1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Quốc tế học: Sự hình thành và phát triển của cộng đồng người Ấn ở Đông Nam Á (1947-2020)

61 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Hình Thành Và Phát Triển Của Cộng Đồng Người Ấn Ở Đông Nam Á (1947-2020)
Tác giả Nguyen Ngoc Thuy Trang
Người hướng dẫn TS. Nguyen Tra My
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quốc Tế Học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 63,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và cuối cùng là đưa ra các khía cạnh thú vị và tiềm năng của cộng đông người Ấn ở Đông Nam Á trong tương lai, bao gồm cả cơ hội và thách thức trong việc thúc đây sự phát triển và hội nhậ

Trang 1

TRUONG DAI HỌC SƯ PHAM THÀNH PHO HO CHÍ MINH

KHOA LICH SU - NGANH QUOC TE HOC

Giảng viên hướng dẫn: TS NGUYEN TRA MY

Sinh viên thực hiện: NGUYEN NGỌC THUY TRANG

MSSV: 4501608187

Lớp: QUOC TE HỌC C

THANH PHO HO CHi MINH, THANG 4 NAM 2023

Trang 2

TRUONG DAI HỌC SƯ PHAM THÀNH PHO HO CHÍ MINH

KHOA LICH SỬ - NGANH QUOC TE HỌC

TP HO CHI MINH

KHOA LUAN TOT NGHIEP

DE TÀI: SỰ HINH THÀNH VÀ PHAT TRIEN

CUA CONG DONG NGUOI AN O DONG NAM A

(1947-2020)

Giảng viên hướng dẫn: TS NGUYEN TRA MY

Sinh viên thực hiện: NGUYEN NGỌC THUY TRANG

MSSV: 4501608187

Lép: QUOC TE HỌC C

THANH PHO HO CHi MINH, THANG 4 NAM 2023

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thời gian thám thoát 4 năm đại học của em đang tiến tới những ngày cuỗi cùng

của quãng đời sinh viên tươi đẹp tại khoa Lịch Sử - ngành Quốc Tế học Khóa 45 tại

trường Đại học Sư phạm TPHCM Tôi có chọn cách kết thúc một cách ít thử thách hon

khi học 6 tín chỉ thay thể cho khóa luận, nhưng tôi đã lựa chọn làm khóa luận tốt nghiệp

với mong muốn bản thân vượt qua thứ thách một lan nữa trước khi kết thúc những ngày

thang sinh viên Và tôi đã quyết định thực hiện dé tài “Sw hình thành và phát triển của

cộng dong người An ở Đông Nam A (1947-2020) ” Trong suốt quá trình làm khóa luận,

em đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô các anh chị và các

bạn.

Với tất cả lòng biết ơn, trước hết em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô Nguyễn

Trà My, người đã vô cùng tận tình khi hướng dẫn em thực hiện và hoàn thành khóa luận

tốt nghiệp đúng thời hạn

Em cũng xin cảm ơn quý thay, cô Khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Thành

phó Hồ Chí Minh đã giảng day và góp ý cho em.

Do kiến thức và khả năng lý luận còn nhiều hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiểu sót nhất định Em rat mong nhận được những đóng góp của các thây/cõ

dé khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, em xin kính chúc quý thay cô và các bạn đôi đào sức khỏe và thành

công trong sự nghiệp.

Xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Ngọc Thùy Trang

Trang 4

MỤC LỤC

LOT CAM ON 444 3

JO!) Eo 5

C9 i pm đề ĐÁ sscccccccscsssconcsznccsevvsssscosenanecieveresaencsennisiaresenonesnnnreenesneesseummemannmneneierann 5

2 Mục đích nghiên cứu đề tai sssssscssssssssssssssssesccsssssesssessnsusseesssssseeceessnusesseesssssesesssssnseseesssnnesseeses §

3 Lịch sử nghiên cứu để tai os-csscss on nha 0150055023900990999299009900505890093099303990958099809509 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Cấu trúc khóa luận

CHƯƠNG I SỰ ĐI CƯ CUA NGƯỜI ÁN DO DEN ĐÔNG NAM A TỪ SAU THẺ KY XVII

ĐỀN THỂ KỶ XX ecnitibetookiiitiititiGG111210013151115511156513358183880138843385886965536858485483360315380356138885638381598555655568

1.1 Sự đi cư của người Án Độ đến Malaysia

1.1.1 Nguyên nhân của sự di Cư «55g

1.1.2 Đặc điểm quan trọng về sự di cư của người Án Độ đến Malaya hiện đại

ðŠ3ã688ã55515888558888555588ã555ã8388638563ã58ã685888ã8351358ãS58868ã58898ã6381658ãS5ã89585888555385655535ã8555888555535358588 13

1.2 Sự di cư của người Án Độ đến SingaporFC -.ss set xerEvAxeSEkkesrkssrtvxeressrsservxe 14

1.2.1 Mô hình định cư của người Án Độ tại SingapOFC eeSeeeeeee 141.2.2 Sự đóng góp của người An Độ cho cơ sở ha tang và kinh tế ở Singapore

Sãÿ8335555855585858535583638552555ã5358555555558533355ã553ãE38555838555558583ã58ã55555565558555855555855385555555556555 16 CHƯƠNG 2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN CONG DONG DAN CƯ ÁN BQ Ở MOT

SỐ QUOC GIA DONG NAM A (1947 - 2(02()) HH HH HH A1114 14411446 44 18

2.1 Sự hình thành và phát triển cộng đồng dân cư Án Độ ở Malaysia ssssssseesseesseesseeseesseeees 1§

2.2 Sự hình thành và phát triển cộng đồng dân cư Án Độ ở Singapore -‹‹-«- 31

2/3:IC§np đồng Ân Bộ Gii/VIỆ NGHĨ Giottii610051G500G0300350160021311138164118430333633363443461334333303438350330843 40

CHƯƠNG 3: TÁC DONG CUA VIỆC HÌNH THÀNH CỘNG DONG NGƯỜI AN ĐỘ DEN

QUAN HE QUOC TE O KHU VỰC DONG NAM Á gi rerereeervee 44

Bids Wikio eaWi Gang BĂTHđ GA sssssscccscscsscccsscsscsssssasscassasssesssesstasssssavsccsscasseasicssssasscsasaassasdtascssacossssnscasseaases 44 3.2 Thời kỳ hiện đại: Những người lưu trú đến hải ngoal csecssseeceseesseesseecsseesseessserssessveessees 4ã

3.3 Vai trò của Quân đội Quốc gia Án Độ (INA) đối với các cộng đồng An Độ ở Đông Nam A

8333133435853283583333396534383035884832331335833583633835533558835333332335333338358358333335833515835384936331433353503333853333389333235129488388332 47

3.4 Bức tranh tổng quan về “người Án Độ ớ Đông Nam A”: Một cộng đồng không ding nhất

và sự phân DARE co cecsieieiiiinieHSOE014001104010400044602030406041604150480646 a

3.5 Cách tiếp cận của An Độ đối với người An Độ ở Đông Nam Á

KẾT LUẬN citsiintstreisioitioSEE21151315211156113601163310338818851455355633136513358018881018854856380518553855135145381180532058851351385E 59

TAIIIEUTTãHAMIKHẢAO: 60

Trang 5

biệt là sau khi Án Độ giành được độc lập vào năm 1947 đã đóng góp tích cực vào nền

văn hóa, kinh tế và chính trị của các quốc gia Đông Nam A, tạo ra một cộng đông đa

dạng và phong phú.

Bên cạnh đó dé tài này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu quan

hệ đối ngoại giữa các quốc gia Đông Nam Á và Án Độ và làm rõ hơn về các liên kết lịch sử va văn hóa giữa các quốc gia này và giúp thúc day sự hiểu biết và hợp tác trong

khu vực.

Ngoài ra, đề tài này còn đưa ra những câu hỏi thú vị về các van dé như chính trị,

văn hóa, xã hội, tôn giáo và kinh tế trong cộng đồng người An ở Đông Nam A Việc

nghiên cứu những van đẻ này sẽ giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển và tiền hóa của cộng

đồng này qua thời gian

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích của nghiên cứu đề tài "Sự hình thành và phát triển của cộng dong người

Ân ở Đông Nam A (1947-2020)" là đưa ra một cái nhìn toàn diện vẻ sự hình thành, pháttriển và tiễn hóa của cộng đồng người Án ở khu vực Đông Nam A trong giai đoạn từ

năm 1947 đến nay.

Cụ thé, báo cáo sẽ tập trung nghiên cứu tông quan về sự di cư và định cư của người Án Độ tại Đông Nam Á, bao gồm cả lịch sử, lý đo, phương thức và quy mô của

các cuộc di cư Bên cạnh đó, phân tích về văn hóa và xã hội của cộng đông người An ở

Đông Nam Á, bao gồm các yếu tố như tôn giáo, ngôn ngữ, phong tục, truyền thông và

lối sóng Ngoài ra, báo cáo cũng nghiên cứu về tam ảnh hưởng và đóng góp của cộng

đồng người An vào sự phát triển kinh tế, chính tri, xã hội và văn hóa của các quốc gia

Đông Nam A Và cuối cùng là đưa ra các khía cạnh thú vị và tiềm năng của cộng đông

người Ấn ở Đông Nam Á trong tương lai, bao gồm cả cơ hội và thách thức trong việc

thúc đây sự phát triển và hội nhập của cộng đồng này vào văn hóa và kinh tế khu vực

Trang 6

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về Đông Nam Á nói chung cũng như về sự di cư, hình thành và phát triển cộng đồng của một quốc gia đến một quốc gia khác từ lâu đã được các nhà nghiên

cứu quan tam đến Cho đến nay, một số lượng đồ sộ về những công trình, về những tác

phẩm về các quốc gia ở khu vực Đông Nam A, cụ thể là An Độ đã được công bó, xuất

bản và lưu hành Phan lớn là những công trình tập trung vào việc dịch thuật và bô sung

Đề tìm hiểu rõ hơn về dé tai, khóa luận đã kế thừa những thành tựu nghiên cứu chủ yếu

sau:

Một trong số các tác pham lịch sử quan trọng vẻ chủ dé này là "Indians in

Southeast Asia: Sojourners, Settlers, Diasporas” của Tiến sĩ Amba Pande Cuốn sách

nay bao quát lịch sử sự đi cư của người An Độ đến Đông Nam A, từ những người đầu

tiên đến đến những nhân vật lich sử nôi tiếng như Gandhi và Tagore Tác pham này

cũng dé cập đến các cộng đồng người Án Độ dang sông trong khu vực hiện nay

Tác phâm "India’s Historical Impact on Southeast Asia" của Patit Paban Mishra

cũng tập trung vào lich sứ của sự di cư của người Án Độ đến Đông Nam Á Tác giả đưa

ra những bằng chứng về việc ảnh hưởng của An Độ đến khu vực nay, từ thời kỳ của các vương quốc Hindu-Buddhist đến thời kỳ dé chế Chola ở Nam Ân Độ.

"India and Community Building in Asia: From Idealism to Realism" của K.V.

Kesavan cũng đưa ra một cái nhìn sâu sắc về tam quan trong của sự di cu của người An

Độ đến Đông Nam A Tác giả giải thích cách mà An Độ đã đóng góp cho việc xây dựngcộng đồng ở Đông Nam Á, từ những hoạt động văn hóa đến những chính sách nhằmcủng cô quan hệ giữa An Độ và các quốc gia trong khu vực

Cuốn sách “Indians in Southeast Asia" của eGyanKosh, IGNOU cũng tập trung

vào lịch sử sự đi cư của người Ân Độ đến Đông Nam Á Tác phẩm này cung cấp một

cái nhìn đa dạng về các cộng đồng người Án Dộ đang sống trong khu vực này và tầm

quan trọng của các cộng đồng này trong việc phát triển quan hệ kinh tế, văn hóa và

chính trị giữa Án Độ và các quốc gia Đông Nam A Ngoài ra, cuỗn sách cũng trình bay

những van dé thú vị như vai trò của các tín đồ Hindu va Sikh trong việc thúc đây sự hòa

bình và đoản kết giữa các tôn giáo khác nhau trong khu vực

Bên cạnh đó, tác phẩm “India’s Historical Impact on Southeast Asia" của Patit

Paban Mishra tập trung vào việc phân tích những ánh hướng lịch sử của Án Độ đếnĐông Nam Á Tác giả khám phá những mỗi quan hệ giữa các vương triều Án Độ và các

dé chế ở Đông Nam A, đặc biệt là việc truyền bá văn hóa và tôn giáo từ An Độ sang

Trang 7

các quốc gia này Tác phẩm này cũng dé cập đến những tác động của Án Độ đến việchình thành và phát triển của các quốc gia Đông Nam Á.

Ngoài ra, cuốn sách “India and Community Building in Asia: From Idealism toRealism" của K.V Kesavan đi sâu vào việc phân tích vai trò của An Độ trong việc xây

dựng cộng đông ở châu A, đặc biệt là khu vực Đông Nam A Tác phẩm này bao gồm những bài viết của các chuyên gia đến từ An Độ và các quốc gia khác, dé cập đến những

thách thức va cơ hội trong việc thúc day sự hợp tác và phát triển cộng dong trong khu

vực.

Cuốn sách "Migration in the Asia-Pacific region” của Graeme Hugo tập trung

vào việc phân tích xu hướng di cư trong khu vực châu Á-Thái Binh Dương, bao gồm cả

sự đi cư của người Án Độ đến các quốc gia Đông Nam Á Tác phẩm này cung cấp một

cái nhìn tông quan về những thay đỗi xã hội và kinh tế trong khu vực do đi cư gây ra, đồng thời cũng dé cập đến những thách thức và cơ hội mà sự di cư mang lại cho cả

người di cư và quốc gia tiếp nhận

Tiếp đến, cuén sách "Indian Migration into Malay and Singapore during the

British Period” tập trung vào việc phân tích sự di cư của người An Độ đến Malaysia và

Singapore trong thời kỳ thuộc địa của Anh Cuỗn sách này phân tích các yếu tô kinh tế,chính trị và xã hội đã dẫn đến sự di cư của người An D6 đến khu vực này và tam quantrọng của họ trong việc phát triển kinh tế và xã hội của Malaysia và Singapore

Cuốn sách “Lich sử Đông Nam A” của D G E Hall - giáo sư đanh dự bộ môn

Lich sử Đông Nam A, Trường Dai học Luân Đôn — đây là một công trình đồ sộ do Nhàxuất ban Chính trị quốc gia xuất bản vào năm 1997 Tác phẩm nay đã phác họa lại bứctranh toàn cảnh về lịch sử hình thành và phát triển của các quốc gia khu vực Đông Nam

Á, quá trình xây dựng và thống nhất của các quốc gia ấy từ cô đại cho tới ngày nay

Qua đó ta cũng thấy rõ được sự giao lưu kinh tế, văn hóa, giữa các quốc gia Đông

Nam Á từ lâu đã được hình thành

Công trình “Lich sử các quốc gia Đông Nam A trừ Việt Nam (từ sơ nguyên đếnthể kỷ XVI)” của tác giả Nguyễn Thế Anh xuất bản năm 1972 tại Nhà xuất bản LửaThiêng Công trình này đề cập đến sự hình thành và phân luồng ảnh hưởng của các quốc

gia Đông Nam A: thứ nhất, luồng từ Trung Quốc tới; thứ hai, luéng từ An Độ (chủ yếu qua đường biên): luông thir ba là đem tôn giáo của người Hi nhập vào ban dao Mã Lai

4 và Java; và luông thứ tư đó là đem văn minh châu Âu nhập vào Đông Nam Á Từ đó

ta thay rõ, ngay từ thời tiền sử đã có nhiều sự giao dịch bang đường biên giữa An Độ

và toàn the Đông Nam A nói chung

Trang 8

Cuỗi cùng và quan trọng nhất, cuỗn sách "Indian Communities in Southeast

Asia" là một tài liệu quan trọng vẻ nghiên cứu vẻ cộng đồng người Án Độ tại Đông

Nam A Tác giả Kernial Singh Sandhu va A Mani cung cấp một cái nhìn tong quan về

lịch sử, văn hóa và xã hội của cộng đồng người An Độ trong khu vực Cuốn sách này

cũng tập trung vào sự phát triển của các cộng đồng người An Độ trong suốt quá trình di

cư của họ đến Đông Nam Á

Cuốn sách này cung cap những thông tin quan trọng về lịch sử sự di cư của người

Án Độ đến Đông Nam Á và ảnh hưởng của họ đến khu vực này Nó cũng nghiên cứu

về sự đa dạng về văn hóa và xã hội trong cộng đồng người An Độ tại các quốc gia Đông

Nam A khác nhau Cuén sách này có thé giúp cho các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về

quá trình phát trién của cộng đồng người Án Độ trong khu vực Đông Nam A và tam

quan trọng của họ đối với quan hệ quốc tế trong khu vực này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của đẻ tài "Sự hình thành và phát triển của cộng đồng người Án ở

Đông Nam A (1945-2020)" là cộng đồng người An sinh sống tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, bao gồm các nước Indonesia, Campuchia và Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu sẽ bao gồm sự đi cư, hình thành và phát triển của cộng đồng người An trong thời gian từ nim 1945 đến năm 2020 Nghiên cứu sẽ tập trung vào các

khía cạnh vẻ lịch sử, văn hóa, xã hội, kinh tế của cộng đồng người Án trong khu vực

Đông Nam Á Các nội dung bao gồm sự xuất hiện và phát triển của cộng đồng người

An tại các quốc gia trong khu vực, các van dé liên quan đến nhận thức và định hướngcủa cộng đồng người An, các van đề về da dang văn hóa và dan tộc, cũng như nhữngthách thức và cơ hội đối với sự phát triển của cộng đồng người An trong tương lai

Š Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu dé tài "Sự hình thành và phát trién của cộng đông người

Án ở Đông Nam A (1945-2020)" sẽ bao gồm:

Phương pháp phân tích nội dung: Phương pháp này được sử dung dé phân tích

các tài liệu văn bản liên quan đến đề tai, bao gồm các báo cáo sách bài báo và tài liệu

học thuật khác Phương pháp này có thé giúp tìm ra các chủ đề chính, ý nghĩa và xu hướng phát trién của cộng đồng dân cư An Độ trong Đông Nam A.

Phương pháp định lượng: Phương pháp này sử dụng các kỹ thuật thong kê dé

phân tích dữ liệu và đưa ra kết luận số liệu về các yếu tổ ảnh hưởng đến sự phát triểncủa cộng đồng dân cư Án Độ ở Đông Nam Á

Trang 9

Phương pháp điêu tra: Phương pháp này sử dụng các câu hỏi khảo sát đẻ thuthập thông tin từ cộng đồng dân cư Ấn Độ trong Đông Nam Á Các câu hỏi có thể baogồm vẻ lịch sử của cộng dong dân cư, về các van đề kinh tế, xã hội văn hóa, về quan

hệ với các nước khác trong khu vực Đông Nam Á, v.v.

Phương pháp doi chiếu và so sánh: Phương pháp nay sử dụng dé so sánh các điểm tương đồng và khác nhau giữa sự hình thành và phát triển của cộng đồng dan cư

An Độ ở Đông Nam A và các cộng đồng dan cư khác trong khu vực Phương pháp này

có thê giúp tìm ra các ảnh hưởng của các yếu tô văn hóa, xã hội và kinh tế đến sự phát

triển của cộng đồng đân cư Án Độ ở Đông Nam Á.

Phương pháp đánh giá tai liệu: Phương pháp này sử dụng đề đánh giá va phân

tích các tài liệu khác nhau về sự hình thành và phát trién của cộng đồng dân cư Án Độ

ở Đông Nam Á, bao gòm các bài báo, sách, tài liệu học thuật và các báo cáo khác

Với các phương pháp nghiên cứu trên, dé tài "Sự hình thành và phát triển của

cộng đồng người An ở Đông Nam A (1947-2020)" sẽ cung cấp một cái nhìn toàn điện

về sự phát trién và đóng góp của cộng đồng người An vào văn hóa, kinh tế và xã hội

của khu vực này.

6 Cau trúc khóa luận

Ngoài phân mở đầu kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung của bài

nghiên cứu gôm 3 chương chính:

CHƯƠNG I: SỰ DI CU CUA NGƯỜI AN ĐỘ DEN MOT SO QUỐC GIA

DONG NAM A DAU THE KY 19 - THE KY 20

CHUONG 2: SU HINH THANH VA PHAT TRIEN CONG DONG DAN CU

AN DO G MOT SO QUOC GIA DONG NAM A (1947-2020)

CHUONG 3: TAC DONG CUA VIEC HINH THANH CONG DONG NGUOI

AN DO DEN QUAN HE QUOC TE Ở KHU VUC DONG NAM A

Trang 10

NỘI DUNG

CHƯƠNG I SỰ DI CƯ CỦA NGƯỜI AN ĐỘ DEN DONG NAM A TỪ SAU

THE KY XVHI DEN THE KY XX

Người dân Án Độ đã có mặt ở Đông Nam A từ rat lâu trong lich sử Có vô số lời

kế về các thương nhân, nha thuyết giáo và nhà thám hiểm đã mạo hiểm ra biển cả và

gây ảnh hưởng đến phan phía đông của thé giới, đến mức ‘An Độ hóa' về mặt xã hội, văn hóa, tôn giáo và theo nhiều cách khác Tuy nhiên, trong thời kỳ thuộc địa, các cuộc

di cư được chính phủ tài trợ đưới hình thức lao động, quan chức và nhà cung cấp dịch

vụ đã hình thành, sau đó đẫn đến các khu định cư lâu dài Sự ý thức lãnh thô xuất hiện

khi những người định cư trở thành một phân không thê thiếu trong đời sông kinh tế và

chính trị của các xã hội tiếp nhận, trong khi vẫn tiếp tục gắn bó với quê hương Thời kỳ

hiện đại, sự di cư của các chuyên gia và doanh nhân lành nghé Và lay nghé cao cùng với

sự mở cửa của Án Độ đổi với Đông Nam Á đã mang lại một diện mạo và bản sắc mới

cho các cộng đông An Độ trong khu vực Có thé nói, các mdi liên hệ giữa An Độ và

Đông Nam A kế từ thời kỳ đầu đặc trưng bởi các cuộc di cư vòng tròn (circlar

migration).

1.1 Sự di cư của người An Độ đến Malaysia

1.1.1 Nguyên nhân của sự di cư

Mối liên hệ của Malaya với An Độ có từ thời kỳ tiền Cơ đốc giáo Bên cạnh việc

người An Độ di cư ra nước ngoài đến Malaya và món nợ của văn hóa Mã Lai đối với

An Độ cô dai, hiểm khi có một số lượng lớn người An Độ ở Malaya trong thời kỳ tiên

Anh, ước tính khoảng 1.500.000 người Án Dộ hiện nay ở Malaysia đều là người nhập

cư hoặc con cháu của những người nhập cư Người Án Dộ bắt đầu đến Malaya vào năm

1786 khi người Anh nắm quyền kiểm soát Penang, nhưng nó chỉ trở thành một đặc điểm quan trọng trong nhân khâu học của người Mã Lai vào nửa sau của thế kỷ 19 sau khi

củng cỗ quyền lực của Anh ở Malaya và mở cửa dat nước.

Người An Dé bắt đầu đến Malaya vào năm 1786 khi người Anh nắm quyền kiểm

soát Penang, dan dan mở rộng ảnh hưởng của minh vào đất liền cho đến năm 1909, thực

sự kiểm soát toàn bộ Malaya Sự ôn định chính trị sau đó cùng với sự khuyến khích tích cực của chính quyên đã dẫn đến một dong vốn lớn, đặc biệt là từ châu Au dé vào các

dự án phát triển của Malaya, đặc biệt là nông nghiệp thương mại quy mô lớn.

Trước khi có làn sóng di cư lao động Án Độ vào Malaya vào những năm 1800,

các khu định cư của người Án Độ ở Malaya chủ yếu gồm các thương gia và thươngnhân Từ thé kỷ 19, người đa đó làm thuê trong các đồn điền và bến cáng Họ bắt dau

10

Trang 11

với việc trồng các loại cây như gia vị và hạt tiêu vào những năm 1820, mía vào những

năm 1830 và cà phê vào những năm 1870, nên nông nghiệp đồn điển đã đạt đến đình

cao với 'cơn sốt cao su’ vào những năm đầu của thé kỷ hiện tại

Ở thời điểm đó, có rat ít thiết bị cơ khí giúp tiết kiệm sức lao động hoặc phù hợp

với điều kiện địa phương ở Malaya thé kỷ 19 và đầu thé ký 20 Trong mọi trường hợp,

phân lớn công việc mới ít nhất là trên các đôn điện déu không dé dàng áp dụng các

phương pháp máy móc Cùng với việc người Mã Lai tỏ ra không có động lực làm việc,

trong khi người Trung Quốc tìm kiếm những công việc khác có thu nhập cao hơn, tuy nhiên lao động châu Phi và châu Âu đều không khả thi, người Java thì vừa khó kiếm vừa đắt đỏ, và cuối cùng thì người An Độ là trở thành một thành phan quan trọng Trong

số những người dân của tiêu lục địa An Độ nông dân Nam An Độ, đặc biệt là Madrasi!

thuộc tang lớp tiện dân hoặc thắp hơn, được coi là loại người lao động phù hợp nhất đối

với những công việc nhẹ nhàng, đơn giản lặp đi lặp lại.

Việc thích nghi với các điều kiện của người Malaya tương đối để dàng hơn đối

với với lao động Ấn Độ vì Nam Án Độ không hoàn toàn khác biệt với Malaya về mặt

khí hậu Hơn nữa, lao động Án Độ đã thích nghí với mức sống thấp, đã quen với sự cai

trị của Ánh Nhìn chung, những đặc điểm này của người công nhân Nam An da khiến

Án D6 gần như trở thành lao động lý tưởng cho chủ nghĩa tư bản ở Malaya Hơn nữa,

nhiều quan chức chính phú châu Âu và chủ đôn điền, đặc biệt là trong thời kỳ trồng ca phê rộng rãi, đã đến Malaya từ Sri Lanka (Ceylon?), nơi ho đã quen với lao động Nam

An Độ.

Mặc dù mức sống thấp của nông dân Nam Án Dộ là nguyên nhân thúc đây việc

đi cư của họ, nhưng các thé chế xã hội và phong tục thường chống lại điều đó Dong

thời, tiền lương ở Malaya hiếm khi cao hơn 2/3 so với tiên lương ở Sri Lanka hoặc

Myanmar (Miễn Điện), cả hai đều mong muốn lao động từ Nam Án Độ Hơn nữa, ở Án

Độ người ta tin rằng vùng đôn điền của Malaya, với bệnh sốt rét hoành hành và các

bệnh khác là một cái bẫy chết chóc chực nuốt chửng dân số dư thừa của Án Độ Tuy

nhiên, vì nguồn cung cấp lớn lao động giá rẻ là cần thiết cho sự phát triển kinh tế củađất nước, Chính phủ Malaya, cùng với những người chủ đồn điền và những người sửdung lao động khác, đã dan khắc phục những bat lợi trên trong suốt những năm cuối thé

kỷ 19 và đầu thế ký 20 Điều kiện làm việc nhìn chung đã được cải thiện và tiền lương

được nâng lên đề cạnh tranh với Myanmar va Sri Lanka.

! là một ur ngữ địa phương danh cho những người đến từ miễn nam An Đỗ đặc biệt là Tamil Nadu.

* Tén gọi cũ của đất nước Sri Lanka trong thời kỳ thuộc địa Anh

H1

Trang 12

Năm 1887, chính phủ thành lập Uy ban Nhập cư An Độ dé khuyến khích và giám

sát việc nhập khâu lao động Nam Án Độ Chính phủ An Độ đã bị thuyết phục rút lại

hau hết các hạn chế đối với việc di cư của thần dân sang Malaya Các trạm và trại di cư

được thành lập ở Nam Án Độ và Malaya dé tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuyển dụng,

vận chuyên và phân tán, đồng thời một chiến dịch tuyên truyền nhằm kích thích nhập

cư đã được thực hiện ở cả Malaya và Án Độ Kết quả là đã phát triển một dòng lao động

ồn định từ Nam An Độ đến Malaya

Một phương thức tuyên dụng lao động thay thế cho Malaya đã phát triển vào cuỗi thế kỷ 19 được gọi là hệ thống kangany Kangany là từ tiếng Tamil có nghĩa là

người giám sát hoặc cấp trên Không giống như hệ thông khế ước theo đó hầu hết nam

giới di cư, hệ thống kangany đã mở đường cho nhiều gia đình di cư đến Malaya Nó

cung cấp phan lớn lao động cho các đồn điền cà phê và cao su của người Mã Lai

Phan lớn lao động An Độ nhập cư thuộc diện lao động được hỗ trợ Điều kiện

kinh tế tôi tệ, bao gồm cả cuộc Dai suy thoái những năm 1930, dan đến nhu cầu laođộng giảm và do đó, việc tuyên dụng kangany cũng giảm Nó cuối cùng đã bị bãi bỏ

vào năm 1938 khí tat cả các cuộc đi cư được hỗ trợ đã bị Chính phú An Độ Tuy nhiên,

người Án Độ tiếp tục di cư đến Malaya với tư cách là những người lao động tự do

Cho đến nay trong tâm chính là đi cu lao động An Độ Mặc dù những người

nhập cư An Độ chuyên nghiệp và phi lao động khác tương đối ít hơn, nhưng họ đã thực

hiện độc quyền ảnh hưởng chính trị, kinh tế và xã hội trong cộng đồng Án Độ Ban đầu

đến Malaya thông qua Chính phủ Malaya và những nhà tuyển dụng, hỗ trợ hoặc khuyến khích tư nhân Một số lượng đáng kê người Án Độ được giáo dục bằng tiếng Anh sau

đó bắt đầu chuyên đến Malaya theo ý muốn của họ và bằng phương tiện riêng của họ

dé đảm nhận các chức vụ như quan chức chính phủ cấp dưới hoặc phụ tá đồn điền

Những người da đỏ khác đến với tư cách là nông dân và những người theo trại trong

khi một số người Bắc Án Độ đặc biệt là người Sikh họ tìm thấy chỗ đứng của mìnhtrong hàng ngũ quân đội cảnh sát và những mục tiêu tương tự khác Những nhà thầu

nhỏ, thương gia, người cho vay tiền, chủ ngân hàng, chú cửa hàng và những người

tương tự như vậy đã nhập cư vào Malaya từ khi thành lập Penang Nỗi bật trong số họ

là các thương nhân theo đạo Hindu và đạo H6i từ bờ bién Coromandel và Malabar, cácthương nhân dét may từ Sind và Punjab, và những kẻ cho vay tiền Chettiar từ Phủ Tông

thong Madras Những người này dan dan đảm nhận vai trò tiểu tư sản trong các cộng

đông người Án Độ ở Malaya Không có bằng chứng đáng giá nao liên quan đến loạingười nhập cư này được lưu giữ, nhưng rõ ràng là số lượng của họ tăng lên tương ứngvới các tang lớp khác vào cuối những năm 1930 va lại tăng thêm một lần nữa sau khi

12

Trang 13

tiêu lục địa Án Độ bị phân chia Tuy nhiên, dòng người này hầu như đã vơi dần do cơ

chế nhập cư có chọn lọc do Chính phủ Malaya khởi xướng vào những năm 1950 Sự di

chuyên của người An Độ sau đó chú yếu giới hạn ở những người đến An Độ dé thăm

người thân hoặc một số ít chuyên gia có liên quan đến công việc trong các dự án cụ thể

được phép vào Malaya Mô hình này khó có thé thay đổi đáng ké trong tương lai gan

1.1.2 Đặc điểm quan trọng về sự di cư của người An Độ đến Malaya hiện đại

Thứ nhất, phần lớn phong trào này mang tính chất phù du với

khoảng 4,2 triệu người nhập cư và 3 triệu người rời khỏi đất nước trong

khoảng thời gian tir 1786 đến 1957.

- _ Thứ hai, phần lớn trong số 1,2 triệu người nhập cư ròng trong giai

đoạn này dường như đã bị xóa số bởi bệnh tật, kiệt sức va suy dinh dưỡng vì dân số Malaya của An Độ vào năm 1957 chi có 820.270 người trong đó

62,1% là người ban địa.

- _ Thứ ba, nó chủ yếu là phong trào lao động An Dé giáo ở Nam Án

Độ, chủ yếu là người Tamil Cuối cùng, về cơ bản, đó là một phong trào củanam giới trưởng thành, nữ giới hiếm khi chiếm trung bình hơn một phần tư

tông số người đến hàng năm.

Xu hướng nhập cư cho thấy một số biến động lớn chủ yếu là dé đáp ứng với

những thay đôi trong điều kiện kinh tế, đặc biệt là trong ngành cao su ở Malaya Dòng người An Độ trung bình hang năm lớn nhất đến Malaya xảy ra trong giai đoạn 1911-

1930, khi hơn 90.000 người đến đất nước này mỗi năm (gap đôi số lượng từ năm 1901

đến năm 1910) Từ năm 1921 đến năm 1930, có khoảng 98.000 lượt khách đến hàng

năm, sau đó có sự sụt giảm rõ rệt.

Phần lớn người đi cư Ân Độ ở Malaya trong thời kỳ đầu chủ yếu là nam giới Có

khoảng 171 phụ nữ trên 1.000 nam giới ở Malaya vào năm 1901 Số lượng phụ nữ Án

Độ tăng lên khi nhiều người lao động đến làm việc sau khi di cư lao động được hợp pháp hóa và khi nhiều lao động nam bắt đầu mang theo gia đình của họ đi cùng Với sự gia tăng phong trào của người An Độ vào Malaya vào dau thế kỷ biện đại, tỷ lệ di

chuyên trở lại vốn đã rất cao cũng tăng lên Ví dụ, hơn 60 phần trăm người Án Độchuyên đến Malaya trong cùng thời kỳ đã trở về quê hương Trong giai đoạn 1925-

1957, sự cải thiện tỷ số giới tính cũng như các dịch vụ y tế tốt hơn đã góp phần vào sựgia tăng dan số thông qua gia tăng tự nhiên Số lượng người An Độ ở Malaya giảm vào

giữa thế kỷ 20 do việc đi cư của người Ân Độ bị ảnh hưởng bởi cuộc Đại suy thoái

những năm 1930 và Chiến tranh thế giới thứ hai và sự chiếm đóng của Nhật Bản sau

đó Trước chiến tranh, lao động Án Độ ở Malaya chiếm 75% tổng lực lượng lao động

13

Trang 14

Số lượng người Án Độ ở Malaya giảm vào giữa thế kỷ 20 do việc di cư của người

An Độ bị ảnh hưởng bởi cuộc Đại suy thoái những năm 1930 và Chiến tranh thé giới

thứ hai và sự chiếm đóng của Nhật Bản sau đó Việc thông qua hai đạo luật vào năm

1953 để kiểm soát lao động Án Độ đã dẫn đến sự sụt giảm dần tỷ lệ lao động Án Độ

1.2 Sự di cư của người Án Độ đến Singapore

Người An Độ đã có mặt ở Singapore ngay từ ngày đầu tiên Singapore được

Raffles thành lập như một trạm giao dịch của Anh vào thang | năm 1819 Ngoài 120

lính thủy đánh bộ và lascarsỶ (thủy thủ ở An Ðộ), phụ tá và người giúp việc gia đình,

đoàn tùy tùng của Raffles còn có Naraina Pillay, một thương nhân từ Penang theo đạo

Hindu Sau đó, người lao động Án Độ cũng bắt đầu đến Singapore, theo mô hình đi cư

được thấy ở những nơi khác ở Malaya.

Hai năm sau, đã có 132 người da đỏ, hoàn toàn tách biệt với quân đồn trú và

những người theo trại trong tông dân số 4.727 người Họ được tuyên dụng trong việc

trồng trọt đường hạt tiêu Với dòng người lao động, thương nhân và những người tương

tự ngày cảng đông, để đáp ứng các chính sách tự do của Raffles và mở rộng nhanh

chóng các cơ hội việc làm và thu nhập, dân số Ấn Độ đã tăng lên nhanh chóng và đếnnăm 1871 đã đạt tông số 11.501 người Số lượng người đa đỏ này không bao gồm quân

đôn trú, những người theo trại và tù nhân của họ.

Đợt tù nhân Án Độ dau tiên từ Sumatra đến Thành phố Sư tử vào tháng 4 năm

1825, những tù nhân Án Độ ở Bencoolen được chuyên đến Singapore Trong khi một

số trở về quê hương, Một số người còn lại ở Singapore kết hôn với những người bạn tù

cũ cúa họ, với tư cách là chủ cửa hàng, người nuôi bò/người bán sữa, chủ xe day hàng

hoặc nhân viên công trình công cộng.

1.2.1 Mô hình định cư của người Án Độ tại Singapore

Ngoài các đơn vị đồn trú quân sự phần lớn người Án Độ ở Singapore thời kỳ

đầu đã sống ở các khu vực gần và xung quanh trung tâm thành phố của hòn đảo Các

mô hình định cư ban đầu của người đa đỏ đã bị ảnh hưởng bởi kế hoạch đô thị củaRaffles dé phân bồ và tạo ra các vùng dân tộc thiểu số Sau đó, người An Dé có xu

hướng định cư ở những khu vực gần nơi làm việc của họ.

Theo Siddique, năm khu vực tập trung chính của người An Độ ở Singapore có thê được phân biệt từ những năm 1800 - cụ thé là khu vực đường Chulia và Market, khu

* là một thủy thu hoặc dan quân đến tử tiêu lục địa Án Độ, Đông Nam Á, thế giới Ả Rap, Somaliland thuộc Anh,

hoặc ving đất khác phía đồng Mũi Hao Vong, người đã Lam việc trên các tàu châu Âu từ thé kỷ 16 đến giữa thé

kỷ 20.

l4

Trang 15

vực High Street, Căn cứ Hải quân ở Sembawang, khu vực đường sat/cang Tanjong Pagar và Serangoon Các khu vực đường phô, nằm ở phía tây của trung tâm thương mại,

doc theo sông Singapore,

Khi người Anh thành lập căn cứ quân sự ở Singapore sau năm 1920, họ đã xây

dựng một căn cứ hải quân ở Sembawang* và một căn cứ không quân ở Changi Nhiều người da đỏ được tuyên dung dé làm việc trong các căn cứ nay, và kết quả là họ định

cư ở các làng xung quanh Số lượng người An Dộ sống ở Chong Pang, Jalan Kayu, Nee

Soon va Yew Tee cao hơn so với người Hoa và người Mã Lai Do đó Sembawang trở thành khu vực tập trung thứ ba của An Độ.

Một khu vực tập trung khác của người An Độ là khu vực High Street, nơi cócác thương nhân buôn bán đồ điện tử và quan áo Sindhi, Gujerati và Sikh Một số thương

nhân cũng có trụ sở xung quanh Phố A Rap Người An Độ cũng nỗi bật ở các khu vực xung quanh bến tàu và đường sắt tại Tanjong Pagar Nhóm thứ hai bao gồm chủ yếu là

người Tamil, Telegus và Malayalees.

Đường Serangoon lần dau tiên được cư trú bởi những người da đó tham gia vào

các hoạt động liên quan đến gia súc Khi việc chăn nuôi gia súc ở Đường Serangoon bị

cam vào năm 1936, khu vực này trở nên đông đúc hơn bởi các doanh nghiệp nhỏ và giađình của họ Từ những năm 1880, các doanh nhân Nam Án chủ yếu là người Tamil bắtdau định cư ở đây và trên Đường Farrer Đường Serangoon trở thành khu vực chú yếucủa người Án Độ khi chính phủ xây dựng khu nhà ở cho người lao động (chủ yếu là

người Tamil) đọc theo khu vực Vì nhà tù đành cho phạm nhân người Án Độ nằm ở Đường Bras Basah, nên các nhân viên nha tù người An Độ và những người cung cấp

địch vụ giặt là và cung cấp thực phẩm cho các tù nhân cũng có xu hướng định cư gần

nhà tù Bên cạnh những khu vực tập trung trên, người da đỏ cũng định cư gần những khu vực đành cho đồn điền Các đồn điền chủ yếu thuê lao động Án Độ do có sẵn.

Từ những năm 1960, có một chút thay đôi trong mô hình định cư của người da

đỏ Với sự giàu có và giáo dục ngày càng tăng, những người An Độ trẻ tuổi đã chuyển

đến các thị tran mới hơn, nhưng gần ngôi nha ban đầu của họ hơn, chăng hạn như Ang

Mo Kio, Toa Payoh, Queenstown, MacPherson va Woodlands Sau đó, người Án Dộ

cũng định cu ở Yishun, Hougang, Tampines va Jurong.

* là một khu quy hoạch và thị trấn din cư nằm ở Khu vực phía Bắc của Singapore.

* High Street là tên đường pha biến cho đường kinh doanh chính của thành pho, thị tran hoặc ling, đặc biệt là ở

Vương quốc Anh và Khỏi thịnh vượng chung Nó ngu ý rằng nó Li tâm điểm cho việc kinh doanh, đặc biệt là

mua sim Nó cũng là một tir gọi tắt của lĩnh vực bán lẻ.

15

Trang 16

Do đó, số lượng người An Độ ở lại các khu vực định cư trước đây đã giảm đi.

Ngay ca đường Serangoon, được mệnh danh là “Tiéu An Độ” của Singapore, cũng

không tập trung nhiêu gia đình Án Độ Mặc dù vậy, đường Serangoon van là trung tâmkinh tế và văn hóa của An Độ do sự tập trung của các doanh nghiệp An Độ trong khu

vực đó.

1.2.2 Sự đóng góp của người Án Độ cho cơ sở hạ tầng và kinh tế ở Singapore

Người Ấn Độ đã đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Singapore Họ “nỗi bật với tư cách là những nhà bán hàng, họ bán lẻ hàng đệt may và

hàng mảnh, những người cho vay nặng lãi, công chức và đặc biệt là người lao động”.

Một phan ba trong số ước tính 400 người cho vay tiền và người môi giới cam 46

đã đăng ký ở Singapore năm 1947 là người An Độ Năm 1963, đa số người cho vay tiền

là người An Độ.

Quan trọng nhất, không thê đánh giá thấp tam quan trọng của lao động đôn điền

Án Độ đối với tăng trưởng kinh tế của Singapore và Malaya Vào nửa sau của thế kỷ

19, cao su trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Malaya do nhu cầu từ châu Âu tăng

lên; Lao động Án Độ đã được sử dụng dé tang nhu cau.

Khi dan số ở Singapore tăng lên, nhu cầu về các công việc phát triển cũng tănglên, tất cả đều được hoàn thành thông qua lao động bị kết án Phạm nhân lao động xâydựng đường bộ, đường sắt, cầu và các tòa nhà chính phủ/công cộng, và cho các dự án

giải phóng mặt bằng và thoát nước.

Những người An Độ bị kết án chịu trách nhiệm xây dựng Nhà thờ St Andrew,Tòa nhà Chính phủ va Dén Sri Mariamman ở Đường South Bridge Đóng góp của họcho các công trình công cộng là rat to lớn Họ làm việc cật lực dé xây dựng Đường Bắc

và Cau Nam; Đường Serangoon, Bedok và Thomson - con đường dẫn đến Mount Faber

va Bukit Timah và quan trọng nhất là Đường đến Johore Họ cũng mở rộng kênh đào

Bukit Timah để chuẩn bị cho các vùng đất liền kẻ canh tác và giúp xây dựng các ngọn

hai đăng cũng như trạm tín hiệu trên Núi Faber.

Bên cạnh đó, họ còn xây dựng nhà tù của riêng họ ở Đường Bras Basah, Nhà tù

Dân sự ở Pearl's Hill, tòa án, văn phòng công cộng, Bệnh viện Da khoa va một s6 ta

nha công cộng khác Ngoài việc tham gia vào công việc xây dựng, những người bi kết

án còn được dao tạo thành thợ vẽ, thợ nẻ, thợ rèn và thợ mộc Ngoài ra, còn được tuyển

dụng trong các lò nung của chính phủ, đề duy trì nguồn cung cấp gach, vôi ngói và xi

măng cần thiết cho các công trình xây dựng mới

16

Trang 17

Trong số nhiều người Án Độ nỗi bật và thành công ở Singapore thời kỳ dau,

những người không chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế mà còn cho sự phát triển văn

hóa và xã hội cúa cộng đồng An D6, có Narayana Pillai® và P Govindasamy Pillai.’

TIÊU KET CHUONG 1

Vào thé ky 19, người Án Độ đã bắt đầu di cư đến Đông Nam A, đặc biệt là

Malaysia và Singapore, dé làm việc trong các lĩnh vực như xây dựng đường sat, trong

cao su và công việc khai thác mỏ Những người đi cư này thường là lao động không

chính thức, không được bảo vệ pháp luật và phải đối mặt với những điều kiện lao động

khắc nghiệt Tuy nhiên, họ đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của các

quốc gia này

Nhìn chung, có thé thay rằng “di cư vòng tròn” - circular migration chiếm ưu

thé cho đến giữa thé ky 20 Tổng quan lại, sự đi cư của người An Độ đến Malaysia vàSingapore từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 đã góp phân tạo nên một phân của lịch sử vàvăn hóa của hai quốc gia này Dù đã gặp phải nhiều thách thức và tranh cãi, nhưngngười An Độ đã chứng tỏ khả nang va tai nang của mình và trở thành một phần không

the thiếu của cộng đồng kinh doanh và văn hóa ở hai quốc gia nay.

® Narayana Pillai là một trong những người Án Độ đầu tiên đến Singapore vio năm L819, cùng với Raffles Ong

đã vươn lên từ vị trí thư ký trưởng trong Bỏ Tải chính dé trở thành nhà thấu xây dựng đẫu tiên ở Singapore Ong

đã bat dau lò gach dau tiên ở Tanjong Pagar va cũng quan lý một " chợ ban hang bông thành công Ông được

công nhận là một nha lãnh đạo An Độ và được trao quyền giải quyết các tranh chip giữa họ Ông đã xây dựng

Dén Sri Mariamman vào nim 1828, đây là ngôi dén Hindu lâu đời nhất ở Singapore.

7 được biết đến nhiều hơn với tên PGP, người đã thành lập cá các cửa hàng PGP nối tiếng Ở đỉnh cao của sự thành

công, ông sử hữu một s6 cửu hàng đệt may, nhà máy, siêu thị, đồng thời đầu tư vào bat động sản ở khu vực

Serangoon Ông ấy được biết đến như một nhà từ thiện, người đã quyền góp cho Đền thờ Perumal, Đại học

Malaya, trong số những người khác, và giúp thành lập Phong Thương mại An Độ và Phái bộ Ramakrishna.

17

Trang 18

CHƯƠNG 2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIÊN CỘNG ĐÒNG DÂN CƯ ÁN

ĐỘ Ở MOT SO QUOC GIA ĐÔNG NAM A (1947 - 2020)

Với sự khởi đầu của thời đại thuộc địa vào thé ky 19, một khía cạnh hoàn toàn mới đã được thêm vào các mô hình đi cư hiện có từ Án Độ Chính các cuộc đi cư lao

động theo hợp đồng được chính phủ tài trợ đã thâm nhập sâu bên ngoài các thành phố

cảng và sau đó dẫn đến các khu định cư lâu dài Tuy nhiên, trong những năm đầu tiên, phan lớn người lao động đã quay trở lại An Độ sau khi hoàn thành các điều khoán hợp đồng của họ Trong thời kỳ thuộc địa, quá trình hòa trộn cũng chậm lại và rõ ràng hơn

- cắt giảm sự phân biệt ndi lên giữa các nhóm khác nhau, chủ yếu là do các chính sách

của chính phủ duy trì sự phân chia kinh tế và chính trị.

2.1 Sự hình thành và phát triển cộng đồng dân cư Án Độ ở Malaysia

Ở Malaysia, người Án là cộng đông người nhập cư lớn thứ hai sau cộng đồngngười Hoa, chiếm khoảng 12,4% dan số toàn liên bang (thong kê 2004)

Người An Độ tại Malaysia chủ yếu là người Hindu Tamil từ miền nam An Độnói tiếng Tamil, cũng có các cộng đồng An Độ khác nói tiếng Telugu, Malayalam và

Hindi, song chủ yếu tại các thị tran lớn ở ven biên phía tây bán đảo Các nhóm nhỏ hơn

bao gồm người Malayalees, Telugus, Punjabis và những người khác Người An Dé gốc

Malaysia tạo thành cộng đồng người An Độ hải ngoại lớn thứ năm trên the giới.

Dân số Án Độ của Malaysia đáng chú ý vì sự phân tầng giai cấp với một tanglớp ưu tú đáng ké cũng như một nhóm lớn có thu nhập thắp trong nhóm Người Malaysia

gốc An Độ chiếm một tỷ lệ lớn không tương xứng số chuyên gia trên đầu người - chiếm 15.5% số chuyên gia của Malaysia vào nim 1999 Theo một cuộc điều tra din số được

thực hiện vào năm 1984, có tới 38% lực lượng lao động chuyên môn y tế của quốc gia

bao gồm người Malaysia gốc Án Độ Năm 1970, thu nhập bình quân đầu người của

người Ấn gốc Malaysia cao hơn 76% so với người Mã Lai đa số, đến năm 2005, khoảng

cách này giảm xuống còn 27%Š.

Về giáo dục

Có sự khác biệt đáng kê giữa người Án D6 gốc Malaysia thuộc tầng lớp laođộng Malaysia ở các đồn điền và tầng lớp trung lưu thành thị hoặc các chuyên gia thuộc

tầng lớp trung lưu thượng lưu Nhiều người Án Độ là công nhân trong các đôn điền va

theo học các trường day tiếng Tamil Các trường tiểu học dạy tiếng Tamil được Chínhphủ Liên bang tài trợ , nhưng các trường day tiếng Tamil trên đắt tư nhân không du điều

*® Saari, M Yusof; Dietzenbacher, Erik; Los, Bart (2015) “Sources of Income Growth and Inequality Across

O1Ups lays 970-2(MM"

18

Trang 19

kiện nhận trợ cấp day đủ của chính phủ Mặc dù tiếng Tamil được sử dụng làm phương

tiện giảng dạy, tiếng Mã Lai và tiếng Anh được day như những môn học bắt buộc Các

trường học ở Tamil có thé bao gom từ lớp học don nơi học sinh ở các độ tuổi và khả

năng khác nhau được dạy bởi một giáo viên duy nhất, đến các trường học lớn có vài

trăm học sinh Trong các đồn điền, các trường học có thể có nhân viên và trang thiết bị

kém, va rất ít học sinh của họ học lên cao hơn Những người An Độ học giỏi ở trườngchủ yếu đến từ tang lớp trung lưu thành thị

Người An Độ được đại diện tốt trong các hiệp hội y tế va pháp lý của Malaysia Người An Độ cũng chiếm một phan lớn giáo viên dạy tiếng Anh ở

Malaysia Theo truyền thong, luật vả y học là những lựa chon nghề nghiệp ưa thích

trong các gia đình Án Độ mặc dù ngày càng có nhiều thanh niên Malaysia gốc Án Độ đang mạo hiểm vào các lĩnh vực khác như kỹ thuật, tài chính và kinh doanh Ananda

Krishnan và Tony Fernandes là những vi dụ về các ông trùm nôi tiếng người Malaysia

gốc Án Độ Có các khu thương mại lớn của Án Độ tại Kuala Lumpur (Brickfields, Jalan

Ampang va Jalan Masjid India ); Lebuh Pasar ở George Town , Penang; Đường Jalan

Tengku Kelana ở Klang

Về kinh tế

Có sự khác biệt đáng kẻ vé mặt xã hội và kinh tế giữa các nhóm người Án D6khác nhau ở Malaysia Họ là một phần quan trọng của các lớp học chuyên nghiệp ởMalaysia; trong một cuộc điều tra dân số được thực hiện vào năm 1999, người Malaysia

gốc Ân chiếm 15,5% lực lượng lao động chuyên nghiệp của Malaysia Những người này bao gồm bác sĩ, luật sư, nha sĩ, bác sĩ phẫu thuật thú y kỹ sư, kế toán, điều tra viên

và kiến trúc sư Tuy nhiên, nhiều người Án Độ cũng được xếp vào nhóm những người

thiệt thòi nhất Năm 1970 khoảng 39% người Án Độ ở Malaysia được xếp vào nhóm nghèo nhất nước Tỷ lệ nghèo đói (những người thuộc nhóm 40% thu nhập quốc dân

thấp nhất ở Malaysia là 27.3% người An Độ Các số liệu chính thức cho thay tỷ lệngười Án Dộ sống dưới chuân nghèo chính thức đã giảm từ 39,2% năm 1970 xuốngcòn 1,9% năm 2002, nhưng các số liệu này bị chỉ trích là không chính xác Người tacho rằng khoảng 40% người Ấn Dộ đang ở bậc dưới cùng của bậc thang thu nhập vàonăm 20151.

Nhiều người nhập cư đầu tiên ở Nam An Độ như người Tamil và người Telugu

đã làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là công nhân trong các đồn điền Năm

1930, 60% người An Độ làm trong lĩnh vực này và đến năm 1970, 45% người An Độ

? Bernama (15 May 2015) "Y

Trang 20

vẫn tham gia vào nông nghiệp ở Malaysia.!° Người Tamil ở Sri Lanka chủ yếu chiếm

giữ các vị trí hành chính và kỹ thuật cấp dưới trong các điền trang, những vị trí mà họ

van thống trị cho đến ngay nay Cũng trong các điền trang là những người Mã Lai nắmgiữ các vị trí trợ lý và quản lý Tuy nhiên, rất ít trong số những bat động san nay thuộc

sở hữu của người An Độ Người An Độ cũng nỗi bật trong lĩnh vực giao thông và liên

lạc, với tư cách là người lao động hoặc nhân viên hành chính và kỹ thuật.

Nhiều người An Độ cũng tham gia kinh doanh và buôn bán, phần lớn các doanh

nghiệp thuộc sở hữu tư nhân thuộc về người Chettiars Người Sikh va những người Punjab khác ban đầu được tuyên mộ bởi người Anh dé phục vụ trong lực lượng cảnh

sắt và vũ trang, và trong thời hiện đại, những khu vực này hiện do người Mã Lai thống

tri, hậu dué của những người Sikh và những người Punjab khác giờ đây được tìm thay

ở mọi nơi trên thế giới nền kinh tế, đặc biệt là các chuyên gia, và trong kinh đoanhthương mai va cho vay tiên

Theo báo cáo Kế hoạch Malaysia lần thứ chín năm 2006, người Án Dộ gốc

Malaysia cũng chỉ kiểm soát 1,2% tài san của các công ty ở Malaysia, giảm so với con

số 1,5% trước đó

Về tôn giáo

Người Hindu sùng kính đắng tối cao qua nhiều biểu hiện: nam và nữ, nhân từ và

huy diệt Người Hindu thờ 3 vị than: Brahma — than sáng tao, Vishnu — than bao vệ va Shiva — thần huỷ điệt Mỗi vi thần đều mang trong minh những khía cạnh tiêu cực và

tích cực.

Thần Shiva cưỡi bò là một trong những vị thần quan trọng, cùng với vợ ngài là

Durga cưỡi cop Đôi vợ chồng oai nghiêm nay tượng trưng cho cho sự sáng tạo, bao vệ

và huỷ diệt — cho sự sống va cái chết Các ngôi dén Hindu thờ một hoặc nhiêu vị thần

chính, nhưng bên cạnh đó còn có hàng chục, thậm chí hang trăm vị thần nhỏ va các nữ

than; được đặt dé một cách trang trọng trong các điện thờ xưa

Kinh của người Hindu là kinh Vệ Da (Vedas) ghi chép lại kinh nghiệm của người

xưa, giải thích về những bi mật của cuộc sông Qua những truyện ngụ ngôn dé hiểu đối

với giới bình dan, kinh Vệ Da còn có thé được đọc và hiểu ở những trình độ triết học

trừu tượng cao nhất,

Sandhu 2006, p 162.

!! Osman, Mohamed Nawab Mohamed (2007) °M

Trang 21

Gia đình người Hindu thường có một bản thờ nhỏ - họ luôn thấp đẻn dầu và cúng

hoa quả trên bàn thờ.

Về vị trí ngôi đền trong cộng đồng người Án Mọi gia đình và cá nhân ngườiHindu đều có thê ghé vào các ngôi đền bat kỳ lúc nào, tuy nhiên các buổi tập trung tụng

kinh thường được cử hành vào thứ 6 hang tuần Ngày xưa ngôi đền là nơi duy nhất người phụ nữ trẻ được phép đến khi ra khỏi nha, và thậm chi lúc bay giờ còn có người

đi theo canh chừng cần thận.

Người Hindu không được phép ăn thịt bò nhưng các sản phâm từ sữa là một phần quan trọng trong thực phẩm của người Hindu Khoảng 10% người An ở Malaysia ăn

chay trường, một số người thậm chí còn không ăn trứng bởi vì theo quan niệm của họtrứng chứa trong đó một sinh linh sống Nhiều người khác ăn chay vào thứ 6, nhữngngày đi đền theo tập quán, va vào các lễ hội tôn giáo Người Hindu tin vào sự dau thai

của linh hồn con người Quan diém bat di bat dich của họ về các hình thức cao, thấp

trong cuộc sông đều được phản ánh qua hệ thông đăng cấp vẫn còn duy trì ở An Độ,

nhưng ở Malaysia những khía cạnh khắc khe này đã mờ nhạt đi nhiều.

Trong tâm thức của cộng đồng Án Độ, người ta vẫn tin vào luật nhân quả rằng

người nào sông không tội lỗi trên trần gian khi mat đi sẽ được đầu thai thành người tốt

và khôn ngoan; kẻ ác tâm sẽ đầu thai sống kiếp ếch nhái

Đề có một kết luận khoa học khách quan về ảnh hưởng của An Độ giáo nói riêng

và cộng đồng người An nói chung trong sự phát trién của đất nước Malaysia qua nhiều

thé kỷ chia cắt và hợp nhất, báo cáo khoa học chi xin được giới thiệu khái quát các tôngiáo phô biến của cộng đồng người Án nơi đây qua lăng kính lịch sử: nêu quá trình hìnhthành và những giao lưu tiếp xúc với văn hoá bản địa mà không đi sâu trình bày các

hoạt động tôn giáo.

- Hindu giáo (Ấn Độ giáo)

Từ xa xưa cư đân sông trên bán đảo Malay đã chịu ảnh hưởng của nềnvăn minh Án Độ Cho đến nay nhiều yếu tố văn hoá cô và trung cô An Độ vẫn còn tontại và dung hoà trong nên văn hoá của người Malay ban địa Tuy nhiên, do nhiều nguyên

nhân Án Độ giáo bị tan rã nhường chỗ cho những yếu tố văn hoá mới của thế giới Hỏi

giáo A Rap đến thay thế Hiện nay, Án D6 giáo chỉ còn phát triển trong khu vực cư dan

có nguồn gốc An Độ đến làm ăn sinh sông ở Malaysia từ cuối the ky XIX, đầu thé ky

XX Theo ước tính thì có khoảng 9,4% dân số toàn Liên bang theo tôn giáo An Độ giáo.

Phan lớn những người nay song ở bở biên phía Tây của bản đảo Malacca Những người

theo Án Độ giáo ở Malaysia đều có nguồn gốc từ miền Nam Án Độ, nơi Shiva giáo rất

21

Trang 22

thịnh hành Giáo phái này rat phủ hợp với những cư dan nông nghiệp Ở Malaysia biéu

tượng Linga (dương tính) và Kasati (âm tính) liên quan đến các lễ nghỉ nông nghiệp

vốn đã rất thịnh hành, nên Shiva giáo dé dang được chấp nhận và phát triển trong môitrường mới nay Nhiều đền dai Shiva giáo được xây dựng ở Malaysia từ the kỷ trướcđến nay vẫn được giữ gìn, sửa sang Một số đèn dai được xây dựng mới, nhờ sự nguyên

góp của các tin đỗ, trong đó có thê ké đến một số đền thờ đành cho các ân sĩ Nhiều nơi

các tín đồ An Dộ giáo đã sử dụng các hang động tự nhiên làm nơi thờ phụng, trong đó

có một cái hang ở ngoại ô Kualar Lumpur Trong các lễ hội tôn giáo các tin đồ Án Độ

giáo thường tô chức những đám rước vui vẻ Từ thé ky 20 một số thị dan và trí thức An

Độ giáo đã phát trién trường phái An Độ giáo cách tân và tô chức các Hội của những

người theo Án Độ giáo Hội “Aria Samada` là một minh chứng về việc thành lập các

Hội tôn giáo Ân giáo mới ở Malaysia Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử phương Đông cho rằng Án Độ giáo không gây ảnh hưởng lớn đến nên văn hoá truyền thông ở nông thôn

Malaysia ngay ca vào thời hưng thịnh nhất của tôn giáo này Thực tế thì tang lớp tu sĩcủa Án Độ giáo đã đóng vai trò rất lớn ở Malaysia trong một giai đoạn lịch sử nhất địnhgóp phan vào quá trình “An Độ hoa” khu vực này Các giáo si Bà La Môn giáo đã từng

la những nha tiên tri, những vị có van của nha vua, là nha tho trong cung đình, là cácnhà chiêm tinh, quan tòa tối cao và có uy tín rất lớn trong việc giải quyết các vấn đề cóliên quan đến tôn giáo Họ là những người điều hành và gìn giữ những truyền thốngthiêng liêng của cung đình Các tang giới tăng lữ, quý tộc trong hệ thống dang cấp Bà

La Môn giáo cũng đã từng kiểm soát toàn bộ đân chúng thông qua việc tuyên bố họ là

những người có nguồn gốc cao quý là đại điện của thần Shiva trên trần thé v.v vì thé nên ngày nay mặc di người Malay không còn là tín đồ An Độ giáo, song những tàn dư

của lớp tôn giáo này vẫn còn đọng lại và âm vang trong các tín ngưỡng dân gian, những

tập tục lễ nghỉ của địa phương Những tàn dư của Ân Độ giáo là những dấu tích chính

của các truyền thống xưa van còn tồn tại dai dang sau khi người Malay đã cải đạo theoHồi giáo Trong hệ thông các than linh của tín ngưỡng vật linh ở Malaysia có nhiều vịthan được vay mượn từ các thần của Án Độ giáo, mặc dù những người nông danMalaysia không có sự hiểu biết hàn lâm hệ thống thần linh của Án Độ Trong các bài

khan và niệm chú của các Pawang và Bomoh người ta có thé nghe thấy tên một số vị

than Án Độ giáo, song thực tế những tên này lại ám chỉ thánh Allah hoặc các than (Jin)

có nguồn gốc Hỏi giáo Nhiều từ có nguồn gốc Sanskrit được người Malaysia sử dụng

để chỉ tên các vị thân linh của mình như từ badi (linh hồn) và Nyawa (sự sống) hayHantu (Ma) Thuật ngữ Mantera là phép niệm chú được người Án Độ sử dụng như mộtngôn ngữ riêng, là phương tiện giao tiếp giữa thần linh với người cầu khan Mantera

của người Malay cũng dùng dé chỉ phép niệm chú của các thay Pawang va Bomoh, theo

22

Trang 23

Winstedt thi nó chứa đựng nhiều đặc tính của phép niệm chú Bảlamôn giáo Vi dụ trong

câu niệm chú của người Malay có từ *Om” Từ này xuất phát từ “AUM” biểu hiện bộ

ba than trong An Độ giáo: Brahma, Visnu và Shiva Tất nhiên, khi sử dụng “Om” ngườiMalay không có ý hướng về ba vị thần trên mà chỉ dùng như một từ riêng có tính chấtcông thức trong câu khan mà thôi Nhiều tên của các vị than An Độ giáo được đưa vàocác câu khan của người Malay: “Patala Guru” có nguyên gốc là “Batara Guru” hayPawang Berima chính là than Brahma hay Si-lang juna là thần Ar Yuna Có điều nhữngcái tên Ấn Độ này đã được bản địa hoá bằng cách gắn thêm những tên gọi Malay

“Pawang” hay “Si-lang” Không chỉ có ở trong ngôn từ, khí nghiên cứu những nghỉ lễ

dân gian của người Malay người ta cũng thay chúng có nguồn gốc từ những nghi lễ của

Án Độ Ví dụ ở người Malay song trên bờ biên phía Đông có nghỉ lễ Puja Patai- là nghỉ

lễ của các ngư dân xuất phát từ nghỉ lễ của An Độ giáo Puja hay Pajana có nghĩa là Thờ than Những ví dụ trên đây cho thay dù Án Độ giáo hiện nay không còn thịnh hành

ở Malaysia nữa, song nó đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các tập tục, lễ nghi truyền thống

của Malaysia Những yếu tô cua An Độ giáo đã hoa nhập vào các tín ngưỡng dân gian,

đặc biệt là tín ngưỡng thờ than linh của Malaysia và góp phan lưu giữ những ảnh hưởng

văn hoá của An Độ trên miền dat nay.

- Đạo Sikh:

Dao Sikh là một nhánh của dao Hindu, do một học gia — quân nhân, Guru Nanak

bang Punjab khởi xướng từ thé kỷ 15 Ong đã bãi bỏ hệ thông đăng cấp, tạo nên một

bang ký luật hùng mạnh ở Punjab, chống lại sự xâm chiếm của Công Ty Đông Ân vào

the ky XVIII và vi Guru thứ 10 — Gobird Singh Dao Sikh ra luật qui định: đàn ông Sikh phải che mái tóc không cắt bằng khăn xếp, đeo vòng thép, mang lược và kiếm Hầu như

tat cả người Sikh, dù tóc dai hay ngắn đều có vòng thép trên cánh tay phải và đội khăn

xép.

Tin đồ dao Sikh ở Malaysia chỉ có khoảng 20 — 25 ngàn người Phan lớn cónguồn gốc Nam Á Họ là những thị dân, những người đại điện cho giới trí thức, nhữngthương gia, viên chức hoặc những công nhân lành nghề Tuy số lượng không đông,

nhưng những người theo đạo Sikh vẫn duy trì hoạt động sinh hoạt tôn giáo diễn ra ở

những đèn thờ Đạo Sikh Malaysia cũng bao gồm các môn phái khác nhau, đặc biệt là

môn phải Nandhari Tin đồ của môn phái này luôn luôn mặc quan áo trắng, quan khăn

tring tạo nên một nét đặc trưng nhất định về cộng đồng dân tộc tôn giáo người Sikh

-đạo Sikh ở Malaysia Tuy nhiên, -đạo Sikh không gây được ảnh hưởng đáng kê trong xã

hội Malaysia xét trên các khía cạnh tôn giáo, chính trị, văn hoá.

23

Trang 24

Những đặc trưng văn hoá của cộng đồng người Án ở Malaysia trên đây hoà

quyện nhưng không hoà tan vào nên văn hoá đa sắc màu của quốc gia đa tộc Malaysia.

Ngoài những đặc điểm văn hoá trên như những tiêu chí xác định truyền thông văn hoácủa cộng đồng người Án ở Malaysia nói riêng và cộng đồng người Án ở các nước ĐôngNam A nói chung, văn hoá Ân Độ đã có đấu ấn sâu đậm trong lòng văn hoá Malay trước

khi Malacca cải đạo chuyên sang Islam giáo vào thé kỷ 15.

Ở một quốc gia đa tộc như Malaysia, từ văn hoá vật chất đến văn hoá xã hội và

văn hoá tỉnh thần hay còn gọi là văn hoá vật thê và phi vật thê, bên cạnh một số điểm

chung nhất định, mỗi cộng đồng đều có những nét đặc sắc riêng, làm cộng đồng này

khác và không thé lẫn được với cộng đồng kia Trên phương điện trang phục, người An

nổi tiếng với chiếc Sari rất thanh lich và tỉnh tế của phụ nữ.

Trên phương điện hôn nhân gia đình, thì ba điều không thẻ thiếu trong đám cưới của người Án là phải có người đứng ra làm mai, hai gia đình phải cùng dang cấp, và trong hôn lễ phải có các nhà sư tụng kinh.

Trên phương điện thai nghén, sinh nở: cùng với cộng đồng người Malay và cộngđồng người Hoa, người An xem việc sinh nở là một việc thiêng liêng trọng đại và khôngkém phân huyền bi, do đó người mẹ và đứa bẻ — trước và sau khi ra đời- được chăm sóc

£ ~ * ^ ^ H Ấ ` ra a

rat kỹ càng, nghiêm ngặt theo tập tục truyền thông của mỗi cộng dong.

Trên phương diện giáo dục trẻ con thời niên thiểu, đôi với người An, sự kiện

đáng chú ý là lễ mừng con gái trưởng thành được tô chức trang trong, ấm cúng.

Trên phương điện ma chay, nghi thức ma chay của người An cũng ngắn gọn như người Malay tuy nhiên có một số điểm đáng lưu ý là: thường hoa tang, phụ nữ va trẻ con không được dự lễ này và sau khi đưa quan tài ra khỏi nhà, người quá phụ không

bao giờ được phép deo nữ trang nữa.

Trên phương diện lễ hội, không phải quá lời khi nói rằng Malaysia là một đất

nước của lễ hội Nếu như người Malay nỗi tiếng vẻ các lễ hội Hari Raya Haji, Hari Raya

Puasa, lễ Maulud Nabi, Israk, Mikraj, lễ hội Nurul Quran thì khi nói đến người Hoa

người ta nói đến Tết Nguyên Đán, lễ sinh nhật Ngọc Hoàng (mỏng 9 tháng giêng), lễ

Chap Goh Mei (Ram tháng giêng) lễ Ching minh (Thanh Minh), lễ hội thuyền rong, lễ

zhong yuan (lễ cúng cô hồn), lễ Zhong Qui (Trung thu), lễ đưa ông táo về trời Trong

khi đó, người An cũng không thiểu những lễ hội độc đáo như: lễ Deepavali (lễ hội đèn)

lễ Thaiponggal, lễ Thaipusam, lễ Maha Shiva - ratri, lễ Uttiram, lễ Puttandu

aA _~ ,

Về van hóa

24

Trang 25

Cách đặt tên

Mỗi người Hindu đều có tên gọi riêng của minh với cụm từ chỉ giới tinh là “con

trai của” hay “con gái của” cộng với tên của người cha Trong tên day du của ngườiHindu không có họ Cụm từ dé chỉ “con trai của" hay “con gái của” trong tiếng Malay

là a/l (Anaklelaki) và a/p (Anak perempuan).

Có khá nhiều người An theo đạo Công giáo ở Malaysia Những người này có tổtiên từng được rửa tội bởi thánh Thomas tông đồ Chúa Giêsu cách đây khoảng 2000

năm Những người nay có họ theo thánh kinh như Ibraham John, Samuel, Jacob được

ghi trong pha hệ của gia đình Một số người An mang tên Bồ Dao Nha; những tên này

có từ thời các vùng Goa, Ceylon, Malacca còn là thuộc địa của Bồ Dao Nha - là mộtcộng đồng có tên gọi là Chitties, họ đã sống ở Malaysia nhiều thế ky và hoàn toản bịđồng hoá như người Hoa Baba Những tên đặc trưng là Desilva, Rozario, Santa Maria

được sử dụng làm họ từ thế hệ này sang thé hệ khác.

Tất cả đàn ông người Sikh đều được gọi bằng tên cộng với Singh, Singh không

han là một cái họ mà là một từ chỉ giới tính Ví dụ như lagjit có thé là nam hoặc nữ, do

đó muốn phân biệt phải có một chữ chỉ giới tinh đi sau Jagjit Singh (nam) hay JagjitKahr (nữ) Một phụ nữ người Sikh đã có chồng được gọi theo tên riêng của mình nhưSurinden Kaur; hoặc được gọi theo tên chồng là bà Sagjit, không đúng nếu ta gọi bà ta

là bà Singh.

Về cách xưng hô, người Án cũng như tất cả những người Malaysia khác đềuđược gọi là Encik đối với nam, Cik đối với những người chưa lập gia đình, hoặc Puanđối với phụ nữ đã có chong Nghề nghiệp của một người cũng được dùng như một hìnhthức xưng hô, ví dụ như Cikgu (thay giáo) Việc sử đụng tên riêng không kèm theo chứcdanh cho biết rằng hai người nói chuyện đang trao đôi rất thân mật với nhau Người An

cũng gọi những người lớn tuôi hon mình là “bac” và “thim” cho di những người này

không có bả con họ hàng chỉ cả.

LỄ hội

Hau như mỗi ngày đều là lễ hội của người Hindu, nhưng đôi với người Malaysia

gốc Án thì chỉ có một vai lễ hội chính Đó là Deepavali, Thaipusam và Thaipoggal Các

lễ hội khác chỉ được cử hành ở các ngôi đèn địa phương

Deepavali hay Diwali — Lễ hội đèn:

Đây là một trong những lễ hội được cử hành rộng rãi của người Hindu Ở

Malaysia, tat cả mọi người Hindu đều tham dự lễ này Lễ rơi vao ngảy trăng khuyết của

25

Trang 26

tháng Kartik của người Hindu (tháng 10, 11) Có rất nhiều truyền thuyết xung quanh

nguồn gốc của lễ hội này, nhưng pho biến nhất ở Malaysia là truyền thuyết về sự chiến

thắng của Sri Krishma, hiện thân của Vishnu đối với vua quỷ Narakasura

Trong một vai trường hợp, lễ hội được tiến hành dé kỷ niệm sự chiến thắng cái thiện trước cái ác; cái thiện được tượng trưng bảng những ngọn đèn sáng lung linh xua

tan bóng tôi của tâm hôn.

Lễ hội Deepavali cũng tượng trưng cho sự bắt đầu mới, đặc biệt có ý nghĩa đối

với những thương gia chuẩn bị khai trương một năm làm ăn mới Vào buôi sáng lễ hội các gia đình Hindu thức day từ lúc rạng đông, tắm gội sạch sẽ bằng dầu cọ, mặc quần

áo mới va cầu nguyện Thông thường họ sẽ cùng nhau đến đên theo đoàn Tat cả mọi

ngôi nhà của người Hindu đều thấp đèn sáng trưng với niềm tin rằng thần sức khoẻ

Lakshmi sẽ không vào nha họ nêu không có đèn thắp sáng.

Như những tôn giáo khác, Deepavali là một dip dé mọi người quên đi những bat

đồng, xung đột trong quá khứ Trong ngày này, người Hindu tin rằng khi ta quét ra khỏi

nhà những điều xui xẻo thì những điều may mắn trong tương lai cũng sẽ đi theo; không

nên làm đô vỡ bat cứ một thứ gì Người đầu tiên lay nước giếng nơi gan nhà mình nhất

trước khi mặt trời mọc được coi lả sẽ may mắn, hạnh phúc, nhưng việc tắm trước rạng

đông đối với những ai gia đình không có giếng cũng sẽ đạt được những những gì mongmuốn Đôi khi các gia đình cúng đô chay (Prasadam) cho những người đã mat Đôi vớitrẻ em, cũng như những người Hồi giáo trong lễ hội Hari Raya Pussa và đối với người

Hoa trong ngay Tết thi Deepavali cũng là ngày của quan áo mới, thức ăn ngon va những

cuộc vui chơi giải trí.

- Thaiphusam:

Lễ hội Thaipusam là một trong những lễ hội lớn nhất của người Hindu ở

Malaysia, được tô chức trong ngày trăng tròn của tháng Thai của người Tamil Lễ này

được tiền hành tại những ngôi đền Có thẻ nói, hầu như tat cả đền “Saivite” của ngườiHindu tại Malaysia đều cử hành lễ hội này, đặc biệt tại nơi cất giữ hài cốt của thần

Subramania Ở Malaysia, Thaipusam được tỏ chức trong một phạm vi rat rộng lớn tại

Sungai Petani, Ipoh, Penang và Batu Caves, Selangor Thông thường tại những thị trannày chúng ta có thé thay những đám rước dẫn dau tiền đến các đền thờ than Subramania

Tại day, các lễ cầu nguyện đặc biệt sẽ được tiễn hành.

Trong ngày này, những người mộ dao Hindu tập hợp thành những dam đông tại

những ngôi đèn dé củng thần Subramania, dâng lên Ngai những bông hoa xinh đẹp,

dừa, sữa, mật ong, mít và những thứ tương tự Hầu hết tất cả đèn thờ Subramania đều

26

Trang 27

tọa lạc trên những đỉnh đôi Những người Hindu sùng đạo đội đồ cúng của họ trên một

cái “Kavadis” Nhiều người sting đạo chọn ngày này dé thực hiện những lời thé nguyên

của họ và dé biêu diễn ma thuật Thông thường thì trước đó họ đã phải trải qua giai đoạn

ăn chay và tây ué Sau đó họ đội “Kavadis” và leo từng bước lên nơi đặt thánh cốt thiêng liêng trên những định đồi với những bài kinh thánh được hát phụ hoạ, đặc biệt là những

lời cau nguyện được viet cho thân Subramania.

Những người không đội “Kavadis” cũng theo đến những ngôi đền Hindu để tỏ

lòng tôn kính và cầu nguyện thân Subramania.

- Thaiponggal:

Đây là lễ hội thu hoạch của cộng đồng người An ở miền Nam An Độ Lễ hộiđược tô chức vào ngày đầu tiên của tháng Thai của người Tamil (tháng giêng, tháng

hai).

Từ “Ponggal” có nghĩa là gạo (gạo mới dau mùa) nau với sữa và đường Lễ hội

này có ý nghĩa “cúng thần lúa” Trước lễ hội một ngày, người Hindu có tập tục lau chùinhà cửa sạch sẽ và loại bỏ tất cả đồ đạc cũ rách mà thay vào đó bằng những thứ mớiđẹp Lỗi vào các ngôi nhà được trang hoàng công phu bằng lá xoài và cọng mía Sân

trong của nhà được trang trí những bức tranh làm bằng bột gạo Trong ngày đỏ, gạo mới

thu hoạch được nấu bằng ndi dat nung ở ngoài trời hoặc ở trong sân nhà Khi gạo sôi

những tiếng trong được đánh lên va tất cả mọi người sẽ hát bài hát “Ponggal” như: ponggal - ponggal Sữa, đường, nho khô được trộn vào gạo rồi được trải lên những

tam lá chuối va dang lên thần mặt trời, thức ăn mới nâu đó được chia cho bà con, ban

bẻ hàng xóm Lễ cau nguyện được tô chức ở các ngôi dén dé đánh dấu lễ hội nay

Ngày nay lễ hội Thaiponggal thường được tô chức một cách nghiêm trang ở các vùng nông thôn Tháng này còn được đánh giá là thuận lợi, tốt đẹp cho việc cưới xin.

Ngày hôm sau theo thường lệ sẽ diễn ra một lễ hội tương tự được tô chức cho gia súc.

Tại đây những thanh niên địa phương có cơ hội dé chứng tỏ sự can dam và sức mạnh

của họ Họ phải chính phục một con bò đực va cưỡi lên cái lung không có yên của nó.

Ngày xưa để tưởng thưởng cho những người chiến thắng trong lễ hội này các vị trưởng

làng thường ga con gái cưng của minh cho họ.

- Maha Shiva — Ratri:

Lễ hội có tinh chat tôn giáo này là một trong những lễ hội quan trọng nhất của

người Hindu dé tỏ lòng tôn kính đôi với than Shiva Lễ hội nay được tô chức dé ky niệm

27

Trang 28

sự thức khuya câu các bải kinh do nữ thần Uma Dewi đọc trong đêm trời đất vũ trụ tan

biến tại điểm kết thúc của mỗi kỷ nguyên Lễ được tô chức suốt thang Masi của người

Tamil (tháng hai, thang ba).

Trong ngày này, lễ cầu kinh phải được cử hành suốt cả đêm Những người sing

đạo hát thánh ca được soạn riêng đẻ tỏ lòng tôn kính đến thần Shiva với lòng tin rằng

bất cứ ai cử hành lễ này trong mỗi đêm Shiva — Ratri một cách thường xuyên thì chắc

chắn sẽ được giải thoát và khi chết sẽ đến được nơi ở của Shiva

- Pangguni Uttiram:

Lễ hội này được người Hindu cử hành như lễ cầu nguyện ăn chay Nó được tô

chức suốt ngày trăng tròn của thang Pangguni của người Tamil (tháng ba) Day là ngày

kỷ niệm lễ cưới của Rama và Sita - nam nữ anh hùng của thiên sử thi Ramayana Cuộc

hôn nhân thiêng liêng này còn tượng trưng cho khái niệm của ngừơi Hindu về trời và

ơn trời như một thé thong nhat khéng thé tach rời được Ơn trời được nhân cách hoa

dưới hình tượng Shakti.

Lễ hội nay được tiến hảnh tại tất cả các đền thờ Hindu nơi Shakti hiện ra như

Maha Mariamman Những người mộ đạo tập trung rất đông để cầu nguyện và để nhận phước lành Ngoải ra cũng có các lễ đi trên lửa nóng vả những đám rước bằng xe ngựa.

Ngoài những lê hội đã kê trên, người An ở Malaysia còn có nhiều lê hội khác

được tô chức như:

- Puttandu: Vào ngày một tháng Chitirai đầu tiên của người Tamil (tháng tư).

Năm mới được những người đạo Phật cũng như đạo Sikh cử hành Tất cả mọi ngườimặc đồ mới và rat nhiều tiệc mừng được tô chức Những người Hindu sẽ thăm viếng

bạn bè, bà con dé chúc mừng một năm mới tràn day hạnh phúc

- Chitra Paurnami: Vào ngày trăng tròn của tháng Chitirai của người Hindu

(tháng 4, thang 5) Day là lễ kỷ niệm một ngôi đền và là ngày hội tại nhiều thị tran ở

Malaysia Cũng như trong lễ hội Thaipusam, những người mộ đạo đội “Kavadis” bay

tỏ lòng tôn kính của họ tới thần Subranamia và thực hiện những lời hứa: bố thí thức ăn

cho số đông những người nghèo Đến đêm có một đám rướt xe ngựa bón bánh

- Adi — Amma Vasai và Mahalya Ammavasai: diễn ra vào thang Adi (thang 8) và

tháng Para Hasi (tháng 9) Tất cả mọi người Hindu đều thành tâm dâng “nước và hạtgiống Gingelly” cho những người đã khuất va phân phát thức ăn cho người nghéo, trẻ

mò côi Những người Hindu nào không thé về được trong những ngày gid của người thân trong gia đình thi có thê thực hiện nhiệm vụ của mình trong hai ngày này.

28

Trang 29

- Tiru =Oman: Lễ hội này có ý nghĩa đặc biệt với người Hindu Malaysia đến từ

Kerala, họ nói tiếng Malayalam Lễ hội được tô chức trong suốt tháng Adi của người

Tamil (tháng 8) Nó đánh dau lần nhập thé thứ 5 thành Vanama của Vishnu Trong ngày

này, Vishnu được cho rang đã khắc lên mình hình thé của dang tối cao và đã vượt qua

3 thể giới: trời, đất và địa ngục băng những bước chân của mình

Người Hindu mừng lễ với những điệu nhạc, các bài hát và những ngọn đèn sáng.

Trong những tháng 9, tháng 10 còn có lễ Navaratri đành cho việc thờ cúng nữ

than Shakti, có ý nghĩa quan trọng đối với phụ nữ; tháng 11,12 là lễ Annamalai Kartikar,

thé hiện quyền uy tối cao qua hình anh cột đèn trên đỉnh đồi AnnaMalai; và lễ Vaikunda Ekadar trong đó Vaikunda có nghĩa là chỗ ở của than Vishnu vả Ekadar có nghĩa là

thông qua nhiều biêu hiện trên các khía cạnh văn hoá mà múa được xem là một bộ môn nghệ thuật lâu đời va có sức quyền rũ lớn.

Các điệu múa An Độ đã có một sự biến đổi nhỏ theo thời gian và những diễn

viên múa ngày nay vẫn còn theo những cách thức cỗ xưa Kiều múa này gắn liền với

điệu bộ hành động Có lẽ đầu tiên nó là những màn kịch Án Độ sau đó phát triển thành

múa lễ hội có kèm theo dién kịch.

Bản thân nó là một môn nghệ thuật phức tạp và có sức quyến rũ lớn không chỉ

6a cử động cánh tay, bàn chân mà toàn thân cũng phải di chuyên theo Sự điều khiểntuyệt vời của thân người là cần thiết, như sự cử động của bàn tay hay chân mày là nhằm

mục đích làm cho câu chuyện được bộc lộ Theo thông kê có khoảng 36 điệu bộ của

mắt, 37 cử động của tay trong hàng trăm điệu bộ (Mudra) Mỗi một điệu bộ có thẻ diễn

tả được một cảm xúc Ví dụ có thẻ biểu thị thành các con vật, các vị thánh than, những

hành động, cảnh vật Do vậy một diễn viên múa hang dau phải trải qua rất nhiều năm khô luyện.

29

Trang 30

Sự đóng góp của cộng đồng người An Độ vào âm thực Malaysia là rat lớn Am

thực An Độ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến âm thực truyền thống của người Mã Lai , dẫn

đến sự phỏ biến của món cà ri ở Malaysia Các nhà hàng An D6 được người Malaysia

thudc moi thanh phan dan tộc và tôn giáo đón nhận nồng nhiệt Chúng đã trở thành một

vật có định quan trong trong cuộc sông hàng ngày của người Malaysia và là địa điểm

được lựa chọn để xem các trận bóng đá được truyền hình trực tiếp Các nhà hàng và

quay hàng Mamak đẻ cập đến các quán ăn do người Hồi giáo Án D6 sở hữu và nhânviên phục vụ Từ 'Mamak' đôi khi được sử dụng sai dé mô tả bat kỳ nhà hàng An Độ

nào Roti canai, nasi kandar, maggi goreng và pasembur (Mamak rojak) là món ăn An

Độ độc dao của Malaysia Nasi kandar được ban độc quyén tai cac nha hang Hỏi giáo

Án Độ và công thức nau ăn là những bi mật được bảo vệ chặt chẽ Không giống như

am thực Án Độ ở Vương quốc Anh và các nước phương Tây khác có xu hướng tập trung vào âm thực Bắc Án Độ am thực An Độ ở Malaysia chủ yếu dựa trên 4m thực

Nam Án Độ vì cộng đồng người Án Độ gốc Malaysia chủ yếu là người Tamil, mặc dù

một số món ăn phía Bắc như gà tandoori và naan bánh mì là phô biến Các món ngon của bữa sáng miền Nam như idli , vadai và dosa (6 Malaysia đánh van là 'thosai’) rat

phô biến, là một món ăn sáng yêu thích trong các gia đình Tamil Idiyappam được gọi

là putu mayam trong tiếng Mã Lai và thường được bán bởi những người bán xe máylưu động Murukku được tạo ra đề đánh dấu Deepavali Các bữa cơm với nhiều món

rau và thịt cùng với các loại gia vị khác được phục vụ trên lá chuỗi trong các nhà hàng

cho bữa trưa và bữa tối, cũng như trong các hộ gia đình Án Độ trong những địp đặc

biệt Thịt cừu (thịt đê) rất được ưa chuộng và được phục vụ dưới dạng varuval (cà rỉ khô) Mướp dang chiên, chuối chiên, đu đủ , rasam, sữa chua và đưa chua là những gia

vị thông thường Món tráng miệng và đồ ngọt bao gồm payasam , halva , mysore pak ,

palgoa va bơ ghee Một số thực phẩm Án Độ đã được áp dụng rộng rãi và bản địa

hóa Điều này bao gồm nhưng không giới hạn ở Murukku, Adhirasam và Puttu

Những thách thức cho tương lai

Mặc dù thực tế là thu nhập trung bình của người Malaysia gốc An Độ cao hơnthu nhập của người Malaysia gốc Án Dộ vẫn ton tại một phan đáng ké cộng đồng là

người nghèo, với 40% người gốc Malaysia góc An Độ được cho là ở bậc đưới cùng của

bậc thang thu nhập Bất chấp nhu cầu rõ ràng của người nghèo, người An Độ ở Malaysia

không đủ điều kiện tham gia bat kỳ chương trình hành động khăng định nào của

Malaysia, chương trình đảnh riêng cho người Mã Lai và người bản địa chọn lọc Điều

đã làm tăng thêm những thách thức mà cộng đồng phải đối mặt là xung đột tôn giáo do

Hồi giáo hóa ngày càng tăng, và có những xung đột cộng dong giữa người An Độ và

30

Ngày đăng: 01/02/2025, 00:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Tường Vi. 2020. Khám phá nét văn hóa An Dé giữa lòng TP.HCM, Báo ĐồngNai Online, trích từ: https://s.net.vn/BNrLTài liệu tiếng Anh Link
9. Cast Asia Reasearch Programme, /ndian Diaspora in Southeast Asia and its Soft Power Dynamics, trích từ: https://s.net.vn/Qo6C Link
10, Observe Research Foundation, /ndia’s cultural and civilisational influence on Southeast Asia, trích từ: https://www-.orfonline.org/expert-speak/indias-cultural-and-civilizational-influence-on-southeast-asia/ Link
10. Phạm Công Luận. 2022. Những An kiểu ở Sài Gòn. Tạp chi Điện tir Người ĐôThi. trích từ: https:/s.net.vn/nj13 Khác
1. Dr. Amba Pande. 2014. Indians in Southeast Asia: Sojourners, Settlers, Diasporas Khác
2. Patit Paban Mishra. 2021. India’s Historical Impact on Southeast Asia Khác
3. K.V. KESAVAN. 2011. India and Community Building in Asia: From Idealism to Realism Khác
5. Rahul Advani. /ndia % Popular Culture in Southeast Asia Khác
6. Graeme Hugo National Centre for Social Applications of GIS University of Adelaide. 2005. Migration in the Asia-Pacific region Khác
7. National Library Board Singapore. 2007. Indian Migration into Malay andSingapore during the British Period Khác
8. Kernial Singh Sandhu, A. Mani, Kernial Singh Sandhu, A. Mani. 2006. IndianCommunities in Southeast Asia Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm