1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Ngữ văn: Xứ tuyết - Thế giới của cái đẹp (Tìm hiểu tác phẩm Xứ tuyết của Kawabata Yasunari)

102 22 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xứ tuyết - Thế giới của cái đẹp
Tác giả Nguyễn Thị Hà An
Người hướng dẫn Thầy Phan Nhật Chiêu
Trường học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2003
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 35,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

một cái Dep hoà hợp của thiên nhiên và tâm hỗn trong những thi phẩm duyên dáng như hoa này: Từ Tập thơ của mười ngàn chiếc lá, Cổ kim tập đến Thẩm nhật bụi trần, từ Tiểu thư Anh trang đệ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VA BAO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHAM THÀNH PHO HỒ CHÍ MINH

( Tìm hiểu tác phẩm Xứ tuyết của

KAWABATA YASUNARI )

Z

ihe

Giảng viên hướng dẫn : Thây Phan Nhật Chiêu

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hà An

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

ake

Thực hiện dé tài “Xứ tuyết - Thế giới của cái Dep”, em chân thành

cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, chu đáo, đây tỉnh thân trách nhiệm của thầy

Phan Nhật Chiêu, giảng viên khoa Ngữ văn & báo chí, Đại học KHXH &

NV TP.HCM.

Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến quí thầy cô trong ban chủ nhiệm

Khoa Ng@ văn — Đại học Su phạm TP.HCM, cùng thầy Trần Xuân Đề và cô

Doan Thị Thu Vân đã tận tình giúp đỡ, động viên và cho em những ý kiến

quý báu giúp cho việc hoàn thành bản luận văn này.

Em xin chân thành cảm on!

Sinh viên

Nguyễn Thị Hà An “

(Ngữ văn, K25 - ĐH Sư phạm TPHCM)

Trang 3

IV PHUONG PHAP NGHIEN CUU 6

PHAN NỘI DUNG

CHƯƠNG MOT:

KAWABATA YASUNARI

VÀ TRUYEN THONG VAN CHƯƠNG NHẬT BAN

I KAWABATA - NHUNG NAM THANG CUỘC ĐỜI 7

ll KAWABATA TRONG TRUYEN THỐNG VĂN HOC NHẬT BẢN 10

1 Tiếng vong của truyền thống 10

2 Hơi thở từ cuộc sống hiện đại 13

XỨ TUYẾT ~ KHÁI LƯỢC

I SỰ HÌNH THÀNH “XU TUYẾT" 18

II VỊ TRÍ CUA XỨ TUYẾT TRONG SỰ NGHIỆP SANG TAC CUA

KAWABATA VÀ TRONG VĂN HỌC NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI 19

II LƯỢC TRUYỆN ‘ 20

CHƯƠNG BA:

THE GIGI CAI DEP TRONG XU TUYET

L CAIDEP CUA THIÊN NHIÊN 27

1 Déng điệu thiên nhiên và con người 27

2 Thiên nhiên như tâm cảnh : 29

3 Thiên nhién từ những điểm nhìn độc đáo 34

hd

2 J #,

Trang 4

II VE DEP NU TÍNH

1 Tâm hôn thuần khiết - Ứng xử dịu dang

2 Tâm linh tận hiến và hi sinh

MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CUA XU TUYẾT

-I KHONG - THỜI GIAN

1 Xứ tuyết - không gian của sự thuần khiết

2 Mùa — thời gian - dòng lưu chuyển của cái Đẹp

Il NEM BI CAM AWARE

|, Cảm quan vô thường của người Nhật

2 Niém bi cảm đối vối thiên nhiên

3 Niềm bi cảm đối với con người

il THI PHAP CHAN KHONG

1 Cách kể chuyện bỏ trống

2 Cách miêu tả thiên nhiên trống vắng

3, Khoảng lặng giữa cuộc tương thoại

PHẦN KẾT LUẬN

PHU LUC Bản dịch “Lời giới thiệu Snow Country” của E.G Seidensticker

THƯ MỤC THAM KHẢO

88

90

93

95

Trang 5

PHAN MỞ DAU

LLY DO CHON ĐỀ TÀI

Trong tap huyén sử Nihongi (Nhật Bản kỉ) có một huyền thoại từ thuở trời đất

mới tưu thành.

Quần đảo hoa anh đào là con cháu của nữ thần Mặt trời Amaterasu sắc đẹp rực

rd và chói lọi ánh sáng Nàng phái cháu trai là Ninigi giáng thế chính phục vùnglzumo, xứ sở trung tâm của những cánh đồng lau say

“Tir Cánh Đồng Trời xuống mũi Kasasa, Ninigi gập người con gái xinh đẹp của

thin Oyamatsumi và muốn lấy nàng làm vợ Vui mừng cha nàng còn định gd thêm

cho chàng công chúa Iwanaga “nang sống lâu như đá ” (Nham Trường) Nhưng Ninigi chỉ chon nang công chúa xinh đẹp mà anh gặp lin đấu là Kono Hanasakya, nàng nở

Tực như hoa (Hoa Mộc tiếu)

Ninigi thà chọn lấy cái đẹp phù du hơn là sự trường sinh cần cdi Đó là sự chọnlựa định mệnh Đời sống con người trên trần thế, từ đó trở đi quả là ngấn ngủi

Và cũng từ đó nên văn hoá Phù Tang lưu chuyển trong một “tín ngưỡng đáng

yêu: tôn thờ cái Đẹp Tín ngưỡng ấy tuy không có tên gọi chính thức nhưng lại thấm

sâu vào tư tưởng, dòng máu của người Nhật.

Và thơ văn Nhật từ thuở bình mình đã hát lên những bản tụng ca cái Đẹp một

cái Dep hoà hợp của thiên nhiên và tâm hỗn trong những thi phẩm duyên dáng như hoa này: Từ Tập thơ của mười ngàn chiếc lá, Cổ kim tập đến Thẩm nhật bụi trần, từ

Tiểu thư Anh trang đệm Tiểu thư yêu sâu bo, từ Sách gối đầu đến Phù du nhật ký đến

thế giới bi cảm của truyện Genji Từ Nhà trên núi đến Mây hoang dại, từ Ghi chép

trong lều đến Trầm tư trên cỏ, Vang trăng trong mưa và Got chân giang hồ, đến basho

với Con đường sâu thẳm đến những nhà văn hiện đại: Mishima Yukio, NatsumeiSoseki, Akutagawa Ryunosuke, Tanizaki Junichiro, Kawabata Yasunan, Oe

Kenzaburo

Thế nhưng phải đến năm 1968, khi giải Nobel văn chương được trao cho nhà

văn Nhật Bản Kawabata Yasunari, thế giới mới bắt dau biết đến một tâm hén phương

Đông vẫn còn day bi ẩn Đó không phải là phương Đông thin bí của An Độ, cũng

không phải là phương Đông thuyết lý của Nho giáo Trung Hoa mà là phương Đông

của tình cảm và cái đẹp, của nghệ thuật thuần tuý Nhật Bản

Và những kiệt túc của văn chương Phù Tang càng được vinh danh trên toàn thế

giới, khởi sự từ những văn phẩm như Xứ Tuyết (Yukiguni), Ngàn cánh hac

(Sembazuru), Cố Đô (Koto) của văn hào Kawabata Yasunari.

Trong đó, “Xứ tuyết” được coi là tác phẩm toàn bích nhất của Kawabata, là

quốc bảo của văn hoá Nhật, hát lên nhịp rung tỉnh tế nhất của tâm hồn Phù Tang

4

Trang 6

Chúng tôi thực hiện dé tài "Xứ tuyết - Thế giới của cái Dep” với mong muốn

bước đầu khám phá một nền văn chương tuy gần gũi ma còn nhiều xa lạ từ một cánh

cửa đã có đôi phần quen thuộc là *Xứ tuyết "của Kawabata Yasunari

Thâm nhập vào những vẻ Đẹp gợi cảm của thiên nhiên, nghệ thuật và con

người qua những trang văn trực cảm và duy mỹ của một văn phẩm tuyệt đẹp, người

thực hiện hi vọng từ đây tiếp tục tìm hiểu nền văn hoá dựa trên tiêu thức cái Đẹp của

người Nhật nói chung và nền văn chương Nhật Bản nói riêng

Tác gid Kawabata và vẻ Dep của ngàn cánh hac của những đám mây hoa dao,

của tuyết trắng và ánh trăng soi trong tác phẩm của ông đã mê hoặc chúng tôi ngay

từ những hiểu biết ban sơ nhất trong sách giáo khoa và chiếc gương soi thấu tình yêu

của nàng của trong “Trang soi đáy nước” (Thuỷ NguyệU).

H PHAM VIDE TÀI

Đối tượng tìm hiểu của chúng tôi là tiểu thuyết “Xt tuyết" wong sư tương

chiếu với truyền thống văn chương Phù Tang và với chính các tác phẩm khác của

Kawabata.

Thế giới của Kawabata là thế giới của cái Dep, là chiếc gương soi của cái Đẹp,

vái thế giới mà mỗi văn phẩm là một hiện thể, một phương diện của cái Đẹp truyền thống Nếu như với Cố đô là hội lá thu và Kimôno với Ngàn cánh hạc là trà đạo thì ở

Xứ tuyết là tình yêu của những nàng Geisha trong gio tuyết và ánh lửa ˆ

Với Xứ Tuyết, chúng tôi chú trọng tìm hiểu bút pháp nghệ thuật của Kawabata

thông qua việc thể hiện lại thế giới cái Đẹp kỳ tuyệt của ông VP thế, chương cuối của

luận văn dành tìm hiểu không - thời gian, dòng ý thức, niém bi cảm, thi pháp chân

không thể hiện trong tiểu thuyết này Với hiểu biết về chúng, ta cũng có thể soi chiếu vào các văn phẩm khác của Kawabata Yasunari.

IIL LICH SỬ VẤN ĐỀ

Tiểu thuyết của Kawabata đã trở nên quen thuộc với độc giả Việt Nam Nếu như các trước tác về tuỳ bút và truyện ngắn trong lòng bàn tay còn chưa được biết đến nhiều thì các tiểu thuyết nổi danh của ông như Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô, Cô

vũ nữ Izu, Mỹ nhân say ngủ, Tiếng rén của núi đều đã được dịch sang tiếng Việt

Đặc biệt, tiểu thuyết Xứ tuyết được ưu ái chuyển sang ba bản dịch Đầu tiên là

bản dịch Xứ tuyết của Chu Việt, trình bày xuất bản Sài Gòn 1969, ngay sau khi

Kawabata nhân giải Nobel Bản dịch thứ hai là Vùng bang tuyết của Giang Hà Vy.NXB Mũi Cà Mau, 1998 Bản dich mới nhất là Xứ tuyết của Ngô Văn Phú và ViĐình Bình in trong Tuyển tập Kawabata Yasunari, NXB Hội Nhà văn, TP.Hồ Chí

Minh 3001.

Trang 7

Trong các ban dịch trên, thông qua đối chiếu với bản tiếng Anh Snow Country của E.Seidensticker và nguyên tác Yukiguni, chúng tôi chọn bản tiếng Việt của Chu Việt, là bản dịch truyền giữ được vé Đẹp tỉnh tế và gợi cảm của văn phong Kawabata

Vấn dé nghiên cứu Kawabata ở Việt Nam cũng được bắt dau từ rất sớm Nam

1969, Tap chí văn Sài Gòn đã phát hành số đặc biệt về Kawabata, giới thiệu sơ lược

và dịch một số tác phẩm của ông Tiếp đó, Nhật Chiêu viết về Kawabata và trong tạp

chi Văn TPHCM số 16, 9/1991 bai “Kawabata người cứu rỗi cái Đẹp” tạp chí Kiến

thức ngày nay số 335, 12/1999, bài “Kawabata và thẩm mỹ của chiếc gương soi”

-Tap chí văn học số 3 năm 2000, bài "Thế giới Kawabata Yasunari: hay là cái Dephình và bóng `.

Ngày 29/11/1999 hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm sinh Kawabata Yasunari

được tổ chức tại Trường ĐH KHXH & NV, TPHCM Tài liệu của hôi thảo được tậphợp trong tuyển tập Đọc Kawabata NXB Thanh Niên, 2000

Các tài liệu nghiên cứu trên cùng với một số luận văn về tác phẩm của

Kawabata thực sự là một thuận lợi hết sức to lớn cho người thực hiện luận văn này.

Chúng tôi dựa trên những hiểu biết chung vé văn hoá Nhật Bản và văn chương

Kawabata để đi sâu tìm hiểu tác phẩm "Xứ tuyết

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp phân tích.

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

KEKEKAKAEFEAKSHKSKSEKEKEK

Trang 8

PHAN NỘI DUNG

CHƯƠNG MỘT:

KAWABATA YASUNARI VÀ TRUYEN THỐNG

VĂN CHƯƠNG NHẬT BẢN

1 KAWABATA - NHỮNG NAM THANG CUỘC ĐỜI

Ngày 14/6 năm Minh Trị thứ 32 (1899), tại một thôn làng nhỏ bé gắn Osaka trên quần đảo Phù Tang, giữa thiên nhiên xanh tươi rực rỡ và tiếng sóng Thái Bình

Dương dat dào, cậu bé Kawabata Yasunari cất tiếng khóc chào đời.

Có lẻ thiên nhiên bốn mùa quyến rũ và gợi cằm vô song với những đám mây

how đào, những cơn mưa tháng năm, mau lá phong rực rỡ, với đỉnh Fuji huyền thoại ngàn đời tuyết phủ đã nuôi dưỡng ở Kawabata một tim hồn nghệ sĩ, ước mơ ghi dấu

vàhuyền nhiệm của mỗi khoảng khắc cuộc đời

Suốt thời gian niên thiếu, Kawabata mơ ước trở thành một hoạ sĩ Để nấm bấttừng nét màu biến chuyển kỳ diệu của thiên nhiên và những sắc thái vi tẾ của tâm

hồn Phù Tang van đông theo nhịp điệu của mùa.

Thế nhưng, sóng gió cuộc đời từ rất sớm đã phủ bóng tối lên con người bé nhỏ

vó tâm hồn nhạy cảm ấy :

Ba tuổi, Kawabata mỗi côi cha,Bốn tuổi, Kawabata mất người mẹ yêu quí

Chưa đủ, những cái tang khác dổn đập kéo qua Bà ngoại ra di khi Kawabata

lên bảy và người chị gái duy nhất cũng qua đời khi cậu lên chín.

Cậu bé Kawabata yếu ot sống với người thân độc nhất còn lại là Ông ngoại mù

loà Và Ong cũng ra đi khi Kawabata vẫn còn là một thiếu niên mười sáu tuổi.

Số phân đã đẩy Kawabata đến định mệnh cô đơn từ rất sớm Ông mở to đối

mất thấm đẫm cảm thức cô đơn nhìn ngắm mọi biến thái vi tế của cuộc đời này và soi

chiếu nó như một chiếc gương trong sáng trong chuỗi đài những van phẩm tuyệt đẹp

Một chiếc gương sói thấu cải đẹp "Chiếc gương soi trên đính cô đơn” như pháp hiệu

kỳ lạ mà Kon Oto đặt cho ông.

Và, Nhật ký tuổi 16 (Ju roku sai no nikki), viết bên gường bệnh người ông mù

loà, dưới ánh nhìn cô độc của đứa trẻ không tuổi thơ, là ánh soi chiếu đầu tiên của

chiếc gương soi thấn diệu: đôi mắt Kawabata, “Con mất nhìn thấu cái Dep”

(hedorenko).

Trang 9

Những cá: tang liên tiếp kéo qua đôi mất trẻ the để lại những vết thương tim linh không thể xoá nhoà trong tâm hỗn Kawabata và ghi dấu ấn sâu đâm trong tác

phẩm của ong Vit Kawabata đã viết hẳn một tuỳ bút “Pang thức chi danh nhắn”

(1924) trong đó ông được mệnh danh là “bác thấy tang lễ” (Shoshiki no meiyiny Am

ảnh vẻ sư phù du của kiếp người và cát tn tại mong manh của vẻ Đẹp lưu chuyến

như met giang tram xuyên suốt tất cá những sáng tao của ông.

Nam 1920, Kawabata vào học đại hoe Tokyo, khoa Văn chương Anh, sau

chuyen sung aghén cứu van hoe Nhat.

Cùng vửi các ban đồng học, Kawabata xuất bản tap chi Shintio (Trio lưu mới)

và gaa nhập Ban ben Gp từ Bunge: Shinzu (Văn nghệ xuân thu) tấp chi van hoe hàng

đầu lực bảy giữ

It nghiệp đại học năm 1924 với luận van về tiểu thuyết cổ điển Nhat Ban,

Kawabata cũng với nhà văn Yokomitsu thành lap tap chi Bungeci Jidai (Van nghe thời

đai, thể hiện quan niêm về vai trò quan trong của nghé thuật trong đời sống con

người Thời hiện dat phải là “thời của nghệ thuật” (Bunge: Jidar van nghề thi: dai)

Cùng với tạp chí này, Kawabata trở thành chủ xưởng của trào lưu “Tan cam

tiếc” (Shinkankuku) hướng tới sự tìm kiếm, khám phá và thể hiện vẻ đẹp truyền

thông bằng những cảm giác mới.

Tác phẩm tiêu biểu của phái Tân cam giác và cũng là kiệt tác đầu tiên của

Kawabata, là tiểu thuyết ngấn “Vũ nữ xứ Izu” (Izu no odoriko) dang trên van nghệ

thời dat 1926, ngập tran vẻ đẹp tươi mát và tình yêu tuổi trẻ

Nam 21 tuổi, Kawabata yêu cô gái 15 tuổi Chiyo và chuẩn bị kết hôn với cô

Nhưng Chiyo bất ngờ từ hôn, không một lời giả: thích.

Từ đó “Tinh yêu bị khước từ, bên cạnh chủ dé cái chết đường như lưu lạc theoKawabata qua cuộc lữ hành van chương ” (1).

Không thể làm ông hoàng sáng chói về tình yêu như Genji của Murasaki,Kawabata làm ông hoàng sáng chói vé văn chương trên hành trình mê mải đi tìm

"niềm trình bạch của cái Đẹp và tình yêu” (2), một lữ khách, một Eien no tabibito

(Vinh viễn lữ nhân) như cách gọi của Mishima Yukio

Cuộc chiến tranh thế giới II để lại hậu quả tàn khốc chưa từng thấy Hai trái

bom nguyên tử phút chốc biến Hiroshima và Nagasaki thành bình địa và mổ chôn

62000 người Người Nhật đã đứng lên từ lớp tro tàn và trở thành mot siêu cường.

Nhưng thay đốt và khủng hoảng trong đời sống tinh than có nguy cơ làm tiêu biến vẻ

đẹp thuần khiết trong truyền thống nghé thuật Nhật bản

Và, Kawabata người lữ hành vĩnh cứu lại tiếp tục trên con đường chong gat dh

tin ve đẹp Nhat Ban tâm hỏn Nhat Ban truyền thống để cứu rồi con người hiện dar

th) (2) Nhất Chiếu, Thể giới Kawabata - hay cát đẹp hình và bóng dex

Kawabata, NXB Thanh Nién, 2000, tr 38

Trang 10

Từ mùa xuân 1935, Kawabata bất dau viết tiểu thuyết *Xứ tuyết" (Yuki guniTuyết quấc) Tác phẩm hình thành qua \ohiéu thời kỳ, mãi đến cuối năm 1947 mới

hoàn tất

Xứ tuyết được xem là tác phẩm toàn bích nhất của Kawabata , quốc bảo của

văn học Nhật Ban “Hiém có tác phẩm tiểu thuyết nào trên thế giới lại giàu chất thơ

đến thế” (1).

Tiếp theo là những tiểu thuyết - bí ca về sự suy đổi của cái Dep trong đời sống

hiện đại: Danh thủ (Meijin), Ngàn cánh hac (Sembazuru), Tiếng rên củu núi (Yama

no Oto), Mỹ nhân say ngủ (Neaureru bijo), Cổ đô (Koto) và tuỷ bút Cái đẹp và nội

buồn (Utsukushisa to Kanashimito),

Từ năm 1948, Kawabata được bầu làm chủ tịch hội văn bút Nhat Bản (P EN

Club).

Tình yêu thẤm thiết với cái Đẹp Phù Tang trong truyền thống nghệ thuật đã

mang lại cho Kawabata sức sáng tạo lớn lao Năm 1968, ông được trao giải Nobel văn

chương với tư cách là nhà van Nhật Bản dau tiên và là người Chau A thứ hai (sau

Tagore) nhân được giải thưởng cao quí này Bài diễn từ của ông tại lễ trao giải mang

cái tên tuyệt đẹp và cũng mơ hỗ như nền văn hoá nơi ông sinh ra “Utsukushi Nihon

no watakushi” có thể hiểu là “Tdi sinh ra từ cái Dep Nhật Bản” Mà cũng có thé dịch

như E.Seidensticker: “Dat Phù Tang, cái đẹp và tôi” (Japan, The beauty and myself),

Nhưng dù hiểu như thế nào chăng nữa thì những trang sách của ông vẫn thể hiện tấm

lòng con người tha thiết với vẻ Dep của cuộc sống này và không ngới cất lên tiếng kêu u buồn rằng cái Đẹp đang bi doa day, rằng chúng ta phải cứu vớt cái Đẹp.

Đó là Kawabata, "Người cứu rỗi cái Đẹp” (Nhật Chiêu)

Bắt đầu từ những văn phẩm tuyệt đẹp: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc Cố đô củu

Kawabata, phương Đông thâm tram và huyền bí như “từ bóng tối bước ra ngoài ánh

sing” (1) Thế giới phương Tây bị cuốn vào cuộc khám phá một nước Nhật cổ xưa,

nước Nhật của cái Dep và nghệ thuật truyén thống ding sau một nước Nhật hiện đại

thường thấy.

Và phương Đông với truyền thống nhân văn và những giá trị tinh thắn sâu sắc

đã trở thành một bình minh rạng rỡ, "bình minh cho phương Tây” (Dawn to the West)

như lời của Donald Keene.

Con Kawabata Yasunari người được xem là một trong những nhà văn vĩ đại

bậc nhất của thế kỷ XX, vẫn tiếp tục cuộc chơi của người lữ hành vĩnh cửu (Eien no

tabihbito) trên con đường tìm kiếm và cứu vớt những vẻ Đẹp bất tuyệt của thế giản

my

(1) Chu Si Hanh, Kawabata Yasunari dưới nhân quan Tây phương, Tap chi 640,

NXB Sảng tạo Sài Gòn, 1969, tr 6

Trang 11

Mo hồ và thẩm lãng, Kawabata tự sát ở Kamakura mot buổi sáng mùa xuân

năm 1972 Và những đám may hoa đào tháng tư tung tán đầy trời như tiễn đưa người

lữ khách muôn đời đi tìm cái Đẹp tiếp tục cuỗc hành trình về nơi võ tân,vẻ thế giới

ea cất Đẹp vĩnh cứu.

Il KAWABATA TRONG TRUYEN THỐNG VAN HOC NHAT BAN

1 Tiếng vọng của truyền thống

“Tôi xinh ra từ cái Đẹp Nhật Bản (Utsukushii Nihon no watukushi) - đó là

nhan để bài diễn từ của Kawabata khi nhân giải Nobel văn chương vã Í86R`

Và Ong tự hào đọc trước diễn đàn quốc tế những bài tanka ngợi ca vẻ đẹp ca

thiên nhiên và tâm hồn Nhật Bản, những bài ca từ bảy, tám thế kỷ trước.

Như thể, một lần nữa, Kawabata xác chứng rằng văn chương ông luôn van

động trong nhịp biến chuyển của tâm hồn Nhật Bản truyền thống, truyền thống kính

ngưỡng ton thờ cát Dep '

Truyền thống ấy có lẽ khởi phat từ tình yêu thiên nhiên ki lạ của con người xứ

xở Phù Tang Thiên nhiên bốn mùa luân chuyển vẻ đẹp kì thú và diém tuyệt của võ

vàn những hiện tượng vô cùng tỉnh tế.

Mùa xudn có hoa đào, mùa hè có chim cu

Mùa thu có trăng và mùa đông có tuyết, sáng lạnh”

Vẻ dep gới cảm hiện ra lớp lớp trước mỗi ánh nhìn lôi cuốn con người vào cuộc

chui bất tuyệt của tạo hoá, cuộc chơi của thấu cảm và sáng tạo Với tín ngưỡng Thần

đạo nhìn thấy sự linh thiêng (kami : thần) trong mọi hiện tượng thiên nhiên người

Nhật quý trọng van vật từng cong cỏ đại, từng cánh hoa bay, từng chú côn trùng.

A! hoa Asagao

Dây gàu vương hoa bên giếng

Đành xin nước nhà bên

(Chiyo)

Buổi sớm mai, Chiyo định thả gau múc nước Nhưng quanh day gau vương một

hông Asagao (triêu nhan : gương mặt sớm mai) xinh xấn, một thứ hoa dây leo rất đỗi

bình thường, Không n chạm đến “vẻ đẹp của sớm mai” ấy, nhà thơ đành xin nước

nhà bén

(3) Nhật Chiêu, Nhật Bản trong chiếc gương soi, NXB Gido duc 1999, trang 159

10

Trang 12

Đá là một khoáng khấc nhỏ nhới trong chiều đài vũ tru Thể nhưng, chỉ mốt cái

nhìn ta: kiến) sau thẳm của nhà the Chiyo cũng đủ để khoảnh khắc ấy vĩnh viễnthang hoa, mới mẻ, tinh tuyển

Và từ đó, Chiyo bước vào thi ca Từ cát nhìn cảm nghiệm vẻ đẹp của thiện

nhiên, tắm hồn Phủ Tang bước vào thế giới của nghệ thuật, của cái Dep, của quyền

nàng sang tạo vo song.

Tập thơ đấu tiên của Nhật Bản Van diép tập (Manyoshu.thế ky VIII) “tap thơ cla mười nghìn chiếc lá”, những bài thơ hay đến độ người ta so sánh với lá “thơ tự

nhiên tuôn ra dưới ngòi bút thí nhân một cách để dang cũng như lá tư nhiên đâm ra

trên cành không chút nào gò bó ” (Osawa) (1).

Những bài tanku tao nhã và dịu dang, phẳng phat dư âm (Yojo = dư tình) vềthiên nhiên và tâm hon ấy được tập hợp theo mùa Mỗi mùa là một phan của tập thơ,

lì bán tung ca về mỗi giao tình và hoà điệu thâm sâu giữa thiên nhiên và con người.

Truyền thống này được tiếp nối trong tất cả các hợp tuyển thơ sau đó Cổ kim tập (Kokinshu - 905) Shinkokinshu (Tân cổ kim tập - năm 1216), Gyokuyoshu (Ngoc

điệp tap - năm 1312), Pugashi (Phong nhã tập - năm 1349),

Và quan niệm thơ ca cũng khởi đi từ tình yêu thiên nhiên dic sắc Nhật Ban ấy:

“Từ trái tim con người như hat giống thơ ca Nhật bản mọc lên và nảy nở thành vô sổ

hi cây của ngôn từ Bởi con người hào hứng với bao điều mắt thấy, tai nghe, họ tìm

cúch thể hiện những cảm nghĩ trong trái tim mình qua thơ ca Khi nghe da oanh ca hat

trong hoa và ếch nhái trong nước kêu vang, ai lại không thấy vạn vật đều phát tiết thơ

ca ” ”(Kimo Tsurayuki)(2).

Sinh ra từ truyền thống lấy thiên nhiên làm nguồn mạch cho nền van hoá ấy,

Kawabata Yasunari cũng tiếp bước trên cuộc lữ hành muôn đời đi tìm cải Đẹp trên con đường của Hương đạo, Hoa dao, Ca dao, Trà đạo, Kiếm dao, những con đường

của cái Đẹp thuần chất Nhật Bản

Và tác phẩm của Kawabata trau chuốt vẻ đẹp bất tuyệt thiên nhiên xứ sở: Đó

là Cô vũ nữ lzu với “Con suối đẩy tràn nước sau trận mưa, óng ánh đưới mặt trời vào

ngày mùa thu trong veo, khi tiết trời vẫn còn ấm ấp như mùa xuân Đó là tiếng gieoxúc xắc vẫn chưa đến mùa anh đào nở, nhưng trời biển đã bàng bạc hơi sương, như

lúc hoa dang mãn khai Những con nhạn bể trắng muốt tựa như đang chơi vơi trong

làn sương mỏng" Đó là Xứ tuyết “Bau trời trong như pha lê Phía xa trên núi, tuyết

trắng mot mầu ém dịu như sữa, trông như phủ một làn khói nhẹ tớ” và "những lon tuyết lớn rơi thẳng xuống như những dod bach mẫu đơn trong một tung cảnh yến

tinh, ém a, thanh bình như có vẻ hư do”

(l} Osawa, Hoa dao, Ngô Thành Nhân & Nguyễn Hồng Giao dịch, NXB Văn nghệ

1972 tran 27

(2) Dan theo Nhdit Cluéu Thơ ca Nhật Ban, NXH Giáo duc, 1998, trang 49

Trang 13

Tiểu thuyết của Kawabata, đó là những trang ngập trần vẻ diễm tuyết của

thiên nhiên và vì thể chan chứa chất thơ, những bai thơ văn xuôi Giữa những hiển

động của thời đại đông đất, chiến tranh, Kawabata tìm về văn chương cổ điển Nhật,

nền văn chương của tinh cảm và thiên nhiền ”,ÝTôi chọn truyện Genji va thời đại

Muromachi để giúp tôi quên di chiến tranh và chịu dung cuộc thẳm bai”, (1)

Trong diễn từ, Kawabata cũng nhấc đến Genji Monogatari (Nguyên Thị vậtngữ) của nữ văn hao Murasaki Shikibu, kì quan của văn học Nhật Bản, tiểu thuyết

dau tién của thế giới xuất hiện vào thế kỉ X Và ông xác tín rằng “Nguyên Thị vat

ngữ đã là nguồn suối sâu rộng nuôi dưỡng cảm hứng cho thi ca, mỹ thuật, mĩ nghé, vàcho cả nghệ thuật vưỡn kiểng nữa" (2)

Truyện Genji của nang Murasaki thiên tài là con đường mới của tiểu thuyết

‘Khong dò đẫm ngập ngững, nó mở ra thế giới cỏ hoa của thiên nhiên thực và moi

khoảng khắc của cuộc đời thực” (3)

Đó là thé giới của cái Đẹp Câu chuyện vẻ đời chàng Genji sáng chói (Hikari

Genji: quang nguyên thị), con người thể hiện lý tưởng của tín ngưỡng cái Dep, mỗi bước đi mỗi làn hương, mỗi điệu vũ v rồi chữ viết,áo quần của chàng đều đẹp.

Xung quanh chàng là những người phụ nữ rực rỡ như hoa mùa xuân và tâm hỗn thuần

khiết của nữ tính vĩnh cửu.

Một ngàn năm sau Murasaki, Kawabata bước tiếp nhịp bước của nàng, say mé

mở phơi cái Dep của hiện hữu (Bi no zonzai: Mỹ chỉ tổn tại ) bằng những trang tiểu

thuyết thơ mộng Không chỉ tin vào “sự hiển minh (wisdom) của tiểu thuyết (M.Cunera), tin vào sự khôn ngoan của nghệ thuật, hay nói cách khác là tin vào sự khôn ngoan của trái im (Kokoro: Tâm, tấm lòng), như nang Murasaki đã tin tưởng.

Ma bước ra từ thế giới cái Dep của hoàng tử genji sáng chói, Kawabata nhận thâu

kinh nghiệm thẩm mĩ thâm thiết, xuyên suốt văn hóa Phù Tang: niém bị cảm aware,

Genji monogatari xây dựng cho Nhật Bản cảm thức về cái Dep, nhưng đó cũng

là thế giới của niém bi cảm.

Aware ( bi cảm) là cảm thức của người Nhật trước vô thường vũ trụ và vô

Trang 14

Tâm hồn Nhat Bản rung đông mạnh mẽ trước mọi biểu hiện của cái Đẹp Đồng

thin cũng thấu hiểu rằng mỗi biểu hiện đó là vỏ thường Như hoa anh đào rụng rơi

ngay giữa kì hương sắc

Cái Đẹp thì vĩnh cửu, nhưng mỗi biểu hiện của nó thì về thường, chỉ là những khoanh khắc Va lòng người rung lên một nỗi buồn trước phù du cuộc đời, Như lời

Thiên nhiên bốn mùa đổi thay: hoa rơi lá rụng Cuộc đời con người thường

xuyên đổi thay: tình yêu sde đẹp Nhưng chính lẽ vô thường đó làm nên edi quý giá

cia trấn gian này, Và người Nhật sống trọn ven với mỗi hiện thể của cái Đẹp mỗi

hông hoa, mỗi làn hướng, mỗi tiếng da oanh ca v.v.

“Chính su tương tùy giữa vô thường và vẻ đẹp ấy đã gây nên niềm bi cảm

aware” Aware là một cảm thức xao xuyến nhưng thâm trầm “Nó không đi vào cái

nưông cuồng của lãng mạn và nỗi bi tráng của bí kịch” (1)

Cảm thức Aware đi sâu vào mọi nghệ thuật Nhật Bản suốt mười thế kỷ Đến

Kawabata tâm hồn Nhật Bản hiện đại vẫn thấm đẫm niềm rung động Aware Đó là

nỗi buồn trước những giá trị mất din của Trà đạo trong “Ngàn cánh hạc” là sự bơ vợ

của nghề dệt Kimono truyền thống trong “C6 đô", là vẻ đẹp nữ tính thuần khiết bị

quên lãng trong “Tiếng rên của núi”, và đặc biệt sâu đậm là tình yêu của nang

Geisha Komako trong “Xứ tuyết”.

Thời đại Muromachi khói lửa nội chiến và nền văn chương phù thế đặc biệt

cuốn hút tâm hồn tỉnh tế và nhạy cảm của Kawabata

Nội chiến diễn ra suốt mấy thế kỉ dài trên khấp quần đảo hoa anh đào đã mang

di cái dịu dang tinh tế của văn hóa cổ điển Heian Văn chương thời kì này “mang lấy

cát bóng tối bi dat trong từng trang tùy bút, trong lời ca ngâm của nghệ sĩ mù hát rong

và trên sân khấu u huyền của kịch Nô” (2).

Như thế tuy vẫn nằm trong truyền thống tôn thời cái Đẹp vĩnh cửu, thời đai

Muromachi để ra cho mình một lý tưởng thẩm mỹ chiếu sang trên bóng tối loạn fi,

chiếu sáng trong hội hoa, trà dao, sâu khấu, thơ ca Lý tưởng thẩm mỹ đó là Yugen

tu huyền).

(1) Nhật Chiêu, Cau chuyện văn chương phương Đông, NXB Giáo dục 1998

(3) Nhật Cluếa, Văn học NB từ khơi thủy đến 1868, NXB GD 2000, trang 143.

13

Trang 15

Yugen là cam thức về sau thẩm u uẩn và huyền dieu của van vật, No gới ra tỉnh chất thắm áo vo tản của cuộc sống cdi nằm phía sau và ben trong hình sấc Nó là

bong tối biểu tướng, là sâu thẩm tâm lình

Yuyen, đó là tổ chất nằm sâu trong các nghề thuat Nhat bản pháng phat qua

những lình hon u ám trong Truyện Genji, và kết tính trong tinh than Thiển tông sau

thẳm của sau khấu NO

Với NO mông ảo, ta có thể bất gặp những bóng mà trong mộng, những vẻ đẹp

như mớ như thực không thể giải thích.

Thể nhưng đó là bản chất của cuộc sống là lẻ sắc sắc không không của cuộc

đời này

Va tác phẩm của Kawabata thể hiện cảm thức u huyền đó trong nhịp sống của

con người hiện đại

“Mot dém sang tràng

Shinge nghe có uéng động nhẹ nào đó Hình như tiếng sương dang tơi trên

canh la

Sau dé ông nghe thấy tiếng nút rên Trời không gió trăng gan rằm sáng rõ

nhưng qua màn dém dm uot, hình dâng quả nui sau nhà nhòa nhạt, mở do và hoàn toàn

bất đông Cd ngàn cây lá phía trên hàng hiên cũng không hé lay động.

Thinh thoảng ban đêm tiếng dm ào của sóng biển cũng vang vọng đến tận chốn

thâm sơn cùng cốc này Shingo bỗng chợt nghĩ hay là ông vừa nghe tiếng biển Nhưng

không - đây rõ rang là tiếng nui.

No giống như tiếng gió xa, nhưng có thể ví với tiếng rên ri tram vang tit sâu trong lòng đất vọng ra Shingo cằm thấy như đó là tiếng rên từ trong chính bản thân

minh hoặc bị ù tai, vi thể ông lắc mạnh đầu".

Tiếng rên biến mắt” ( Ì).

Đó là một đoạn văn trích trong Tiếng rén của núi Ong già Shingo một đêm

bồng như nghe thấy tiếng núi rén và cảm nhận đường như cái chết đang ngày môi đến

gin ông Shingo có thể nghe hoặc không nghe thấy tiếng rên, không ai có thể đoán chấc diéu gì cũng không ai thấu hiểu rõ mọi lẽ huyền nhiệm của cuộc sống này

Thời dai Muromacht còn đánh dấu bởi sự du nhập tinh than Thiển tông Bất

đầu với Essai (1141 - 1215) và Dogen (1200 — 1250) Thiển tông ở Nhat bản phát trển

mạnh mé và thấm sâu vào văn hóa Phù Tang Trong diễn từ, Kawabata xác tín rằng

(11 Tuyến tắn Y Kawahata, NXB Hội nhà văn, 2001, trạng 101

Trang 16

ông “tim trong Thiền sự tái sinh của tinh hoa sự sống và xác định lại ý nghĩa của hiện

hữu con người trong khung cảnh suy vi cực độ của đạo đức gây ra do những ngày nội

chiến dat ding triển miền” (1)

Cái nhìn thâm thiết của Thiển tông mang đến cho van hóa Nhật ban một kinh

nghiệm thẩm mỹ mới phù hơn với thời đại Edo (thé kỷ XVII - 1868), thời của van

chương phù thế Kinh nghiệm thẩm mỹ đó là Sabi (ch)

Sabi (lich) là cảm thức thể nghiệm cái cô đơn, niểm cô tịch vô ngã, là trạng thái trở vẻ với chính mình,đừng lại những dục vọng và thấu thị lẽ huyền nhiệm của vũ

trụ Đó là ước muốn giao cảm với sự vật đến tột cùng trong trang thái cô tịch là linh

hồn nhân thế hòa vào vô biên, chạm vào vĩnh cửu.

Có thể cảm nhận “sabi” như một trong các yếu tố "hòa, kính thanh, tịch” của

nghi thức Trà đạo, bàng bạc qua các trang văn tuyệt đẹp của kiệt tác Ngàn cánh hac

Hay một cách trực cảm hơn, qua các tuyệt tác thơ haiku của Basho, Issa Buson

Trên cành khô Cánh qua đậu

Chiều thu

Basho (N.C dịch)

Chúng sinh như những con qua, thu mình lại tìm về sự cô đơn tịch tĩnh, im lặng

đối diện với chính mình Nếu ta hòa mình với chiều thu lắng đọng của vũ tru là ta đã

tim về với tâm hồn của chính mình, tim đến Niết bàn (Nirvara)

Trong “Xứ tuyết”, theo Seidensticker, “Kawabata đã chọn một dé tài thích hợp

mà giữa thơ haiku và tiểu thuyết có thể tựu thành".

Dõi theo ngọn bút của Kawabata xuyên suốt các tác phẩm của ông có thể nói

rằng con người của thế ky XX này đã kết tinhtrong mình tinh hoa của ngàn năm văn

hóa Phù Tang đem truyền thống đi vào hiện đại.

Kawabata Yasunari, con người “sinh ra từ cái Dep Nhật Ban”.

2 Hơi thở từ cuộc sống hiện đại

Đi ra từ truyền-thống, nhưng trước hết, Kawabata là con người của thế giới hiện

đại, Không chỉ quen thuộc với van học Nhật Ban, tắm mắt ông còn mở rộng tới những

chân trời mới với các tên tuổi lừng danh A Chekhov, Lev Tolstoi, Marcel Proust,

James Joyce

Và khi mới hơn hai mươi tuổi ông đã là chủ xướng của trào lưu “Tân cảm

giác ` (Shin kankuku) kêu gọi nhà van hãy trực cắm vẻ đẹp của thế giới này và thé

hiện bằng ahững cảm giác mới :

(1ì Đọc Kawabata, Nhật Bản, cái đẹp và tôi NXB Thanh niên, 2000, trang 13.

Trang 17

Kawabata nhân ra rằng cuộc sống con người không chi đơn giản là những biến

cố nối tiếp mà còn có một cuộc sống nội tâm phong phú, Con người tiếp xúc với thế

giới bên ngoài chỉ là bể mặt, còn thế giới cảm xúc bên trong mới là quan trọng vùcuộc sống đó không liên quan gì đến tuyến tính thời gian

Giống như Marcel Proust trong “Pi tim thời gian đã mất”: "Cuộc sống có thể

chia ly chúng ta, nhưng không thể làm chúng ta quên những giờ phút tốt đẹp chúng ta

ở bên nhau”.

Mặc cho thời gian đi qua, những giờ phút tốt đẹp lưu giữ mãi trong ta và mỗi

lúc lại hiện về, mới mẻ, trong sáng Như chàng trai của Marcel Proust nhúng chiếc

bánh vào chén trà, và kỷ niệm tình yêu xưa tràn về Như nang Kyoko trong Thủy

nguyệt mỗi lin soi gương lại nhớ đến chiếc gương ngày xưa nàng trao cho người

chồng đau yếu và phút giây chàng ng4m nàng làm việc dưới vườn rau qua phản ánh

của chiếc gương nhỏ

Thời gian trong tác phẩm của Kawabata "không đi theo một mạch thẳng mà

có sự gấp khúc, những liên tưởng, ám ảnh từ quá khứ cứ luôn song hành với phút giãy

hiện tại (Shingo nhớ về người chị vợ đã khuất, Kikuji nhớ đến bà Ota ) quá khứ và

hiện tại bị xóa nhòa, trộn lẫn" (1)

Bút pháp Kawabata dõi theo sự lưu chuyển của dòng ý thức, dõi theo dòng biến

chuyển của tâm trạng nhân vật khám phá cdi thâm sâu huyén bi của tâm hồn con

người.

Mong muốn phản ảnh sinh động tâm hổn Nhật Bản hiện đại, Kawabata sử

dụng chất huyễn tưởng phương Đông, kết hợp với yếu tố siêu thực Tây phương wo nên một thủ pháp đặc biệt: “ dĩ huyễn độ chan” Cuộc đời vốn phức tạp và đa nghĩa,

Kawabata đẩy nhân vật của mình vào thế giới của mọi huyén ảo, và tác phẩm nảy

sinh vô vàn ý nghĩa để tương xứng và đứng trên cuộc đời

Truyện ngấn lừng danh “Cánh tay” (Kataude) (1964) hết sức tân kì và hiện

thực mở đầu như thế này:

* Em có thể cho anh mượn cánh tay của em suốt đêm

Nói xong, nàng lấy cánh tay từ bờ vai phải ra và đặt lên đâu gối tôi bằng bàn

fay trải”

Dường như Kawabata đã trộn lẫn cái hiện thực với cái thần thoại để xây dựng

một thế giới” chứa đầy yếu tố kỳ ảo như thể nó thuộc về cõi ma (makai) Nhưng cánh

tay người tình mà Kawabata miêu tả riêng biệt lại có một vẻ đẹp bất ngờ, một sức

(1) Hà Thanh Vân, Từ Murasaki tới Kawabata, Doc Kawabata, NXB Thanh

Niên trang 64, 65.

Trang 18

xông bắt ngỡ, tưởng chứng như ta mới biết lắn đấu thể nao là mot cảnh tay Cảnh tay cua người con gái, cánh tay của đời sống vừa võ thường vừa vĩnh cửu.

“Do là một huyền thoại tan kỳ lôi cuốn chúng ta vào một thé giới due cầu tao

bằng những chất liu ma Kawabata bi mắt lấy ra từ áo ảnh và vo thức ” (1)

NO lực sáng tao của Kawabata van dụng mot cách doe đáo dòng ý thức, tinh

huyện tưởng, yếu tô siêu thực trong nhiều tác phẩm khiến ông dường như là mot

nghe si hiển đại, một modernist

Nhưng thực ra tác phẩm của Kawabata gấn bó với truyền thống nhiều hơn, như

litt tự bạch của ông, “Tôi đã tiếp nhận lẺ rửa tôi nơi văn chương Tây phương hiện dai

va tôi cũng da bắt chước nó nhưng chủ yếu tôi là một người Đông phương và tor chưa

tửng đánh mất phong cách ấy của mình” (2).

Dường như ở Kawabata, những yếu tố văn chương Tây phương đi qua những

trang trực cảm và duy mỹ để khám phá cái Đẹp truyền thong qua thấu kính hiện đại

“Bằng một thi pháp dung hợp tính hiện dai với phong thái hài cú, tình thắn Thiéa tông trong văn hóa Nhật Ban, Kawabata sáng tao nén những van phẩm dep la

lũng vẻ thiên nhiên, tình yêu và sắc đục” (3)

(I)(3) Nhat Chiêu (chủ biên), Truyện ngắn Nhật Ban hiện dai, NXB Trẻ, 1996,

i 185

(2) Dẫn theo Donald Keene trong cuốn Dawn to the West, Fiction, New York,

LON4 trang S07

17

Trang 19

XU TUYẾT ~ KHÁI LƯỢC

1 SỰ HÌNH THÀNH “XU TUYẾT °

Mùa xuân năm 1935, Kawabata khởi viết những trang đầu tiên của một cuốn

tiểu thuyết mới *Xứ tuyết" (Yuki guni = Tuyết quốc»

Tác phẩm được hình thành từ từ, đi qua nhiều biến động của đời và mãi đến

năm 1947 mới hoàn thành Ban đầu, từng phan của câu chuyện được đăng tải rải ráctrên tap chỉ Bungei Jidai (Văn nghệ thời dai) như là những truyện ngắn nhỏ Hai năm

sau chiến tranh thế giới II, Kawabata mới bat tay hoàn tất thiên tiểu thuyết rồi ra sẽ

trở thành quốc bảo của văn học Nhật Bản này.

1 Cũng như những tiểu thuyết khác của Kawabata, "Xứ tuyết” được hình thành

từ một thói quen sáng tao kỳ lạ: Tiểu thuyết khởi đị từ truyện ngắn truyện ngắn trong lòng bàn tay (Te no hi ra no shosetsu — Chưởng tiểu thuyết), Nhiều tiểu thuyết của Kawabata hình thành từ những đoản thiên ban dau và thậm chí, nó?có thể chấm dứt ở

điểm nào cũng được, như các số phản khác nhau trong cuộc đời (1).

Truyện ngắn trong lòng ban tay “Người đàn bà hóa thân vào lửa" (Hi ni yuku Kanojo) dang trên tạp chí "Văn nghệ hiện đại, số tháng 9 năm 1924 được tin là một

trong những khởi đầu của Xứ tuyết Hình ảnh người đàn bà hóa thân vào lửa và cảm

thức cô đơn mà nhân vật tôi trải nghiệm trong giấc mơ khiến ta liên tưởng đến cái

chết hoá thân trong lửa của Yoko và cảm giác vé một sự chia ly vĩnh viễn trong tâm

hồn Shimamura ở cảnh cuối “Xd tuyết".

Có thể nói, trong cuộc sáng tạo bất tuyệt của mình, dường như Kawabata đã

xoá nhoà các ranh giới, bình than đi vé những giới hạn Truyên ngắn trong lòng bàn

tay của ông mang đấy đủ phẩm chất của thơ haiku, như một thứ haiku văn xuôi Vàvới "Xứ tuyết”, tiểu thuyết và truyện ngấn của ông như hoá thân trong nhau Doan

thiên tiểu thuyết hay trường thiên tiểu thuyết dường như chẳng có gì sai biệt trong thế

giới của Kawabata, “thế giới của những khoảnh khắc linh diệu, của hồi tưởng, ước mơ

và dục vong "(2).

Những bí ẩn của đời sống có thể chứa đựng trong lòng bàn tay của khoảnh

khắc này Và cũng có thể vĩnh viễn thăng hoa trong nhũng trang thơ _ tiểu thuyết

Như đời sống vốn luân chuyển không ngừng ngay trong từng khoảnh khắc thời gian:

"Luận hồi mỗi satna Bap bénh sinh tử hải” (kinh Phật) vậy

(1) Nhật Chiêu “Truyện ngắn trong lòng ban tay hay hỗn thờ Kawabata

Yasunari” Tạp chi văn nghệ, Số xuân 1996, tr 140

(2) Nhật Chiêu, “Truyện ngắn trong lòng bàn tay hay hồn thơ Kawabata

Yasunari” Tap chỉ văn nghệ, Số xuân 1996, tr 137

18

Trang 20

3 Tiểu thuyết khởi đi từ truyện ngắn Cũng có nghĩa là Kawabata không hoạch

định indie các điển biến cụ thể trong tác phẩm của mình Ông thi cho tình cằm ding

lên đầu agon bút và khoan khoái hướng theo đường hướng mà linh giác nghệ thuật

mach bao Va như vay, từng trường đoan của tiểu thuyết cũng có thể đứng tách ra như

mót đoán thiên riêng

Và dường như bố cục một cuốn sách thật chặt chẽ như kiểu Balzac không phải

là ÿ đổ nghệ thuật của Kawabata Tiểu thuyết được mở ra từ từ cho người đọc thưởng

thức từng trang như ta say mê lần gid những bức tranh cuôn Nhật Bản vậy Mỗi trang tiểu thuyết như thể tương ứng với một khúc đoạn trong cuộn tranh dài Đời sống ot

mở ra, hết trang này đến trang khác cho đến trang cuối cùng vẫn là lời mời goi con

người thể nhập vào cudc sống để tiếp tục khám phá vẻ Dep vô tan của thể gian này

3 Như thế, có thể thấy rằng Kawabata suốt đời đeo đuối một cảm thức thấm

mỹ truyền thống của tiểu thuyết Nhật, khởi đi từ 1000 năm trước, với Truyện Genji

(Genji monogatari) của nữ sĩ thiên tài Murasaki Đó là một cằm thức thẩm mỹ truyền

thong dang dé, không có khuynh hướng tron ven, không có sự hoàn tất Mỗi hành

dong đều khởi đi từ một cơ đuyên Mỗi tan phai là một thời của su sống Vẻ Dep

hình thành từ đó Cũng chính là yếu tính của đời sống vậy

Sự nghiệp văn chương của Kawabata lỗi lạc vì nghệ thuật của ông thể hiện yếutính của đời sống bằng thứ ngôn ngữ linh diệu của tâm hồn, của “con mắt nhìn thấucái Đẹp” (N Fedorenko)

Va, Xứ tuyết được xem là tác phẩm toàn bích nhất của Kawabata Những trang

thơ không vẫn chan chứa vẻ đẹp của thiên nhiên, của tâm hồn con người và thế giới

nghệ thuật Những vẻ đẹp nối tiếp nhau như những làn sóng gơn gợn sóng này lôi cuốn gợn sóng khác những gợn sóng của thế gian bất tuyệt.

“Xứ tuyết - Một bài ca về tình yêu vô vọng của một nàng geisha trong gió tuyết

và ánh lửa, một bai ca về những vẻ đẹp hình thành như tuyết và tan đi như tuyết” (1)

II VỊ TRÍ CUA XỨ TUYẾT TRONG SỰ NGHIỆP SANG TAC CUA

KAWABATA VÀ TRONG VĂN HỌC NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI

I ~ Xứ tuyết” là một trong ba tác phẩm hàng đầu của Kawabata Năm 1968 Viện Hàn lâm Thụy Điển đã xem xét các tiểu thuyết "Cố đô" (Koto), "Ngàn cánh

hac" (Sembazuru) và “Xứ tuyết” (Yuki guni) và trao giải Nobel van chương cho

Kawabata Yasunari, nhà văn Nhật Bản “người tôn vinh cái Dep hư ảo và hình ảnh u

uẩn của hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con người” (the

worshiper of the beautiful and malencholy pictorial language of existence Anders

Osterling_Vién Hàn lâm Thụy Điển)

(1) Nhật Chiêu "Kawabata, người cứu rỗi cái Dep* Nhat Ban trong chiếc same

wi, arb Giáo duc 1999, tr 157

Ỉ ———

Trang 21

“Xứ tuyết” là kiệt tác của Kawabata, “một văn phẩm cái Dep và sư huyền bi, thôi trong những tiểu thuyết tinh tế và gợi cảm nhất từng xuất hiện trên xử sở Phù

Tung” (A work of beauty and strangeness, one of the most distinguished and moving

of the Japanese novels to appeared in this country)-New York Herald Tribune(Ì )

DSi theo hành trình sâu thẳm của chang Shimamura lên miễn Niigata xứ tuyết,

ta cám nhắn được những rung cảm thẩm mỹ tình tế, thâm trim nhất của tâm hồn Phù

Tang “Xuyên suốt cuốn sách là những rung cảm tính tế mong manh và tràn ngập

những hình ảnh đẩy sức gựi” (The writing throughout is subtle, delicately moving, and

full of striking imagery)_C.J.Rolo, Nguyệt san Atlantic, 1968 (2)

2 Trong nền văn chương Nhật Bản hiện đại, vào thời kỳ chao đảo giũa những

giá trị truyền thống và ảnh hưởng ngoại lai *Xứ tuyết” là môt trong đôi ba cuốn tiểu

thuyết lỗi lạc nhất, kết tinh truyền thống văn chương rực rỡ bất đầu từ tập thơ ngàn

van chiếc lá Vạn diệp tập (Manyoshu) và tâm hồn Nhật Bản hiện đại,

Cùng với “Xứ tuyết” của Kawabata , có thể kể đến: Nỗi lòng (Kokoro: Tâm)

vúa Natsumei Soseki Kim Các tư (Kinkaku ji) của Mishima Yukio, Cầu mộng (Yume

no ukihoshi: Mong phù kiểu) của Tanizaki Junichiro

Mỗi tiểu thuyết như một bài ca hát lên tình yêu thâm thiết cái Dep va cuộc

sống này của những ca nhân (kajin) lang thang trên muôn nẻo mông đời

II, LUGC TRUYỆN

Tiểu thuyết “Yuki guni” (Xứ tuyết) dài khoảng hơn 200 trang và gồm 9

chương Mỗi chương truyện như là một bài thơ dài ngập tràn vẻ đẹp thanh khiết của

thiên nhiên và con người xứ tuyết qua mỗi khoảnh khắc thời gian - mùa

Chương 1: Mùa đông _ trở lại xứ tuyết

“Con tàu ra khỏi đường hầm dài đưa Shimamura trở lại xứ tuyết” Khách đồng

hành của chàng là một cô gái trẻ, nghiêm nghị, Yoko Nàng đi cùng với môt người

đàn ông đau yếu và chăm sóc anh rất ân cắn, dịu dàng

Yoko, người con gái xa lạ và lạnh lùng ấy, gây ấn tượng sâu sắc trong lòng

Shimamura bởi “giọng nói tuyệt đẹp ngân nga cao vit như từ đêm tối vọng lại trên

mật tuyết, nghe phẳng phất buồn” Suốt chuyến tàu dài, mỗi lúc Shimamura lại khámphá nét đẹp huyền ảo, đầy lôi cuốn của nàng Day là con mắt Yoko chập chờn phiéudiễu trên trùng dương núi rừng đêm tối trong phan ánh của chiếc gương - kính cửa sổ

diy hơi nước - của Shimamura.

(12) Dich thee Kawabata Yasunari, Snow Country, Berkley publishing

corporation, trang | và trang 415

20

Trang 22

Con mắt nang trong gương có mot vẻ đẹp lạ lùng với "ánh mắt dif doi dang

nhìn cham châm không chip” trôi nổi trên đáy gương di động lướt nhanh

“Anh lửa di động lần lan ngàng qua khuôn mặt Đó là một ánh lừa lạnh lẽo lắp

lánh ở xa vôi Và khi những tia sang yếu ởt của nó rei ngay chính giữa tròng mat người

con ải, ảnh nhìn lẫn với dnh lita xa, con mắt ấy tưởng chững nh một đốm lân tinh dep

huyện de dang vật vờ trên trùng đương núi rừng buổi tối" (tr l3)

Cánh tượng siêu nhiên va không tưởng huyễn du bởi vẻ đẹp la lùng của khuôn

mat trôi cuốn theo phong cảnh buổi tối ấy làm Shimamura quên hẳn minh, không biết

minh sống trong thực hay mông Với chang, nàng như bước ra từ “Môt truyện truyền

kỳ lăng mạn cổ xưa nào đó " (tr.14)

Người con gái ấy và người đàn ông đau yếu cùng xuống môt ga với Shimamura.

Chàng đến Xứ tuyết để gặp lại người con gái vùng suối nước ning chang đã

gap từ mùa xuân trước, người đàn bà mà chàng chỉ con giữ được những “ki niệm trực

tiếp và sống đông, một ký ức nóng bỏng” nơi bàn tay trái.

Nàng là người đi đón Yoko và người đàn ông đau yếu ở ga.

Gặp lại Shimamura mùa đông này, nàng đã trở thành một geisha Và người đàn

ông đau yếu kia là con trai bà thầy dạy nhạc của nàng.

Với Shimamura, gặp lại nang là cả một thế giới hạnh phúc êm dịu

Với Komako (tên nang), gặp lại Shimamura là một niém vui sướng bất ngờ,khiến nàng không thể thốt nên lời

Đó là những ngày đầu tháng Chạp Tuyết đã rơi nhiều, như muốn cuốn mọi vật

âm thấm xuống lòng đất

Chương 2: Mùa xuân _ lần đầu vào xứ tuyết

“Lan trước " Shimamura đến Xứ tuyết là vào mùa leo núi, mùa xuân xanh tươi,

thơm ngắt.

Shimamura, con người nhàn nhã của Tokyo phổn hoa một mình đi vào núi để

“tự tìm hiểu lấy minh” Sau một wan ngao du, Chàng đến một thôn suối nước nóng.

Chàng muốn gap một geisha và Komako đến gặp chàng như một geisha không

chuyên Nang đem đến cho chàng “ một cảm giác trong sạch và tươi mát tuyệt vời ”.

Ho trò chuyên về Kabuki, về vũ Nhật Bản, ballet phương Tây, với vẻ vôi vã

cuống nhiệt như lâu ngày không gặp lại trì âm Thì Shimamura lên núi chính là để "

tim lại nhu cẩu nói chuyện với mọi người ” mà chàng nhận thấy nơi nàng mot tình cảm

ban bè để chia sé niềm vui sướng, sing khoái tột độ mà chàng rung cảm trước núi

rifng.

Gap lại hôm sau Shimamura nhờ Komako chon cho chàng mốt geisha thức thu

Trang 23

để thod man ham muốn trút bỏ xức lực du thừa tích tu suốt 8 ngày qua Chẳng can thay không thể yêu cấu nàng điều đó bởi ấn tượng trong sạch ở nang ám ảnh

chang như * một huyền lực” mot huyền lực giống như cdi do ảnh trong tấm gương

huổi tối mà chàng say mé Đó là vẻ dep trong sáng tới mát, gợi cảm, hư áo day nữ

tính vua Komuko

Huyền lực ấy _ cũng chính là đông luc đưa Shimamura đến với vũ Nhat Ban

truyền thống rồi vũ ballet phương Tây điệu vũ phương xa mà chàng chưa bao giờ có

ý muốn xem Với chàng, cái vũ điệu chàng chưa hé thấy, là “ một giấc mơ về mot thế

giới khác như thiên dang của su hoà điệu và toàn bích tuyệt vời” (tr 32)

Cô geisha miễn núi mộc mạc được gọi đến làm Shimamura mất hết hứng thú

Bị thu hút bởi vẻ đẹp tưới sáng tuyệt vời của rừng núi ngoài cửa sổ, chàng mái miết

leo lên sườn núi ngào ngạt mùi lá mới Chàng gặp lại Komako giữa rừng bá hương

xanh thẩm và thác nước chảy xa xa trong sự đồng cảm của hai tâm hồn trước thiên

nhiên rong mở

Budi tối, Komako trở lại thăm chang hai lan và ở lại với chàng dù nàng vẫn bi

am anh bởi một tình yêu không có tướng lại với một du Khách như Shimamura Nẵng

thú nhận tình yêu với Shimamura đồng thời lại muốn phủ nhận nó, muôn khước tử sự

ngọt ngào êm dịu cũng như niềm sung sướng tuyệt vời

Sáng hôm sau, Shimamura trở về Tokyo mà chưa kịp biết tên nàng

Chương 3: Mùa đông - gặp lại Komako

Mùa đông này, trở lại Xứ tuyết lan thứ hai để gặp Komako Điều đầu tiên

chàng muốn khẳng định với Komako là không hể đùa bỡn với nàng như nàng lim

tưởng đâu Càng ngắm nhìn nàng, kỷ niệm tuyệt đẹp mà bàn tay trái chàng còn lưu

giữ khi xa nàng bừng lên rung động tất cả cảm giác '

Komako đếm lại khoảng cách họ xa nhau, một trăm mười chín ngày Nàng viết

nhật ky hàng ngày, ghi lại những cuốn sách, bô phim nàng xem, và về củ nỗi nhớ

nhung Shimamura vô vọng.

Komako vẫn bị ám ảnh bởi ý nghi tình yêu với Shimamura chỉ là vô vọng,

không có tương lai Nàng bị giằng xé giữa tình yêu nồng nhiệt tha thiết và mac cảm bi

coi thường Nàng ở lại với Shimamura đêm ấy nhưng bổn chổn và căng thẳng không

thể ngủ được Buổi sáng, nàng lại tiếp tục đấu tranh giữa ý muốn rời phòng

Shimamura sớm để tránh lời di nghị với tình cảm mãnh liệt muốn ở lại bên chàng.

Bất ngỡ Shimamura phát hiện vẻ đẹp rực rỡ của Komako trong chiếc gương

sol “Mau trắng mà chàng đã thấy trong day gương chính là màu tuyết, và la lồng v'

d giữa, một mau đỏ rực của đôi má người đàn bà Cái dep của sự tương phản ấy that

thuận khuết, thật là mảnh liệt vì nó bén nhọn và sống động biết bao” "Trong tấm

kg, mau tuyết càng thêm rực rd, tưởng chừng nhut băng tuyết dang rực cháy”

l2 iw

Trang 24

Chương 4: Giữa đông - tuyết rơi day

Bay get đã là giữa mùa đồng, vào đô tuyết rơi day nhất Co khi tuyết ngap đến

3 thư nuốt chứng những con đường

Shimamura di dao và gap Komako đang ngồi với dam ban geisha Komako đưa

chang ve thâm nơi ở của nàng nhà bà giáo dạy nhac, Chàng gap lại nàng Yoko cũng

VỚI giong nói truyền cảm trong thanh và đẹp đến não lòng Cái nhìn sắc bén của nang

“để lai mot vết bỏng ngay trên trán chàng” Lập tức, Shimamura cảm nhân một “ve

đẹp thuần khết không lời diễn đạt” của cái đốm lửa xa xôi và lanh leo đột ngô! ngời sang giữa tròng mắt Yoko đêm ấy; giờ đây lại hoà lin với “vẻ huyền ảo chói sáng

của tuyết trong tấm gương soi buổi sớm cái khoảng trắng mệnh mong điểm màu đỏ

tui đức rở của đối má Komuko”

Shimamura chìm trong trang thái mo màng huyền diệu một thế giới xã vôi khác Và chàng dường như nhận cảm vẻ đẹp thuần khiết nữ tính muôn đời

Dut khỏi dòng xuy tưởng, Shimamura gọi bà tẩm quất mù Bà cho chàng hay Komako dan Samisen rất hay Và nàng làm geisha là để trang trải viên phí cho vi hôn phụ Yukio, người dan ông dau yếu vẻ cùng Yoko chuyển tau đếm ấy

Nổi buốn thấm thía cảm giác mơ bd trống ring và lanh buốt dày vò

Shimamura cho đến khi Komako bước vào như một tia sáng ấm áp trong đêm tối tắm

hồn chàng Nang đi dự tiệc và trở về say khưới đau đầu đữ dội Nàng thú nhận rằng

nàng đã gắn như phát điên khi chàng ra đi, rằng nàng đã từ chối kết hôn với một

người rất tốt.

Và rất nhanh chóng, nàng lại tự nhiên như một đứa trẻ hớn hở kể lại với chàng

“Lue ấy, em cứ tưởng tượng là em đã có mang”.

Chương 5; Sém mùa đông - tiếng đàn samisen

Buổi sáng mùa đông rực rỡ, bau trời trong vắt như pha lẻ "Trời đẹp qua!”Komako gảy đàn Samisen vì * Thời tiết thế này, tiếng đàn nghe khác hẳn”

Yoko mang đàn đến 10 quán, Komako ngồi vào đàn Tiếng đàn công hưởng với

khí trời trong suốt gieo vào lòng Shimamura cái cảm giác của người bị điện giải, ‹ững

sd ngd ngắc trước vẻ đẹp thanh khiết và trong suốt la kỳ vang đến tận những đính

tuyết phủ sâu thẲm xa xa.

Komako mé đắm hoá than vào tiếng đàn của chính mình Và Shimamura bối rủi nhân ra tình yêu nông nhiệt dành cho chàng trong tiếng đàn huyền hoặc

Tam hén Shimamura theo nhịp điệu dịu dang và gới cảm của âm thanh phiếu

du vào thể giới mở mong say sưa, trở về với nhịp hoà âm tưởng cắm của trếng dan và

tự nhiền xuy tự về sự hoài công đó của Komako.

Dưới tác dung ve vuốt của âm nhạc, Shimamura bất giác rung đông toàn thân

23

Trang 25

mot cam giác nhục cảm êm dịu Trôi theo dòng nhạc, vẻ đẹp nhục cảm nóng bong của Komake trở nén ngây thơ trong sang như trẻ thơ Nàng nghịch ngớm với dan

samisen và nhất giọng, ngắn nga bat chước hình ảnh the bé của chính minh

Chương 6: Cuối đông - rời Xứ tuyết Bay giữ đã sắp cuối dong tuyết vẫn rơi dày

Tide, mỗi lắn ngủ lar đêm với Shimamura Komako không còn tim cách ca về

lúc rang dong nữa.

Tuyết rơi trắng những cánh đồng cuồng phong mưa đá biến thành mot cơn

mưa dat ding và lạnh giá

Pa đến lúc Shimamura phải giã từ Xứ tuyết.

Đêm chia tay là “một đêm sáng trang lạnh buốt” Con đường đóng bang lạnh

cứng và thôn xóm ngủ yên dưới bau trời lạnh buốt Komako kéo Shimamura đi daodưới trời tuyết tê buốt Nang buồn bã, âu sầu nhưng hiểu rằng việc Shimamura ra di

là tắt vẻu

Gi chia tay, Komako theo Shimamura ra ga tiên chàng Bất ngờ Yoko chày

tới véu ciu Komako vẻ nhà ngày Yukio dang hấp hối muốn gap nàng lấn cuối

Komako từ chốt nhất định không về trước sự sững sờ của Shimamura và Yoko

Shimamura rời Xứ tuyết mang theo hình ảnh Komako hư ảo và rực rỡ loé lên

lắn cuối trên tấm kính cửa phòng đợi nhà ga.

Chương 7: Xứ tuyết - Vào thu

Trời bất đầu vào thu.

Shimamura trở lại Xứ tuyết Cỏ kaya khoác lên sườn núi màu ánh bac huy

hoàng lấp lánh rực rd chào đón chang.

Cuộc đời Komako đã có nhiều thay đổi: Bà giáo day nhac đã mất, Komako kigiao kèo geisha 4 năm với môi cửa tiệm và chuyển đến đó ở

Gấp lại nàng, Shimamura lại tìm thấy cái thế giới thân mật và gắn gũi ấy

nguyễn ven từng ly từng tấc Komako kể cho chàng nghe vể “người đàn ong duy

nhất” của đời nàng mot người tử tế nhưng nàng không thể yêu cũng không thể đứt

bo được

Con Yoko , Komako nói rằng lúc nào nang cũng ở nghĩa trang bén mộ Yukio

Shimamura di qua nhà nàng và bắt gap “giọng hát rong thanh thâm tắm đến đô

thấm vào lòng người, một giọng gợi cảm huyền bí làm dao đông lòng người" Nàng

hát về chudn chudn làm Shimamura bất giác liên tưởng cơn mưa chuỗn chudn mùa ha

và nhớ đến Komako: “Con người thật là mỏng manh” Đêm ấy, Komako không đến

Sang sớm, Shimamura vita mở mất đã bất gap hình dáng div dàng

ci4Komako-Nẵng đến sớm qua" Hai người di xuống đổi và bất ngờ chiếm ngưỡng vẻ đẹp thin

24

Trang 26

diệu của có kaya Họ đến nghĩa trang Yoko đã ở đó tự bào giờ Ngay lúc ấy, đoàn tau rim rap di qua và eng Yoko gọt anh trái “rung lên như một tình yêu thành khiết

nhất” vang mai trong tam hồn Shimamura

“Tối đến day không phái là thâm tô Yukio” Komake nói thể Hát người vôi

tứ giá Yoko

Dém khuya, 3h sáng, Komako lai đến, say khưới, duyên đáng và gới cam

Nàng nhữ Shimamura gỡ hồ tóc rồi vôi vã loang choang về vì đã hẹn di tắm với các

geisha

Trong một ngày ngấn ngúi ma hai lan nàng đến thăm chang vào những giờ oái

âm “Chuyên này chắc có gì bất thường đây”, Shimamura tự nhủ

Chương 8: Hội lá thu

Mùa thu đương vào đô rực rỡ nhất với màu sắc độc đáo của lá phoag Lit quán

tấp nắp chuẩn bi đón du khách đến thưởng ngoạn

Tinh cờ Shimamura biết Yoko làm việc ở lữ quán chang ở, chi ở trong văn phòng thỏi Shimamura chợt cảm thấy không muốn Komako đến đây nữa Đồng thời chang thay bị lối cuốn mảnh liệt bởi "ánh sáng có thể sói rổ bế xâu mor chuyên”

trong đối mắt Yoko

Komako kiểm cách đến với chang luôn và cũng vội va đi ngày như muốn trốn

tránh

Trời đã bất đấu có tuyết di lá phong vẫn còn đẹp.

Komako không còn tránh nói đến Yoko như trước Ngược lại nàng tìm cách để

Yoko gap Shimamura nhiều lần Nàng muốn Shimamura hãy mang Yoko di, che chờ

nang, cất bớt cho Komako gánh năng nàng luôn cảm thấy này?”

Tình yêu của Komako với Shimamura vẫn nguyên vẹn và ngày càng manh liệt

bởi nàng càng hiểu rõ tính chất hư vọng của nó.

Còn Yoko, nang cũng muốn theo Shimamura đi Tokyo để xa những kỷ niệm về

Yukio Nàng cầu xin Shimamura hãy đối xử tốt với Komako vì “cô ấy là người tốt

nhưng không được sung sướng” Nàng đã khóc khi nói về Komako

Cảm kích trong cổn xúc động, Shimamura nói với Komako: “Em là người đàn

bà tuyết vời” Đau đớn vì hiểu lắm Shimamura, Komako cảm thấy bị xúc phạm bị nhào bang, Nàng giản dữ, dau khổ Nhưng cũng rất nhanh nàng trở lai vui vẻ, ân cắn

một cách lạ lùng

Sang sớm Shimamura thức dây bởi tiếng đọc tuéng NO của những du khách

nghé si NO ở phòng bên Chàng cảm thấy sự sâu thắm trống ring của những bóng tuyết đấu đông Và bất giác trải nghiệm vẻ đẹp nống nhiệt thuần khiết lạ lùng của

Komiiko trên nền tuyết trắng trong tấm gương roi như buổi sáng hom nào

Trang 27

Chương 9: Chém đông ~ chia ly

Xứ tuyết đã bắt đầu vào đông Những bỏng tuyết trắng ngắn làm Shimamura

nhớ đến var Chín, “thứ vai bắt đầu trong tuyết và kết thúc trong tuyết” để rồi mang

đến cam giác mát lanh dé chu cho người mac giữa những ngày he oi bức

Chim trong suy tưởng Shimamura chớt nghe thấy trong tiếng reo của dm tra

sO HỎng gió xào xác, tiếng chuông ngân nga bất chut lar mường tương tiếng nhịp chân nhạy múa vúa Komako Shimamura biết rằng “đã đến lúc chàng cần phát ra di”

rồi

Shimamura đi thăm những làng đệt chijimi ở xứ tuyết Trở về suối nước nóng,

Komako đón chang trách móc lẫn vui sướng Họ di lến đổi bỗng nhìn thấy đám cháy

lớn ở kho kén giữa làng Komako bật khóc Cả hai chạy về phía đám cháy Komako

chơi nhân thấy giải Ngân Hà dep lông lẫy trên trời Vẻ đẹp thuần khiết và bao dung

vủa nó khiến Shimamura liên tưởng đến bài Haiku cou thi si Basho Chàng bị cuốn

theo ve đẹp mong manh như được dệt ra trong vô tan ấy

Ho đến được kho kén moi người dang cố gắng dập lửa, không ai bị thương cả

Ngân Hà vẫn rực sáng trên đấu Trong khoảnh khấc mỗt người rớt từ ban công khokén xuống nén nhà cháy mà vẫn giữ tư thế nằm ngang

Nhân ra đó là Yoko, Komako hét lên thất thanh, Nàng lao đáo chày vào dam

cháy rồi loạng choang CY oko trén tay như “mang mot vat hy sinh hay deo nang hình

phat trên người ”

Bi đám đông xô đẩy, Shimamura tiến lên môi bước để đứng cho vững và

“trong khoảng khắc ngả đầu về phía sau,dải Ngắn Hà chảy tuột vào người chàng

trong tiếng gdm thét dữ doi”, `

SCHEER EH EH ERR eee Hee

26

Trang 28

CHƯƠNG BA:

THẾ GIỚI CỦA CÁI ĐẸP TRONG XỨ TUYẾT

1 CÁI ĐẸP CUA THIÊN NHIÊN

- Bước chân du lãm miền Niigata xứ tuyết bất đầu từ thiên nhiên, khởi nguồn

của mọt vẻ đẹp khác.

Thiên nhiên Nhật bản thân nó đẹp Vùng đất bé nhỏ giữa đồng lau say từ thud

hing hoang đã được chở che bởi sắc đẹp néng nàn của nữ than mat trời Amaterasu.

Vẻ đẹp hiện diện khấp adi Con người sống giữa thiên nhiên trong mối giao tình và

hòa điệu thâm sâu, Như lời ca giản dj và sâu thẳm trong bài tanka từ thế kỷ XIN sau

đây của Thién sư Dogen:

Mùu Xuân có hoa đào

Mùa Ha chim cu hót

Mùa Thu thi trăng soi

Mua Đăng tuyết lạnh buốt

Và sang ngời nơi nơi

(Nhật Chiêu dịch)

Bốn mùa lưới qua, phản chiếu cái đẹp của vòng xoay vũ trụ và của mọi thời

khắc: và tình yêu thiên nhiên kỳ lạ của người Nhật.

Lướt qua những trang thơ của Xứ tuyết, mỗi lời văn như một nốt nhạc ngân lên

bán giao hưởng tuyệt đẹp của Vivaldi: giao hưởng Bốn mùa.

1 Đồng điệu thiên nhiên và con người

-Con người sống hòa hợp trong thiên nhiên, thiên nhiên hữu đồng đẳng với conngười, hai bên tương chiếu lẫn nhau

Khởi đi từ truyền thống đó, với Kawabata, thiên nhiên không chỉ là nến cho

diễn biến tâm lý nhân vật mà còn đồng điệu với tâm hốn con người “Người buồn

cánh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du), Đó là triết lý phương Đông và thế giới chủ

quan, giữa đại vũ trụ và tiểu vũ trụ

Láng giêng một áng mây bạc.

Khách khita hai ngàn núi xanh

(Nguyễn Trãi)

Trang 29

- Con người trong thể giới Xứ tuyết bị mẽ hoặc hởi vẻ đẹp trong thanh quyến rũ

cia thiên nhiên bè ban

Chang Shimamura, mac dù đang tiếp chuyện một cô geisha, vẫn không thể rời mắt khỏi cảnh sắc xanh tươi rực rỡ trên triển núi qua khung cửa sổ Và, "như người bị

mé hode bởi rừng núi và không khí ngạt ngào maa la mới, chang bò miét lên sườn núi,

và cười nhất điên ma chẳng hiếu tại sao” (trang 31) 1)

Voi một tiếng cười ấy, tâm hồn thiên nhiên mùa xuân tưới mát như trôi lướt và

tâm hẳn khoan khoái rông mở của con người Và con người thể nhập vào giấc mơ của

cảnh bướm mong.

"Mắt chàng rồi theo đôi bướm vàng bay nhờn nhớ phía dưới chân và chẳng mấylúc chúng đã trở nên trắng xóa, bay lướt rất xa trên nén trời cao, phía trên những đỉnh

núi" (trang 37)

Cánh bướm bay là Trang Chu, hay là tâm hỗn Shimamura hóa thân trong cuộc

viễn du chơi đùa cùng vẻ đẹp của trời đất.

- Vẻ đẹp trời đất cỏ cây lúc được ánh chiếu từ làn da thiếu nữ: “Mau xanh dam

của rừng cây bá hương đường như ánh lên từ gáy nàng (Komako)”, Rừng cây tinh tai

soi vào lòng người an tĩnh, đến mức cảm nhận được trong không gian: “Im lang và

thanh bình dang lên một điệu thánh ca" Đó là bài ca của thính lãng hay điệu ngân

nga của lòng người? Cả hai cùng đạt đến trạng thái hòa điệu tuyệt vời lắng được cả uéng vọng của vũ tru :

Có khi không gian xứ tuyết còn như “ngheTM được tiếng samisen của Komako:

"Bau trời trong như phalé Phía xa trên núi, tuyết trắng một màu êm dịu như sữa,

trông như một làn khói nhẹ như tơ” (trang 88) Không gian tinh khiết, trong suốt như pha lẻ, mong manh phủ iy sương khói: "Không gian như có dây tơ Bước đi sẽ đứt, đông hờ sẽ tiêu" Tơ trời , tơ lòng và tơ đàn dường như đồng chất, đồng

thé, tao nên sức gợi cảm vô biên, làm rng động lòng người Có lẽ Komako đã thấm

nhudn được những đức tính của thiên nhiên, con người bộc lộ tất cả sức mạnh tinh

thắn của mình đến độ trở thành vô ngã" hòa nhập vào cái tổng thể của thiên nhiên.

Đó có lẽ là trạng thái thể nhập không mà người Nhật hướng tới *Môt chân không

day ấp thiên nhiên, nơi ta tìm lại mình trong một chiều kích sâu thẩm cái chân không

đấy an lạc mà người Nhật gọi là “Sung thực không hư" (jujitsu kukyo) (2), theo

Isamu Kurita

(1) Bat đầu từ trang này các trích dẫn Xử tuyết lấy từ bản dich của Chu Việt,

Trình bày, Sài Gòn, 1969 và chỉ đánh số trang.

(2) Dan theo Nhật Chiêu, Cảm thức thiên nhiên của người Nhật và người Việt,

Giác ngô 3/2003, rang 84

28

Trang 30

Linh hồn nhân thế hòa nhập vào linh hẳn vũ trụ trong niém hoạn lạc vô biến,

dừng lại moi vọng động, ham muốn, danh lợi, muộn phiến đường nhử Tà mot thế giới

khác Chỉ có con người với tâm lính nguyên thủy, trong sáng thuần khiết trong vòng

tay bao dung của vũ trụ Đồ là sự tin có tính chất tôn giáo là đường về thiên nhiên ma

tâm hồn Phù Tang luôn luôn hướng tới.

2 Thiên nhiên như tâm cảnh

Hiếm có tiểu thuyết hiện dai nào tràn ngập thiên nhiên như Xứ tuyết ca

Kawabata Bất ky trang sách nào mở ra, ta cũng đường như được tấm trong bau thiên nhiền thuần khiết tuyệt dep Đó là một thiên nhiên soi chiếu dưới ánh nhìn tâm hồn truyền thống Phù Tang lung linh từng khoảnh khắc mùa và day sức ám gợi sâu xa.

* Người Nhật vốn có truyền thống kính ngưỡng tự nhiên Một hiện tượng

nhỏ nhoi cũng gợi cảm vô cùng

Ho yêu quý ngay cả những sinh linh bé nhỏ, một bông cỏ dai, mot con ốc nhỏ,

một cánh chun chuồn

“Trude rang cây bá hương thẳng hàng phía đổi diện, từng dan chuồn chudn

nhiều không kể xiết bay lượn trong giỏ, theo đà cuốn đi như những sợi tơ bổ anh tung

bay Và đồng thác nước chảy tung tie dường như tràn ra từ đầu ngọn những cành bá

hum dai nhất" (Trang 120).

Đó là bá hương chudn chudn, thúc nước

Hay sư hòa cảm tuyệt điệu của thiên nhiên cỏ hoa trong tiết đấu thu trong

sáng.

Và thế giới của những sinh linh bé nhỏ ấy vio không ngừng tấu lên giai điệu

của đời sống, tiếng hat của tàn phai, hư ảo , gieo vào lòng người niém bí cẳm sâu

xa

"Con chudn chudn, con buom bươm, con đế mèn

Con châu chấu, con ve sdu, con dé đá

Hát ca vang, trên nii đôi "

(trang 145)

Bức tranh Xứ tuyết có khi hiện lên đưới bút pháp của Kawabata như vài nét

chấm phá của tranh thủy mac, như truyền thống của hôi hoa phương Đông Chỉ đưa

mot nét có nhỏ, thế là cả mùa thu rực rỡ sắc màu của lá phong, trái akebi, bá hương

hiện về “Rừng phong thu đã nhuốm mau.”

“Shimamura đứng nhìn trái akebi con nguyên cả cành lá treo lên môi cành

trường khế trang hoàng cổng ra vào Những cành cây đài vừa chặt tưống vươn tới tan

đâu mai hién, ld màu đỏ tưới, bóng loáng và to lớn lạ thường Tất cả lối ra vào váng rife lên một mau than hồng rực rd” (tr 168)

29

Trang 31

Điều này got nhắc tới bút pháp của thì hào Basho trong kiệt tác “Con đường

sâu thấm” toku no hosomuchi) chỉ bằng vài phác hoa đơn so để gd lên vái “thắn”

của xứ vật Mot bong hoa của Basho giản di thé này

Mayu hakio Hoa hồng phân vi

Omokage ni shite Nhớ ui, điểm phan Ben ne hana Té hỏng lan moi

( Nhạt Chiếu dich)

Đường như hoa hồng phan, dường như một nhún sde thiểu nữ, dang làm duyên

với đắt trời vay

Kawabata đi theo đúng con đường (dao) truyền thống của văn chương NhấtBán Đồng thời, ông cũng mang hơi thở hiện tại vào thiên nhiên trong van chương

Không chỉ chú trong phác hoa “than thái của sư vat, ông còn dung công miều tả từng

chi tiết, từng đường nét, dưới nhiều góc nhìn khác nhau Thiên nhiên xứ tuyết dep và

ẩn tưởng, cả về thắn sắc và hình tướng Hãy chiếm ngưỡng hoa lau kaya mùa thu của

Kawabata

Hàm hoa mau ánh bac mà mùa thu đã trải lên các triển nút cái vỏ khoác trắng ngắn mau ảnh bạc huy hoàng lóng lánh rực rd trên nui cao dưới ánh nắng và

toi sang dén độ tưởng chừng như những làn sóng của ảnh váng thu bàng bạc chảy qua

nụav trên mat đất” (tri 33)

“những bông lau óng ánh du dua, màu bạc trắng rực rỡ trong ảnh sảng buổi

scan Sư vựt nở hàng vi dy thật là tuyệt vời, hiếm lạ nhưng cũng mong manh và phù du

biết mdy cùng như vẻ thuần khiết lạ lùng, vẻ trong thanh chứa bao giờ thấy của khung

trời xan lun một ngày thu” (trang 154).

Hoa lau kaya - ánh sáng bạc của xứ tuyết - và còn là biểu tượng tuyệt vời về

lẽ vô thường của thế gian Một vẻ đẹp vô song tạo nên từ bút pháp kết hợp nhudn nhuyễn truyền thống và hiện đai của Kawabata.

* Thiên nhiên xứ tuyết đưới ngòi bút Kawabata còn là một phong cảnh của

tâm hồn: tâm cảnh

Đó là xứ sở của tuyết nơi mà mùa tuyết rơi kéo dài suốt sáu tháng, dd tuyết dày 3, 4 m, nơi mà cuộc sống đường như bị chôn vùi trong tuyết, nơi mà một nằm ít

nhất có 1, 3 tháng tuyết cất đứt mọi phương tiện giao thông liên lac

Tuyết ở đây không nhe nhàng mong manh như có như không như mùa đồng

vúa có do Kyoto Tuyết thức sự là cả cuộc sống của con người chốn này, thâm vào

từng hơi thủ, mach máu

Va vi thể tuyết không chỉ đơn thuần là mot hiện tượng thiên nhiên, ma còn

đước con người cảm nhân ở chiều sâu nhiều tầng bậc như một hiện thể sống, một ước

Vong THÓI pide THƠ,

30

Trang 32

Trước hết, tuyết với bắn chất tĩnh khiết của nó, tượng trưng cho mot khônggian thanh khiết vô ngắn Phía xa xa, trên những ngon núi tuyết ánh lên mot màutrắng bạc lấp lánh những chop núi nhọn phủ dày tuyết như là “nón đôi đấu núi”

Ngoài trời, “những lon tuyết lớn rơi thẳng xuống như những đóa bach mẫu đơn trongmột khung cảnh yên tình, ém dé, thanh bình như có vẻ hư ảo” (tr, 198), Một thế giới

_tedny trong tình tuyên, không một vấn mây xám đục nào Thể giới ấy thanh khiết đến

mite có thể thanh tẩy mọi nỗi niềm, thanh lọc tâm hồn con người “Mau tuyết trắng vóa

làm cho bờ mai dã sâu lại càng sâu thêm, tự hỗ như moi vật đều âm thâm lắng xuống

lòng đất” (trang 16) Mọi bụi bdm trần ai như biến tan dưới tác dụng kỳ diệu của tuyết,

Chẳng thế mà chàng Shimamura mới vừa đặt chân đến xử tuyết thôi mà nhự thể trút bỏ

dược tất cá những gì làm cho chàng bứt rứt bấy lâu nay" (tr 17)

Tuyết lạnh giá có thể che phủ vạn vật, có thể dựng thành băng tuyết Nhưng bản chất bảng tuyết là nước, biến đổi linh động và bất lường Cho nên tuyết, trong

cảm thức của người Nhật, là biểu tượng của sự vô thường, tan biến, mong manh.

Như bông tuyết tung táp đẩy trời, như lâu đài lửa tuyết của bọn trẻ đêm hôi “Budi

chim", như ánh sao phản trong tuyết, như bóng trăng trong nước những vẻ đẹp của hư

do, mong manh, thoát có thoát không Như một bài tanka võ danh:

Một chùm tuyết trang

Trên cành mơ tươi

Hai tuyết cho người

Nhưng lòng tay ấmTuyết tan di rồi

(Nhật Chiêu dịch)

Dưới ánh mất soi thấu của Kawabata, màn tuyết rơi như thể là tấm gương, một hiện tương thiên nhiên có thể phản chiếu thiên nhiên và cả lòng người Có lúc đôi

mất ta như nhìn ngắm núi non cây cỏ qua màn tuyết trong suốt “Rdng núi tuy den sậm

nhưng lại sáng ngời vì ánh tuyết, dường như trong suốt lạ thường: "Những cây bách hương, qua bức màn che mỏng màu trắng, như trỗi đậy trên mat đất tuyết phá * (wang

199) Đất trời cỏ hoa cơ hồ ngời lên một vẻ đẹp mới, trong sáng và tươi mắt đưởi conmat nhìn của tuyết

Và đôi khi tuyết còn soi chiếu cả tâm linh con người Phía sau vẻ ngoài lạnh

lùng của Yoko, bên dưới làn da lạnh mát như tuyết của Komako là những tam hồn

nống nhiệt, sống mãnh liệt và trọn vẹn trong tình yêu, với vẻ đẹp nữ tính đầm thấm

thuần khiết cũng như tế chất của tuyết vay

31

Trang 33

Hình tượng tuyết mang ý nghia biểu trưng biểu tượng của sự ấm áp chứ

không phải của cdi lạnh, không phải của những tình cảm hững hờ xa là “Nhìn vào

bông tuyết, người Nhật không chỉ thấn phục vẻ đẹp tuần hoàn vĩnh cửu của thiên

nhiên ma còn nghĩ về bè bạn người thân” (1)

Xứ tuyết bình yên và ấm áp bởi tâm hồn trong trắng tinh khiết của người phụ

nữ những agười sinh ra để yêu thương và hi sinh Nhà văn Nga Paustopsky cũng viết

môt câu chuyện mang tên “Tuyết” Chàng trai 6 mat trấn về nhà với ký ức ém đẹp về

khu vườn day tuyết, cái chuông treo trên cửa, nến thấp trên cây dương cẩm, chú mèo

giả cuốn tròn trên di vàng Về đến ga, biết cha đã mất, nhà thì có một nữ ca sĩ từ

Moskva su tán cùng con gái, anh không còn hi vong gặp lại ngôi nhà thân yêu trong

ký ức Nhưng kỳ la thay, mọi thứ chàng ước ao đang hiện ra trước mắt cô ca sĩ đãđọc những bức thư và làm tất cả để đợi chàng Tuyết của người Nga ấm áp như

những gì gắn gũi than thương nhất.

` Nhà văn Nga Paustopsky và nhà văn Nhật Kawabata “đều kể về tuyết như su

` thanh bình của tình yêu thương, đối lập với sự khốc liệt của lòng hân thd” (3) Đó là

! sự đồng điệu của những tâm hỗn cao quý

Như thé, tuyết được thể hiện như là một hình tượng có sức gợi cắm manh mẽ,

được thấu cảm như là một nguồn lực thâm trầm của đời sống

Hình ảnh tuyết của Kawabata làm ta bất ngờ nhớ tới những làn sóng biển động

ở bờ biển Suma khi chàng Genji sáng chói bị lưu day bỏ lại người vợ trẻ Murasaki ởthành đô Hình tượng “sóng” như một lực tâm lý mạnh mẽ, Đó không chi là sóng biểnthật sự đang gam gao bên bờ Suma mà còn là mưa bão ngập lụt ở kinh đô Nó gợi lênnhững tai họa chia cắt, gió mưa trấn thế trút xuống cuộc đời Genji Hơn hết, nó lànước mất, là cơn sóng lòng đau khổ nhớ mong khắc khoải của nàng Murasaki Hai

người tình son trẻ ở hai mién thương nhớ nhìn sóng biển mà sóng lòng cuộn lên

Sóng biển làm gì ở Suma

Ơ nhà tay áo ướt nhòe lệ rơi.

* Thiên nhiên thần bí và thiêng liêng

Với tín nguOng dan gian Thần đạo, người Nhật nhìn thấy sự linh thiêng hay

“kami” (than linh) trong mọi hiện tượng thiên nhiên Trong núi sông bờ bãi cỏ hoa

đều ẩn chứa một thin linh Do vậy, khi người Nhật giao tiếp với thiên nhiên là hướng

về một linh hén, một than linh mang hình dáng thiên nhiên Khi ngồi dưới bóng hoa

đào, thưởng ngoạn lá thu hay nhìn ngắm tuyết bay, họ không chỉ hướng tới cdi đẹp mà

vòn muốn giao cảm với linh thần của cây hoa, của rừng thu của trời tuyết

(1) Rekho K, Âm vang Thién trong sảng tác của Kawabata Yasunan, Tap chỉ

khoa học vũ hội, số 1/1991, tr 11S

(2) Trân Thị Phương Phương, những cuộc gặp gỡ với Kawabata của người Nea,

ký yếu hội thảo khoa học vẻ Kawabata 29/11/1999, ĐHKHXHNV TP.HCM

32

Trang 34

Tiểu thuyết của Kawabata cũng nằm trong niềm tin ấy, Vì thé, thiên nhiên Xứ

tuyết là thiên nhiên thắn bí và thiêng liêng Mỗi biểu hiện thiên nhiên là kết tính anh

hoa của trời đất tuyết mây

Xứ sở của tuyết (tuyết quốc) với tuyết thanh khiết bao phủ khấp góc núi bờkhe, cạnh cây ngon có và những con người tâm hồn trong trắng, dịu dang, tân tuy, bao

dunw, như Komako, Yoko và thực sự là một thế giới của thanh lọc và hiển lương.

Thế giới ấy như một Thiên đàng giữa tran thé, một bức thành bằng tuyết ngăn lọc

moi tính toán, lừa lọc, phản trắc, mưu mô, ghen ghét, danh lợi không có gì trong sudt

như tuyết, nhưng cũng không có gì che giấu được ánh nhìn xuyên thấu của tuyết

Và núi non chập chiang xứ tuyết cũng như ẩn chứa một thần tính “Trén sudt

đọc duyên hóa phía bắc, biển cổ mùa thu gdm thét lên và ở đây ngay giữa lòng xứ núi

non cling thd dài âm i nghe như tiếng sấm rên xa xa Dân trong xử gọi là “tiếng rấm ri

của long đất”(ưang 313) Núi non chuyển mình giữa thời khắc giao mùa như cất tiếng

gọi những mùa tuyết lớn Đó là “tiếng rên của núi” trầm vang từ sâu trong lòng đất

vọng ra ma có lần nhân vật Shingo của "Tiếng rén của núi” đã cảm thấy trong đêm.

Tín ngưỡng dân gian tin rằng : đó là dấu hiệu của sự chia ly Với ông gid Shingo, đó

là sự chia biệt với cuộc sống Cdn với Shimamura, có lẽ cái "tiếng xắm xì cảm lắng

của một tiếng gdm bên trong tai chàng ấy là bất đầu của cuộc chia tay với thiên nhiên

và con người xứ tuyết hiển hòa và tươi sáng này :

Có khi thiên nhiên huyền bí thiêng liêng như một giấc mộng đời Diy là giấc

mông từ một dải Ngan Hà sau thẩm Ở 46, con người rời bỏ tự ngã, hòa vào thiên

nhiên hình thiêng.

“Dai Ngân Hà Hình ảnh thuận khiết và gắn gũi của một niềm khoái cằm dz dội,

trong dé Shimamura thoảng tưởng tượng thấy bóng dáng của chính mình nổi bật lên thành cơ man là hình bóng, căng trùng trùng điệp điệp như khối lượng tinh hà, cũng

nhân lên thành những hình bóng khác nhiễu vô tận như những đốm bạc trong cải anh

nắng trắng đục như sữa trên cao cho đến tận cái ánh phản chiếu của những đám mây

mà mỗi giọt nhỏ li tỉ và tỏa sáng lẫn lộn vào vô cùng vì bầu trời sáng sửa và thanh tiêu

và trong vat không tưởng tượng” (tr 221) `

Ngân Hà sáng trong và thanh khiết, không vương chút bụi trần, giống như giấc

md hoa bởi “cái đải bảng vô tân đó, cái mạng che hết sức mong manh đó như được

đệt ra từ trong vô tân”

Trong mỗi chúng ta đều có một Ngân hà, một giấc mơ của cái Dep Như tinh

cầu lấp lanh như là “những quả chuông nhỏ biết cười của Hoàng tử Bé (Sau Excupéry) Như những vì sao biết trò chuyện trong Đường lên Ngân hà của Miyazawa

-Kenji Ngan Hà — những vi sao lấp lánh trong trái tim giúp con người chống lại bong tôi và giá lạnh

3

Trang 35

"Một đải Ngân Hà cháy

Trong sâu thẳm chúng ta

Bạn biết chăng? Hãy hát

Lời véu với Ngân Hà ”

Thiên nhiên Xứ tuyết được khắc họa tuyệt đẹp bởi chính bản thân nó và bằng

cá bút pháp kết hợp nhuẩn nhuyễn truyền thống - hiện đại, bằng cả- niềm kính ngưững tư nhiên tư ngàn xưa của tâm hồn Phù Tang được chuyển lưu qua dòng van

chư trác tuyệt.

Thuên nhiên phong phú và ky thú ấy còn được chiếm nghiệm từ những góc nhìn

hết xức độc đáo riêng có của Kawabata.

3 Thiên nhiên từ những góc nhìn độc đáo

Vẻ đẹp thiên nhiên thì kì điệu và phong phú vô ngần, luôn luôn mới mẻ, luônluôn quyến rũ Anh nhìn của Kawabata cũng đa dạng và rộng mở mới mong soi chiếu

vẻ đẹp ấy từ nhiều góc độ thú vị

* Có khí đó là thiên nhiên của sự vận động, tương tác, tương hợp

Nói như Isamu Kurita, thiên nhiên như một năng lực sáng tạo Thiên nhiên

trong thế giới của Kawabata xoay chuyển trong vòng luân hồi của sự sống Một

hoàng hôn đa sắc trong phút chuyển giao bóng đêm và ánh ngày được diễn tả thế

này:

thung lũng dang chìm ngập trong bóng tối Phía xa, những ngọn núi hãy còn

rực rử dudi ánh sáng hoàng hôn, trắng xóa một màu dạ quang làm nổi bật sự tương

phản với những bóng tốt của hang hdc và trông như có về gắn hơn dưới nên trời đỏ di"

(tr 182)

Bóng tối và ánh sáng quyện lẫn trong vũ điệu trầm tư của màu sắc Từng chút,từng chút một, trời đất tiến bước trong nhịp điệu thâm trầm của vẻ đẹp

Đôi lúc, một sự vat dường như vô tri vô giác đưới sánh nhìn của Kawabata

cùng bừng lên sự sống: “Những vỏ đậu khô, những hạt đậu nhảy múa như những giot ánh sáng” Đôi mất soi thấu của Kawabata nhìn thấy vẻ dep, thấy sự sống ở moi

hiện thể đù là tế ví nhất, của thiên nhiên

* Có khí đó còn là thiên nhiên của hồi tưởng

Thiên nhiên trí trước mắt vốn đã đẹp Phóng chiếu vào thế giới của hồi ức,

tưởng tương, thiên nhiên ấy càng lung linh những ánh sáng mới Giống như khi

Shimamura nhìn đám chuồn chuồn cuồng loạn mùa thu ở xứ tuyết mà bất giác nhớ tới

“vẻ mùa ha, những con chuồn chudn ngô thanh bình bay lượn một cách oai hùng và

đầu ca lên mũ, lên cánh tay áo lên gong kính”, hay liên tưởng đến bon chuồn chudn

Trang 36

bẩn loạn và pho phiếm của thị thành, “cũng thể như mot ang mây nhẹ khác với mốt

vũng nước ban” (ir 145).

* Kawabata luôn luôn qui chiếu thiên nhiên về cơ thể con người.

Po là điều đặc biệt nhất trong bút pháp thể hiện thiên nhiên của ông Thiên

nhiền Juda luôn được miêu tả trên cơ thể con người, tạo nên ấn tượng tuyệt đẹp như

một mãnh lực vô bien của vẻ đẹp.

Ta không thể nào quên đốm lửa của một đêm đông nơi xứ tuyết chập chờn

phiêu lưu trên trùng đương núi rừng đêm tối, rồi bất ngờ lóc rạng ngay chính giữatrong mat Yoko “Pe la lic một ánh hia xa xôi bỗng ngời sảng ngay giữa khuôn mat

dnh lứa dt đông lan lẫn ngàng qua khuôn mat Và khí tia sáng Yếu dt của Hộ rot ngay

chink eta trùng mắt người con gái, ảnh nhìn lẫn với ảnh lửa xa, con mắt ấy tưởng nhí

một dom fin inh myét đẹp huyền do dang vật vờ bên trừng dương nui rừng Đưốt tốt”

(tri

Dom lửa nhỏ nhoi yếu ớt giữa bóng tối dày đặc và lạnh lẽo được đôi mắt thién

tài của Kawabata dat trùng khớp với mắt người con gái, mà tròng mắt ấy cũng dang được phản chiếu trên tấm kính cửa tàu đêm, bất chợt bừng lên những ánh sáng huyền nhiệm vô song Sự huyén dụ ấy chỉ có thể có ở một thế giới khác, thế giới mà võ vàn

hình bóng của cuộc đời và tự nhiên hòa nhập vào nhau Chiêm ngưỡng một đốm lửa

trên tấm gương tròng mắt của người con gái - trong một tấm gương khác - kính cửa

toa làu - mot thế giới quyến rũ siêu nhiên thì có lẽ chỉ thấy trong ánh nhìn của

Kawabata, ,

Phong cảnh rừng núi chừng như bất động Vậy mà như trôi lướt cùng với vô

vàn bóng ảnh: “Trong chiều sâu của tấm gương phong cảnh buổi tốt ở đằng xa lan

han kéo qua như một day gương di động: những hình người phản chiếu rõ ràng hum

trên mặt gương nổi bật trên đáy như những hình ảnh chéng lên nhau của một khúc

phim tạo nên một vũ trụ kỳ do và duy nhất, một thứ thế giới tượng trưng siêu nhiên không phải ở thế giới này "(trang 14).

Rừng núi cỏ cây được con mắt nhà văn đẩy vào sau gương bổng bénh trôi lưới

như đáy gương di động mờ ảo và dm đạm hòa vào những bóng người trong suốt, như

có như không, thoất ẩn thoắt hiện Sự huyền ảo được đẩy lên đến mờ mit, chỉ toàn là

hình bóng Tưởng chừng như ta nhìn ngấm cảnh rừng đêm xuyên qua những bóngngười trong suốt Con người đường như là chiếc gương của thiên nhiên

“Phong cảnh bénh bồng trôi qua trong một cằm xúc mơ hỗ và quanh hiu mênh

mông ‹ hàm dn đưới khuôn mat đẹp gợi cảm và dat ra chung quanh Hình ảnh hut ảo ấy khuến cho khuôn mat trở nên trong vuốt phong cảnh nhự thể hiện ra trên tương mat”

tir 12)

Going mặt trong suốt trong gương Hay chính gương mặt ấy phan chiếu thién

nhiền Do là thế giới của hình và bóng, thé giới của chiếc gương soi cát Đẹp, Và với

35

Trang 37

Kawabata, đó là *thẩm mĩ của chiếc gương soi” (Nhật Chiêu) “Con người và

thiên nhiên trong tác phẩm của Kawabata luôn luôn chiếu ánh lẫn nhau như thể mỗi

bên déu là gương soi” (1) Như lời một bài tanka của thiển sư Myoe:

Tim tôi ngời chiếu

Anh váng vô cùng

Thể mà trăng ngờ Đây là ánh sang Chiếu ngời từ trăng

Trong trái tim rang ngời ánh trang của thiển su, "không chỉ tâm ta soi chiếu thé

giới mà thé giới cũng soi chiếu tâm tá " (2),

Và nghệ thuật của Kawabata có thế được mệnh danh là chiếc gương soi của cái Đẹp Trước hết, đó là cái đẹp của thiên nhiên

Một đốm lửa đẹp hư ảo trong con mat của Yoko.

Và tuyết mùa đông cũng ngời sáng trong chiếc gương soi con người Tuyết

chiếu trên gò omako

"Mau trắng mà chàng đã thấy trong đáy gương, chính là màu tuyết, và lơ ling ở

giva, mội màu đỏ rực của đôi má người đàn bà Cái Đẹp của sự tương phản ấy thật là

thuân khiết, thật là mãnh liệt vì nó bén nhọn và sống động biết bao Trong tấm gương

mau tuyết lại càng thêm rực rd, tưởng chừng như băng tuyết dang rực cháy" (tr 63)

Gò má đỏ rực tươi thấm và rạng rỡ của người con gái làm nổi bật màu trắng

bạc tinh tuyển của tuyết Và mau tuyết phan chiếu trên đôi má đỏ rực của Komakodường như cũng bừng cháy, như tâm hồn nồng nhiệt của nàng vậy Komako rạng rỡlên trong phản chiếu của tuyết Tuyết rực cháy trên gò má Komako Thiên nhiên

tuyệt đẹp trong tương chiếu với cơ thể con người.

Và cả ánh trăng thu huyền hoặc cũng được cảm nhận trên chiếc gương đặc biệt

kỳ thú ấy Trăng chiếu ánh lên vành tai Komako: “Saw lung nàng, ánh trăng rực rd,

trong sáng đến độ vành tai nàng có bóng viễn rõ rệt, chênh chếch chiếu vào phòng làm

nhitng chiếu trải trên sàn nhà bóng loáng một màu nước xanh hé thảy và lạnh lẽo” (tr

Trang 38

Co lúc ảnh trang thực sự là từ một thé giới ngọc ngà khác khi sor chiếu lên

gương mat Komako “Anh trăng hắt lên lan phẩn min mang của gương mặt geisha ong

ảnh chiếu lên như vỏ trai” (tr 131) Phấn trắng trang điểm cho Komako hay chính anh

xà cif long lánh của Hằng Nga đã tự điểm trang cho nang? Làn da trắng ngắn bồng chốc hỗa thành chiếc gương trong suốt phản chiếu vẻ đẹp thanh khiết nhất của thể

gian này Anh trang "Mỗi cái nhìn của con người trao cho trang một ánh sáng, mot

hình thé Trắng không chỉ là trăng mà còn là muôn ngàn cái bóng của nó" (1) Bóng tring và làn da thiếu nữ div nhau trôi thong dong trong cuộc chơi bất tận của ánh

sáng “Trăng võ sự chiếu người vô sự” (Trần Nhân Tông) Một vắng trắng bất tuyệt

trong tâm hồn.

Cá dải Ngắn hà huyền bí thẳm sâu của vũ trụ cũng được sói chiếu trong mối

tưởng quan với con người,

“Cut vắng câu long lanh đâm bổ xuống về hướng hai người dang chạy dường như

baw trum lay đâu Komako trong vắng sảng lấp lánh của nó”

Ngắn Hà như dang rong vòng tay bao dung của nó ôm lấy trái đất tốt đêm như

người Me của vũ tru, ôm ấp cả mỗi sinh linh bé nhỏ trong ánh sáng không soi bóng:

“Anh sảng của tinh hà rô ràng là tỏa ra rực rỡ hơn cả ánh trang rằm vàng vac sự

lấp lánh lan tăn của đải Ngân hà không có sor bóng ai trên mat đất và ánh sáng ma

quái của nó khiến cho gương mặtKomako có một vé kỳ do như chiếc một nạ cổ xưa,

dưới do liện rõ một sắc diện nữ tính" (tr 225)

Anh sáng rạng rỡ của Ngân Hà không để lại một bóng nào trên thế gian này.

Bởi nó thể nhập hoàn toàn vào vẻ đẹp nữ tính của con người Anh sao huyén ảo phủ

lên con người một chiếc mặt nạ kỳ ảo Và con người mang lấy một sức mạnh khác.

một cái bóng huyén dụ khác Vì con người cũng là bóng nên Ngân Hà đâu để lại mot

ánh hiện nào Vẻ đẹp dường như đến từ thỉnh không.

Thiên nhiên xứ tuyết luôn gắn với con người Cũng có nhiều nhà văn thể hiện

vẻ đẹp của thiên nhiên trong ánh nhìn đó Tuy nhiên , Kawabata sử đụng góc nhìn

này thường xuyên và hiệu quả hơn cả Bởi thế cũng độc đáo hơn cả Ong cho ta thấy

vẻ đẹp của đốm lửa trong mất Yoko thấy sương tuyết trên gò má Komako, chiêm

nguSng ánh trăng thu trên vành tai và làn phấn geisha của nang, nhìn ngắm Ngân Hà

sâu thẳm bao dung trong chính hình bóng dung nhan nàng Có thể nói, Kawabata

luôn ludn quy chiếu thiên nhiên về cơ thể con người trong thế giới van chương của

ông, từ Cố đô, Ngàn cánh hạc đến Cánh tay

Đỏ là mùi hoa lan thơm nông thấm vào từng ngón tay của thiếu nữ trong Cánh

tay: “Hoa mộc lan dang nở lớn Cánh tay cô gái dang nằm trên bàn bắt đầu dong

day, các ngón tay nhích tới như sâu đu và gom nhị hoa vào lòng bản tay mình” (tứ

194).

(L) Nhật Chiéu, Trăng ut so nguyên, Gide Ngo “672000 , tr 65

37

Trang 39

Hướng hoa nồng nàn đến mức thấm qua lan da nhạy cảm của người con gái Va lần

da như phat tiết hương thơm.

Đó là áo Kimono khoác cả thiên nhiên lên con người trong Cố đô Những chiếc

obi (thất lưng) hài hòa và mang hơi ấm tâm hon Obi với họa tiết cúc đại đóa và chiếc

lá cách điệu mém mai mặc được quanh năm Những chiếc lá phong đỏ rực rỡ trên obsdùng cho mùa thu Obi “dét những day núi phủ đẩy thông liễu và thông đỏ ` thì thật sư

là một kiệt tác dành cho lễ hội Những cây thông liễu của Bắc Sơn “moc thành hang

tựa những món đố chơi mà lá trên ngọn cây thì na ná như những loài hoa giản dị.,

chang hé chói loi” (1) Những bông hoa mà khi sương tuyết buông thì bất ngờ đồngloạt nủ rô Thất một chiếc obi như thế thì cả thiên nhiên nhịp bước cùng mỗi cử độngcủa ti Thién nhiền được tái hiện đưới bàn tay người thd dét và tương hợp với dáng

hình thiểu nữ

Thiên nhiên còn là ngàn cánh hac trắng bay trong chiếc khăn màu hồng củu

nàng con gái nhà Inamura trong Ngàn cánh hac Và những cánh hac trắng bay lượn

khắp vác trang sách như chính tên gọi của tiểu thuyết Người thiếu nữ cơ hỗ như mang

cánh hac cao khiết theo mỗi bước chân đi của nàng Nàng cũng thanh sạch và trong

sáng như hac trắng kia vậy Chẳng thế mà Kikuji “tưởng như ngàn cánh hac nhỏ mà

trắng tung bay quấn quit xung quanh người nàng và bây hac trắng in chiếc khăn của

cô gái nhà Inamura bay qua vẳng mặt trời chiều và chúng vẫn còn ngu trị trong mắt

chang", (2)

Dưới thẩm mỹ quan của Kawabata, thiên nhiên luôn gắn với một cái nhìn, một `

cánh tay, một vành tai với cả tâm tưởng của con người Trong văn chương ông, ta

cảm nghiệm thiên nhiên trên đôi mất Yoko, trên bờ má Komako trên áo kimono, trên khan furosiki, trên một cánh tay thiếu nữ Giống như núi non trong mắt chuồn chudn, thiên nhiên luôn lấp lánh một ánh sáng huyén nhiệm trong tương quan, tương phản với con người - tiểu thiên địa hòa nhập với vũ trụ bao la.

Dường như Xứ tuyết ngập tran vẻ đẹp của hoa cỏ, đất trời đã thấm sâu từng hơi

thd của tạo hóa Và kết tụ tinh tế trong vẻ đẹp huyền thoại của người phụ nữ, vẻ đẹp

của nữ tính muôn đời.

II VE ĐẸP NU TÍNH

Hình bóng người phụ nữ Nhật Bản thấp thoáng trong văn chương Phù Tang từ

thuở trời đất mới tựu thành huyền thoại.

Trong một truyện cổ, cô gái Phù Tang được người mẹ để lại cho một chiếc hộp

quý, móa quà ngày cô thanh thiếu nữ mở hộp ra, cô gái không những thấy bóng mình

(1) Cả đô, Thai Văn Hiếu dịch NXB Hải Phòng, 1998 trang 174.

(2) Tuyến tập Y Kawabata, NXH Hội nhà van, 2001, trang 564

38

Trang 40

trony chiếc gương soi, mà còn có mot bóng dáng khác gidng hết cô, người mà cô thừa

hutiny ca nhàn sắc lẫn lình hồn Đỏ chính là hình bóng Người Me

Va hàng ngàn nâm qua, người phụ nữ ở quần đảo hoa anh dao mang trong

mình vé đẹp dịu dang của hoa cỏ thiên nhiên và tâm hồn người Nữ vĩnh cửu Với

Murasaki Ser Shonagon, Komachi, Izumi, Higuchi Ichiyo , văn chương Phù Tang, từ

khởi thủy đã chuyến lưu làn hương nữ tính muôn đời

Vii Xứ Tuyết, Kawabata đưa ta lãng du trong thé giới huyền hoặc của những

hình bóng phụ nữ tuyết đẹp: Yoko, Komako, thiếu nữ dệt chijimi

1 Tâm hén thuần khiết - Ung xử địu dàng

Những người phụ nữ sinh ra giữa không khí thanh sạch và màu trắng trình bạch

của Luyết cũng trong sáng thuần khiết như là tuyết vậy Dường như họ được tạo thành

từ chát nước: Nước tinh khiết từ những bông tuyết bay đẩy trời, nước ndng ấm từnhững dòng ôn tuyển vô tân Mà bản chất của nước là âm tính địu dàng, là thuấn

khiết và có quyền năng thanh tẩy van vật

* Con người trong sáng thuần khiết như tuyết

Vé đẹp thuần khiết ấy hiện lên ngay trong ánh chiêm ngưỡng đầu tiên Đó là

khi Shimamura bất ngờ nhìn trên khung kính toa tàu “con mắt một người phụ nữ hiện

lên chap chờn trước mặt làm chang suýt kêu lên vì kinh ngac “ Và khi đốm lửa xa

xôi và lạnh lêo lấp lánh chạy ngang qua gương mật người con gái trên nên đêm tối

trong toa tàu khiến cho ánh nhìn rực sáng một vẻ siêu nhiên trong giây lát thì như thể

là một cảnh tượng thuần khiết, không lời diễn đạt, như một giấc mơ trong giây phút

cuốn bởi người con gái mà không hiểu như thế nào hay tại sao” (trang 169)

Bởi ngây thơ và trong sáng nên đôi mắt xuyên thấu mọi chuyện Ánh sáng

thanh loc mãnh liệt ấy có khi làm Shimamura bối rối không it lin “Pdi mắt nẩy lứa

nhình thẳng Shimamura, đẹp và mãnh liệt đến độ chàng có cảm tưởng nó đâm suất

người mình” (trang 178) Đối diện với ánh nhìn trong suốt của nang, không một tà ý

nào vỏ cơ tổn tại,

Ve đẹp của ánh mat hay chính linh hồn thuần khiết của Yoko đã tỏa rang sức

rung cam mãnh liệt đến thé?

39

Ngày đăng: 04/02/2025, 15:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w