn hóa và chính trị Tại địa điểm di tích Óc Eo đã có một quá trình cư trú lâu dài và đây được coi là một cảng biển quốc tế đặc biệt phát triển lúc bấy giờ Thông qua các hiện vật, nội dung của tập sách đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến đời sống của cư dân Óc Eo

2 Địa bàn phân bố văn hóa Óc Eo

Ngay từ đầu TK 20 những cổ vật đầu tiên của văn hóa Óc Eo đã được phát hiện trên cánhđồng Óc Eo- Ba Thê thuộc xã Vọng Thê - huyện Thoại Sơn - tỉnh An Giang Do sự phong phú cuả loại hình, sự độc đáo của chất liệu và vẻ đẹp rực rỡ của mỹ thuật chế tác nên ngay từ lúc bấy giờ, các di vật của văn hóa Óc Eo đã lôi cuốn sự chú ý của nhiều học giả nổi tiếng người Pháp như: G.Coedès, L.Malleret, H.Parmentier…Tuy nhiên công cuộc nghiên cứu văn hóa này chỉ thực sự bắt đầu bằng cuộc khai quật của L.Malleret tại

di tích Óc Eo vào năm 1944 và những năm sau đó L.Malleret đã công bố kết qủa khám phá và nghiên cứu của mình trong bộ sách có nhan đề “Khảo cổ học ở đồng bằng sông Cửu Long” (L Archeologie du delta du Mekong) lần lượt xuất bản từ 1959- 1964 Công trình này được coi là thành tựu Khảo cổ học chủ yếu về Văn hóa Óc Eo cho đến trước năm 1975

Trang 5

Theo L Malleret, nền văn hóa này có phạm vi phân bố chủ yếu ở vùng trũng miền Tây sông Hậu gồm điạ bàn các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Bạc Liêu…

và một phần đất Đông Nam Campuchia Các di tích cuả nền văn hóa này có quy mô khá lớn, trong đó có hai thị trấn Trăm Phố và Óc Eo Riêng Óc Eo có diện tích rộng tới 450

ha, là một đô thị mang đặc điểm cuả một thành phố ven biển với tiền cảng Tà Keo (Cạnh Đền) cách đấy 15km Xã hội Óc Eo là một xã hội phát triển nhiều ngành nghề thủ công như nghề gốm, nghề luyện đồng, luyện sắt, luyện thiếc, nghề kim hoàn Đặc biệt nông nghiệp và thương nghiệp lúc này đã khá phát triển với một loạt chứng cứ như những côngtrình thuỷ lợi cổ, kênh rạch vừa tưới tiêu vừa là đường giao thông, sản phẩm thủ công thểhiện sự chuyên hoá, những đồng tiền bằng vàng, bạc, thiếc còn nguyên hay cắt làm tư làm tám, các loại trang sức, con dấu bằng đá quý, thuỷ tinh, nhiều sản phẩm có nguồn gốc ngoại nhập Nền văn hoá này còn để lại nhiều kiến trúc khác nhau như vết tích nhà sàn, những kiến trúc đồ sộ bằng gạch đá lẫn lộn thể hiện trình độ cao trong kỹ thuật xây dựng Nghệ thuật tạc tượng điêu luyện gồm hai nhóm tượng Ấn Độ giáo và Phật giáo Ngoài ra còn tìm thấy chữ viết trên các con dấu, mặt nhẫn, bia đá… đó là dạng chữ Phạn (Brami) thế kỷ V thời kỳ Gúpta của Ấn Độ cổ đại L.Malleret cho rằng nền văn hóa này

là sản phẩm của một nhà nước cổ đại tồn tại từ thế kỷ II đến thế kỷ VI ở Đông Nam Á, từng được sử Trung Quốc ghi chép nhiều lần, đó là Vương quốc Phù Nam

Tính chất cảng thị thể hiện qua vị trí địa lý của thành thị Óc Eo và các di vật có nguồn gốc từ Ấn Độ, Điạ Trung Hải, Trung Đông, Trung Hoa làm cho văn hóa Óc Eo mang đậm yếu tố “ngoại sinh”, được những nhà nghiên cứu trước đây coi là nguyên nhân chủ yếu của sự phát triển văn hóa này

Từ sau năm 1975, nghiên cứu về văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông CửuLong là một nhiệm vụ trọng yếu của khảo cổ học Việt Nam.Những phát hiện mới đã làm cho số lượng di tích và di vật tăng gấp nhiều lần trước đây Diện mạo văn hoá Óc Eo ngày càng rõ nét, nhất là tính chất và truyền thống phát triển cuả nó trong khoảng 10 thế

kỷ đầu Công nguyên và trong không gian từ lưu vực sông Hậu, sông Tiền đến lưu vực Vàm Cỏ - Đồng Nai Cư dân văn hóa Óc Eo cư trú trên những tiểu vùng sinh thái khác nhau nên có những đặc điểm khác nhau về lối sống, thể hiện trên các di tích và di vật khảo cổ học Đó là các tiểu vùng: tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, ven biển Tây Nam (vùng Bạc Liêu- Cà Mau), hạ lưu sông Tiền, Đông Nam bộ và khu vực rừng ngập mặn ven biển Đông Nam bộ Điạ bàn sinh tụ cuả cư dân văn hóa Óc Eo rất rộng lớn nhưng họ đã thích ứng được với mọi hoàn cảnh, tạo lập cuộc sống ổn định và phát triển nền văn hoá đặc sắc cuả mình Các cuộc khai quật quan trọng là tại các di tích Nền Chùa (Kiên Giang), Óc Eo (An Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp), Đá Nổi (An Giang), Cây Gáo (Đồng Nai), Lưu Cừ (Trà Vinh), Bình Tả - Gò Xoài (Long An), Gò Thành (Tiền Giang), Phụng Sơn Tự-Chùa Gò (TP.HCM)… Đây cũng là những Di tích Lịch sử - Văn hóa Quốc gia được bảo tồn và tôn tạo thành những bảo tàng ngoài trời phục vụ cho nghiên cứu, học tập và du lịch Di tích kiến trúc trong văn hóa Óc Eo gồm di tích cư trú, kiến trúc đền tháp và mộ táng Vật liệu xây dựng gồm gỗ, gạch, đá: dấu tích các cọc nhà sàn

và một số cấu kiện trang trí hoa văn, phế tích hay nền móng đền tháp thờ hoặc đền

tháp-mộ táng Gỗ và đá là nguyên vật liệu cư dân bản điạ quen dùng từ thời tiền sử còn gạch làvật liệu mới do tiếp thu kỹ thuật cuả Ấn Độ từ đầu Công nguyên Vật liệu đá có kích thước rất lớn, tham gia vào các công trình là bộ phận cuả kiến trúc chứ không chỉ là các chi tiết trang trí, được lắp ghép - kết nối bằng kỹ thuật chốt mộng Hầu hết phế tích cho biết đây là đền tháp theo kiểu Ấn Độ có bình đồ hình vuông, nền móng dày đến hơn 1m

Trang 6

xây bằng gạch, đất sét và đá sỏi để có thể chịu lực của công trình đồ sộ bên trên Đặc biệt,các nhà khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện được loại hình mộ táng mà trước đây các họcgiả Pháp chưa biết đến Đó là các huyệt mộ hình vuông, hình chữ nhật hay hình phễu, bên trên ốp gạch hay lát đá tạo thành bề mặt khá bằng phẳng Trong các huyệt mộ có cát trắng lẫn nhiều hiện vật quý giá như các mảnh vàng chạm khắc những biểu tượng cuả Bàlamôn hay Phật giáo, đồ trang sức, một số đồ tuỳ táng khác.

a Niên đại văn hóa Óc Eo

Louis Malleret cho rằng nền văn hóa này là sản phẩm của một nhà nước cổ tồn tại từ thế

kỷ thứ II đến thế kỷ thứ VI, chính là vương quốc Phù Nam Dựa trên bằng chứng từ các khảo cổ vật, các nhà nghiên cứu đã nhận định văn hóa Óc Eo tồn tại qua 3 thời kì cơ bản: thời kì tiền Óc Eo, thời kì Óc Eo (TK I - VII), thời kì hậu Óc Eo (nửa sau TK VII - khoảng TK IX, X)

a Thời kì "tiền Óc Eo":

Giai đoạn trước năm 1975:

Các di tích được xếp vào giai đoạn Tiền Óc Eo ở Tây Nam Bộ là những di tích tìm được

ở Tây Nam Bộ, có một số tính chất, đặc điểm còn có thể tìm thấy trong các di tích thuộc văn hóa Óc Eo và có niên đại trước nền văn hóa Óc Eo Những di tích thuộc giai đoạn Tiền Óc Eo là những di tích có niên đại từ Công nguyên trở về trước thuộc thời kim khi, trước khi hội tụ hình thành nền Văn hóa Óc Eo.Trong bộ sách 4 tập Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long (L'Archéologie du Delta du Mékong) của Louis Malleret, tập II trình bày Văn minh vật chất Óc Eo (La Civilisation Matérielle D Oc Eo) có giới thiệu 4 chiếc rìu có vai (hache) trong đó có 1 chiếc tìm được ở di tích Óc Eo, 1 chiếc ở di tích Hỏn Chông và 2 chiếc ở di tích Núi Sập, và 3 chiếc rìu tứ giác (herminette) trong đó có 1 chiếc ở di tích Đá Nổi, 1 chiếc ở di tích Núi Sam và 1 chiếc ở di tích Núi Sập'; còn trong tập IV giới thiệu vùng Cisbassac (Le Cisbassac; vùng từ sông Hậu trở lên Đồng Nai) Cho đến nay, đã tim được các di tích ở Tây Nam Bộ thuộc giai đoạn Tiền Óc Eo như: An Sơn, Lộc Giang Rạch Núi, Gò Cao Su, Gò Ô Chùa, Động Canh Nông (Long An), Gò TưTrăm, Gỏ Cây Tung (An Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp) Như vậy là từ trước năm

1975, vấn đề giai đoạn Tiền Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ đã được các nhà khảo cổ học người Pháp chú ý đến những phát hiện đầu tiên của minh, đặc biệt là Louis Malleret.Giai đoạn sau năm 1975

Phải đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, công tác nghiên cứu về di tích Tiền

Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ mới thật sự được thực hiện một cách có hệ thống và quy củ.Sau năm 1975, bên cạnh việc nghiên cứu văn hóa Óc Eo ở Tây Nam Bộ, các nhà khảo cổ học cũng đã chủ ý đến những di tích sớm hơn văn hóa Óc Eo

Vậy là từ sau năm 1975 đến nay, Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ học thuộc Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí minh (nay là Viện phát triển bền vững vùng Nam Bộ) đãcùng với các cơ quan khoa học trong và ngoài nước, đặc biệt là Viện Khảo cổ học Việt Nam và các Bảo tàng ở các tỉnh phía Nam đã tiến hành khảo sát, thám sát và khai quật rấtnhiều địa điểm thuộc giai đoạn Tiền Óc Eo ở Tây Nam Bộ và cũng nhận thức rõ hơn những con đường tiền Óc Eo tiến lên Óc Eo

Kết quả của những nghiên cứu có thể tìm hiểu những công trình đề cập các di tích Tiền

Óc Eo ở Tây Nam Bộ đã công bố như: Những phát hiện Khảo cổ học ở miền Nam (1978)

; Khảo cổ Đồng Nai (1991); Một số vấn đề Khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam (1997, 2008); Khảo cổ học tiền sử và sơ sử Thành phố Hồ Chí Minh (1998); Khảo cổ học Long

An những thế kỷ đầu Công nguyên (2001); Văn hóa đồng Bằng Nam Bộ - di tích kiến

Trang 7

trúc cổ ( ); Văn hoá Óc Eo và các văn hoá cổ đồng bằng sông Cửu Long (1984); Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu Long (1990) Gần đây khi hệ thống lại những nghiên cứu của khảo cổ học “Đóng góp vào việc nghiên cứu văn hóa Nam Bộ”, PGS.TS Tống Trung Tín có trình bày về 4 con đường tiến tới văn hóa Óc Eo: Tiền Óc Eo qua các

di tích Giồng Cá Vồ, Giồng Phật (TP Hồ Chí Minh); Tiền Óc Eo qua di tích Gò Cao Su,

Gò Ô Chùa (Long An); tiền Óc Eo qua di tích Gò Cây Tung (An Giang); Tiền Óc Eo qua

di tích Giống Nổi (Bến Tre) ? Trong Những phát hiện Khảo cổ học ở miền Nam, cũng cócác bài viết đề cập đến vấn đề tiền Óc Eo, “Gốm trong các di tích khảo cổ học giai đoạn

“tiền Óc Eo” ở Nam Bộ” của TS Nguyễn Thị Hậu và “thời kỳ tiền Óc Eo ở Nam Bộ” của Võ Sĩ Khải

Kết quả khai quật các di tích khảo cổ học tiền Óc Eo ở Tây Nam Bộ cho chỉ số niên đại của văn hoá tiền Óc Eo: Một số di tích ở tỉnh Long An đã có niên đại CH như di tích An Sơn, 2 mẫu than ở độ sâu 4m cho niên đại 2775 – 60 BP (cách ngày nay) và 2885 ± 60 BP; ở di tích Rạch Núi, mẫu ở độ sâu 2m cho niên đại 2400 ± 100 BP; ở di tích Lộc Giang, mẫu than gỗ ở độ sâu 2,25m trong tầng văn hóa sớm nhất cho niên đại 3950 ± 75

BP và mẫu ở độ sâu 0,8m nơi tiếp xúc giữa tầng văn hóa tiền sử với tầng đất cỏ sự xáo trộn giữa gốm tiền sử và gốm Óc Eo cho niên đại 1490 ± 50 BP; ở di tích Rạch Rừng, mẫu cọc gỗ ở độ sâu 1,7m cho niên đại 2780 – 40 BP và mẫu mảnh gỗ và than dịch vào chiếc xương sọ người MH1 ở độ sâu 1,7m cho niên đại 2800 ± 45 BP; ở di tích Gò Cao

Su, mẫu than gỗ thu ở độ sâu 1,15m trong lớp văn hóa sớm nhất cho niên đại 3370 ± 80BP và mẫu thu ở độ sâu 0,5m trong lớp văn hóa chứa nhiều gốm cho niên đại 2650 ± 70BP

Ngoài ra, ở tầng dưới của các di tích văn hoá Óc Eo, qua khai quật và nghiên cứu, phân tích mẫu gỗ, thang lấy từ lớp sâu nhất của tầng văn hoá đã cho những chỉ số niên đại C ^

14 rất sớm (trước Công nguyên), niên đại của văn hoá tiền Óc Eo cho thấy các di chỉ này

đã có các cư dân tiền Óc Eo:

Trong hố thám sát Gò Cây Da (OE 83 – GDTS) trên cánh đồng Óc Eo, tầng văn hoá dày đến 3,30m Ở độ sâu 2,20m đã gặp nhiều mảnh gốm và hạt cườm, nhiều mẫu than khá lớn Một vật bằng kim loại hình lục giác dẹt, đường kính 2,5cm, từ 2,80m đến 3,30m vẫn còn những mảnh gốm, có một đoạn cây gỗ cắm đứng, có thể là chân cột dài 0,6m, đường kính gần 0,20m, một hố đất đen rộng 0,15m, sâu 0,20m, trong hố có chứa mảnh xương vàrăng của loài trâu bò hoặc nai Đây có thể là dấu vết của quá trình cư trú, sinh hoạt của con người trước khi có sự đắp phủ lên thành gò cao Mẫu than ở lớp sâu của tầng văn hoácho niên đại 2120 plus/minus 50 * BP = 170 plus/minus 50 trước Công nguyên"

Di chỉ Gò Hàng thuộc địa phận xã Vĩnh Đại, huyện Vĩnh Hưng (nay là Tân Hưng) Đây

là di chỉ cư trú lớn có dấu tích các hoạt động thủ công làm đồ gốm, làm đồ kim hoàn-đá quý Tổng thể di vật ở đây thuộc Văn hoá Óc Eo Một mẫu vật lấy từ một chiếc cối và gỗ

ở độ sâu 2,50m trong lòng di tích có chỉ số niên đại C14 là 1970 plus/minus 60 năm cách ngày nay, tương ứng với niên đại sớm của Văn hoá Óc Eo Như vậy, Gò Hàng bao gồm hai giai đoạn phát triển từ tiền Óc Eo sang Óc Eo

b Thời kì Óc Eo

Nền văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa tiền sử ở khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là tại vùng đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam Việt Nam ngày nay Nền văn hóa này phát triển từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 7, và di sản của Óc Eo đã được khám phá trong các khảo cổ học tại khu vực này Dưới đây là sự phân tích về các di vật của nền văn hóa Óc Eo qua từng giai đoạn

Trang 8

Giai đoạn Óc Eo I (thế kỷ 1 - thế kỷ 2):

Trong giai đoạn này, Óc Eo là một trung tâm thương mại quan trọng, tương tác với các nền văn hóa nước ngoài như Ấn Độ, Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á Các di vật từ giai đoạn này cho thấy ảnh hưởng đa dạng từ các vùng lân cận, bao gồm các sản phẩm từ gốm, đồ sứ, thủy tinh, đồng và vàng Đồ gốm và đồ sứ được làm bằng kỹ thuật vòi gốm,

có các họa tiết như hoa văn cây trúc, vẽ chim và hình thú Các di vật từ giai đoạn này cũng bao gồm các tiền tệ, ví dụ như các đồng xu Romani và đồng tiền của Trung Quốc.Giai đoạn Óc Eo II (thế kỷ 3 - thế kỷ 6):

Trong giai đoạn này, Óc Eo tiếp tục phát triển với sự xuất hiện của kiến trúc tôn giáo và cấu trúc chính trị Các di vật từ giai đoạn này bao gồm các tòa tháp, các công trình chùa

và các cột đá khắc hình ảnh về các vị thần Hindu và Phật giáo Kiến trúc Óc Eo thể hiện

sự ảnh hưởng từ các nền văn hóa Ấn Độ và Chăm Pa

Giai đoạn Óc Eo III (thế kỷ 7):

Giai đoạn này đánh dấu sự sụp đổ của nền văn hóa Óc Eo Các di vật từ giai đoạn này cho thấy sự suy tàn của khu vực này, với việc giảm thiểu hoạt động thương mại và quan

hệ với thế giới bên ngoài Các di vật từ giai đoạn này bao gồm các công trình kiến trúc bị

hư hỏng và các di vật được bỏ lại, nhưng không còn có sự thịnh vượng như các giai đoạn trước đó

Tổng thể, các di vật của nền văn hóa Óc Eo bao gồm các vật phẩm thương mại, đồ gốm,

đồ sứ, tiền tệ, kiến trúc và di tích tôn giáo Chúng cho thấy sự ảnh hưởng đa dạng từ các nền văn hóa lân cận và cung cấp thông tin quý giá về sự phát triển và tương tác văn hóa trong khu vực Đông Nam Á trong thời gian đó

c Thời kì Hậu Óc Eo

Văn hóa Óc Eo ở châu thổ sông Mêkông đã để lại một di sản quan trọng cho nền văn hóa khảo cổ tiếp theo, thời kỳ hậu Óc Eo, tương ứng với thời kỳ Chân Lạp trong lịch sử.Khung cảnh lịch sử: Sự chuyển tiếp từ Phù Nam qua Chân Lạp

Vào giữa thế kỷ VI, từ Chân Lạp, Bhavavarman - được, là Chitrasena giúp đỡ - tiến chiếm kinh đô Đặc Mục Vua em Phù Nam phải chạy xuống phía Nam Bhavavarman I bắt đầu hợp nhất từng phần lãnh thổ Phù Nam với Chân Lạp

Năm 600, Chitrasena (Chất Đa Tư Na) nối ngôi anh, tiếp tục mở rộng lãnh thổ Năm 615,Isanavarman (con của Chitrasena) lên làm vua Khoảng năm 630, Insanavarman chiếm

Na Phất Na Nước Phù Nam chấm dứt tồn tại

Việc Chân Lạp thôn tính Phù Nam đánh dấu giai đoạn mở đầu của Chân Lạp (550-630), chuẩn bị cho thời kỳ gọi là Chân Lập tiền Angkor (635-685) Người Chân Lạp thuộc thượng lưu quý tộc đã thụ hưởng và tiếp thu nền văn hóa Phù Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực thủy lợi và kiến trúc

Gọi là “chinh phục Phù Nam", tuy nhiên, Chân Lạp không chiếm lĩnh toàn bộ lãnh thổ của Phù Nam

Sau khi đế chế sụp đổ, Phù Nam tiếp tục tồn tại một thời gian như một nước phụ thuộc của Chân Lạp, sau đó bị chia cắt thành các nước nhỏ, trong đó có các nước Aninditapura (vùng Óc Eo-Ba Thê) và nước Vyadhapura (Đặc Mục) Người Phù Nam vẫn sinh sống trên địa bàn cũ Phần lớn những lãnh chúa mới của họ là những quý tộc có quan hệ thân tộc với các vua n Phù Nam cũ Họ tiếp tục duy trì những truyền thống văn hóa trong kỹ thuật thủy lợi, tôn giáo, nghệ thuật và tiếp thu những yếu tố mới của Chân Lạp trong ngôn ngữ và định chế chính trị, đồng thời chịu ảnh hưởng của Champa trong kiến trúc

Trang 9

Nước Thủy Chân Lạp trong thời kỳ này chia thành nhiều thành bang và vẫn liên minh vớinhau để chống lại Lục Chân Lạp và lực lượng ngoại nhập ở vùng hạ lưu châu thổ sông Mêkông Sau khi bị thôn tính, truyền thống Phù Nam được phục hồi ở vương quốc Srivijaya ở Sumatra với triều đại Sailendra (Vua Núi) từ thế kỷ VII Lợi dụng mâu thuẫn nội bộ của Chân Lạp, vương quốc Srivijaya đã bành trướng thế lực vào nội địa và khống chế cả Chân Lạp.

Những di tích hậu Óc Eo ở Nam Bộ

Từ thế kỷ VII trở về sau, một số yếu tố xuất hiện trong kiến trúc như mi cửa chạm, cột đátròn trang trí hoa văn, bậc cửa hình bán nguyệt, đặc biệt trong nghệ thuật điêu khắc với một loạt phong cách sau Phom Da như Sambor Prei Kuk, Prei Kmeng, Kompong Preah, Kulên, Preah Kô thể hiện trong tượng thờ và trên những mi cửa chạm hình thấy ở Nam Bộ

Những di tích và di vật khảo cổ thuộc thời kỳ này ở Gia Định và vùng ven tương đối phong phú, đặc biệt là ở các tỉnh An Giang, Trà Vinh, Long An, Đồng Nai, Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh Mật độ của di tích, tình trạng tập trung hay phân tán của chúng cho ta khá niệm về sự phân bố của cư dân từ thế kỷ VII đến đầu thế kỷ IX

Những tác phẩm điêu khắc thế kỷ VII-IX ở Nam Bộ, gồm những tượng Phật giáo và Ấn giáo, bằng đá và bằng đồng được tìm thấy rộng khắp trên vùng đất châu thổ

Thế kỷ VI-VII: Tượng Phật đứng (BTMT188), ngôi chân (BIMT186), Visnu

(BTMT187), Ganesa (BTTG524)

Thế kỷ VII-VIII: Tượng Phật ngồi thiền (BTMT197, $7LA93BC38, 87LA93MTE41, AG94-Đ306), Bồ Tát Brahma (BTAG86), Visnu (CV451D78 89LA93TQ40, BTTG590,BTDN02HACS), Surya (BTMT185, (BTLS5531), BTLS5527), Laksmi (BTMT194), Uma (BTL52252), chân tượng Uma (CT Đa 06/QN), Ganesa BTMT199, (BTLS5496), Hari-Hara (CL90H3.23/3), Mukhalinga (BTLS5532, BTAG ST86), Linga (BTĐN, BTLS5522, 91GM2), Nam thần (BTMT106, BTTG589), Nữ thần (BTMT 195,

BTLS735)

Thế kỷ VIII-IX: Visnu (BTLS5528), Uma (BTMT192), chân tượng Uma (CT Đa 06/QN), Nam thần (BTMT200) (Lâm Quang Thùy Nhiên 2005, tr 38-117) Ngoài ra, nhiều hồ nước cổ hình chữ nhật, phần lớn nằm theo hướng đông tây, chưa được định niênđại một cách chính xác, có thể thuộc thời kỳ này hay muộn hơn

Sự chuyển tiếp giữa thời đại Óc Eo và thời kỳ hậu Óc Eo trong kiến trúc có thể nhận biết được qua các di tích Gò Thành trong phong cách tượng, hay Linh Sơn Nam qua sự chuyển biến của loại hình, chất liệu gốm trong tầng văn hóa và những chỉ số niên đại C14 Nhiều di tích vẫn còn tiếp tục được sử dụng và tu bổ hay được xây lại trên nền móng cũ sau thời đại Óc Eo như ở Linh Sơn Nam và Gò Đồn, và thế kỷ VII là một đoạn quan trọng trong sự chuyển tiếp đó Có thể chia làm 3 giai đoạn phát triển: sớm (thế kỷ VI-VII), giữa (thế kỷ VII-IX), và muộn (thế kỷ X-XII)

Giai đoạn sớm (thế kỷ VI - VII): sự chuyển tiếp từ những di chỉ Óc Eo

Gò Xoài (thế kỷ VI - VII), Gò Cây Thị (thế kỷ VI, VII), Gò Cây Thị B (thế kỷ VI - VII), Cát Tiên (thế kỷ IV VIII), Gò Thành (thế kỷ VI - VIII), Linh Sơn Nam (thế kỷ VI IX), Lưu Cừ 2 (thế kỷ VI- XI), Gò Đồn (thế kỷ VI- XI) Những di tích này đã được mô tả đầy

đủ trong những báo cáo khoa học và sách đã xuất bản của các nhà nghiên cứu về văn hóa

Óc Eo từ trước đến nay

Giai đoạn giữa (thế kỷ VII - IX)

Gò Rộc Chanh (thế kỷ VII-VIII)

Trang 10

Gò Rộc Chanh, xã Tân Thạnh (trước đây là Vĩnh Thanh), huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long

An, còn gọi là Gò Ông Tà hoặc Gò Lớn Cuộc khai quật năm 1986, đã làm xuất lộ hai kiến trúc bằng gạch xây tiếp giáp nhau trên một chiều dài 6,25m từ tây sang đông Cả hai đều có dạng chữ nhật gần vuông, có hố thờ ở giữa và quay mặt về hướng đông Kiến trúc phía đông được xây sau kiến trúc phía tây, và niên đại của cả hai được đoán định vào khoảng cuối thế kỷ VII- đầu thế kỷ VIII sau Công nguyên

Gò Năm Tước (thế kỷ VII-VIII)

Gò Năm Tước, cũng gọi là Lò Gạch thuộc cụm di tích Bình Tả, xã Đức Hòa Hạ, Đức Hòa, huyện Long An

Cuộc khai quật phần đỉnh gò đã làm xuất lộ một kiến trúc bằng gạch dài 17,40m theo hướng đông tây, rộng 11,20m theo hướng bắc nam chỉ còn lại phần móng chính diện quay về hướng đông

Di tích Gò Năm Tước là một đền thờ chỉ còn lại phần móng, thuộc loại kiến trúc gạch -

gỗ hỗn hợp có bình đồ bé góc ở phần trước và đối xứng qua trung tuyến đông tây Niên đại kiến trúc được đoán định vào khoảng thế kỷ VII-VIII sau Công nguyên

Linh Miếu Bà (thế kỷ VII-VI)

Linh Miếu Bà (cũng gọi là miếu Bà Chúa Xứ) là một di chỉ trong khu di tích Gò Tháp thuộc xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp Hai đợt khai quật tại Linh Miếu

Bà đã làm xuất lộ toàn bộ một kiến trúc cạch dài 20.90m theo hướng đông tây, rộng 13,40m theo hướng bắc nam gồm 24 đường biên móng và 36 cấu trúc ghi nhận được trên mặt bằng xây dựng, thuộc loại kiến trúc có cạnh bẻ góc, cân xứng giữa hai phần bắc và nam

Việc tìm thấy ở khu di tích Gò Tháp nhiều tượng đá nguyên hoặc bị vỡ, những linh vật, minh văn cổ ở Gò Tháp nhắc đến việc dấu chân thần Visnu, việc dựng đền thờ

Puskaraksa; việc dâng lễ vật lên Sri Amvatakesvara, một hình thái của thần Siva; việc dựng đền thờ Sri Viresvara cho thấy trước đây có nhiều ngôi đền đã được dựng lên ở nơi này Niên đại của kiến trúc này được đoán định trong khoảng thế kỷ VII- VIII sau Công nguyên

Di tích tuy đã bị hủy hoại nhiều, nhưng còn có thể nhận dạng được là một kiến trúc nhỏ

có bình diện vuông, vách xây gạch, giữa có cấu trúc đá hình vuông, thuộc dạng đền tháp Những di vật kèm theo có cánh tay tượng cẩm con ốc (Visnu), con lăn bằng đá mang đặc trưng của văn hóa Óc Eo - hậu Óc Eo Niên đại di tích Đồng Bơ được đoán định vào khoảng thế kỷ thứ VII-VII sau Công nguyên (Nguyễn Văn Long, 1997 tr 52)

Nam Cát Tiên (thế kỷ VII-VIII)

Di tích Nam Cát Tiên, xã Nam Cát Tiên, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, cách bờ phải sông Đồng Nai khoảng 800m về phía đông Cuộc khai quật năm 1989, đã làm xuất lộ mộtkiến trúc gạch gồm một hố móng hình vuông mỗi cạnh khoảng 6,50m đầy hẹp dạng hình phễu với nhiều lớp đá và cát xen kẽ, bên trên là một nền sàn gạch vuông mỗi cạnh rộng 5,00m Dị vật thu thập được trong di tích gồm hai cấu kiện bằng đá (cột trụ vuông, tấm đan), mảnh vỡ gốm mịn và một ít đồ gốm nguyên Kiến trúc Nam Cát Tiên mang đặc

Trang 11

trưng của loại kiến trúc hỗn hợp gạch - đá, niên đại được đoán định vào khoảng thế kỷ VII-VIII sau Công nguyên (Nguyễn Văn Long 1991; 1997, tr 60 – 63, tr 126).

- đá - gỗ tương đối hiếm ở đồng bằng Nam Bộ, niên đại được đoán định vào khoảng thế

kỷ VII-VIII sau Công nguyên (Nguyễn Văn Long, Lưu Văn Du 1995; Nguyễn Văn Long,

1997, tr 63-67)

Chót Mạt (thế kỷ VII-VIII)

Tháp Chót Mạt ở xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, được biết đến từ năm

1909 Đền Chót Mạt có những trụ vuông trang trí để tài hoa lá chạm trên gạch, còn cả hình móng ngựa và một mi cửa trên lối vào với một vòng cung đẹp trang trí theo phong cách thế kỷ VIII Di tích này đã được khảo sát kiểm chứng năm 1988, và sau đó đã được trùng t tu (Đào cung Linh Côn 1988; Phạm Quang Sơn, Nguyễn Văn Long 1990)

Gò Sao (thế kỷ VII-VI )

Gò Sao, xã Tân Phú, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, là một gò đất có dạng gần tròn, rộng50m, cao 2,20m so với mặt ruộng Cuộc khai quật năm 1987, đã làm xuất lộ một kiến trúc nhỏ xây bằng gạch dài 4,80m theo hướng đông tây, rộng 3,70m theo hướng bắc nam,mặt quay về hướng đông và có bậc thềm Di tích này có niên đại đầu thế kỷ VIII sau Công nguyên (Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải, 1995, tr 115) Nhóm kiến trúcRạch Đông (thế kỷ VII-VIII)

Di tích Rạch Đông, xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai là một gò đất dạng gần tròn, đường kính khoảng 16 - 17m, cao hơn mặt ruộng chung quanh khoảng từ 0,70m đến2,50m Cuộc khai quật năm 1992, làm xuất lộ dấu vết của 4 kiến trúc gạch nhỏ, trong đó, kiến trúc 1 có dạng vuông mỗi cạnh rộng 3,80m; những kiến trúc 2, 3, 4 đều có những cấu trúc gạch hình vuông bên trong Những di vật liên quan gồm những mảnh vàng, tay tượng đá, bàn nghiền Niên đại của di tích Rạch Đông được đoán định vào khoảng thế

kỷ VII-VIII sau Công nguyên

Nam Cát Tiên (thế kỷ VII-VIII)

Di Di tích Nam Cát Tiên, xã Nam Cát Tiên, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, cách bờ phải sông Đồng Nai khoảng 800m về phía đông Cuộc khai quật năm 1989, đã làm xuất lộ mộtkiến trúc gạch gồm một hố móng hình vuông mỗi cạnh khoảng 6,50m đáy hẹp dạng hình phễu với nhiều lớp đá và cát xen kẽ, bên trên là một nền sàn gạch vuông mỗi cạnh rộng 5,00m Di vật thu thập được trong di tích gồm hai cấu kiện bằng đá (cột trụ vuông, tấm đan), mảnh vỡ gốm mịn và một ít đồ gốm nguyên Kiến trúc Nam Cát Tiên mang đặc trưng của loại kiến trúc hỗn hợp gạch - đá, niên đại được đoán định vào khoảng thế kỷ VII-VIII sau Công nguyên

Gò Trâm Quỳ (thế kỷ VIII-DX)

Gò Trâm Quỳ thuộc nhóm di tích Thọ Mo, xã Hòa Khánh Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Cuộc khai quật năm 1987, đã làm xuất lộ một kiến trúc gạch khá lớn Tuy bị phá hủy trầm trọng, song bố cục mặt bằng vẫn có thể nhận dạng được gồm nhiều phần cóquan hệ tiếp nối liên tục và cần đối qua trục từ tây sang đông chiều dài khoảng 35m Những di vật tìm thấy trong hố khai quật gồm 1 linga - yon nhỏ bằng thạch anh trong

Trang 12

suốt, 1 mảnh đầu tượng Ganesa hạt chuỗi bằng đá quý, thủy tinh, 50 mảnh vàng vụn, 1 công cụ bằng sắt, nhiều viên cuội (Nguyễn Đức Lưu, Bùi Phát Diệm 1990).

Bình Thạnh (thế kỷ VIII-IX)

Tháp Bình Thạnh ở xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, còn gọi là Tháp Chàm Tháp này đã được H Parmentier khảo tả năm 1927, với tên gọi Prei Cek (Parmentier, 1927, tr 98-104) Di tích được khảo sát kiểm chứng vào tháng 4-1989 và đã được Bộ Văn hóa - Thông tin đầu tư trùng tu toàn diện từ tháng 10-1998 đến tháng 12-

1999 Kiến trúc tháp còn khá nguyên vẹn, được xây bằng gạch cỡ lớn, bình đồ dạng gần vuông (6,00m x 5,60m) với nhiều đường bẻ góc, còn cao khoảng 7m Cách tháp khoảng 15m về phía bắc có một kiến trúc gạch - đá đã đổ nát với quy mô nhỏ hơn (Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải 1995, tr 126, 128) Niên đại của kiến trúc Bình Thạnh được đoán định vào khoảng thế kỷ thứ VIII-IX sau Công nguyên

Giai đoạn muộn (thế kỷ IX -XII)

Gò Bường (thế kỷ IX -X)

Gò Bường, xã Long Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, có tên cũ là Nhà Mát hoặc Bàu Thành Cuộc khai quật vào tháng 5-1989, đã làm xuất lộ một kiến trúc gạch hình chữ nhật dài khoảng 20m theo hướng đông tây, rộng khoảng 15m theo hướng bắc nam Niên đại di tích được đoán định vào khoảng thế kỷ IX -X sau Công nguyên (Nguyễn Văn Long 1997, tr 35-41, 126)

Gò Cây Tung (thế kỷ IX -X)

Gò Cây Tung, ấp Thới Thuận, xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang Di tích nằmtrên một gò đất lớn, rộng khoảng 11.700m”, đỉnh gò cao 13,50m so với mặt ruộng thấp nhất ở chung quanh, cách Núi Sam 15km về phía bắc và Núi Két 2km về phía nam Từ tháng 1993 đến 1995, Viện Khảo cổ học đã phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin tỉnh An Giang đã khai quật di tích này

Trong hố khai quật di tích đã thu lượm được một số di vật như vật liệu xây dựng (gồm nhiều loại gạch), mảnh tượng đá, rìa đá, nhiều mảnh gốm và đồ đất nung

Niên đại của kiến trúc được đoán định là sau thời kỳ văn hóa Óc Eo, khoảng thế kỷ IX -Xsau Công nguyên Toàn bộ phần mô tả và nhận xét trên đây được viết theo các tác giả đã khai quật (Tống Trung Tín, Bùi Minh Trí 1995, tr 6 - 83)

Gò Cây Me/Thành Mới (thế kỷ IX -X)

Di tích Gò Cây Me (Thành Mới), xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, đã được Viện Khảo cổ học phối hợp với Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long khai quật lần thứ nhất vàocuối năm 1998 Cuộc khai quật đã làm xuất lộ phần phía tây của một kiến trúc gạch có dạng bẻ góc trên một mặt bằng dài độ 7m theo hướng bắc - nam, rộng khoảng 4,50m, được xây bằng gạch cỡ lớn Theo suy đoán của người khai quật (Trịnh Cao Tưởng), di tích này là “dấu vết của hai công trình kiến trúc khác nhau, của hai thời kỳ lịch sử khác nhau, xây đè lên nhau ( ), có niên đại khoảng thế kỷ IX -X

Vĩnh Hưng (thế kỷ IX -XD thị trấn th Tháp Vĩnh Hưng ở xã Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Lợi,tỉnh Bạc Liêu, cách thị xã Bạc Liêu khoảng 20km về phía tây bắc, được biết đến từ đầu thế kỷ (Lajonquière 1901) với tên gọi là tháp Trà Long hoặc tháp Lục Hiền Di tích được khảo sát kiểm chứng vào tháng 5-1990 Tháp được xây trên một khoảng đất cao hơn mặt ruộng hiện nay khoảng 0,50m, mặt quay về hướng tây nam, chiều cao còn lại là 9,30m Năm 1990, một cột gỗ tìm thấy trong một hố thám sát đào cách chân tháp 2,60m cho niênđại C14 928 ± 45 BP = 1022 ± 45 sau Công nguyên Những di vật thu thập được trong hốthăm dò này gồm một đầu tượng Phật, một cánh tay tượng, một bàn tay tượng, tất cả đều

Trang 13

thuộc loại nhỏ bằng đồng thau (Nguyễn Duy Tỷ 1990; Nguyễn Duy Tỳ, Đào Bá Hắc 1990: 253 - 257).

Vùng đất Nam Bộ trở nên hoang hóa sau khi Phù Nam sụp đổ

Sau khi Phù Nam sụp đổ, từ thế kỷ VII trở về sau, có những đổi thay lớn về cảnh quan thiên nhiên ở vùng châu thổ hạ lưu sông Mêkông

Dư vang của đợt biển tiến Flandrian cuối cùng đã nhận chìm trung tâm Phù Nam, vùng đồng bằng thấp của châu thổ sông Mêkông, dưới 1m nước vào thế kỷ VI - VII Từ năm 50BC đến 550AD, mực nước Biển Đông và vịnh Thái Lan ở vùng Nam Bộ thấp hơn ngày nay khoảng 0,50m (mực nước năm 200AD là - 0,50m) Từ 350AD đến 1150AD, biển dâng lên khoảng 1m cao hơn ngày nay (mực nước năm 650AD là + 0,80m) Từ năm

1150 đến 1950 sau Công nguyên, mực nước biển dao động ± 1m, tương đối ổn định hơn các thời kỳ trước (Liêu Kim Sanh 1984, 76, 86)

Với mực nước biển cao hơn ngày nay Im, toàn bộ vùng đất thấp ở Nam Bộ hoặc bị ngập chìm, hoặc trở nên đất đầm lầy nước đọng, dần dần hoang hóa, ở đó chỉ còn những nhóm người biệt lập, nghèo khổ tiếp tục sinh sống trên những cồn phù sa và những giống cát ven biển Một số người tiến lên các thế đất cao vùng Bảy Núi, Tịnh Biên, Tri Tôn, miền Đông Nam Bộ, hay xa hơn, lên vùng cao nguyên Lâm Đồng Họ không còn giữ một vai trò nào đáng kể trong định mệnh của vương quốc Sau này, địa bàn hoạt động của đế quốc Khmer, người thừa kế Chân Lạp, luôn luôn giới hạn trong vùng đất phía bắc vĩ tuyến Phnom Penh (B P Groslier 1961, 67)

Cho đến thế kỷ XVIII, vùng đất này đã được Lê Quí Đôn mô tả trong Phủ biên tạp lục:

“Đất Đồng Nai thuộc phủ Gia Đinh, từ các cửa biển lớn nhỏ như Cần Giờ, Sài Lạp (Soài Rạp) đi vào, toàn là những đám rừng hoang vu đầy cỏ rậm, mỗi đám rừng có thể rộng hơn nghìn dặm” (Lê Xuân Giáo, 1973, 439-440)

Như vậy là liên tục từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVII, ở châu thổ sông Cửu Long, những chuyển biến trong cơ cấu cư dân, sự không thích ứng với những điều kiện chính trị, kinh

tế và văn hóa dưới thời Chân Lạp, tình trạng chiến tranh triền miên giữa Chân Lạp và Champa trên địa bàn nam Trung Bộ và động Nam Bộ và những ảnh hưởng của các đợt tấn công của đế quốc Nguyên-Mông vào các nước Đông Nam Á vào thế kỷ XIII đã là những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp đưa đến quá trình hoang hóa của vùng đất châu thổ, vùng đất “điểu thú quần hoang, tuyệt vô nhân tích” mà những di dân người Việt đầu tiên đã tìm thấy ở đây vào đầu thế kỷ XVII

Qua ba thập kỷ khảo sát và khai quật, cho đến nay, văn hóa hậu Óc Eo ở Nam Bộ có thể nhận diện được qua di vật (gốm, vật dụng ), phong cách nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc, tầng văn hóa di tích Việc nghiên cứu thời kỳ hậu Óc Eo, khảo cổ học giúp làm sáng

tỏ giai đoạn chuyển tiếp từ Phù Nam 'qua Chân Lạp trong lịch sử cổ đại của vùng đất Nam Bộ

Chương : những di vật văn hóa Óc Eo Miền Nam ViệtII Nam

1 Đồ đá

1.1 Rìu có chuôi

Được đẽo từ đá phtanite màu xanh nhạt hoặc phtanite đen phủ patin Có tiết diện hìnhchữ nhật, hình hạt đậu hai mặt lồi Chiếc nào cũng được mài nhẵn, đặc biệt là chiếc bangphtanite màu xanh, có hai vai ngang, có vai xuôi và cùng với phần chuôi tạo thành gócnhọn, có phần chuôi vuông góc với cạnh Chuôi hình bầu dục hoặc góc tù đối với các rìu

từ Núi Sập Có một chiếc rìu có lưỡi tựa như hình bán nguyệt, lưỡi cong, bán kính lớn.Tiết diện hình hạt đậu, hai mặt lồi, đây có thể là nguyên mẫu của các rìu bằng đồng

Trang 14

1.2 Rìu tiết diện chữ nhật

- Di chi Óc Eo, rìu có chuôi dài hơi bất đối xứng, với phần thân hơilối và được mài kỹ hơn các phần khác và theo cùng một trục Phầntác động gồm hai mép vát có mặt nghiêng lỗi Vai xuôi Phần tracán dài bằng nửa độ dài của rìu và được ghè nhỏ lại Lưỡi cong

- Di chỉ trong nội địa Hòn Chông, rìu có chuôi ngắn, thường có hìnhthang như chiếc rìu nêu trên, lỗi hai bên, lưỡi cong Các mặt vàcạnh được đánh bóng kỹ Vai ngang Đá màu xanh lục, gần giốngvới “chiếc đục bằng đá tính chất như ngọc bích, xanh thẫm, mặttrơn bóng”

- Di chỉ Núi Sập, ìu có chuỗi dài và lỗi hai bên, cả chiều dài lầnchiều ngang Vai xuôi và chuỗi dài, chiếm 2/3 tổng chiều dài hiệnvật Lưỡi cong Hai mặt được mài nhẵn và hơi bất đối xứng Rìu cóchuỗi rộng, dài bằng nửa chiều dài hiện vật, lỗi hai bên, cả chiêudài lần chiều ngang, Vai xuôi Hai mặt của phân cắt được mài kỹhơn Lưỡi hình bán nguyệt

Đặc trưng của loại dụng cụ này là hai mặt không cân đối, lưỡi vát, không đều, đáp ứngnhu cầu sử dụng thiết thực, hướng tác động vuông góc so với các công cụ nêu trên Ởmiền Tây sông Hậu có hai loại

1.4 Bôn có chuôi nhọn

Di chỉ Đá Nổi, bôn hình tam giác, đầu thon đối diện với đầu lưỡi cong Phần thân hơi lối,được mài nhẵn Mặt lưng lõm, vát, được mài nhẵn ở đoạn giáp lưới Tiết diện hình thangthẳng Hiện vật này thuộc nhóm công cụ có chuôi nhọn, một mặt phẳng, một mặt lồi, tiếtdiện hình thang Đa phân làm bằng đá đen, loại đá này rất phổ biến trong núi đá vôi vùng

Hà Tiên

1.5 Bôn chuỗi thẳng

- Chùa Phước Cổ, Núi Sam, bôn chuỗi thẳng một công cụ thiếu phầntrên, được lưu giữ ở chùa Phước Có trên Núi Sam Tuy nhiên, hiệnvật này có các viên gần như song song và mặt nghiêng không đốixứng với một mặt phẳng và một mặt lồi, cùng loại với những công

cụ được mô tả dưới đây Lưỡi cong Tiết diện hình chữ nhật

- Di chỉ Núi Sập, bôn hình thang ngắn, mặt nghiêng không đối xứng.Một mặt được trau chuốt lại bằng cách gọt bớt đi các mảnh nhỏ,chỉ mài qua loa ở lưỡi, tạo thành một đường vát ngắn Mặt còn lạilõi rõ hơn, được mài khắp mặt, đường vát rộng Tiết diện hìnhthang, đáy lỗi và cạnh nở về phần lưng, hướng ngược với hướngcủa bôn có chuôi nhọn Lưỡi cong

- Di chỉ Côn Đảo, bôn hình thang dài, rất dày Bốn mặt được phântách bằng những cạnh sắc và được mài chỉn chu Lưỡi cong kiểu

có và có thể coi như một chiếc bôn nhờ đặc điểm có hai mặt chínhkhông đối xứng, một mặt gần như phẳng theo đường trục dài, mộtmặt lối Tiết diện hình thang, đáy lỗi, cạnh nở cùng hướng với hiệnvật nêu trên

2 Đồ gốm

2.1 Đồ đựng miệng rộng

Trang 15

- Đồ đựng hình chảo, là những đồ đựng vững chắc, miệng chảo nhấtthiết phải có đường kính lớn Thô ráp, nhưng rất thuần nhất, trộnvới một lớp dày đặc hạt cát đỏ rất mịn, cá biệt có trường hợp trộnvới cát trắng thạch anh hoặc tràng thạch Trong bột đất có một lớphạt cát đỏ dày đặc và mịn, có những chỗ lấp lánh, có thể là vảymica trắng hoặc bụi hay mảnh ánh kim sáng như vàng hoặc bạc

- Đồ đựng có thân hình cầu, loại này chỉ còn lại một mảnh, nhưng

đủ lớn để có thể phục chế thành một hiện vật thuộc kiểu phăng tôm(type-fantôme) có thành dày, bằng đất nung, màu đen và giốngdiệp thạch, lẫn hạt cát Vì không có cổ nên hiện vật trông giốngnhư một hình cầu rỗng mà một chỏm đã bị hớt đi để tạo thànhnhờn không nhìn thấy rõ Bên trong còn nhiều dấu vết của một lớpthổ hoàng quét lên trên, màu đục mờ, có lẽ là một lớp men bóngđược tráng lên khắp hiện vật Hoa văn trang trí rất mờ nhạt, có lẽđược tạo thành từ một chiếc lược Ở giữa mặt ngoài của đáy có chỗlõm, tạo thế thăng bằng Có lẽ được nặn bằng tay

- Bếp lò, những mảnh đồ đựng có thành dày, đều chế tác với bột đấtthô ráp lần với hạt cát to Loại lò gốm này hiện nay gồm hai phầnkhông bằng nhau thắt ngang ở giữa Ở mép có ba để đỡ giống kiểunhư cái chêm góc và nghiêng về phía trong Chúng được dùng để

kê nồi nấu thức ăn, trong khi những thanh củi dài được đầy vào lòlửa từ phía đối diện Hiện nay, thành lò ít được trang trí Các cạnhcủa hiện vật có nhiều kiểu trang trí, những đường thẳng liên nhautạo thành một hoặc nhiều hàng, hoặc chia thành ngăn với nhữngđường song song với mép cạnh, xiên hoặc chéo nhau Hình trangtrí có thể là chấm bi hoặc hình lăn tăn Trên các bệ đỡ thường thấynhững nét rạch bằng lược Một chiếc bệ có trang trí hình quái vật.Một chiếc bệ đỡ khác có trang trí hình hai con cả nổi, một con ởmép, một con ở quai

2.2 Đồ đựng miệng hẹp

a Loại đáy cong

- Đồ đựng hình quả bầu, thang tròn và hẹp, cổ ngân, miệng hẹp vớiđường kinh bằng 1/5 đường kính của phần thân Có một trườnghợp, họa tiết trang trí hình như được tạo văn in ở phần vai Bộtmịn, có tông màu hồng, sờ mát tay và còn dấu vết của men trángmàu đỏ hoặc men bóng màu thổ hoàng Có một phiên bản có phầnthân tháp, giống như một chiếc lọ Chắc là sản xuất bằng thủ công

- Bình dựng dầu thơm cỡ nhỏ, lòng bình hình cầu hai đầu dẹp,miệng hợp có lẽ trước kia là loại có thấp có gờ, đường kính bằng1/3 đường kính của làng bình Thành bên ngoài có những đườngchia phần thân thành mùi dọc Đặt vang màu hồng khá mịn, nhưng

có nhiều hóc

b Chai hình trụ có đáy hình bán cầu

Gồm hai cái chai thành dày, thân và cổ hình trụ Thành bên ngoài chia làm hai nấc, cổrộng Giữa có và thân có phân nhỏ ra đánh dấu bởi một cạnh thẳng, tạo thành một vai

Trang 16

hẹp Đây hình bán cầu, đáy và phần còn lại của thân chai đều được trang trí thô Hoa vănbao gồm nhiều dấu rạch, chắc được tạo thành từ một chiếc lược răng thưa Những vếtrạch này nằm nghiêng với một đoạn uốn hơi xoắn ốc, còn trên đáy thì có những rạchngang.

c Loại đáy phẳng có cổ

Một chiếc bình kích thước khá lớn, có cổ và chân, làm thủ công bằng một loại bột đen,quét bên ngoài một lớp màu vàng nhạt Đây là loại đồ gồm thông thường, trắc diện hơigiống loại nổi 34, chỉ khác ở chỗ chiếc bình này dài và có chân Giữa bụng và vai có một

gờ nổi Trên thân bình và bên ngoài đáy trang trí đơn giản bằng hoa văn xoắn in từ mộtchiếc vớ đáy có đục một lỗ tròn đều Nó được nặn bằng tay từ loại bột khá mịn và nung

kỹ, bên ngoài được quét một lớp thổ hoàng Ba chiếc bình khác tìm thấy ở Óc Eo đượclàm bằng bàn xoay Một chiếc có dáng đẹp, được chế tác từ loại đất xù xì pha với cát,màu trắng đục Nó nằm trên mặt đất, ở gò Bắc Giống Cát, đáy có đục một lỗ thủng Haichiếc còn lại màu vàng nhạt, được chế tác từ bột đất nhẵn và mịn Không có chiếc nào cóhoa văn trang trí

d Đồ đựng có thân hình quả trứng

- Chum đáy phẳng Chúng được chế tác thành bột đất đen, kết cấu, thành từng lớp, chất khử nhờn từ thực vật, có mành được quét mộtlớp màu hồng bên ngoài Những mảnh chúng tôi thu lượm đượccho thấy có chum rộng, đường kính từ 25 đến 45cm Chum códung tích trung bình (5 lít) nhưng lượng chứa lớn hơn tất cả nhữngloại được mô tả ở trên Phần thân của chum hình trứng dài, đáyphẳng, miệng có viên gờ nổi Trang trí bằng ba đường rãnh sâuxung quanh vai, kèm theo bốn tai ngắn để dễ cầm, những tai nàyhình như không có lỗ đục Có lẽ chế tác bằng tay được làm từ đấtnung có tông màu nâu, bột đất khi mịn và được khử nhờn bằng cát

- Ấm có vòi, kiểu ấm có vòi thẳng hoặc cong, thần ấm có hình cầuhoặc hình quả trứng, chân ngắn và cổ thấp, miệng hơi loe Có lẽđược chế tác bằng bàn xoay Hiếm có những bản còn nguyên vẹn

Nó có thể ngắn và có hình nón, tháng hoặc hơi cong, dài hoặc hơiloe, hẹp hoặc mở rộng, trơn hoặc trang trí bằng đường rãnh hìnhtròn, cổ cắt thẳng hay có những đường gờ nổi phức tạp với nhiềuhốc và lưới ở giữa, một bản có trang trí hình động vật Có chiếcquanh cổ có gờ nổi, có chiếc không

e Nắp đậy, cổ và chân đế

Nắp đồ đựng

- Đó gồm có vùng miền Tây sông Hậu có hai loại nếp chính Mộtloại có lỗ ở giữa đc dễ cám, một loại có núm Loại thứ hai bao gồmnhiều kiểu phù hợp với hình dáng của đồ đựng

- Nắp đậy có lỗ cầm, những nắp đậy này, hình như rất phổ biến, cóphần lõm ở giữa, từ đó nhô lên một chỏm tròn, chỉ có chỏm nàyđục lỗ cầm, nhờ thể đỗ đựng được đậy kín hoàn toàn Những hiệnvật này được nặn trên bàn xoay, bằng cách di chuyển ngón tayhoặc một chiếc bay theo đường bán kính, từ tâm ra phần viên trònkhi bàn đang xoay, trên hầu hết các bản thu được đều thấy rõ mộtđường xoắn ốc Chúng được nặn từ một loại đất thuần nhất và mịn,

Trang 17

sau khi nung có màu hồng hoặc vàng nhạt Trên một số bản cònthấy dấu vết lớp quét ngoài màu thổ hoàng Một số bản có đườngkính lớn, chắc là nắp đậy loại đồ đựng có miệng rộng Căn cứ vàochất liệu đất, có thể chia chúng thành hai loại Một loại được chếtác từ bột đất màu xám hoặc đen nhạt, xù xì, pha lẫn cát loại hạt tovới tỷ lệ cao.

- Chân đế các đồ đựng thu thập được trên mặt đất ở Óc Eo và trong,các hố thám sát Chân để thẳng hay nghiêng, thường ngắn, đôi khi

có đường kính khá lớn Căn cứ vào chất liệu đất, có thể chia chúngthành hai loại Một loại được chế tác từ bột đất màu xám hoặc đennhạt, xù xì, pha lẫn cát loại hạt to với tỷ lệ cao

- Chân đèn, những hiện vật hình nón cụt hoặc hình trụ, chính giữa

có lỗ thống hình ống từ trên xuống dưới, đường kính hẹp Trênđoạn gần miệng lỗ có vành cổ Tất cả những bản này đều được chếtác bằng tay hoặc bằng bàn xoay, từ bột đất mịn, trong trơn vàxám, sau khi nung có màu hồng

f Dọi xe chỉ

Những hiện vật hình nón cụt hoặc hình trụ, chính giữa có lỗ thống hình ống từ trên xuốngdưới, đường kính hẹp Trên đoạn gần miệng lỗ có vành cổ Không có chiếc nào cònnguyên vẹn, do đó khó hình dung được phần đáy Tất cả những bản này đều được chế tácbằng tay hoặc bằng bàn xoay, từ bột đất mịn, trong trơn và xám, sau khi nung có màuhồng Ở di chỉ Óc Eo, đã thu thập được khoảng bốn mươi chiếc

Trang 18

Mathura Hiện vật được mạ vàng bằng thủy ngân và trên mặt còn dấu vết loang rộng của kim loại quý.

- Ở một hiện vật khác, một tượng Phật, mái tóc không có lọn xoăn nhưng được búi thành củ hành, hơi ngả về phía trước, các lọn tóc không thấy rõ vì kim loại đã bị hao mòn (pb LXXXIV) Ngược lại, các lọn tóc được thể hiện rõ nét trên trán, tạo thành những nếp gấp cong và đối xứng Khuôn mặt đẫy đà với những nét đều đặn, hốc mắt sâu, mắt mở to, mí mắt rõ Phía dưới mặt và mũi bị oxy hóa nên không còn nguyên vẹn Một số chi tiết trên gương mặt và kiểu búi tóc chứng tỏ đây là một tượng rất cổ thuộc nghệ thuật Gandhāra Cách thể hiện búi tóc cho thấy hiện vật thuộc giai đoạn xưa nhất của nghệ thuật tạo hình này Kiểu tóc này cũng đã được tìm thấy trên hộp thánh tích Peshawer và trên một số tác phẩm điêukhắc ở Shotorak, đặc biệt là trên bi ký Kapiçi-Begram Chữ khắc trên bia có lẽ có niên đại vào thế kỷ thứ II hoặc thứ III Mặt khác, những nghiên cứu về địa tầng học của R Ghirshman ở Kapiçi-Begram đã cho thấy đô thị đó đã bị phá hủy đầu thế kỷ thứ II Như vậy, tấm bia nói trên không thể xuất hiện sau khi đô thị này bị phá hủy, vì nó được tìm thấy ở tầng sâu II Trên cơ sở đó, Henri Deydier đã kết luận rằng đầu tượng Phật kiểu Gandhara được tìm thấy ở núi Ba Thê phải được xếp vào nhóm các tác phẩm điêu khắcthế kỷ II-III

- Núi Ba Thê (di chỉ số 92) – Hiện vật được tìm thấy dưới một mái che giữa trời, trong một cuộc thăm dò phía Nam dãy núi Phần đầu hổng, chứa đầy thổ hoàng, nhưng trên mặt có nhiều vết bám chứng

tỏ nó được tìm thấy trên một lớp cát ngầm, có lẽ là lòng của một nhánh sông Giồng Xoài, cấu tạo bằng đá hoa cương đã biến chất, cách núi Ba Thê không xa lắm Gỉ đồng màu xanh lá cây

- Tượng Bồ tát nhỏ (Quan Âm?) trong tư thế đứng, bàn tay phải thể hiện tâm thế bình thản, bàn tay trái tỏ vẻ như đang ban phước (phụ bản LXXXIV) Ngài mặc một áo thụng tay rộng, dài chấm gót nhân, tỏa rộng ra cùng với quần áo Những nếp gấp chân phương nằm ở giữa áo, vạt áo kết thúc bằng hai mũi nhọn Hình như có một chiếc dây nịt hoặc khăn choàng thắt giữa eo trên ngực có một đường viền hoặc một nếp gấp chéo chạy từ vai bên trái đến thắt lưng, kín vai Trên cổ hình như có đeo một chiếc kiềng cứng có mũi nhọn ở giữa mép dưới Kim loại đã bị mòn nhiều nên không thấy rõ nét mặt, khuôn mặt có vẻ phương phi, mắt to và lông mày xếch về phía thái dương Đầu tóc trông không rõ nhưng tạo thành hai tầng như chiếc mũ không vành Không có dấu vết gì chứng tỏ

Ngày đăng: 04/02/2025, 16:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Văn Thắng - chủ nhiệm đề tài (2009), “Những di tích khảo cổ học thời tiền Óc Eo ở Tây Nam Bộ: báo cáo tổng kết đề tài KHCN cấp trọng điểm đại học Quốc gia”, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những di tích khảo cổ học thời tiền Óc Eo ở Tây Nam Bộ: báo cáo tổng kết đề tài KHCN cấp trọng điểm đại học Quốc gia
Tác giả: Đặng Văn Thắng - chủ nhiệm đề tài
Năm: 2009
2. Louis MALLERET, “Khảo cổ học Đồng bằng sông Mê Kông, Tập II: Văn minh vật chất Óc Eo” (2021), Tổ chức, biên dịch và giới thiệu: Nguyễn Hữu Giềng, Nguyễn Thị Hiệp, Olivier Tessier, NXB Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo cổ học Đồng bằng sông Mê Kông, Tập II: Văn minh vật chất Óc Eo
Tác giả: Louis MALLERET, “Khảo cổ học Đồng bằng sông Mê Kông, Tập II: Văn minh vật chất Óc Eo”
Nhà XB: NXB Tổng hợp
Năm: 2021
3. Nguyễn Thị Song Thương (2015), “Đời sống văn hoá của cư dân Óc Eo ở Tây nam bộ (Qua tư liệu khảo cổ học)”, Luận án tiến sĩ Văn hoá học, Trường Đại học Văn hoá Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hoá của cư dân Óc Eo ở Tây nam bộ (Qua tư liệu khảo cổ học)
Tác giả: Nguyễn Thị Song Thương
Năm: 2015
4. Phan Huy Lê (2007), “Qua di tích văn hóa Óc Eo và thư tịch cổ thử nhận diện nước Phù Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, 379 (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qua di tích văn hóa Óc Eo và thư tịch cổ thử nhận diện nước Phù Nam
Tác giả: Phan Huy Lê
Năm: 2007
5. Phạm Văn Đấu, Phạm Võ Thanh Hà (2006), “Những nền văn hoá khảo cổ tiêu biểu ở Việt Nam”, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nền văn hoá khảo cổ tiêu biểu ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Đấu, Phạm Võ Thanh Hà
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 2006
6. Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ học Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ (2008), “Một Số Vấn Đề Khảo Cổ Học Ở Miền Nam Việt Nam Tập 3”, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một Số Vấn Đề Khảo Cổ Học Ở Miền Nam Việt Nam Tập 3
Tác giả: Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ học Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ
Nhà XB: NXB Khoa học Xãhội
Năm: 2008
7. Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang (1984), “Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở Đồng bằng Cửu Long”, Sở Văn hóa và Thông tin An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở Đồng bằng Cửu Long
Tác giả: Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang
Năm: 1984

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm