1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận CSVHVN - Đặc trưng văn hóa trang phục của người Việt Nam

18 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Trưng Văn Hóa Trang Phục Của Người Việt Nam
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Văn Hóa
Thể loại Tiểu Luận
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 35,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không chỉ vậy, từ xưa, trong nhận thức của con người đã tồn tại những định kiến về trang phục như: đặc trưng về giới tính váy chỉ dành cho nữ, hay lứa tuổi và địa vị xã hội.. Hiện tượng

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Người xưa đã từng nói, “Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân.” Bởi thế mà từ ngàn đời nay, trang phục đã trở thành một trong ba nhu cầu vật chất cơ bản quan trọng của con người: ăn - mặc - ở Tuy nhiên, bên cạnh vai trò bảo vệ con người khỏi yếu tố môi trường, trang phục còn dần dà trở thành văn hoá Ở mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới đều có những bộ quốc phục khác nhau thể hiện văn hóa, phong tục tập quán, quan niệm thẩm mĩ… riêng Nếu ở Nhật Bản có Kimono; Hàn Quốc với Hanbok; Trung Quốc có Sườn xám thì Việt Nam lại có

Áo dài Không chỉ vậy, từ xưa, trong nhận thức của con người đã tồn tại những định kiến về trang phục như: đặc trưng về giới tính (váy chỉ dành cho nữ), hay lứa tuổi và địa vị xã hội Tuy nhiên, theo đà phát triển của xã hội và nhân loại, công dụng của trang phục cũng được dần biến đổi theo Bên cạnh những vai trò

cơ bản, trang phục còn thể hiện gu thẩm mỹ của mỗi người với mỗi cách nhìn khác nhau Bởi thế mà những định kiến cũng dường như được nới lỏng, văn hoá giữa các nước về trang phục dần tìm được điểm chạm với nhau Và ở Việt Nam cũng không phải ngoại lệ Tuy nhiên, bên cạnh những phát triển tích cực vẫn còn những “con sâu làm rầu nồi canh" Hiện tượng ăn mặc lố lăng, không phù hợp với ngoại cảnh hay văn hoá ăn mặc Đông Tây hoà tan chứ không phải hoà nhập; đó đều là những mối lo ngại về trang phục đối với người dân Việt Nam ngày nay

Vì vậy, tiểu luận “Đặc trưng văn hóa trang phục của người Việt Nam" được viết nhằm cung cấp thông tin về truyền thống trang phục Việt, giúp người đọc có ý thức bảo tồn văn hóa nước nhà Bên cạnh đó, tiểu luận còn đưa ra một

số giải pháp nhằm giảm thiểu những “biến dị” tiêu cực trong trang phục người Việt Nam ngày nay, đặc biệt là với giới trẻ - lứa tuổi nổi loạn và chưa có góc nhìn đủ chín chắn

Trang 2

2.1 Mục đích

- Nghiên cứu và cung cấp thông tin về đặc trưng văn hóa trang phục của người Việt Nam từ xưa tới nay

- Bảo tồn văn hóa trang phục truyền thống của người Việt,

- Đưa ra hướng giải pháp đúng đắn cho thực trạng “tiến hoá" trang phục Việt

2.2 Nhiệm vụ

- Trình bày cơ sở lý luận về đặc trưng văn hóa trang phục người Việt Nam

- Nghiên cứu các khái niệm liên quan đến trang phục nói chung hay trang phục người Việt Nam nói riêng

- Tìm hiểu đặc trưng văn hóa trang phục người Việt từ xưa tới nay

- Nêu lên những thực trạng về trang phục người Việt Nam ngày nay, bàn luận và đưa ra giải pháp

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Văn hóa trang phục người Việt Nam; thực trạng của văn hóa trang phục người Việt Nam ngày nay

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Không gian: Đất nước Việt Nam

+ Thời gian: Nghiên cứu tóm tắt từ lịch sử sơ khai đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân loại và hệ thống

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

Trang 3

NỘI DUNG

I Các khái niệm

1 Khái niệm chung về văn hoá

Văn hoá là một tổng thể hệ thống những giá trị, những chuẩn mực, những thói quen, những hoạt động trong thực tiễn có ý thức, mang tính xã hội, sáng tạo

và nhân văn của một cộng đồng người nhất định trong lịch sử nhằm thoả mãn nhu cầu của cuộc sống và tạo ra bản sắc riêng Con người có hai loại nhu cầu cơ bản là tinh thần và vật chất Từ đó, văn hoá như một hệ thống thường được chia làm hai dạng: văn hoá tinh thần và văn hoá vật chất

- Văn hoá tinh thần bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng tôn giáo, nghệ thuật, lễ hội, phong tục, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương

- Văn hoá vật chất bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuát vật chất của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hằng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại,

2 Khái niệm chung về trang phục

Trang phục là khái niệm chỉ các loại đồ mặc như áo quần, đồ đội như mũ khăn nón, đồ đi như giày dép guốc, những trang phục phụ như khăn quàng thắt lưng cùng với các đồ trang sức Chức năng chủ yếu của trang phục là nhằm bảo

vệ thân thể con người và để làm đẹp cho con người Trang phục của từng dân tộc, từng quốc gia hình thành và phát triển gắn bó với những đặc điểm lịch sử, đặc điểm kinh tế, địa lý, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo mà dân tộc

đó, quốc gia đó chịu sự chi phối Bởi vậy trang phục của mỗi dân tộc đều khác nhau, gắn với đặc trưng văn hóa tộc người Trang phục nhiều khi là dấu hiệu bên ngoài để nhận thấy vị trí xã hội của con người, chỉ rõ đẳng cấp, nguồn gốc xuất thân của người mặc trang phục Trang phục phát triển từ sơ khai đến hiện đại và luôn song hành cùng với sự vận động và phát triển của lịch sử Ban đầu con

Trang 4

người dùng những đồ che thân thô sơ như lá cây, vỏ cây, da thú cho đến nay con người đã tự trang điểm cho mình bằng những bộ trang phục với chất liệu quý hiếm Người ta mặc những bộ trang phục thích hợp với hoàn cảnh, với tính chất nghề nghiệp, với môi trường sinh hoạt đa dạng của từng người

II Đặc điểm chung của văn hóa trang phục

1 Về chất liệu

Ngay từ buổi bình minh của lịch sử, người Việt đã biết tận dụng các chất liệu tự nhiên để tạo nên trang phục cho mình Cái câu “ăn Bắc mặc Nam” nói với chúng ta về sự khác biệt trong văn hoá ăn, văn hoá mặc của người phương Bắc (Trung Quốc) và người phương Nam (Việt Nam) Hàm nghĩa của nó đã mặc nhiên khẳng định sự tinh tế và tiện lợi trong văn hóa mặc của người Việt

Chất liệu mà người Việt cổ sử dụng ban đầu là vỏ cây, lá cây, những sợi dây rừng Vỏ cây được đập dập, ngâm đầu nguồn nước sau đó dùng xương cá làm kim, dây rừng làm chỉ để khâu lại thành tấm, để từ đó người Việt tạo cho mình kiểu trang phục sơ khai Trang phục của người phụ nữ là mũ đội đầu, yếm che thân và váy - sản phẩm mà người Việt rất tự hào: “bằng cái trống mà thủng hai đầu, bên ta thì có, bên Tàu thì không” Dần dần, người Việt đi xa hơn trong sáng tạo văn hoá, không chỉ tận dụng cái vốn có của tự nhiên mà còn tạo ra chất liệu để sản phẩm văn hoá mặc ngày càng phong phú hơn Người ta bắt đầu sử dụng cây gai, cây bông, trồng dâu nuôi tằm lấy kén để dệt vải

2 Về màu sắc

Về màu sắc, người Việt chủ yếu dùng màu nâu hoặc đen, màu gần với màu bùn đất, phù hợp với công việc lao động đồng áng Tuy nhiên các lễ phục

đi trẩy hội của các cô gái thôn quê chủ yếu là loại áo mớ bảy mớ ba cũng rất phong phú màu sắc Đó là các màu nguyên (màu thiên nhiên) như nâu non, gụ, cánh sen, hoa lý

3 Phân loại

Trang 5

Trang phục có thể phân ra nhiều loại hình khác nhau Có thể là các bộ triều phục trong xã hội phong kiến trước đây, trang phục lễ hội cổ truyền, trang phục dân tộc, trang phục biểu diễn nghệ thuật, trang phục tôn giáo, trang phục lễ cưới lễ tang Trang phục dân tộc gắn liền với bản sắc văn hóa của từng tộc người, là một yếu tố quan trọng thể hiện nét đặc trưng riêng của văn hóa dân tộc Qua tiến trình lịch sử, trang phục dân tộc về cơ bản vẫn giữ được những cốt cách truyền thống, và không chối từ những biến đổi ít nhiều cho phù hợp với điều kiện phát triển và văn hóa thẩm mỹ Ví dụ, trang phục lễ cưới chủ yếu được sử dụng trong ngày cưới, được may theo kiểu cách riêng, không giống trang phục ngày thường bởi sự lộng lẫy và rực rỡ sắc màu Trang phục này cũng mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Trong văn hóa phương Đông đã có sự khác biệt: trang phục lễ cưới cho cô dâu người Trung Quốc thường là màu đỏ, cô dâu Việt Nam lại chọn màu trắng tinh khiết hay những sắc màu trang nhã, kín đáo hơn Trang phục lễ tang cũng mang sắc màu văn hóa riêng biệt, ở phương Đông, trang phục

ấy thường mang màu trắng, văn hóa phương Tây lại chọn màu đen cho trang phục lễ tang Trang phục sân khấu là kiểu áo quần được may cách điệu hóa, phù hợp với không gian biểu diễn của sân khấu nghệ thuật, phù hợp với tính cách và tuổi tác của nhân vật Trang phục thể thao thường được may theo những tiêu chuẩn quy định, đường nét khỏe khoắn, đảm bảo kỹ thuật và thẩm mỹ Trang phục phụ nữ thường mềm mại diêm dúa hơn trang phục của đàn ông, trong khi trang phục trẻ em thường giản dị, gọn gàng và nhiều màu sắc, phù hợp với tính cách hiếu động của trẻ em Trang phục tôn giáo chịu sự quy định của giáo lý Các nhà sư thường mặc áo cà sa, khăn nâu, chuỗi tràng hạt, trong khi các nhà tu hành của thiên chúa giáo thường mặc áo chùng hoặc áo choàng màu đen, tím,

đỏ, trắng, áo ren trắng, đội mũ quả trám, thắt lưng màu đỏ, đeo dây thánh giá Các vị giáo cả đạo Islam thường mặc bộ áo vải rộng, cổ đứng, khăn đội đầu, quấn xà rông dài, sắc màu được lựa chọn là màu trắng phù hợp với quy định của kinh Koran Mỗi tôn giáo đều có một quy định về trang phục riêng, ngoài ý Ý

Trang 6

nghĩa là để bảo vệ cơ thể còn mang một thông điệp đó là trách nhiệm và lòng tin của các tín đồ đối với tôn giáo mà họ thờ phụng

III Đặc trưng văn hóa mặc của người Việt trong từng giai đoạn

1 Thời kỳ truyền thống

1.1 Tính giản dị, tiện lợi

1.1.1 Về hình thức

● Quần áo

- Với phụ nữ:

+ Áo yếm: Áo yếm được coi là di sản của trang phục Việt Nó xuất hiện

từ lâu nhưng đến thời Lý thì mới định hình rõ nét, rồi cách tân dần khi hội nhập với văn hoá phương Đông và phương Tây Đó là một mảnh vải vuông che ngực phụ nữ có dải buộc sau cổ, hai góc đối nhau vắt sang hai bên sườn Người ta bắt đầu biết tôn vinh vẻ đẹp cho người phụ nữ bằng những sáng tạo từ áo yếm: yếm

cổ tròn gọi là cổ xây, tôn vinh vẻ đẹp đôn hậu; nếu cổ nhọn gọi là yếm cổ xẻ, yếm cổ chữ V sâu xuống gọi là yếm cổ cánh nhạn Những cách tân này khiến áo yếm của người phụ nữ Việt Nam đi vào nghệ thuật với những lúng liếng: “Trời mưa lấy yếm mà che - Có anh đứng gác còn e nỗi gì”, “Ước gì sông rộng một gang - Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”

+ Ngoài yếm, phụ nữ thời kỳ Đại Việt thường mặc áo tứ thân may từ bốn

mảnh vải, hai mảnh sau ghép liền ở giữa sống lưng, đằng trước là hai vạt áo buông thõng không có khuy khi mặc buộc thắt vào nhau Sau này còn cải biến

thành áo năm thân “Áo năm thân cũng may như áo tứ thân, chỉ có điều vạt trước phía trái may ghép từ hai thân vải thành ra rộng gấp đôi vạt phải để bên ngoài gọi là vạt cả đè lên vạt phải phía trong gọi là vạt con” [Trần Ngọc Thêm

2001: 385]

- Với đàn ông:

Trang 7

+ Đồ mặc bên dưới khi lao động phổ biến là khố Khố là một loại đồ mặc

tối giản, chỉ gồm một miếng vải dài quấn quanh bụng một hay nhiều vòng, luồn

từ trước ra sau rồi buộc thõng phần cuối ở phía trước hay phía sau Khi đóng khố

thì sẽ không có đồ mặc phía trên và “cởi trần đóng khố” là y phục đặc trưng của

đàn ông thời Giao Chỉ Loại y phục tối giản cho đàn ông này được bảo lưu khá lâu dài trong các giai đoạn sau Cho đến thời Đại Việt chúng ta có thể thấy lối trang phục này qua hình ảnh người lính tập võ nghệ trên thạp gốm đời Trần

Ngoài ra như chúng ta đã biết, tục xăm mình các hình giao long được xem

là một đặc điểm của bê ngoài người Việt cổ Đặc điểm này cũng gián tiếp phản ánh về trang phục tối giản đóng khố cởi trần của người Việt bởi vì hình xăm trên

cơ thể để cho người khác thấy được chỉ có thể ở trên cơ thể để trận Khố và yếm trở thành hai loại trang phục cổ truyền và đi vào chuẩn mực mỹ cảm của người Việt qua ca dao: “Đàn ông đóng khố đuôi lươn Đàn bà yếm thắm hở lườn mới xinh”

+ Ngoài khố, đàn ông Việt còn có đồ mặc dưới là quân nhưng theo Trần Quang Đức, quần này là loại đồ mặc bên dưới được may ghép từ năm, sáu hoặc tám tấm vải vây quanh eo, chứ không phải là quân có hai ống xỏ vào hai chân như chúng ta vẫn quan niệm Loại quần may bằng vải ghép lại đó còn được gọi

là thường Đàn ông Đại Việt mặc đồ bên dưới may bằng vải, dưới lớp áo gọi là quần hoặc thường và thời Nguyễn gọi là Xiêm

Tóm lại chúng ta có thể thấy rằng trang phục phía trên và phía dưới thân người của người Việt cho đến hết thời kỳ Đại Việt là loại trang phục giản dị về kiểu dáng và hình thức Văn hóa mặc của người Việt thiên về tính ứng dụng tiện lợi trong điều kiện thời tiết nóng, địa hình nhiều sông suối và điều kiện lao động nông nghiệp lúa nước Các loại quần áo đều thoáng, hở, ngắn và giản tiện tối đa

để mát và tiện lợi trong lao động

● Giày dép

Trang 8

- Ngoài quần áo giản dị thì người Việt trong đời sống hàng ngày ít đi giày

dép mà thường đi chân đất Trong sách Trung Quốc Lĩnh ngoại đại đáp, Chu Khứ Phi mô tả người Việt thời Lý “Người nước ấy áo thâm, răng đen, búi tóc chuy kế, đi đất, sang hèn đều như vậy.” Ghi chép của sứ thần nhà nguyễn Trần Cương Trung năm 1292 về việc ưa đi chân đất của người Việt “dân đều đi đất [ ] da chân họ rất dày leo núi như bay gai góc cũng không sợ” An Nam Chí Nguyện dẫn sách Giao Chỉ thông chí cho biết“Dân đều đi đất”, chỉ có người cao sang mới đi giày da”

- Nguyên do của việc đi đất để đầu trần được Lê Quý Đôn giải thích “vì nước ta là nơi nóng nực, ẩm thấp, nhân dân lúc thường không đội khăn (mũ), không đi giày, động tác mới được thuận tiện, việc này thành thói quen không thay đổi được.” [Lê Quý Đôn, Kiến Văn tiểu lục 1977-1978, dẫn theo Trần Quang Đức 2013:137]

1.2 Về màu sắc

Trang phục người Việt thường ngày ưa gam màu trầm (đen, gụ, nâu hoặc màu trắng) không ưa màu sặc sỡ

- Chu Khứ Phi mô tả người Việt thời Lý “áo thâm, răng đen”, sứ thần nhà

Nguyễn Trần Cương Trung nhận xét: “Người trong nước đều mặc màu đen, áo đen bốn vạt cổ tròn làm bằng là Phụ nữ cũng mặc áo đen, song áo trắng bên trong lộ rõ ra ngoài, ôm lấy cổ, rộng bốn tấc là khác biệt Các màu xanh, đỏ, vàng, tím tuyệt nhiên không có” năm 1778 “Những người phụ nữ nói chung ăn mặc khá khiêm nhã Họ mặc những chiếc váy dài và một hoặc nhiều áo cùng kiểu như nam giới nhưng chúng ngắn hơn Họ buộc quanh ngực một chiếc yếm

là một mảnh vải hoặc một mảnh lụa có hình trái tim dùng để làm đẹp cho họ [ ] Quần áo cư dân Đàng ngoài đa dạng về màu sắc Thông thường nhất là màu trắng, có nghĩa là màu sắc tự nhiên của lụa hoặc vải Màu đen phù hợp với những người được trọng vọng nhất.”

Trang 9

Thanh Triều văn hiến thông khảo cũng có ghi nhận tương tự: “Đàn ông đàn bà (Việt) đều xõa tóc, đi đất Quần áo hoặc làm bằng vải hoặc làm bằng lụa, phần lớn dùng sắc trắng Đàn ông dùng vải thắt lưng sau đó luôn xuống dưới mông trở ra phía trước, bọc lại Đàn bà dùng vải lụa che ngực.” [Thanh Triều văn hiến thông khảo, dẫn theo Trần Quang Đức 2013: 244]

Sử gia Trần Trọng Kim cũng xác nhận tình trạng trang phục của thường dân người Việt đầu thế kỷ XX là “cách ăn mặc thì chỉ có đô vải nâu, người nghèo khổ chỉ có manh áo cánh và thường thì đóng cái khố, có đi đâu mới mặc cái quần vải dài đến đầu gối Người sung túc mới có vài cái áo nâu, đen và vài cái quần hoặc nhuộm nâu hoặc để trắng.” [Trân Trọng Kim 2008: 537]

Nói tóm lại từ kiểu dáng đến màu sắc trang phục của người Việt thường dân đều toát ra đặc điểm giản dị, tiện lợi thích ứng với điều kiện tự nhiên và điều kiện lao động nông nghiệp lúa nước của Việt Nam Mặc dù vậy vào dịp lễ hội thì trên cái nền giản dị ấy, trang phục Việt vẫn được biến tấu để đáp ứng nhu cầu mặc đẹp, khoe duyên của tình yêu đôi lứa, của không khí tưng bừng trẩy hội Vào những ngày này, lấp ló bên trong những chiếc áo dài thường nhật của các

cô các chị là những chiếc áo ngắn nhiều màu rực rỡ như màu vàng chanh, hồng sen, vàng mỡ gà, hồng đào; xanh hồ thủy vv được mặc lông vào nhau theo lối mặc mớ ba mớ bảy đem lại cho người mặc một sự thanh xuân, duyên dáng

Như vậy khi nói rằng đặc trưng của trang phục dân gian của người Việt thời kỳ truyền thống là giản dị, kiểu dáng đơn giản, ưa màu sẫm, tối thì cũng không có nghĩa nó không biết biến tấu để đáp ứng những nhu cầu đa dạng và phong phú của tâm hôn Việt Tuy nhiên chúng ta đều biết rằng văn hóa Việt Nam ngay từ đầu công nguyên đã phải đối mặc với thử thách đồng hóa khốc liệt của quân xâm lược phương bắc Ngoài ngôn ngữ, văn hóa mặc (bao gồm cả kiểu dáng đầu tóc và màu răng) với tư cách là tín hiệu riêng biệt của bản sắc văn hóa Việt đã là đối tượng bị quyết liệt phủ nhận để động hóa, xóa bỏ diện mạo cũ Thử thách này diễn ra trong 1.000 năm Văn hóa Việt nhờ vào nội lực mạnh mẽ

Trang 10

của bỏ diện mạo cũ Thử thách này diễn ra trong 1.000 năm Văn hóa Việt nhờ vào nội lực mạnh mẽ của một nền văn hóa bản địa giàu bản sắc từ trước khi bị Trung Quốc xâm lược đã tạo được một phin lọc văn hóa kỳ diệu để có thể vừa tiếp nhận sâu sắc những thành tựu của một nền văn hóa lớn vĩ đại như văn hóa Trung Quốc, vừa vẫn giữ được bản sắc của văn hóa Việt

Trong lĩnh vực trang phục, người Việt học rất nhiều từ văn hóa Trung Quốc nhưng phần tiếp nhận này chủ yếu cho dòng trang phục cung đình, trang phục của vua quan, còn dòng trang phục thường dân thì tuy cũng có những tiếp nhận từ văn hóa Trung Quốc nhưng đặc trưng của trang phục Việt thì vẫn được gìn giữ Đó chính là sự giản dị, tiện lợi rất riêng của cư dân xứ nóng vùng sông nước Ý chí bảo vệ bản sắc diện mạo người Việt trong cuộc chiến chống động hóa từ phương bắc thể hiện rõ trong bài hiệu triệu tướng sĩ của vua Quang Trung Nguyễn Huệ ở thế kỷ XVIII khi đánh quân Thanh:

“Đánh cho để dài tóc Đánh cho để răng đen Đánh cho nó chích luân bất phản Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ!”

Rõ ràng là đặc trưng văn hóa mặc của người Việt ngoài việc chịu tác động của khí hậu và điều kiện lao động còn chịu tác động của điều kiện lịch sử chống đông hòa đặc thù của lịch sử Việt Nam Mặt khác chính điều kiện đặc thù bị xâm lược đồng hóa, bị bóc lột và luôn phải tập trung tinh lực chống ngoại xâm nên điều kiện kinh tế để có quần là áo lượt xa xỉ là không thể với đa số thường dân

Vì vậy sự giản tiện còn phản ánh sự nghèo khó vất vả của đa số người dân Việt trong cuộc sống thường nhật

2 Thế kỷ XVIII đến TK XIX

Ngày đăng: 26/01/2025, 22:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w