1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề thực tập: Thực trạng thu chi quỹ bảo hiểm xã hội tại bảo hiểm xã hội huyện Thạch Thất (thành phố Hà Nội)

79 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Thu Chi Quỹ Bảo Hiểm Xã Hội Tại Bảo Hiểm Xã Hội Huyện Thạch Thất (Thành Phố Hà Nội)
Tác giả Nguyen Duc Huy
Người hướng dẫn TS. Nguyen Thi Chinh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Bảo Hiểm
Thể loại chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 26,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, được sự quan tâm của Nha nước mà chính sách BHXH ngày càng được thực hiện tốt và hiệu quả hơn với các đối tượng tham gia.Để việc thực hiện BHXH phát huy được tác dụng của nó cầ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA BẢO HIỂM

52-61 BẢO HIỂU

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP

THUC TRANG THU CHI QUY BAO HIỂM XÃ Hội TẠI BAO HIỂM XÃ HOI

HUYỆN THACH THAT (THÀNH PHO HÀ NỘI)

ĐỀ TÀI:

Giáo viên hướng din: TS NGUYEN THỊ CHÍNH

Sinh viên thực hiện : NGUYEN DUC HUY Lớp : KINH TẾ BẢO HIỂM 52B

Ma sv : CQ521565

HA NOI - 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA BẢO HIỂM

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP

DE TAI:

THUC TRANG THU CHI QUY BAO HIỂM XA HỘI TẠI BAO HIỂM XA HỘI

HUYỆN THACH THAT (THÀNH PHO HÀ NỘI)

Giáo viên hướng din: TS NGUYEN TH CHÍNH Sinh viên thực hiện: NGUYEN ĐỨC HUY

Lớp : KINH TẾ BẢO HIỂM 52B

Mã sv : CQ521565

HÀ NỘI - 201%

Trang 3

1.1 Tổng quan về BHXH 2° ©s©s£+s£E+trsetxerserxerrserssrrs 3

1.1.1 Sự cần thiết va vai trò củaBảo hiểm xã hội ¿2s 5sz: 3 Vai trò của BHXH đối với người lao động và đối với xã hội: 4 1.1.2 Khái niệm, đối tượng của BHXH và đối tượng tham gia BHXH 6 1.1.3 Các mối quan hệ bên trong của BHXH - 2 2z 5225zz+s2 8

1.1.4 Ban chất của BHXH - 2 2 2 S+SE£EE£EE£EEEEEEEEEEEErErrkrrkrrki 10

1.1.5 Chức năng cơ bản của BHXH - 5c + + +22 *++sxvszesezsss II

1.1.6 Hệ thống các chế độ BHXH 2-2 2+ 2+ +E++E+E2EEzExrrxers 12 1.2 Quỹ bảo hiểm xã hội -2- 5-22 ©+z£+eetsstrserserrsrrsrserrsrree 17

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của quỹ BHXH 22- 5 sz+csez 17

1.2.2.Nguồn hình thành quỹ BHXH và mục đích sử dụng quỹ 18

1.2.3 Phân loại quỹ BHXH - ¿¿ +22 + S2 *+£+++vEvrveeerrvereeervee 21

1.2.4 Van dé quan lý quỹ Bảo hiểm xã hội - 2 2 22 ++£2£zczxz 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU - CHI QUỸ BHXH TẠI BHXH HUYỆN

THACH THÁTT -+©+©©222222EE22222222222vv mw ,ÔỎ 25

2.1 Vài nét về BHXH huyện Thạch Thất 2 s2 se 25

2.2 Tình hình thu BHXH tại BHXH huyện Thạch Thất giai đoạn

2008-1) HA ÔỎ 28

2.2.1 Những van đề chung về thu quỹ BHXH 2 2s se¿ 28

2.2.2 Công tác thu Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hộihuyện Thạch That 29 2.2.3 Nguồn thu Bảo hiểm xã hội 2-©-¿©5¿+2EeccEeEErerxxrrrver 30

SV: Nguyễn Đức Huy Lép: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 4

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyên Thị Chính

2.2.4 Nguyên tắc thu BHXH 22 2©2222+22E+tEE+2E2Exerxrerrrrrrrrer 31

2.2.5.T6 chức quản lý thu BHXH ceccssesccscsessessesesessessessesessessesseeeeeees 33

2.2.6 Đánh giá chung về công tác thu tại BHXH Thạch Thất giai đoạn

"00.10020617 1353a 37

2.3.Tình hình chỉ BHXH tại BHXH huyện Thạch Thất giai đoạn

2008-Tổ E breebasikhöbjiethonkhânghdttroirdgiintidpeckrsli9sfStnsnbircnircstdtdinstSáo432s4shibtiai4308A846ã3 cssndokobl3s28khda 39

2.3.1.Những van dé chung về chi BHXH - 2525522 z2 s255e£ 39

2.3.2.Công tác chi BHXH tại BHXH huyện Thạch Thắt - 40 2.3.3.Những nguyên tắc trong chi Bảo hiểm xã hội -+- 43

VẮC CN: lê S i11 nh an 6 I0 0 0 0 ng 44

2.3.5 Đánh giá chung về công tác chi tại BHXH Thạch Thất giai đoạn

PAI 2D noyangroưugngingghfZtiidiDTniGSiM50M08.14180Á3040181041/8H0018n011932/808:340E64 iA A NA ta Ad 49

CHUONG 3: GIẢI PHAP VÀ KIÊN NGHỊ NHAM NANG CAO HIỆU QUA

HOẠT ĐỘNG THU - CHI BHXH TẠI BHXH HUYỆN THẠCH THAT —

¡70 15 ` 51

3.1 Thuan loi và khó khan của BHXH huyện Thạch Thất trong giai

ign hiỆn MY sssscensnsvcancasosinennsnacenvesminnscsunremasavcencassnassuasnnasceesiainocansencessnoes 51

3.1.1 Thuận ÏỢI c 2c 1122211221111 112211 111811118 1111911 ng vn 51 Sea ee 52

3.2 Phương hướng hoạt động của Bao hiểm xã hội huyện Thạch That 53 3.3 Giải pháp nhằm thực hiện tốt hoạt động thu- chi BHXH tại BHXH

Thạch Thất — TP Hà Nội - 2-2222 ©S2£+szEse+zsexzerserssrrsersee 55 3.4.Một số kiến nghị 2° ©cs£©se+xs£EsExeErsvxetrsersstrsrrssrreersee 59

3.4.1.Đối với Nhà nước - + 5¿+2s+2E2EEEEE2E1221221 117111121 .ee 59 3.4.1.Đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam.w cecceescesseeseessessseseesseessesseessesseee 65 san, = 69 TÀI LIEU THAM KHẢO EEEEE2EV222222222+222222+ririrrie 71

SV: Nguyễn Đức Huy Lop: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 5

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TÁT

BHXH : Bảo hiểm xã hội

SV: Nguyễn Đức Huy Lop: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 6

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐÒ

Bảng:

Bảng 2.2.6: Tình hình thu BHXH và số đơn vị tham gia BHXH của BHXH

huyệnThạch Thất từ năm 2008- 2013 -2- 2 +2++£E+EE+EE2E22EE2E22EE2Ese2 38

Bảng 2.3.2a: Tình hình chi trả BHXH huyện Thạch Thất năm2008 42 Bảng 2.3.5: Tình hình chỉ trả của BHXH huyện Thạch Thất qua các năm từ

00.0062 49

Sơ do:

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tô chức bộ máy của BHXH huyện Thạch Thắt 26

SV: Nguyễn Đức Huy Lóp: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 7

Chuyên đề thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

LOI MỞ DAU

Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Dang và Nhà nước đối với người

lao động với mục đích đảm bảo và nâng cao vật chat, góp phan ổn định đời sống

cho người lao động khi gặp rủi ro như ốm dau, tai nạn lao động bệnh nghé nghiệp

hết tuổi lao động, qua đời

Hiện nay, được sự quan tâm của Nha nước mà chính sách BHXH ngày càng

được thực hiện tốt và hiệu quả hơn với các đối tượng tham gia.Để việc thực hiện

BHXH phát huy được tác dụng của nó cần phải có một quỹ BHXH.Qui BHXH là

một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được và là vai trò quan trong nhat trong hoat

động BHXH Việc quản ly sử dung qui BHXHcó ảnh hưởng trực tiếp tới sự ton tại

và phát triển của qui BHXH, ảnh hưởng tới sự ồn định của chính sách BHXH Vivậy vấn đề làm thế nào để thực hiện tốt trong việc thu- chỉ quỹ BHXH là câu hỏiđược đặt ra đối với mỗi nhà kinh tế, những người quan tâm nghiên cứu hoạt động

BHXH.

Là sinh viên chuyên ngành Bảo hiểm sau thời gian thực tập tại BHXH huyện Thạch Thất, em thấy BHXH huyện Thạch Thất đã đạt được những kết quả

thiết thực về hoạt động thu — chi quỹ BHXH như: Chi đúng người, đúng đối tượng,

kịp thời: thu quỹ BHXH ngày càng tăng v.v Tuy nhiên bên cạnh dó vẫn còn một

số tồn tại nhất định như: Thu BHXH chưa dứt điểm, số nợ đọng vẫn còn.một vài cơ

sở còn trốn nộp BHXH làm cho hoạt động quỹ BHXH tại BHXH huyện Thạch Thất

chưa đạt được kết quả cao, làm tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nước Nhận thứcđược tầm quan trọng của công tác quản lý thu — chi quỹ BHXH như vậy, em đãchọn đề tài :“Thuc trang thu — chỉ quỹ BHXH tai phòng BHXH huyện Thach

That (TP Hà Nội)” với mong muốn được góp phần nhỏ bé của mình nhằm hoàn

thiện công tác quản lý thu — chi quỹ BHXH tại BHXH huyện Thạch That nói riêng

và tronghé thống BHXH Việt Nam nói chung

SV: Nguyễn Đức Huy I Lép: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 8

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

Nội dung đề tài nghiên cứu ngoài phần mở đầu và kết luận, bao gồm 3

chương:

Chương I: Lý luận chung về BHXH và qui BHXH

Chương II: Thực trạng thu- chi qui BHXH tại BHXH huyện Thạch Thất

Chương III: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm thực hiện tốt hoạt động

thu- chi quỹ BHXH tại BHXH huyện Thạch Thất- TP Hà Nội

Trong quá trình hoàn thành chuyên đề, do thời gian và nhận thức còn nhiều

hạn chế nên em không tránh khỏi những thiếu sót.Em rất mong được sự chỉ bảo của

các thầy cô giáo dé bài viết của em được hoàn thiện hơn Em xin gửi lời cảm ơn tới

TS Nguyễn Thị Chính và các cán bộ tại BHXH huyện Thạch Thất đã tận tình giúp

đỡ em hoàn thành chuyên đề này.

SV: Nguyễn Đức Huy 2 Lóp: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 9

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE BẢO HIẾM XÃ

HOI VÀ QUY BẢO HIẾM XA HOI

1.1 Tổng quan về BHXH1.1.1 Sự can thiết và vai trò củaBảo hiểm xã hội

Trong thực tế cuộc sống không phải người lao động nào cũng có đủ điều kiện

về sức khoẻ khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoàn thành nhiệm vụlao động, công tác hoặc tạo cho mình và gia đình một cuộc sống ấm no hạnh phúc.Ngược lại, không mấy ai tránh khỏi những rủi ro, bất hạnh như ốm đau, tai nạn hay

già yếu, chết hoặc thiếu công việc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những

điêu kiện sông và sinh hoạt cũng như các tác nhân xã hội khác.

Khi rơi vào các trường hợp đó các nhu cầu thiết yếu không vì thế ma mắtđi.Trái lại, có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm nhu cầu mới Bởi vậy,muốn tổn tại, con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều

cách giải quyết De khắc phục những rủi ro, bất hạnh giảm bớt khó khăn cho bản

thân và gia đình thì ngoài việc tự mình khắc phục người lao động phải được sự bảotrợ của cộng đồng tập thé của các tổ chức cơ quan Nhà nước và xã hội Sự bảo trợnày không thể bằng những nguồn vật chất cần thiết, nhằm phục hồi nhanh chóngsức khoẻ, duy trì sức lao động xã hộ góp phần làm giảm bớt những khó khăn củabản thân và gia đình người lao động khi có những hãng hụt về thu nhập trong cáctrường hợp bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mat việc lam,hoặc khó khăn khi về già Tat cả những cái đó đã trở thành mối de doa đối vớicuộc sống bình thường của người lao động, sự đối mặt với cuộc sống thật nan giải.Tình cảnh này đưa đến những hành động tập thé phát huy truyền thống tương thân,tương ái vốn có từ trong nhân dan, đồng thời cũng đòi hỏi giới chủ, giới thợ và Nhànước từng bước can thiệp để duy trì lực lượng nhân công cần thiết cho xã hội

Qua nhiều thời kỳ, cùng với sự tranh chấp giữa vấn đề của giới chủ và giới

thợ, cùng với sự đôi mới quá trình phát triên kinh tê xã hội của đât nước, cùng với

G3

SE: Nguyễn Đức Huy Lop: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 10

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

trình độ chuyên môn và nhận biết về BHXH của người lao động ngày càng được

nâng cao, cách chủ động khác phục khi không may gặp những rủi ro xảy ra ngày

càng hoàn thiện Tuy nhiên, chỉ đến khi có sự ra đời của BHXH thì những tranh

chấp cũng như những khó khăn mới được giải quyết một cách ốn thoả và có hiệu

qủa nhất Đó cũng chính là cách giải quyết chung nhất cho xã hội loài người trong

quá trình phát triển đất nước.

Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH và sự cần thiết

phải tiến hành bảo hiếm cho người lao động Vì vậy, BHXH đã trở thành nhu cầu và quyền lợi của người lao động và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan,

một trong những quyền lợi của con người.

Vai trò của BHXH đối với người lao động và đối với xã hội:

- _ Đối với người lao động

Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang ngày càng hoàn thiện quá trình

công nghiệp hoá- hiện đại hoá thì những "rủi ro" như ốm đau, tai nạn lao động- bệnh

nghề nghiệp, thai sản, mat việc làm lại diễn ra một cách thường xuyên và ngày càngphổ biến hon, phức tạp hơn Khi những rủi ro này xảy ra sẽ gây khó khăn cho người

lao động về cả vật chat lẫn tinh than, ảnh hưởng không tốt cho cả cộng đồng.

Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân những người lao động gặp phải rủi ro, bất hạnh bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế, những điều kiện lao động thuận lợi øiúp họ én định cuộc sống, yên tâm công tác, tao cho họ một niềm tin vào tương lai Từ đó góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao động cũng

như chât lượng công việc cho xí nghiệp nói riêng và cho toàn xã hội nó chung.

- Dodi với người sử dung lao động

Dé có được sản phâm phục vụ cho cuộc sông của con người va sự phát triên của xã hội thì cân phải có người tạo ra sản phâm và nhờ vào quá trình lao động sản xuât đe tạo ra san phâm cân thiét cho con người, cho xã hội Những người biệt vận

SV: Nguyễn Đức Huy 4 Lop: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 11

Chuyên đề thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

dụng sức lao động đe sản xuất ra sản phẩm đó chính là những người chủ sử dụng

lao động Muốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh được đảm bảo thì người chủphải tạo được mối quan hệ tốt với người lao động, giải quyết những vấn đề thuộcphạm vi trách nhiệm của mình đối với người lao động thật tốt đe họ yên tâm lao

động sản xuất và có niềm tin vào cuộc sống từ đó họ lao động sản xuất hăng hái

hơn, tạo ra nhiều sản phẩm tốt hơn làm cho quá trình sản xuát kinh doanh của ngườichủ sử dụng lao động hoạt động đạt kết quả cao Muốn vậy người chủ sử dụng lao

động phải tham gia đóng BHXH cho những người lao động của mình đe có the đảm

bảo những khoản chỉ trả cần thiết, kịp thời đến người lao động khi họ gặp những rủi

ro bất chắc Việc tham gia đóng góp BHXH cho người lao động của người chủ sử

dụng lao động là góp vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

ngày càng phát triển hon, nâng cao năng suất, hiệu quả lao động sản xuất của doanh

nghiệp cũng như nâng cao thu nhập cho người lao động và góp vào việc phát trien

nền kinh tế của đất nước

- Đối với xã hội

+ Cần phải khang định rằng hoạt động BHXH là một hoạt động dịch vu, cơ

quan BHXH là một “doanh nghiệp” sản xuất ra những dịch vụ “ bảo hiểm” cho

người lao động, một loại dịch vụ mà bat cứ ai cũng cần đến (không phải chỉ cán bộ,

công nhân viên chức mới cần) Nếu các doanh nghiệp này càng sản xuất ra nhiều

loại bảo hiểm (đáp ứng đa dạng các nhu cầu) thì giá trị của những sản phâm dịch vụ

này cũng được tính trực tiếp vào tổng sản phẩm xã hội.

+ Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước,

BHXH sẽ “ bảo hiểm” cho người lao động hoạt động BHXH sẽ giải quyết những “

trục trặc”, “ rủi ro” xảy ra đối với những người lao động, góp phần tích cực của

mình vào việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng tạo của sức lao động Sựgóp phần này tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất lao động cá nhân, đồngthời góp phần tích cực của mình vào việc nâng cao năng suất lao động xã hội Với

sự trợ giúp của người lao động khi gặp phải rủi ro bằng cách tạo ra thu nhập thay

thế thì

SE: Nguyên Đức Huy 5 Lop: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 12

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

BHXH đã gián tiếp tác động đến chính sách tiêu dùng quốc gia làm tăng sự

tiêu dùng cho xã hội.

+ Với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH tác động mạnh mẽ tới hệ

thống tài chính ngân sách Nhà nước, tới hệ thống tín dụng tiền tệ ngân hàng Chính

vì vậy, đặt ra một yêu cầu cho quỹ BHXH phải tự bảo tồn và phát triển quỹ bằng

nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức đầu tư phát triển phần “ nhàn rỗi”của quỹ Phần này có tác động không nhỏ tới sự phát triển đất nước, góp phan tao ra

những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, việc làm mới góp phần quan trọng trong việc

tạo ra việc làm cho người lao đông Từ đó góp phần giải quyết tình trạng thất

nghiệp của đất nước, góp phần tăng thu nhập cá nhân cho người lao động nói riêng

và tăng tông sản phâm quôc nội cũng như tông sản phâm quôc dân nói chung.

+ Ngoài ra BHXH góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội, là công cụ phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH Sự phân phối lại thu nhập này được tiễn hành thông qua hai cách: Phân phối lại theo chiều ngang giữa

người khoẻ và người già, người đang làm việc với người đã nghỉ hưu, người trẻ tuổi với người lớn tuổi, giữa nam với nữ, người đang hưởng trợ cấp với người chưa

hưởng trợ cấp; phân phối lại theo chiều ngang là mục tiêu quan trọng của chính sách kinh tế xã hội, giữa những người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp.

BHXH không bao hàm ý phân phối bình quân, cũng không hàm ý lấy của người

giàu chia cho người nghèo một cách võ đoán Ý tưởng của BHXH nhiễu điều phủ

lấy giá gương là đoàn kết tương trợ, phát huy tính tự thân, sống hoà nhập có tình có

nghĩa giữa các nhóm, các giới bạn trong cùng cộng đồng với nhau mà vốn là tiềm

lực của dân tộc ta đã được lịch sử chứng minh.

1.1.2 Khái niệm, đối trợng của BHXH và đối tượng tham gia BHXH

Con người sông lao động, làm việc nhăm thoả mãn các nhu câu của mình, từ các nhu câu cơ bản, thiệt yêu như ăn, mac, 6, đi lại Đên các nhu câu cao hơn như vui chơi giải trí, có địa vị trong xã hội, được tôn trọng bảo vệ Khi cuộc sống càng phát trién thì nhu câu của con người cũng ngày càng cao hơn De thoả mãn được

SV: Nguyên Đức Huy 6 Lop: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 13

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

nhu cầu của mình con người phải lao động, phải bỏ sức lao động nhằm nhận thức

được những gì tương ứng với sức lao động bảo ra Vậy khả năng lao động quyếtđịnh đến nhu cầu sống và phát triển của con người.Tuy nhiên trong cuộc sống

không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi có được một cuộc sống ồn định

Trái lại có rất nhiều khó khăn, bắt lợi ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta

bị giảm hoặc mat thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khac.Chang han bat ngờ bi

ém dau hay bi tai nan lao động, mat việc làm, khi tuôi già khả năng lao động và khả

năng tự phục vụ bị suy giảm Khi rơi vào trường hợp này, các nhu cầu thiết yếu t

rong cuộc sống không bị giảm đi mà còn tăng lên thậm chí xuất hiện một s6 nhu cầu

mới như: ốm đau thì cần được khám chữa bệnh, tai nạn thì cần được người chămsóc nuôi dưỡng, về hưu thì cần được đi thăm bạn bè Bởi vậy dé dam bảo ồn địnhcuộc sống của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội con người đã có nhiều cách khác

nhau như tương tro, giúp đỡ lẫn nhau, vay mượn di xin, kêu gọi sự giúp đỡ của nhà

nước Tuy vậy các hình thức này đều mang tính bị động và không chắc chắn.

Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại hai lực lượng đó là những người lao

động và giới chủ (những người thuê lao động) Những người lao động bán sức lao

động và nhận được tiền công từ giới chủ Ban đầu những người lao động chỉ nhận được tiền công và tự đối phó với những rủi cuộc song cũng như trong lao động của

họ Về sau do sự đoàn kết đấu tranh của những người lao động mà giới chủ buộc

phải chịu một phần trách nhiệm về những rủi ro trong lao động và cuộc sống của

người lao động Mâu thuẫn giữa chủ và thợ phát sinh do khoản tiền chỉ trả cho việc này ngày càng lớn và do sự không chỉ trả của giới chủ, điều này đã ảnh hưởng tới sự

phát triển bền vững của xã hội Vì vậy nhà nước đã phải đứng ra can thiệp giảiquyết điều hoà mâu thuẫn này Nhà nước bắt buộc cả giới chủ và thợ phải nộp một

khoản tiền nhất định dé chi trả cho các rủi ro trong cuộc sống của người lao động.

Vì vậy một nguồn quỹ đã được thành lập từ giới chủ và thợ để chỉ trả cho việc này Theo thời gian cùng với sự tiễn bộ của xã hội lực lượng lao động ngày càng đông,

sản xuất càng phát triển thì nguồn quỹ ngày càng lớn mạnh đảm bảo ổn định cuộc

sống cho người lao động và gia đình họ, người lao động từ đó yên tâm hăng hái sản

SV: Nguyễn Đức Huy 7 Lóp: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 14

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

xuất ra nhiều của cải cho xã hội và giới chủ cũng có lợi từ việc này Mặt khác cùng

với sự phát triên của xã hội, cùng với sự lớn mạnh của ngân quỹ, phạm vi bảo đảm cho người lao động ngày càng rộng hơn và chât lượng của việc bảo đảm cho người

lao động cũng ngày càng được tốt hơn

Như vậy Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu

nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mat kha năng lao động mất việc làm trên cơ sở hình thành va sử dụng một quỹ tiền tệ tap

trung nhằm bảo đảm đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm

an toàn xã hội.

Mặc dù ra đời đã rất lâu nhưng đối tượng của BHXH còn có nhiều quan

điểm chưa thống nhất dẫn đến sự nhằm lẫn giữa đối tượng của BHXH với đối

tượng tham gia BHXH.

Như đã phân tích ở trên, Bảo hiểm xã hội là việc lập ra một nguồn ngân quỹ

nhằm đảm bảo bù đắp cho khoản thu nhập bị giảm hoặc mat di của người lao động

do họ bị mắt hoặc giảm khả năng lao động, bị mat việc làm, do ốm đau bệnh tật, tai

nạn, tuổi già vì vậy đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập bi mat đi hay

giảm di do sự rủi ro mà họ gặp phải trong cuộc sống làm giảm hoặc mat khả năng

lao động mat việc làm.

Đối tượng tham gia BHXH đó là người lao động và người sử dụng lao động,

tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế của từng thời kỳ mà đối tượng tham gia có thể làtất cả hoặc một bộ phận người lao động nhưng nhìn chung thì khi kinh tế càng phát

triển thì đối tượng tham gia càng được mở rộng nhiều bộ phận người lao động khác

1.1.3 Các mỗi quan hệ bên trong của BHXH

Mối quan hệ xuyên suốt trong hoạt động BHXH là mối quan hệ giữa nghĩa

vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia BHXH Trong BHXH, mối quan

hệ này dựa trên quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: bên tham gia BHXH bên

BHXH và bên được BHXH:

SV: Nguyễn Đức Huy 8 Lop: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 15

Chuyên đề thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

- — Bên tham gia BHXH gồm có người lao động, người sử dụng lao động và Nha

nước (trong một số trường hợp)

Người lao động tham gia BHXH để bảo hiểm cho chính mình trên cơ sở san sẻ rủi

ro của sô đông người lao động khác.

Người sử dụng lao động có trách nhiệm phải bảo hiếm cho người lao động mà mình

thuê mướn Khi tham gia BHXH, người sử dụng còn vì lợi ích của chính họ, ở đây

người sử dụng lao động cũng thực hiện san sẻ rủi ro với tập đoàn người sử dụng lao

động, để đảm bảo cho quá trình sản xuất của họ không bị ảnh hưởng khi phát sinhnhu cầu BHXH

Nhà nước tham gia BHXH với tư cách là người bảo hộ cho các hoạt động của quỹ

bảo hiểm xã hội, bảo đảm giá tri đồng vốn, hỗ trợ cho quỹ BHXH, bảo đảm giá trị

đồng vốn và hỗi trợ cho quỹ BHXH trong những trường hợp cần thiết Ngoài ra,Nhà nước tham gia BHXH còn với tư cách chủ thể quản lý, định ra những chế độ,

chính sách, định hướng cho các hoạt động BHXH.

- Bén BHXH, đó là bên nhận BHXH từ những người tham gia BHXH Bên

BHXH thường là một số tổ chức (cơ quan, công ty ) do Nhà nước lập ra (ở một số

nước có thế do tư nhân lập ra) nhận sự đóng góp của người lao động, người sử dụng

lao động, lập nên quỹ BHXH Bên BHXH có trách nhiệm thực hiện chi trả nợ cấp

cho bên được BHXH khi có nhu cầu phát sinh và làm cho quỹ BHXH phát triển.

- — Bên được BHXH là người lao động tham gia BHXH và nhân thân của họ theo

quy định của pháp luật Bên được BHXH được quyền nhận các loại trợ cấp khi phát

sinh những nhu cầu BHXH, dé bù đắp thiếu hụt về thu nhập do các loại rủi ro được

bảo hiém gây ra.

Trong kinh tế thị trường , giữa các bên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau bên thamgia BHXH có thể đồng thời là bên được BHXH (người lao động chẳng hạn) Đối

với người lao động độc lập, họ vừa là người tham gia BHXH vừa là người được

quyền hưởng BHXH vì đóng phí được BHXH để bảo hiểm cho chính họ

SV: Nguyễn Đức Huy 9 Lép: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 16

Chuyên đề thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

1.1.4 Bản chất cia BHXH

BHXH là sản phẩm tat yếu của nền kinh tế hàng hoá.Khi trình độ phát triển

kinh tế của một quốc gia đặt dén một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện

ra đời phát triển.Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng, sự ra đời và phát triển của BHXH

phản ánh sự phát triển của nền kinh tế.Một nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân

dân thấp kém không thể có một hệ thống BHXH vững mạnh được.Kinh tế càng phát

triển, hệ thống BHXH càng đa dang, các chế độ BHXH ngày càng phong phú.

Thực chất BHXH là sự đền bù hậu quả của những “rủi ro xã hội” Sự đền bù

này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung hình

thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH Như vậy BHXH cũng là quá trình

phân phối lại thu nhập Xét trên phạm vị toàn xã hội, BHXH là một bộ phận của GDP,

được xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát sinh nhu cầu BHXH như ốm

dau, sinh đẻ, tại nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, già yếu, chết

Vì vậy thực chất của BHXH là thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ BHXH là quá trình tổ chức sử dụng thu nhập cá

nhân và tống sản phẩm trong nước (GDP) dé thoả mãn nhu cầu an toàn kinh tế của

người lao động và an toàn xã hội về mặt kinh tế, nhờ sự tổ chức phân phối lại thu

nhập đời sống của người lao động và gia đình họ luôn bảo đảm trước những battrắc, rủi ro xã hội về mặt xã hội, do có sự san sẻ rủi ro của BHXH, người lao động

chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng

xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra ở đây, BHXH

đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số đông bù cho số ít”

Tuy nhiên, tính kinh tế và tính xã hội của BHXH không tách rồi mà đan xenlẫn nhau Khi nói đến sự bảo đảm kinh tế cho người lao động và gia đình họ là đã

nói đến tính xã hội của BHXH ngược lai, khi nói tới sự đóng góp ít nhưng lại đủ

trang trải mọi rủi ro xã hội thì cũng đã đề cập đến tính kinh tế của BHXH

- Dưới góc độ kinh tế, bản chất BHXH chính là sự đảm bảo thu nhập, bảo đảm

cuộc sống cho người lao động khi họ bị giảm hay mat khả năng lao động Có nghĩa

SV: Nguyễn Đức Huy 10 Lop: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 17

định trật tự xã hội.

1.1.5 Chức năng cơ ban của BHXH

-Bảo đảm ốn định đời sống kinh tế cho người lao động và gia đình họ khi

người lao động gặp khó khăn do mắt việc làm, mắt hoặc giảm thu nhập Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ

chức hoạt động của BHXH.

-Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia

BHXH Những người tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH để bù đắp cho

những người lao động gặp rủi ro bị giảm hoặc mat thu nhập, quá trình này đã tiến

hành phân phối lại thu nhập giữa người giàu người nghèo, người khoẻ mạnh

-người ốm đau, -người trẻ - -người già Thực hiện chức năng này BHXH đã góp phần

thực hiện công băng xã hội.

-Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng caonăng suất lao động do cuộc sống cuả họ đã được đảm bảo, họ không còn phải lolắng về cuộc sống của họ khi rủi ro xảy đến với họ bắt kỳ lúc nào từ đó khiến họ tập

trung vào việc lao động sản xuất Chức năng này biếu hiện như một đòn bây kinh tế

kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng

suất lao động xã hội

-Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao

động với nhà nước góp phân đảm bảo an toàn cho xã hội Do giữa người lao động và

người sử dụng lao động luôn tồn tại mâu thuẫn về tiền lương, thời gian lao động, an

SV: Nguyên Đức Huy II Lop: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 18

Chuyên đề thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

toàn lao động BHXH ra đời góp phần điều hoà mâu thuẫn giữa họ Nhà nước thôngqua việc chi BHXH ồn định đời sống cho mọi người lao động, ốn định xã hội

1.1.6 Hệ thống các chế độ BHXH

Các chế độ BHXH là hệ thống các quy định về mức hưởng của từng chế độ,

điều kiện hưởng, mức hưởng và thời hạn hưởng cho người lao động khi họ gặp phảinhững rủi ro thuộc từng phạm vi chế độ Có thể nói, hệ thống các chế độ là nội dung

cốt lõi nhất của BHXH, nó thế hiện được vai trò của BHXH đối với người lao động

khi tham gia BHXH.

Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã nêu trong Côngước số 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ, hệ thống các chế độ BHXH bao gồm:

- Trg cấp cho người còn sông ( trợ cấp mat người)

9 chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH Tuy điều kiện kinh

tế - xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở

mức độ khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được 3 chế độ Trong đó, ít nhất

phải có một trong năm chế độ: Trợ cấp thất nghiệp trợ cấp tuổi gia, trợ cấp tai nạn

lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp khi tàn phế, trợ cấp cho người còn sống ( trợ

cấp mat người)

Trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn triển khai BHXH ở các nước trên

SV: Nguyên Đức Huy 12 Lóp: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 19

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

thé giới cho thấy, hệ thống chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau:

- Hệ thống các chế độ BHXH được xây dựng và hoàn thiện theo các vănbảnpháp luật của mỗi nước Mặc dù các công ước quốc tế đã quy định những nội dung

cơ bản cho từng chế độ Song để đi vào thực tế cuộc sống thì nội dung mỗi chế độ

cần phải được cụ thể hoá chỉ tiét cả về mục đích, đối tượng, điều kiện, mức trợ cấp

và thời gian trợ cap BHXH Bởi vì các công ước quốc tế chri mang tính định hướng,

còn việc thực hiện bao nhiêu chế độ và nội dung mỗi chế độ như thế nào lại tuỳ

thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước Tuy nhiên, để tránh sự lạm dụngchế độ, dé nâng cao tinh thần trách nhiệm của các bên tham gia BHXH thì nội dungcủa các chế độBHXH cần phải được luật hoá, kể cả khi mới xây dựng cũng như

trong quátrình hoàn thiện

- Hệ thống chế độ BHXH đảm bảo phân tán rủi ro, san sẻ tài chính giữangười

lao động với người lao động, giữa người lao động với ngời sử dụng lao động và

giữa những người sử dụng lao động với nhau Đặc điểm này biểu hiện khá rõ giữa những người khoẻ mạnh với những người lao động bị 6m đau; giữa nam và nữ; giữa

những ngành nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm dễ xảy ra tai nạn lao động hoặc

bệnh nghề nghiệp với những ngành nghề hoặc công việc bình thường; giữa những

người lao động có công ăn việc làm và thu nhập cao với những người lao động

không may bị thất nghiệp Phân tán rủi ro, san sẻ tổn thất còn biểu hiện giữa những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ với những doanh nghiệp sử dụng lao động

nữ it hon; giữa các doanh nghiệp lam ăn phát dat có mức lợi nhuận cao với các

doanh nghiệp làm ăn thua lỗ gặp nhiều khó khăn bị phá sản.v.v

- Mức trợ cấp và thời gian trợ cấp BHXH phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, song

có 3 yếu tố rất cơ bản mà cơ quan BHXH phải tính đến, đó là: đối tượng tham gia

BHXH, mức đóng góp để hình thành quỹ và hiệu quả đầu tư quỹ BHXH nhàn rỗi.

Đối tượng tham gia BHXH càng đông thì rủi ro trong BHXH càng được phântán và dan mỏng dé nhiều người cùng gánh chịu và khi đó quy luật số đông bù số ít

mới thật sự phát huy tác dụng Còn mức đóng góp BHXH của các bên tham gia là

yếu tố quyết định, bởi vì BHXH cũng hoạt động theo nguyên tắc có đóng góp mới

SV: Nguyễn Đức Huy 13 Lép: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 20

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

được hưởng, đóng nhiều hưởng nhiều, đóng ít hưởng ít Mức đóng góp và mức trợ

cấp BHXH theo các chế độ phải luồn luôn tỷ lệ thuận với nhau Mối quan hệ này là

cơ sở chủ yếu dé cân đối quỹ BHXH Mặt khác, quỹ BHXH được hình thành và tồntích lại qua nhiều năm, nhiều thế hệ người lao động Trong tổng nguồn quỹ, bao giờcũng phải chia ra các loại quỹ khác nhau để quản lý (như: quỹ chỉ trả trợ cấp

thường xuyên, quỹ dự trữ dự phòng, quỹ trợ cấp ngắn hạn, quỹ trợ cấp dài hạnv.v ) Vì thế luôn có một bộ phận quỹ BHXH nhàn rỗi chưa sử dụng đến Nếu bộ

phận quỹ này được dau tư có hiệu quả sẽ là một nhân tố rất quan trọng dé nâng cao

mức trợ cấp và thời gian trợ cấp BHXH

- Hầu hết các chế độ BHXH đều được chỉ trả định kỳ (trừ chế độ chăm sóc y

tế), đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chỉ trả và thanh quyết toán Định kỳchi trả trợ cap BHXH theo tháng được hau hết các nước sử dụng Điều này xuất

phát từ đối tượng của BHXH là thu nhập của người lao động, mà thu nhập lại biểu

hiện ở tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động chỉ trả hàng tháng Chính vìthế, khoản trợ cấp BHXH để bù đắp, thay thế phần thu nhập bị giảm hoặc mắt điđược tiến hành định kỳ theo tháng là rất phù hợp Có như vậy mới trực tiếp gópphần én định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi người lao động gặp

rủi ro hay sự kiện bảo hiểm Còn người đóng góp BHXH lại căn cứ chủ yếu vào

tiền lương tiền công, cho nên việc chỉ trả trợ cấp và thanh quyết toán cho từng chế

độ dưới hình thức giá trị (tức bằng tiền) cùng với sự hợp lý - Phương thức chỉ trả

này vừa nhanh chóng thuận tiện, lại vừa dễ dàng điều chỉnh khi chính sách BHXH

có sự thay đổi

Hệ thốngchế độ BHXH có tính 6n địnhtương đối Nếu cần sửa đổi, bổ sung có

thé sử dụng các văn bản pháp quy đưới luật dé điều chỉnh Chỉ khi nào tình hìnhkinh tế - xã hội có những biến động lớn, các chính sách kinh tế - xã hội liên quan cónhiều thay đổi thì hệ thống các chế độ BHXH mới có sự điều chỉnh mang tính tổngthể Từ đặc điểm này đòi hỏi khi cụ thể hoá chính sách BHXH để xây dựng hệ

thống các chế độ BHXH cần phải thận trọng, đúng hướng và phải phù hợp với thực

tiễn Tính 6n định của hệ thống chế độ BHXH không chỉ giúp các cơ quan BHXH

SE: Nguyễn Đức Huy 14 Lóp: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 21

Chuyên đề thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

hoàn thành tốt chức năng và nhiệm vụ của mình mà còn giảm thiêu tối đa những rủi

ro và những khó khăn phức tạp phát sinh liên quan đến quá trình quản lý quỹ

BHXH.

Theo Luật BHXH Việt Nam, BHXH nước ta bao gồm 5 chế độ: Chế độ trợ cấp

ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề

nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất Mỗi chế độ BHXH khi xây dựng đều căn

cứ vào một loạt những cơ sở như: sinh học, kinh tế - xã hội, điều kiện và môi trường

lao động

- Ché độ trợ cap 6m dau:Om đau là rủi ro rất pho biến mà trong cuộc sống của

mỗi con người hầu như ai cũng gặp phải Khi bị 6m dau, ban thân hoặc gia đình

không những phải gánh chịu các chỉ phí khám chữa bệnh, điều trị, mà còn bị gián

đoạn thu nhập (nếu như người ốm là người lao động) Nếu người lao động tham gia

BHXH thì những chi phí nói trên được cơ quan BHXH bù đắp thông qua chế độ

chăm sóc y tế, còn thu nhập của họ bị gián đoạn sẽ được bù đắp thông qua chế độ

trợ cấp ốm đau Bởi lẽ đối tượng bảo hiểm của chế độ này chính là thu nhập của

người lao động.

Mục đích của chế độ này cũng nhằm bảo toàn và phục hồi sức khoẻ cho người tham gia BHXH bị ốm dau, từ đó góp phan ổn định cuộc sống cho bản thân và gia

đình họ Nói cách khác, trợ cắp ốm đau nhằm đảm bảo tính liên tục về thu nhập cho

người lao động tham gia BHXH giúp họ ổn định cuộc sống va tiếp tục trở về với

công việc của mình.

- Chế độ trợ cấp thai sản:Chễ độ này giúp lao động nữ có được khoản trợ cấpthay thế cho phần thu nhập bimat do không làm việc vì sinh con Hơn nữa, VIỆC quy

định thời gian nghỉ đã tính đến yếu tố điều kiện và môi trường lao động nhằm đảm

bảo sức khoẻ cho sản phụ thuộc các nhóm lao động khác nhau.

- Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp:Tai nạn lao động (TNLĐ)hoặc bệnh nghề nghiệp (BNN) là những rủi ro thường xảyra đối với mỗi người lao

động, nhất là những người lao động trực tiếp sản xuất trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Loại rủi ro này phát sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau

SV: Nguyên Đức Huy 15 Lóp: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 22

Chuyên đề thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

như: Không đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, máy móc thiết bị trục trặc kỹ thuật;

công tác bảo hộ lao động yếu kém; môi trường lao động bị ô nhiễm do thời tiết,

tiếng ồn Khi người lao động bị TNLD hay BNN thường dẫn đến tình trạng bị

mắt sức lao động tạm thời hay vĩnh viễn hoặc bị chết Trong thời gian điều trị, thu

nhập của họ bị gián đoạn và nếu mất sức lao động vĩnh viễn hay bị chết thì họ hoàn

toàn bị mất thu nhập từ lao động Vì vậy chế độ trợ cấp TNLD hoặc BNN là mộttrong những chế độ được thực hiện sớm nhất ở các nước công nghiệp cháu Au.Trước khi có Công ước số 102, một số nước đã thực hiện chế độ này và thường đưa

ra quy định buộc giới chủ phải có trách nhiệm bảo vệ người lao động.

- Chế độ hưu tri:Trong hệ thống chế độ BHXH, chế độ trợ cấp hưu trí (haycòn gọi là trợ cấp tuổi gia) có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi nó thể hiện rất rõ hệ

thống phúc lợi xã hội, thực trạng an ninh xã hội cũng như trình độ văn minh và tiềm

lực kinh tế của mỗi nước Trong mối quan hệ với các chế độ khác của hệ thống, chế

độ trợ cấp hưu trí là chế độ chủ đạo nhất Chế độ này liên quan đến toàn bộ người

lao động từ khi họ tham gia BHXH đến khi họ chết Phần đóng và hưởng của chế

này thường chiếm một tỷ trọng rất cao trong phần đóng và hưởng của toàn bộ hệ

thống các chế độ BHXH Bên cạnh đó, hoạt động thu chi cho chế độ trợ cấp hưu trí

cũng ảnh hưởng chủ yếu và trực tiếp đến hoạt động của quỹ BHXH nói chung.

Chính vì thế, chế độ trợ cấp hưu trí hầu như được tat cả các nước trên thé giới quan

tâm xây dựng và thực hiện Và đây cũng là một trong những chế độ được thực hiện

sớm nhất trong lịch sử tồn tại và phát triển của BHXH

- Chế độ tử tudt:Ché độ trợ cấp tiền tuất là chế độ có tính nhân đạo nhất trong

số 9 chế độ BHXH Vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thực hiện chế độ

này, bởi nó không chỉ là nhu cầu tất yếu của mọi người lao động, mà còn nhằm

mục đích cung cấp khoản thu nhập cho gia đình người lao động tham gia BHXH

không may bị chết Từ đó, góp phần khắc phục những khó khăn tức thời và ồn định

cuộc sống cho các thành viên trong gia đình họ

SV: Nguyên Đức Huy 16 Lóp: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 23

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

1.2 Quỹ bảo hiểm xã hội

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của quỹ BHXH

Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà

nước.Quỹ có mục đích và chủ thé riêng Mục đích tạo lập quỹ BHXH là dùng dé chi trả

cho người lao động, giúp họ ốn định cuộc sống khi gặp các biến cố hoặc rủi ro Chủ thểcủa quỹ BHXH chính là những người tham gia đóng góp dé hình thành nên quỹ, do đó

có thể bao gồm cả: Người lao động người sử dụng lao động và Nhà nước

Quỹ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau:

- Quỹ ra đời, ton tại và phát triển gan với mục dich đảm bao ốn định cuộc sốngcho người lao động và gia đình họ khi gặp các biến có, rủi ro làm giảm hoặc mat thunhập từ lao động Hoạt động của quỹ không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời Vìvay, nguyên tắc quản lý quỹ BHXH là: Cân bằng thu - chi

- Phan phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn tra vừa mang tính chất không

hoàn trả Tính chất hoàn trả thé hiện ở chỗ, người lao động là đối tượng tham gia vàđóng góp BHXH đồng thời họ cũng là đối tượng được nhận trợ cấp, được chỉ trả từ

quỹ BHXH cho dù chế độ, thời gian trợ cấp và mức trợ cấp của mỗi người sẽ khác nhau, tuỳ thuộc vào những biến cố hoặc rủi ro mà họ gặp phải, cũng như mức đóng góp và thời gian đóng góp BHXH của họ Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, cùng

tham gia và đóng góp BHXH nhưng có người được hưởng trợ cấp nhiều lần và

nhiều chế độ khác nhau, nhưng cũng có những người được ít lần hon, thậm chí

không được hưởng Chính từ đặc điểm này nên một số đối tượng được hưởng trợ

cấp từ quỹ BHXH thường lớn hơn nhiều so với mức đóng góp của họ và ngược lại.Điều đó thể hiện tính chất xã hội của toàn bộ hoạt động BHXH

-Quá trình tích luỹ để bảo tồn giá trị và bảo đảm an toàn về tài chính đối với

quỹ BHXH là một vấn đề mang tính nguyên tắc

-Quỹ BHXH là hạt nhân, là nội dung vật chất của tài chính BHXH Nó là khâu

tài chính trung gian cùng với ngân sách Nhà nước và tài chính doanh nghiệp hình

SV: Nguyên Đức Huy 17 52 -Ê Lóp: Kinh tế bảo hiểm 52B

Pactuém

Trang 24

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

thành nên hệ thống tài chính quốc gia

- Sự ra đời, tồn tại và phát triển BHXH phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh

tế - xã hội của tùng quốc gia và điều kiện lịch sử trong tòng thời kỳ nhất địnhcủa đất nước Kinh tế - xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện thực hiện đầy

đủ các chế độ BHXH, nhu cầu thoả mãn về BHXH đối với người lao động càngđược nâng cao Đồng thời kinh tế - xã hội phát triển, người lao động và người sử

dụng lao động sẽ có thu nhập cao hơn, do đó họ càng có điều kiện tham gia và

Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho

người lao động được phân chia cho cả người sử dụng lao động và người lao động

trên cơ sở quan hệ lao động Điều này không phải là sự phân chia rủi ro, mà là lợi ích giữa hai bên.Vềphía người sử dụng lao động, sự đóng góp một phần BHXH cho

người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chỉ ra một khoản tiền lớn khi

có rủi ro xảy ra đối với người lao động mà mình thuê mướn Đồng thời nó còn góp

phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo được mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ

-thợ Vềphía người lao động, sự đóng góp một phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa

vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ.

Mối quan hệ chủ thợ trong BHXH thực chat là mối quan hệ lợi ích Vì thế,

cũng như nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể thiếu được

sự tham gia đóng góp của Nhà nước Ngoài ra, bằng nhiều hình thức, biện pháp và SV: Nguyên Đức Huy 18 Lép: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 25

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

mức độ can thiệp khác nhau Nhà nước không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm

cho quỹ BHXH mà còn trở thành chỗ dựa để đảm bảo cho hoạt động BHXH chắc

chăn và ôn định.

Ở nước ta, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày29/6/2006 qui định Luật Bảo hiểm xã hội, trong văn bản này quy định quỹ BHXH

được hình thành từ các nguồn sau đây:

- Người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm

xã hội của người lao động như sau:3% vào quỹ ốm đau và thai sản; trong đó người

sử dụng lao động giữ lại 2% để trả kịp thời cho người lao động đủ điều kiện hưởng

chế độ theo quy định và thực hiện quyết toán hằng quý với tổ chức bảo hiểm xã

hội;1% vào quỹ tai nạn lao động bệnh nghé nghiệp; 1 1% vào quỹ hưu trí và tử tuất;

từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là

14%.

- Người lao động đóng bằng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và

tử tuất; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức

đóng là 8%.

- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đối

với người lao động Hàng tháng Bộ Tài chính trích từ ngân sách Nhà nước số tiền

xung vào quỹ BHXH đủ chỉ trả các khoản thuộc về BHXH như sau:

+ Chi trả các chế độ hưu trí, trợ cấp mức sức lao động, tai nạn lao động, bệnh

nghề nghiệp tử tuất cho các đối tượng thụ hưởng chế độ BHXH

+ Hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH để đảm bảo thực hiện các chế độ

BHXH đối với người lao động thuộc khu vực Nhà nước thụ hưởng chế độ

sau ngày ban hành Điều lệ BHXH.

+ Đóng toàn bộ BHYT cho các đối tượng đang thụ hưởng chế độ BHXH.

- Các nguồn khác, bao gồm các nguồn chủ yếu sau:

+ Các nguôn tài trợ viện trợ từ cộng đông quôc tê và các tô chức ở trong

SV: Nguyễn Đức Huy 19 Lép: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 26

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

nước, kế cả các tố chức phi Chính phủ và các nhà hảo tâm Tuy nhiên, nguồn nàythường chiếm một phần không nhiều trong quỹ BHXH ở hầu hết các nước trên thế

giới Lại Việt Nam, trong điều kiện hoạt động BHXH còn chưa phát triển và điều

kiện kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế thì nguồn đóng góp này vào quỹ BHXH là

rat it ỏi và không 6n định

+ Tiền lãi, tiền sinh lời từ việc thực hiện các phương án đầu tư để bảo tồn

và phát triển quỹ BHXH

+ Giá trị của các tài sản cố định của BHXH được đánh giá lại theo quy định

của Chính phủ.

+ Các nguồn thu khác cũng đóng góp vào quỹ BHXH như phạt tiền các cơ

quan, đơn vi do các co quan, đơn vi này chậm nộp BHXH so với thời gian quy định,

tiền trưng thu khi các đơn vị sử dụng lao động và người lao động đóng thiếu tiền

BHXH hay nhận một mức hưởng BHXH thừa so với mức hưởng quy định

Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu để chỉ trả cho các mục đích sau đây:

- Chi trợ cấp cho các chế độ BHXH

- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH.

- Chi đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH

Trong 3 nội dung chỉ nêu trên thì chi trả trợ cấp BHXH theo các chế độ là lớn

nhất và quan trọng nhất Khoản chỉ này được thực hiện theo luật định và phụ thuộc

vào phạm vi trợ cấp của từng hệ thống BHXH Thực tế cho thấy, việc chi trả cho

các chế độ BHXH diễn ra thường xuyên và liên tục với số- lượng lớn trên phạm virất rộng Một trong những khoản chỉ thường xuyên là chi lương hưu cho những

người đã nghỉ công tác và chỉ trả trợ cấp hàng tháng cho thân nhân của người lao

động khi họ đã qua đời.

Nguồn chi thứ hai trong BHXH là chi cho việc quản lý nghiệp vụ BHXH

Day là nguồn chi không lớn trong cơ cấu chi BHXH nhưng nó cũng là một khoảnchỉ ngày càng lớn bởi vì các chế độ BHXH ngày càng được mở rộng để đáp ứng các

SV: Nguyễn Đức Huy 20 Lép: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 27

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

nhu cầu ngày càng cao của người lao động do đó đội ngũ cán bộ phục vụ BHXHngày càng nhiều dẫn đến chi lương cán bộ ngày càng lớn Mặt khác, xã hội càngphát triển thì nhu cầu về điều kiện làm việc ngày càng tăng Vì vay, chi phí cho việcxây dựng cơ bản, mua sắm máy móc, trang thiết bị văn phòng ngày càng tăng lên

Mục đích thứ ba của quỹ BHXH là chi đầu tư Thực chat đây là quá trình tích

luỹ trong quá trình sử dụng quỹ BHXH.Định kỳ hàng tháng, quý, năm, cơ quan

BHXH tiến hành giữ lại một phần quỹ của mình để thành lập nên quỹ đầu tư

BHXH.Quỹ này chỉ được sử dụng trong trường hợp nhu cầu chỉ trả lớn dẫn đến thâm hụt quỹ BHXH hoặc trong lúc đồng tiền mất giá Vềnguyên tắc, có thu mới có chi, thu trước chi sau Vì vay, quỹ chỉ chi cho các chế độ trong phạm vi có nguồn

thu Thu của chế độ nào thì chỉ ở chế độ đó

1.2.3 Phân loại quỹ BHXH

Quỹ BHXH là một quỹ có quy mô và ảnh hưởng rất lớn tới nhiều đối tượng

khác nhau trong xã hội Do vậy, để quản lý và sử dụng quỹ hiệu quả cần phải phân

loại quỹ BHXH Đối với các nước khác nhau trên thé giới, việc phân loại quỹ có thế

khác nhau do tiêu thức phân loại khác nhau.Nhiệm vụ của các nhà làm công tác

BHXH là phải thành lập nên quỹ BHXH theo cách thức phù hợp với trình độ tổ

chức và thực hiện Thế nhưng đó lại là một vấn đề hết sức khó khăn và đôi khi không thống nhất quan điểm Bởi vì theo nhiều cách tiếp cận khác nhau có các loại

quỹ bảo hiểm xã hội khác nhau

Thực tế quỹ BHXH có thé được phân loại như sau:

a Phân loại theo tinh chất sử dung

- Quỹ ngắn hạn: là quỹ dùng dé chi trả cho các chế độ ốm dau, thai sản, tai nạn

lao động và bệnh nghề nghiệp Nguồn quỹ này sẽ được cân đối từng năm, thậm chí

có thé được hình thành ngay trong từng doanh nghiệp dé chi trả trực tiếp

- Quỹ đài hạn: là quỹ dùng dé chi trảcác chế độ huutri,tir tuất.

Neguénquynayphai được cân đối trong nhiều năm và dùng tài khoản cá nhân

SE: Nguyễn Đức Huy 21 Lop: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 28

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

trongquatrinh chi trả là có hiệu quả nhất.

b Phân loại theo các chế độ BHXH

- Quỹ hưu trí, tử tuất

- Quỹ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp

Quỹ thất nghiệpQuỹ ốm dau, thai sản

c Phân loại theo doi tượng

-Quỹ BHXH dành cho công chức -Quỹ BHXH dành cho lực lượng vũ trang -Quỹ BHXH dành cho người lao động trong các doanh nghiệp -Quỹ BHXH dành cho các loại lao động khác.

Ở mỗi nước, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể mà có thể thành lập quỹ bảo hiểm

xã hội phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, trình độ quản lý nhà nước Thông

thường, khi mới thực hiện BHXH các nước thành lập một quỹ chung nhất cho mọi

người lao động do: Trình độ tổ chức và quản lý còn hạn chế, đối tượng BHXH còn

hạn hẹp và các chế độ bảo hiểm xã hội còn ít ( một vài chế độ ) Nhưng khi nên

kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định, trình độ quản lý được nâng cao, đối

tượng tham gia ngày càng lớn thì xuất hiện những bất cập mà đòi hỏi phải thành

lập ra các quỹ BHXH thành phan.

Ở Việt nam, nên chăng chúng ta cũng thành lập ra các quỹ BHXH thành phần

và thành lập theo cách nào là tốt nhất Việc thành lập theo cách tiếp cận thứ hai và

thứ ba đối với Việt nam trong điều kiện hiện nay dường như không thích hợp vì như

thế sẽ đẫn tới tình trạng quá phân tán nguồn đóng góp của các đối tượng tham gia

bảo hiểm xã hội ( theo cách tiếp cận thứ hai chúng ta phải thành lập ra 5 quỹ BHXH tương ứng với 5 chế độ BHXH hiện hành và theo cách tiếp cận thứ ba thì ít nhất

cũng phải thành lập ra không dưới 5 quỹ BHXH) Trong điều kiện hiện nay, chúng

SV: Nguyễn Đức Huy 22 Lóp: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 29

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

ta nên thành lập ra các quỹ BHXH thành phần theo cách tiếp cận thứ nhất là hợp lýhơn cả và những lý do sẽ được trình bày ở phan sau

1.2.4 Vấn đề quản lý quỹ Bảo hiểm xã hội

Cùng với sự tiến bộ về mọi mặt trong hoạt động BHXH nói chung, công tác

quản lý quỹ BHXH cũng có nhiều biến đổi tích cực về nhiều mặt Trong những nămqua BHXH Việt Nam luôn coi trọng việc quản lý quỹ Bảo hiểm xã hội để đảm bảominh bach, cố gắng giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước

Từ năm 1995 đến nay BHXH Việt Nam đã giải quyết hơn 5 triệu lượt người

nghỉ ốm, 9 vạn lượt người hưởng trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hơn

41 vạn lượt người nghỉ thai sản, 58 vạn người hưởng lương hưu hàng tháng và trợ

cấp 1 lần nhưng chưa để xảy ra trường hợp nào vi phạm chế độ Với lượng đối

tượng tham gia bảo hiểm xã hội như vậy thì giá trị của quỹ bảo hiểm xã hội là rấtlớn, đặt ra yêu cầu quản lý phải chặt chẽ, linh động, tránh thất thoát cho ngân sáchnhà nước Công tác thu- chi ở các cấp phải thực hiện đồng bộ và chính xác

Công tác chỉ trả lương hưu và trợ cấp hàng tháng đúng mức,đúng hạngiúp cho

đối tượng hưởng yên tâm và có cảm tình với những người làm công tác BHXH

Hệ thống biểu mẫu, số sách được xây dựng chặt chẽ, rõ ràng dễ hiểu hơn trước,nhằm phục vụ đặc lực cho công tác chỉ trả các chế độ BHXH phù hợp với tình hình

hiện nay Với việc ra đời của số BHXH đã làm cho công việc chi trả các chế độ dễ

dang, chính xác, kip thời giảm bớt các hiện tượng tiêu cực.

BHXH Việt Nam đã sáng tạo ứng dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý

quỹ BHXH góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động BHXH nói chung và

quản lý chi trả các chế độ BHXH nói riêng.

Tuy đã đạt được nhiều kết quả đáng phấn khởi như vậy nhưng trong công tác

quản lý quỹ BHXH vẫn còn phải đặt ra nhiều van dé cần phải củng cố trong thời

gian tới, cụ thể là:

- Xét các chế độ ngắn hạn, có những lúc, những nơi việc chi trả trợ cấp chongười lao động thiếu chính xác, còn chậm gây ảnh hưởng tới tâm tư, tình cảm của

người lao động cũng như gia đình họ.

SV: Nguyễn Đức Huy 23 Lóp: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 30

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

- Xét về các chế độ dài hạn còn có các mặt hạn chế như nguồn chi trả thuộc

ngân sách nhà nước thường bị động do cấp trên chuyển về chậm Việc tổ chức vận

chuyền tiền ở các địa phương các tác bảo quản tiêu mất ở các nơi chỉ trả chưa đảm bảo dé xảy ra mat mát, thiếu hụt Việc nghiên cứu kết hợp hai hình thức chỉ trả trực

tiếp và gián tiếp chưa khắc phục được nhược điểm của mỗi hình thức.

- Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý còn hạn chế nên

hiệu quả quản lý chưa cao, chi phí cho bộ máy hành chính còn lớn.

Từ các vấn đề vừa nêu trong việc quản lý quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian

vừa qua, chúng ta đã thấy được phần nào những mặt đã đạt được và những mặt

chưa đạt được để từ đây có được các giải pháp thích hợp cho việc tăng cường hiệu

quả quản lý quỹ BHXH nước ta trong tình hình hiện nay cũng như trong tương lai

đảm bảo việc tăng trưởng và ôn định quỹ, ôn định xã hội.

SE: Nguyễn Đức Huy 24 Lop: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 31

Nhà nước chú trọng ngay từ khi mới thành lập Nhưng phải đến năm 1995 thì chúng

ta mới có một hệ thống bảo hiểm XH đây đủ và hoàn chỉnh với sự ra đời của BHXH

Việt Nam và 61 cơ quan BHXH tại 61 tỉnh và thành phố trong cả nước (đầu thập

niên 90 chỉ có 05 tỉnh, thành phố được Nhà nước chọn cho tổ chức thực hiện thí

điểm bản dự thảo Điều lệ BHXH đối với lao động ngoài quốc doanh)

Phòng BHXH huyện Thạch Thất được thành lập và đi vào hoạt động vào

ngày 15/6/1995 theo Quyết định số 15/QĐ-TCCB của Tổng Giám đốc BHXH Việt

Nam, trên cơ sở sát nhập BHXH của Sở Lao động - Thương binh xã hội và Ban

BHXH thuộc Liên đoàn huyện Thạch Thất (Hà Tây cũ — Hà Nội mới) Từ 7/1995

đến tháng 8/2008, BHXH huyện Thạch Thất chịu sự quản lý trực tiếp của BHXH

Hà Tây Sau tháng 8/2008, do sự phân chia lại địa giới hành chính Thủ đô, BHXH

huyện Thạch Thất chịu sự quản lý của BHXH Thành phố Hà Nội

SV: Nguyễn Đức Huy 25 Lop: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 32

Chuyên đề thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

Ca 11111111 1.111111111.41A.

RRO NEES CS AEE HINER COLINSO ELE OEE

(Nguồn BHXH huyện Thạch That)

Giám định, bộ phận Tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả

Bảo hiểm xã hội huyện Thạch Thất có chức năng giúp Giám đốc Bảo hiểm

xã hội Thành phố tổ chức thực hiện các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội và quan

lý tài chính bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Bảo hiểm xã hội huyện chịu sự

SV: Nguyễn Đức Huy 26 Lop: Kinh té bảo hiểm 52B

Trang 33

Chuyên đề thực tập GVHD: 1S Nguyễn Thị Chính

quản lý trực tiếp, toàn diện của Giám đôc Bảo hiém xã hội Thành phô, chịu sự quan

lý hành chính trên địa bàn lãnh thổ của UBND huyện

Bảo hiểm xã hội huyện Thạch Thất có nhiệm vụ :

- Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác năm trình Giám đốc Bảo hiểm xãhội Tỉnh phê duyệt và tô chức thực hiện;

- Hướng dẫn đơn vị sử dụng lao động lập danh sách tham gia bảo hiểm xã hội: đôn đốc, theo đõi việc thu nộp bảo hiểm xã hội của các đơn vị trên địa bàn huyệnhoặc trực tiếp thu bảo hiểm xã hội theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội ViệtNam và

Bảo hiểm xã hội tỉnh;

- Tiếp nhận kinh phí, danh sách và tổ chức chi trả cho các đối tượng hưởngcác chế độ bảo hiểm xã hội do Bảo hiểm xã hội tỉnh chuyển đến theo phân cấp.Theo dõi việc thay đổi địa chỉ, danh sách tăng, giảm đối tượng hưởng chế độ trong

quá trình chi trả;

- Tiép nhận đơn thư khiêu nại, tô cáo vê chê độ, chính sách bảo hiém xã hội dé

giải quyết theo thẩm quyền hoặc báo cáo với Bảo hiểm xã hội tinh xem xét, giải quyết

- Tổ chức ký kết hợp đồng trách nhiệm và quản lý mang lưới chi trả bảo hiểm

xã hội ở xã, phường, thị tran;

- Quan ly cac loai đối tượng khám chữa bệnh bắt buộc và tự nguyện theo quyđịnh của Bảo hiểm xã hội tỉnh trên địa bàn phụ trách; hướng dẫn đôn đốc các đơn vị

thực hiện các thủ tục phục vụ cho việc khai thác phát hành hoặc gia hạn thẻ khám

chữa bệnh theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội tỉnh;

- Thực hiện công tác giám định chi phí khám chữa bệnh của người có số, thẻ

bảo hiểm xã hội tại các cơ sở khám chữa bệnh Tiếp nhận và hướng dẫn người bệnhtrong quá trình đến khám chữa bệnh, giải quyết những vướng mắc và đảm bao

quyên lợi cho bệnh nhân có sô, thẻ bảo hiém xã hội:

- Thực hiện việc thông tin, tuyên truyền, giải thích chính sách, chế độ bảo

hiêm xã hội trên địa bàn;

SV: Nguyễn Đức Huy 27 Lóp: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 34

Chuyên đề thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

- Quản lý công chức, viên chức, tài chính và tài sản thuộc Bảo hiểm xã hội huyện theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Bảo hiểm xã hội tỉnh.

- Thạch Thất là một huyện thuần nông, có diện tích 202.5 km” và dân số

179.060người, gồm Ithị trấn 22 xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở trực thuộc.Khoảng

20 năm trở lại đây, cùng với tốc độ công nghiệp hóa- hiện đại hóa của tỉnh Hà Tây cũ(Hà Nội mới), số lượng các doanh nghiệp tư nhân tăng mạnh Chính vì vay, ThạchThất có rất đông đối tượng tham gia và được hưởng bảo hiểm xã hội bắt buộc Tínhđến ngày 31- 12- 2002, có 3488 đối tượng hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội Trongđó: Huu quân đội 188 có đối tượng: hưu viên chức có 2.722 đối tượng: hưởng trợ cấpmắt sức lao động có 712 đối tượng: hưởng trợ cấp tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp

có 91 đối tượng: hưởng trợ cấp tuất viên chức có 325 đối tượng

2.2 Tình hình thu BHXH tại BHXH huyện Thạch Thất giai đoạn 2008-2013

2.2.1 Những vẫn đề chung về thu quỹ BHXH

Thu quỹ BHXH là hoạt động của các cơ quan BHXH cùng với sự phối hợpcủa các ban ngành chức năng trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm tạo ra cácnguồn tài chính tập trung (quỹ BHXH tập trung), từ việc đóng góp của các bên tham

gia BHXH và những nguồn tài chính bổ xung khác.

Thu quỹ BHXH là một hoạt động không thể thiếu trong hoạt động BHXHnói chung, nó đảm bảo cho sự tạo lập và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung và tạo

ra nguồn tài chính để có thé tiền hành các hoạt động BHXH Do đó mà việc đóng

góp vào BHXH của các bên tham gia BHXH là sự tất yếu trong hoạt động

-Nguồn thu của BHXH được hình thành từ ba nguồn chủ yếu: đóng góp của

SE: Nguyên Đức Huy 28 Lép: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 35

người lao động và người sử dụng lao động trong xã hội dé người lao động yên tâm

tham gia sản xuất thúc đây nền kinh tế-xã hội phát triển

Từ đó có thé nói rang, thu BHXH là một phần quan trọng không thể thiếu

được của hoạt động BHXH.

2.2.2 Công tác thu Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hộihuyện Thạch Thất

Thạch Thất là một huyện thuộc xứ Đoài xưa, có nhiều làng nghề truyềnthống và danh thắng nổi tiếng nên huyện có nhiều ngành nghề khác nhau như: làm

nông nghiệp (phần lớn) công nghiệp sắt ở Phùng Xá, mây tre đan ở Chàng Sơn, đồ

gỗ Hữu Băng, đồ mĩ nghệ Thạch Xá

Trên địa bàn huyện Thạch Thất hiện nay đã có nhiều khu công nghiệp với

nhiều xí nghiệp và công ty có quy mô đủ lớn (đi thuê lao động) ngoài các doanh

nghiệp nhà nước có trên địa ban, đó là: Khu công nhiệp Phùng Xá, khu công nghệ cao Láng Hòa Lạc, khu công nghiệp Tân Xã, khu công nghiệp Huong Ngai — Canh

Nậu Các xí nghiệp hay công ty này nằm rải rác trong huyện Thạch Thất mà không tập trung một chỗ.

Công tác thu BHXH ở BHXH huyện Thạch Thất ít nhiều gặp phải khó khăn

do địa hình trải dài và mức độ tập trung của các nhà máy: xí nghiệp này Hơn thế

nữa trụ sở của BHXH huyện Thạch Thất lại đặt ở đầu huyện, nên bước đầu công tác

SE: Nguyễn Đức Huy 29 Láp: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 36

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

thu BHXH còn gặp rất nhiều khó khăn nhất là đội ngũ cán bộ chuyên môn còn quá

it hoặc nếu có thì trình độ chưa thực sự tốt Tuy vậy BHXH huyện Thạch Thất vẫn

cố gắng hoàn thành các chỉ tiêu về thu BHXH mà BHXH thành phố Hà Nội giao

phó BHXH huyện Thạch That đã tiến hành lập danh sách chỉ tiết từng don vi; cơ quan tham gia BHXH, từng cá nhân Bên cạnh đó BHXH huyện Thạch Thất còn lập

bảng lương chỉ tiết của từng cá nhân, quỹ lương của từng công ty hay xí nghiệp để

làm căn cứ thu quỹ BHXH Tại mỗi xã trong huyện, BHXH huyện Thạch Thất đặt

một ban có trách nhiệm thu - chỉ và báo cáo các trường hợp có sự thay đổi mức

đóng góp hay mức hưởng BHXH Gần đến mỗi kỳ báo cáo; tổng kết, BHXH huyện

Thạch Thất đã cử cán bộ đến các cơ sở còn nợ đong tiền BHXH hoặc dùng các biện

pháp thông tin khác như: gọi điện thoại, nhắn tin qua đài truyền thanh huyện Thạch

That dé đôn đốc, thu kip thời, tránh tình trạng nợ đọng lâu dai

Vì vậy BHXH huyện Thạch Thất đã đạt được các chỉ tiêu về thu BHXH,

mức thu tăng nhanh rõ rệt, như năm 1995 chỉ có 533.124.098 đồng, thì đến năm

1996 con số đó là 1.144.624.005 đồng (tăng gần gấp đôi), tính dén năm 2013

BHXH huyện Thạch Thất đã thu được 6.3 12.554.900 đồng.

2.2.3 Nguồn thu Bảo hiểm xã hội

Thông thường, quỹ BHXH được hình thành từ nguồn sau:

- Thu từ đóng góp của những người tham gia BHXH là nguồn thu chủ yếu,

quan trọng nhất cho bat cứ quỹ BHXH của bat kỳ quốc gia nào, nó là cơ sở chủ yếu

dé hình thành nên quỹ BHXH và tạo ra nguồn tài chính để thực hiện những chế độ

BHXH: nhưng trong quá trình quan lý sự đóng góp của người tham gia BHXH cũng

phức tạp và khó khăn nhất Nguồn thu này có tầm quan trọng đặc biệt, nó là nên

tảng để có thể thực hiện được chính sách BHXH Thông thường, nguồn thu này

được hình thành như sau:

+ Người lao động tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH trên cơ sở tiền

lương: tuỳ theo điều kiện của mỗi quốc gia mà phần đóng góp của người lao động

có khác nhau, nhưng đêu dựa trên cơ sở là tiên lương của người lao động làm căn

SV: Nguyễn Đức Huy 30 Lóp: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 37

Chuyên dé thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

cứ dé tính toán số tiền người lao động phải đóng góp vào quỹ BHXH Theo Điều lệ

BHXH hiện hành quy định người lao động phải đóng góp bằng 6% tiền lương

tháng( trước đây là 5%).

+ Người sử dụng lao động tham gia đóng góp BHXH cho người lao động

trong đơn vị mình; thông thường phần đóng góp của người sử dụng lao động dựa

trên tổng quỹ lương Theo Điều lệ BHXH hiện hành quy định người sử dụng lao

động phải đóng góp bằng 17% (trước đây là 15%) tổng quỹ tiền lương của những

người tham gia BHXH trong đơn vị.

- Thu từ việc hỗ trợ của Ngân sách Nhà nước chủ yếu là dé đảm bảo cho các

hoạt động BHXH diễn ra được đều đặn, bình thường, tránh những xáo trộn lớn trong việc thực hiện BHXH Nguồn thu từ việc hỗ trợ của Ngân sách Nhà nước

cho quỹ BHXH đôi khi là khá lớn việc hỗ trợ cho hoạt động BHXH của Nhà nước

là hoạt động thường xuyên và liên tục để đảm bảo thực hiện tốt các chế độ chính

sách nói riêng và hoạt động BHXH nói chung.

- Thu từ lãi đầu tư của hoạt động đầu tư bảo toàn va tăng trưởng quỹ được hình thành từ công việc đầu tư quỹ BHXH nhàn rỗi vào các chương trình kinh tế

- xã hội, những hoạt động đầu tư khác đem lại hiệu quả Từ nguồn quỹ nhàn rỗi

được đem đầu tư, quỹ BHXH thu được phan lãi đầu tư để bố xung vào nguồn

quỹ BHXH.

- Ngoài những nguồn thu trên thì quỹ BHXH còn có một số nguồn thu khác

để bổ xung vào quỹ BHXH; nói chung, những nguồn thu này không lớn, không

én định Chủ yếu là những nguồn thu từ việc nhận sự hỗ trợ của các tổ chức

nước ngoài, từ những hoạt động từ thiện, từ hoạt động thanh lý nhượng bán tài

sản cô định Nguồn thu này thường chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số thu

của quỹ BHXH.

2.2.4 Nguyên tắc thu BHXH

Căn cứ pháp luật và các văn bản dưới luật thì thu BHXH phải đảm bảo theo

nguyên tắc là phải đảm bảo đúng đối tượng và đúng mức thu, đồng thời phải đảm

SV: Nguyên Đức Huy 31 Lop: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 38

Chuyên dé thực tập GVHD: 1S Nguyễn Thị Chính

bảo tính công băng giữa các đơn vị tham gia BHXH Muốn thu đúng và thu đủ thì

cần phải quán triệt những vấn đề sau đây:

- Các cơ quan, các doanh nghiệp đóng BHXH thi phần đóng góp phải dựa trênquỹ lương quỹ lương nay bao gồm toàn bộ là lương cứng và các khoản phụ cấp vào

lương, đồng thời quỹ lương này phải chỉ trả cho tất cả các đối tượng tham gia đóng

góp BHXH.

- Đôi với người lao động cơ chê thu là 6% cũng bao gôm cả lương cứng và các

khoản phụ cấp ngoài lương khác

- Quyết toán thu BHXH thường vào cuối năm nhưng trong năm đó số người

tham gia và số đơn vị tham gia BHXH luôn biến động, vì vậy khi quyết toán phải

căn cứ vào sô liệu thực tê phát sinh chứ không tính vào mức bình quân.

- Thu BHXH phải mang tính trực tiếp hạn chế tối đa hiện tượng khoán thu déđược hưởng hoa hồng

- VỀ nguyên tắc co quan BHXH phải quyết toán từng tháng, từng quý, từngnăm nhưng đến cuối năm quyết toán, tất cả các số thu phải ăn khớp với nhau vàphải thực sự cân đối: giữa người lao động người sử dụng lao động loại hình doanh

nghiệp, loại hình thu.

Ngoài việc thu đũng của người lao động và người sử dụng lao động, BHXH

phải lập kế hoạch và lập dự toán trước phần ngân sách Nhà nước cấp bù vào đầutháng, đầu quý, đầu năm sau đó mới được quyết toán

Lai đầu tư quỹ nhàn rỗi BHXH về nguyên tắc phải được bù dap vào quỹ để

bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ, phan trích ra chi cho các mục đích khác như chi

cho khen thưởng chi quan lý và những khoản chi khác phải tuân thủ theo đúng

những quy định của pháp luật Các khoản tài trợ của các tổ chức, các quỹ từ thiện,

đặc biệt là các khoản nợ của người tham gia phải được hạch toán riêng, các khoản

nợ đòi được phải tính tới lãi suất.

SV: Nguyễn Đức Huy a2 Lop: Kinh tế bảo hiểm 52B

Trang 39

Chuyên đề thực tập GVHD: TS Nguyễn Thị Chính

2.2.5 Tổ chức quản ly thu BHXH

a Quản lý đối tượng tham gia BHXH

Quản lý đối tượng tham gia BHXH là một phần quan trọng trong công tác thu

của BHXH, đặc biệt là nguồn thu từ người lao động và người sử dung lao động (kể

cả những người đang được cử đi học, đi thực tập, công tác và điều dưỡng ở trong và

ngoài nước mà vẫn hưởng tiền lương hoặc tiền công của cơ quan đơn vị đó) làm

việc trong các cơ quan, đơn vi, tô chức kinh tế - xã hội theo quy định tại Điều lệ

BHXH Việt Nam, bao gồm:

- Các doanh nghiệp nhà nước;

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế đặt vănphòng đại diện ở Việt Nam (trừ những trường hợp tuân theo những điều ước quốc tế

mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia có những

quy định khác);

- Các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng từ

10 lao dộng trở lên (hiện nay BHXH đã áp dụng với các doanh nghiệp có dưới 10

lao động):

- Các cơ quan hành chính sự nghiệp các cơ quan của Dang, đoàn thé từ trung

ương đến địa phương (chỉ tới cấp huyện);

- Các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơquan Đảng, đoàn thê:

- Các doanh nghiệp, các tổ chức dịch vụ trong lực lượng vũ trang; Bộ Quốc

phòng, Bộ Công an đóng cho nhân dân, Công an nhân dân thuộc diện hưởng sinh

hoạt phí theo điều lệ BHXH đối với sỹ quan, công an nhân dân ban hành kèm theoNghị định số 45/CP ban hành ngày 15/07/1995 của Thủ tướng Chính phủ;

- Cán bộ xã, phường, thi trần được hưởng sinh hoạt phí tại Nghị định số 09/

1998/ ND-CP ban hành ngày 23/ 01/ 1998 của Thủ tướng Chính phủ;

SV: Nguyễn Đức Huy 33 Lóp: Kinh tế bảo hiểm 52B

Ngày đăng: 26/01/2025, 22:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng nhận xét: - Chuyên đề thực tập: Thực trạng thu chi quỹ bảo hiểm xã hội tại bảo hiểm xã hội huyện Thạch Thất (thành phố Hà Nội)
Bảng nh ận xét: (Trang 78)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w