Công tác nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng là một hoạt động quan trọng, được Luật Phòng chống thiên tai quy định thực hiện và là hai trong số nhữ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG KHOA HỌC LIÊN NGÀNH VÀ NGHỆ THUẬT
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG KHOA HỌC LIÊN NGÀNH VÀ NGHỆ THUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: 8900201.01QTD
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Tuấn Anh
HÀ NỘI - 2024
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Tuấn Anh, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng quy cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Đỗ Thị Hồng Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy, cô giáo ở Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật - Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền đạt vốn kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS Nguyễn Tuấn Anh đã trực tiếp hướng dẫn, quan tâm, chỉ bảo và cung cấp những kiến thức quý
báu cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật phòng, chống thiên tai, Văn phòng thường trực Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Lào Cai, lãnh đạo và cán bộ UBND xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai đã tạo điều kiện, hỗ trợ chuyên môn, thu thập tài liệu liên quan và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong hội đồng chấm luận văn đã dành thời gian đọc và đóng góp ý kiến để tôi hoàn thiện luận văn này Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã luôn ủng hộ, tạo điều kiện về mọi mặt và khích lệ tôi học tập trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2024
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Hồng Nhung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Câu hỏi nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 4
6 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng 6 1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 10
1.2 Khái niệm làm việc 12
1.2.1 Thiên tai 12
1.2.2 Rủi ro thiên tai 14
1.2.3 Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng 18
1.2.4 Nhận thức 22
1.2.5 Đánh giá 23
1.3 Các quan điểm lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu 24
1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 26
1.4.1 Điều kiện địa lý-tự nhiên 26
1.4.2 Tình hình kinh tế - xã hội 31
1.4.3 Hiện trạng rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu tại khu vực nghiên cứu 43
1.5 Phương pháp nghiên cứu 47
Trang 61.5.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu 47
1.5.2 Phương pháp quan sát 48
1.5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 48
1.5.4 Phương pháp khảo sát xã hội học 49
1.5.5 Phương pháp xử lý số liệu 51
CHƯƠNG 2 NHẬN THỨC VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO THIÊN TAI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 52
2.1 Nhận thức chung về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng và mục đích, các công việc cần làm để đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng 52
2.2 Nhận thức về nội dung đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng 63
2.2.1 Nhận thức về các loại hình thiên tai, xu hướng và tác động của nó tới địa phương 63
2.2.2 Nhận thức về tình trạng dễ bị tổn thương 69
2.2.3 Nhận thức về năng lực phòng chống thiên tai 74
CHƯƠNG 3 NHẬN THỨC VỀ XÂY DỰNG, THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI VÀ GIÁM SÁT, ĐÁNH GIÁ KẾ HOẠCH CÓ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG 77
3.1 Nhận thức về xây dựng và thực hiện Kế hoạch phòng chống thiên tai cấp xã 77
3.2 Nhận thức về giám sát và đánh giá Kế hoạch phòng chống thiên tai có sự tham gia của cộng đồng 85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 97
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
BCHQS Ban chỉ huy quân sự
RRTT DVCĐ Rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các cấp độ rủi ro thiên tai theo Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ 16 Bảng 1.2 Dân số năm 2023 xã Trịnh Tường 32
Bảng 1.3 Mức thay đổi nhiệt độ trung bình (°C) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so
với thời kỳ 1980 - 1999 của các trạm khí tượng ở Lào Cai 43
Bảng 1.4 Mức thay đổi lượng mưa (%) qua các thập kỷ của thế kỷ 21 so với thời
kỳ 1980 - 1999 của các trạm khí tượng ở Lào Cai 44 Bảng 1.5 Các loại hình thiên tai xảy ra tại địa phương 46
Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả khảo sát về nhận thức, vai trò và trách nhiệm của Ban chỉ
huy và Đội xung kích trong xây dựng và thực hiện Kế hoạch PCTT 79
Biểu đồ 2.3 Sự tham gia của người khảo sát vào hoạt động đánh giá RRTT DVCĐ
tại địa phương 62
Biểu đồ 2.4: Ghi nhận về các loại hình thiên tai thường xảy ra tại địa phương trong
vòng 10 năm qua 64 Biểu đồ 2.5 Thiệt hại do thiên tai gây ra tại địa phương 66
Biểu đồ 2.6 Nguyên nhân dẫn tới thiệt hại liên quan tới lĩnh vực an toàn cộng
đồng trên địa bàn xã Trịnh Tường 70
Biểu đồ 2.7 Nguyên nhân dẫn tới thiệt hại liên quan tới lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh trên địa bàn xã Trịnh Tường 71
Biểu đồ 2.8 Nguyên nhân dẫn tới thiệt hại liên quan tới lĩnh vực Sức khỏe, vệ
sinh, môi trường trên địa bàn xã Trịnh Tường 71
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Phân vùng rủi ro thiên tai tại Việt Nam 14
Hình 1.2 Các bước quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng 20
Hình 1.3 Vai trò của các bên trong quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng 21 Hình 1.4 Vị trí xã Trịnh Tường 27
Hình 1.5 Độ dốc địa hình xã Trịnh Tường 28
Hình 1.6 Mạng lưới sông, suối trên địa bàn xã Trịnh Tường 30
Hình 1.7 Phân bố dân số theo các thôn 31
Hình 1.8 Phân bố dân cư xã Trịnh Tường 33
Hình 1.9 Trường học tại trung tâm xã 37
Hình 1.10 Điểm trường tại các thôn 37
Hình 1.11 Cơ sở vật chất trạm y tế xã 38
Hình 1.12 Hình ảnh một số tuyến đường trên địa bàn xã 40
Hình 1.13 Hình ảnh một số công trình ngầm, cầu trên đường 40
Hình 1.14 Trạm biến áp và tuyến đường dây điện lưới 41
Hình 1.15 Hạ tầng viễn thông 42
Hình 1.16 Thiết bị truyền thanh 42
Hình 1.17 Biểu đồ mức thay đổi lượng mưa của các trạm khí tượng ở Lào Cai 45
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của Ban chỉ huy PCTT &TKCN xã Trịnh Tường 55
Hình 2.2 Cơ cấu tổ chức của Đội xung kích xã Trịnh Tường 56
Hình 2.3: Khu vực 22 hộ dân thôn Tùng Chỉn 1 bị cuốn trôi do lũ quét năm 2008 67
Hình 2.4 Sạt lở taluy đường vào thôn Tùng Chỉn 3 72
Hình 2.5 Công trình cấp nước sinh hoạt Phố Mới 1,2 và thôn Tân Quang 72
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Biến đổi khí hậu được ghi nhận là một trong những thách thức toàn cầu Hầu hết các quốc gia ở Châu Á đều dễ bị ảnh hưởng bởi rủi ro khí hậu và thiên tai, nhiều quốc gia trong khu vực nằm trong số quốc gia dễ bị tổn thương nhất trên thế giới [32] Theo nhận định của Worlbank, Việt Nam là một trong số những quốc gia dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu trên thế giới, xếp hạng 127 trong số 182 quốc gia theo Sáng kiến Thích ứng Biến đổi Khí hậu Toàn cầu Notre Dame (NDGAIN) và đứng thứ 13 trong số 180 quốc gia theo Chỉ số Rủi ro Khí hậu Toàn cầu Germanwatch giai đoạn 2000-2019 [27] Trước tình hình đó đòi hỏi phải có cách thức quản lý rủi ro thiên tai một cách hợp lý
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, tình hình thiên tai tại Việt Nam đang ngày càng diễn biến cực đoan, trái quy luật, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản Công tác nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng là một hoạt động quan trọng, được Luật Phòng chống thiên tai quy định thực hiện và là hai trong số những nội dung ưu tiên của Khung hành động Sendai Các nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế đã thống nhất nhận định, quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng là một phương pháp tiếp cận hiệu quả để giảm thiểu rủi ro thiên tai và tăng khả năng ứng phó “tại chỗ” với thiên tai của cộng đồng [11] Đây là một hình thức đầu tư phi công trình có chi phí không lớn nhưng mang lại hiệu quả cao trong công tác phòng, chống thiên tai Chính vì vậy, công tác này cần được thực hiện thường xuyên và xuyên suốt trong quá trình phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai Việc nâng cao nhận thức không chỉ đối với người dân mà cần tăng cường nhận thức của các cán bộ làm công tác phòng chống thiên tai và các nhóm cộng đồng khác trong xã hội Bên cạnh đó, hoạt động nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng là một trong những giải pháp quan trọng trong công tác phòng chống thiên tai, đã cụ thể hóa chủ trương của đảng “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, thực hiện phương châm “bốn tại chỗ”, đảm bảo sự tham gia chủ động của người
Trang 11dân vào công tác chuẩn bị phòng ngừa, ứng phó hiệu quả và khắc phục hiệu quả thiên tai, đảm bảo thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn Đồng thời, quản lý rủi ro thiên tai là một phần không thể tách rời của phát triển bền vững vì quản lý rủi ro thiên tai giúp tránh được các ảnh hưởng tiêu cực của thảm họa thiên tai lên sự phát triển
Theo quy định của Chính phủ tại Nghị định số 66/2021/NĐ-CP ngày 06 tháng 7 năm 2021, Ban chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn (PCTT&TKCN) cấp xã được thành lập theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã và có trách nhiệm tham mưu giúp UBND cấp xã trong việc kiểm tra, đôn đốc, chỉ huy, điều hành công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trong phạm vi địa phương Thành viên của Ban chỉ huy PCTT&TKCN cấp xã gồm lãnh đạo UBND xã, công chức cấp xã và trưởng các tổ chức chính trị, đoàn thể cấp xã [4]
Đội xung kích phòng chống thiên tai cấp xã là lực lượng tại chỗ để thực hiện nhiệm vụ PCTT&TKCN theo kế hoạch và phương án phòng chống thiên tai của xã, do chủ tịch UBND xã quyết định thành lập và được kiện toàn hàng năm [2] Lực lượng này đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là trong thời điểm thiên tai mới xảy ra Đây là lực lượng phản ứng nhanh, kịp thời xử lý các tình huống khẩn cấp trước khi có lực lượng bên ngoài tiếp cận
Để thích ứng với điều kiện khí hậu hiện nay, nhận thức về thiên tai trong bối cảnh BĐKH là nền tảng cơ sở để con người ứng phó Việc đánh giá nhận thức
là một phần quan trọng của quá trình nâng cao nhận thức nhằm tăng cường khả năng thích ứng và giảm nhẹ rủi ro thiên tai, BĐKH Đánh giá nhận thức sẽ phản ánh chính xác kết quả của hoạt động nhận thức như một cơ sở để đối chiếu với mục tiêu đã đề ra, đảm bảo tính khách quan Mặt khác, đánh giá nhận thức tạo ra động lực để thúc đẩy các mặt tốt của đối tượng được đánh giá, đồng thời hạn chế các mặt tiêu cực, đảm bảo tính phát triển [1]
Hiện nay, tình trạng cán bộ làm công tác phòng chống thiên tai tại địa phương nhất là cấp xã còn thiếu về số lượng và hạn chế về năng lực, trình độ, kiến
Trang 12thức, kỹ năng phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai Khả năng xây dựng kế hoạch phòng chống thiên tai, phương án ứng phó thiên tai, lồng ghép nội dung phòng chống thiên tai vào Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của cấp xã cũng như triển khai các hoạt động nâng cao nhận thức cộng đồng, quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng còn nhiều hạn chế Do đó cần phải đánh giá đúng nhận thức, nhu cầu của cán bộ Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích PCTT cấp xã về quản lý rủi ro thiên tai để có kế hoạch cụ thể nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ làm công tác phòng chống thiên tai
Khu vực nghiên cứu là một xã vùng cao của khu vực miền núi phía Bắc, chịu nhiều tổn thương trước tác động bất lợi từ thiên tai Xã Trịnh Tường thuộc chương trình 135, bao gồm 1453 hộ gia đình 6799 nhân khẩu được chia thành với
16 thôn bản Toàn xã có 7 dân tộc sinh sống gồm Kinh, Dao, H’Mông, Hà Nhì, Giáy, Nùng, Tày Trong những năm qua xã Trịnh Tường xuất hiện nhiều loại hình thiên tai như mưa lớn, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất, rét hại, sương muối và giông lốc Trong đó, loại hình lũ quét và trượt lở đất là nguy cơ lớn nhất [19] Thiên tai đã gây
ra thiệt hại về người và tài sản, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân cũng như kết quả xây dựng nông thôn mới của địa phương Do đó cần phải có những đánh giá đúng về nhận thức của cán bộ Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích cấp xã nơi đây để có các giải pháp phù hợp
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về nhận thức quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
- Đánh giá được thực trạng nhận thức về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng của Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
- Đề xuất được các giải pháp để nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng về quản lý RRTT DVCĐ cho Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích địa phương
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nhận thức về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng của Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích phòng chống thiên tai cấp xã
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu nhận thức của Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích PCTT cấp xã về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu bao gồm: Nhận thức chung về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng; Nhận thức về đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng; Nhận thức về xây dựng, thực hiện Kế hoạch phòng chống thiên tai và giám sát đánh giá
kế hoạch có sự tham gia của cộng đồng
- Về không gian: Tại xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu và sử dụng các số liệu trong khoảng thời gian từ năm 1980 - 2023 Về số liệu phân tích được cập nhật đến hết năm 2023
4 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Cộng đồng địa bàn nghiên cứu nhận thức như thế nào về rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu, và những yếu tố nào ảnh hưởng đến nhận thức này ?
Câu hỏi 2: Thực trạng nhận thức của Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai về quản lý RRTT DVCĐ như thế nào ?
Câu hỏi 3: Giải pháp nào để nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng về quản
lý RRTT DVCĐ cho Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích PCTT xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai nhằm đáp ứng yêu cầu mới của Đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý RRTT DVCĐ, đến năm 2030” của Chính phủ
5 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu được thể hiện trên cả 2 phương diện:
Về mặt khoa học, đề tài cung cấp thêm một góc nhìn mới từ tiếp cận xã hội học trong việc đánh giá nhận thức của cán bộ làm công tác phòng chống thiên tai
Trang 14về quản lý RRTT DVCĐ trong bối cảnh biến đổi khí hậu Trên cơ sở các quan điểm lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu, các dữ liệu thực địa được phân tích, luận giải để đưa ra đánh giá mức độ nhận thức của đối tượng nghiên cứu
Về mặt thực tiễn, đề tài cung cấp thêm dữ liệu, luận cứ về thực trạng tác động của thiên tai, BĐKH tới điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, cũng như thực trạng nhận thức của cán bộ làm công tác PCTT về quản lý RRTT DVCĐ Từ phân tích, luận giải các dữ liệu,
đề tài đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng về quản lý RRTT DVCĐ của cán bộ địa phương Những khuyến nghị này không chỉ hữu ích đối với các nhà quản lý trong hoạt động thực tiễn mà còn hỗ trợ các cơ quan địa phương xây dựng, kiện toàn, củng cố đội ngũ cán bộ làm công tác phòng chống thiên tai có năng lực, góp phần triển khai có hiệu quả Đề án Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý RRTT DVCĐ đến năm 2030 và các quy định của Luật Phòng chống thiên tai
6 Cấu trúc luận văn
Kết cấu của luận văn gồm 3 phần chính: mở đầu, nội dung và kết luận, trong
đó nội dung tập trung vào ba chương chính:
Chương 1 tổng hợp các nghiên cứu trước đây gồm các nghiên cứu trong và ngoài nước; giới thiệu khái quát về đối tượng, phạm vi và không gian nghiên cứu, cũng như các phương pháp, khái niệm và lý thuyết được sử dụng để trả lời các câu hỏi nghiên cứu
Chương 2 và Chương 3 làm rõ thực tiễn nhận thức của Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích PCTT xã Trịnh Tường về đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng và nhận thức về xây dựng, thực hiện kế hoạch phòng chống thiên tai và giám sát, đánh giá kế hoạch có sự tham gia của cộng đồng
Trang 15CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Liên quan đến quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu nổi bật:
Community-based Disaster Management and Its Salient Features: A Policy Approach to People-centred Risk Reduction in Bangladesh của tác giả M Abul
Kalam Azad và các cộng sự chỉ ra rằng cách tiếp cận về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng đã trải qua những thay đổi đáng kể trong những năm gần đây, chuyển từ cứu trợ, ứng phó sang phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng Nghiên cứu tập trung vào các sáng kiến chính sách quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng đang triển khai tại hai cộng đồng ven biển ở Kalapara và Upazila ở Quận Patuakhali, Bangladesh Phát hiện của nghiên cứu cho thấy để giải quyết tình trạng dễ bị tổn thương trước thiên tai, Chính phủ Bangladesh đã phát triển và thực hiện nhiều biện pháp, chính sách quốc gia trong nhiều năm với mục đích tăng cường giảm nhẹ rủi ro tập trung vào cộng đồng, phân cấp quản lý thảm họa, phát triển quan hệ đối tác xuyên quy mô và nâng cao khả năng phục hồi của cộng đồng Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các hoạt động phòng chống thiên tai dựa vào cộng đồng đang đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực thích ứng và khả năng phục hồi trước thảm họa Cần có chính sách và nghiên cứu sâu hơn để xem xét kỹ hơn về động lực của quản lý thiên tai dựa vào cộng đồng, vai trò của các tổ chức cấp địa phương
và tổ chức cộng đồng trong quan hệ đối tác và xây dựng khả năng phục hồi để quản lý rủi ro thiên tai thành công [30]
“The challenges of impact evaluation: Attempting to measure the effectiveness of community-based disaster risk management” của tác giả Maria
M Sarabia và các cộng sự Nghiên cứu đã chỉ ra rằng mặc dù quản lý rủi ro thiên
Trang 16tai ngày càng trở nên quan trọng trong hợp tác phát triển nhưng vẫn thiếu bằng chứng chắc chắn về tính hiệu quả của nó Nhóm tác giả đã mô tả cách tiếp cận mang tính phương pháp nhằm cho phép đưa ra quyết định dựa trên bằng chứng chặt chẽ hơn trong việc giảm nhẹ rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng và đặc biệt là để đánh giá mức độ tăng cường khả năng chuẩn bị cho những tác động bất lợi của thiên tai
ở các cộng đồng dễ bị tổn thương Tác động của các hành động được thiết kế nhằm giảm thiểu mất mát, thiệt hại, thương tích, tử vong và suy thoái tài nguyên do thiên tai gây ra đã được đánh giá tại khu vực can thiệp của Hội Chữ thập đỏ Thụy Sĩ và Honduras Kết quả của nghiên cứu cho thấy sự can thiệp đã có tác động tích cực đáng kể trong ba lĩnh vực quan trọng của khả năng phục hồi: kiến thức và sự chuẩn
bị (ví dụ: sự tồn tại của hệ thống cảnh báo sớm); sự gắn kết xã hội (ví dụ: các tổ chức cộng đồng); và quản lý tài sản thiên nhiên (ví dụ: tiêu thụ củi) Phát hiện của nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chương trình can thiệp đã nâng cao năng lực của các cộng đồng để chuẩn bị cho các mối nguy hiểm trong tương lai và ứng phó trong trường hợp khẩn cấp ở cả cấp độ hộ gia đình và cộng đồng [40]
“Community-Based Disaster Risk Management in The Philippines: Achievements and Challenges of The Purok System” của tác giả Angelina
Matthies Dựa trên một nghiên cứu định tính tại khu đô thị San Francisco (tỉnh Cebu) từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 3 năm 2015, nghiên cứu trình bày chi tiết
về những thành tựu và thách thức của hệ thống Purok Hệ thống Purok ở Philippines được biết đến như một hệ thống tổ chức tự nguyện ở cấp thôn, bản nhằm tăng cường khả năng phục hồi của cộng đồng trước các mối nguy hiểm tự nhiên Năm 2011, hệ thống này đã nhận được Giải thưởng Sasakawa của Liên hợp quốc Nghiên cứu đã chỉ ra những thành tựu đáng chú ý bao gồm huy động nguồn lực, cơ chế phối hợp giữa các cấp trong triển khai hệ thống, xác định rõ trách nhiệm của các bên tham gia và cung cấp thông tin sơ tán kịp thời xuất phát từ việc huy động hiệu quả nguồn vốn con người và vốn xã hội Tuy nhiên, hệ thống Purok phải đối mặt với những thách thức nội tại trong việc duy trì, ủng hộ và tính tự nguyện của cộng đồng Tuy nhiên, hệ thống Purok khác biệt rõ ràng với các
Trang 17phương pháp quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng thông thường và tiềm ẩn những tiềm năng mang lại lợi ích cao cho việc tăng cường khả năng phục hồi ở các khu vực thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai [36]
“Twenty Years of Community-based Disaster Risk Reduction Experience from A Dryland Village in Indonesia” của tác giả Jonatan A Lassa và các cộng
sự Nghiên cứu đã cung cấp những hiểu biết sâu sắc về các hoạt động giảm nhẹ rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng từ một ngôi làng ở miền đông Indonesia dựa trên các nghiên cứu dài hạn Việc áp dụng phương pháp giảm nhẹ rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng ở Indonesia diễn ra vào cuối những năm 1990 và các tác giả
là những người sớm áp dụng phương pháp này Nghiên cứu này kết hợp dữ liệu định tính và định lượng được thu thập trong giai đoạn 1998-2017 Nó cho thấy sự thăng trầm của một cộng đồng ứng phó với rủi ro thiên tai theo thời gian Bài báo còn nêu bật thêm những câu chuyện về sự thất vọng và niềm vui xung quanh các hoạt động giảm nhẹ rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng do một cộng đồng địa phương thực hiện tại một ngôi làng vùng đất khô cằn ở miền đông Indonesia Nghiên cứu cũng đã nhận định rằng giảm nhẹ rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
là nền tảng của quản trị rủi ro thiên tai Hiện nay, trên thế giới còn thiếu các nghiên cứu về kinh nghiệm lâu dài và thực tế về giảm nhẹ rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng [34]
“Systematizing Community-Based Disaster Risk Management (CBDRM): Case of Urban Flood-prone Community in Thailand Upstream Area” của tác giả
Puntita Tanwattana Nghiên cứu này được tiến hành tại ba cộng đồng thường xuyên bị lũ lụt, trong đó, đã có những cộng đồng điển hình tự phát triển khả năng ứng phó để tổ chức và quản lý thiên tai nhằm đảm bảo an toàn cho mình Họ tự đổi mới giải pháp giảm thiểu rủi ro do lũ lụt gây ra thay vì chờ đợi và phụ thuộc hoàn toàn vào sự hỗ trợ từ chính phủ Nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng về sự hình thành Tổ chức Quản lý Rủi ro Thiên tai Cộng đồng (CDRMO) tự phát trong trường hợp nghiên cứu điển hình về cộng đồng Thái Lan Phát hiện quan trọng này dẫn đến câu hỏi chính được đặt ra trong nghiên cứu này: “Hệ thống Quản lý
Trang 18rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng (CBDRM) và CDRMO được hình thành như thế nào trong cộng đồng Thái Lan?” Nghiên cứu này dựa trên nghiên cứu thực nghiệm sử dụng các cuộc phỏng vấn, khảo sát thực địa, quan sát có sự tham gia, thảo luận nhóm tập trung và bảng câu hỏi để mô tả cách đạt được các giải pháp cộng đồng có thể được xác định là hệ thống tổ chức của CBDRM và CDRMO ở Thái Lan Nghiên cứu này thảo luận về khả năng thúc đẩy CDRMO ở các cộng đồng Thái Lan khác bằng cách sử dụng các bài học rút ra từ những đổi mới được thực hiện ở một số cộng đồng và kết hợp chúng trong thiết kế chính sách nhằm thúc đẩy hệ thống CBDRM ở Thái Lan [43]
“Risk Assessment and Reduction Measures in Landslide and Flash Prone Areas: A Case of Southern Thailand (Nakhon Si Thammarat Province)” của
Flood-tác giả Indrajit Pal và các cộng sự Mục đích của nghiên cứu này là phân tích mức
độ rủi ro và tính dễ bị tổn thương trong cộng đồng dễ bị ảnh hưởng bởi sạt lở đất
và lũ quét tại huyện Sichon, tỉnh Nakhon Si Thammarat, Thái Lan Trọng tâm của nghiên cứu này là phân tích và tìm hiểu tính dễ bị tổn thương về kinh tế xã hội của cộng đồng ở cấp độ hộ gia đình và đánh giá rủi ro và tính dễ bị tổn thương của cộng đồng bằng cách đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng Nghiên cứu đề xuất các biện pháp giảm thiểu rủi ro đa thiên tai dựa trên kết quả phân tích rủi ro thiên tai của cộng đồng Các khuyến nghị chủ yếu tập trung vào việc cải thiện các chương trình hiện có như hệ thống cảnh báo sớm, phát triển năng lực cấp địa phương và đào tạo cộng đồng Nghiên cứu cũng khám phá một số biện pháp phi công trình trong bối cảnh quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, các khóa học quản lý thiên tai trong giảng dạy ở trường và nhận thức cộng đồng để xây dựng một cộng đồng thích ứng cao với những tác động của thiên tai [39]
“Local Risk Managers’ and Disaster Volunteers’ Awareness Of, Attitudes Toward, and Intention to Use A Local Government-developed Disaster Information System: A Case Study of SIKK Magelang” của tác giả Sari và các cộng sự Nghiên
cứu tiến hành đánh giá nhận thức, ý định sử dụng và thái độ của các nhà quản lý rủi
ro thiên tai tại địa phương và tình nguyện viên thảm họa về nhận thức, ý định sử
Trang 19dụng và thái độ đối với SIKK Magelang (Sistem Informasi Kebencanaan Kabupaten) Đây là một hệ thống thông tin thiên tai được chính quyền địa phương
ở Magelang phát triển để hỗ trợ quản lý rủi ro thiên tai Mặc dù có các tính năng hữu ích, giống như nhiều dịch vụ chính phủ điện tử, nhưng nó có tỷ lệ chấp nhận thấp Nghiên cứu nhằm mục đích khám phá những rào cản cản trở việc áp dụng SIKK Magelang từ góc độ của các nhà quản lý rủi ro địa phương và tình nguyện viên thảm họa Dữ liệu sơ bộ được thu thập bằng cách xem xét kỹ lưỡng các tài liệu quản lý thảm họa liên quan và các báo cáo của SIKK Magelang cũng như phỏng vấn những người vận hành hệ thống thông tin thiên tai [41]
“Integration of Local Capacity Building in Countering False Information About Disaster Into Community-based Disaster Risk Management” của tác giả D
Asteria và các cộng sự Nghiên cứu này nhằm mục đích mô tả quá trình lồng ghép việc xây dựng năng lực địa phương trong việc xử lý thông tin sai lệch về thiên tai vào quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng Những phát hiện từ nghiên cứu này cho thấy tầm quan trọng của việc tăng cường xây dựng năng lực trong việc lựa chọn và ngăn chặn sự lan truyền thông tin sai lệch về thảm họa bằng sự tăng cường của địa phương Một cách để nâng cao năng lực có thể được thực hiện là thông qua giáo dục kiến thức kỹ thuật số Trong giai đoạn chuẩn bị và giảm nhẹ thiên tai, hiểu biết về kỹ thuật số trong cộng đồng là ưu tiên hàng đầu trong việc chuẩn bị đối phó với rủi ro thiên tai Đóng góp của nghiên cứu này có thể là một giải pháp thay thế cho các nỗ lực quản lý rủi ro thiên tai toàn diện và đánh giá truyền thông thiên tai để phối hợp và hợp tác với các bên liên quan khác [29]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, có nhiều nghiên cứu tiêu biểu về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng:
“Sự tham gia của người dân trong quản lý rủi ro thiên tai trên địa bàn tỉnh Bình Định” của tác giả Hà Văn Cát [6] Trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng,
đánh giá khó khăn thuận lợi về sự tham gia của người dân trong quản lý rủi ro thiên tai, nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự tham gia của người dân có vai trò vô cùng
Trang 20quan trọng trong công tác quản lý rủi ro thiên tai, người dân là "trung tâm" của quá trình ra quyết định Nghiên cứu khẳng định công tác quản lý rủi ro thiên tai giúp giảm nhẹ rủi ro thiên tai, tình trạng dễ bị tổn thương và tăng cường khả năng ứng phó, thích nghi của người dân trước các tác động của thiên tai trong bối cảnh BĐKH trên địa bàn tỉnh Bình Định
“Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng nghiên cứu trường hợp trẻ em
từ 12-18 tuổi ở Thành phố Vinh, Nghệ An” của tác giả Cao Thị Hồng Nhung [12]
Nghiên cứu đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về thiên tai, quản lý rủi ro thiên tai, sự tham gia của trẻ em trong quản lý rủi ro thiên tai Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng tham gia của trẻ em vào hoạt động quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng tại thành phố Vinh-Nghệ An và đưa ra một số giải pháp tăng cường sự tham gia của trẻ em vào quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng tại thành phố Vinh-Nghệ An
“Nghiên cứu quản lý rủi ro thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại tỉnh Lào Cai, Việt Nam” của tác giả Hoàng Thị Hiền [8] Nghiên cứu tập trung vào
việc phân tích các loại thiên tai, đánh giá mức độ RRTT và đề xuất các giải pháp quản lý RRTT hiệu quả trong bối cảnh BĐKH tại tỉnh Lào Cai Trên cơ sở lý thuyết và mô hình về quản lý RRTT, đồng thời tham khảo các tài liệu, số liệu thống kê liên quan tới thiên tai tại Lào Cai, tác giả đã nghiên cứu, phân tích hiện trạng, nguyên nhân của các loại thiên tai thường gặp tại địa phương trong bối cảnh BĐKH và đề xuất các giải pháp nhằm quản lý RRTT trong bối cảnh BĐKH tại tỉnh Lào Cai [8]
“Nghiên cứu đánh giá Đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi
ro thiên tai dựa vào cộng đồng” do Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, Tổng cục Thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì” của tác giả
Đàm Thị Hoa [9] Nghiêu cứu tập trung đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả Đề án thông qua việc khảo sát, đánh giá quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án tại xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế - một xã thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới và ngập lụt [9]
Trang 21Qua phân tích tổng quan cho thấy, ở trên thế giới và tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu liên quan tới quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng Các nghiên cứu đưa ra cơ sở lý thuyết và thực tiễn triển khai quản lý rủi ro thiên tai tại các địa bàn nghiên cứu cũng như tập trung vào đối tượng cộng đồng, người dân Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các nghiên cứu về đánh giá nhận thức, nhất là nhận thức của đội ngũ cán bộ làm công tác phòng chống thiên tai tại địa phương, trong bối cảnh lực lượng này đã có nhiều sự thay đổi, biến động do điều chỉnh cơ chế chính sách
Tóm lại, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng nhưng chưa có đề tài nghiên cứu nào cụ thể, nghiên cứu về nhận thức của lực lượng làm công tác phòng chống thiên tai về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu Và cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu xã hội học nào nghiên cứu về vấn đề này tại một xã miền núi của tỉnh Lào Cai thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai Vì thế, việc
nghiên cứu đề tài “Đánh giá nhận thức về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng của Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn và Đội xung kích phòng chống thiên tai xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai” là
cần thiết, có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn
1.2 Khái niệm làm việc
xã hội Những sự kiện này xuất phát từ sự tương tác giữa các hiểm họa tự nhiên với các điều kiện dễ bị tổn thương của xã hội dẫn tới những thay đổi nghiêm trọng trong chức năng bình thường của một cộng đồng hay một xã hội và gây ra các ảnh hưởng bất lợi rộng khắp đối với con người, vật chất, kinh tế hay môi trường Để ứng phó với những tình huống này, cần triển khai các biện pháp khẩn cấp nhằm
Trang 22đáp ứng các nhu cầu cấp bách của con người và có thể phải cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài để phục hồi [33]
Tại Việt Nam, quá trình luật hóa các loại hình thiên tai cũng được thường xuyên cập nhật, bổ sung để phù hợp với diễn biến bất thường, gây hậu quả nghiêm trọng của các hình thái thời tiết cực đoan Căn cứ theo Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Phòng chống thiên tai được Quốc hội ban hành năm 2020
đã định nghĩa “Thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm bão, áp thấp nhiệt đới, gió mạnh trên biển, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt; sạt lở đất, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy hoặc hạn hán; nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, cháy rừng do tự nhiên, rét hại, mưa đá, sương
mù, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác” [15]
Có nhiều cách phân loại thiên tai, tuy nhiên phương pháp phổ biến là phân loại theo nguồn gốc phát sinh, bao gồm thiên tai có nguồn gốc nội sinh (tai biến địa chất như động đất, núi lửa, sóng thần,…; những thiên tai có nguồn gốc vũ trụ như: sao chổi, thiên thạch rơi,… và những thiên tai có nguồn gốc ngoại sinh như: bão và áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn,… Nhìn chung, căn cứ vào diễn biến thiên tai theo thời gian, có thể chia thành 2 loại: Thiên tai diễn biến nhanh như: Bão, áp thấp nhiệt đới, lũ, lũ quét, sạt lở đất, động đất, sóng thần; Thiên tai diễn biến chậm như: hạn hán, nắng nóng, xâm nhập mặn
Biến đổi khí hậu tác động mạnh mẽ đến các hiện tượng thời tiết và khí hậu trên Trái Đất, khiến chúng trở nên cực đoan và khó dự đoán hơn Những thay đổi này bao gồm những thay đổi trong tần suất, cường độ, phạm vi không gian, thời đoạn và thời gian của các hiện tượng thời tiết và khí hậu cực đoan [17] Hậu quả của những biến đổi này là sự gia tăng các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt, chưa từng xuất hiện trong lịch sử Điều này gây ra nhiều nguy cơ cho con người và môi trường, đe dọa sự an toàn và phát triển bền vững Tại Việt Nam, BĐKH làm cho các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, mưa đá, rét đậm, rét hại, hạn hán, lũ lụt, dông sét,… ngày càng gia tăng về cường độ và tần suất xuất hiện
Trang 23Hình 1.1 Phân vùng rủi ro thiên tai tại Việt Nam
(Nguồn: Tổng cục Phòng chống thiên tai, 2017)
Trong phạm vi của nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập tới những loại thiên tai có liên quan trực tiếp đến điều kiện khí hậu hoặc là hệ quả của quá trình BĐKH Dựa trên bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai tại Việt Nam theo đánh giá của Tổng cục phòng chống thiên tai năm 2017, xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai nằm trong vùng ảnh hưởng của nhiều loại thiên tai như: lũ quét, sạt lở đất, rét hại, sương muối, mưa lớn
1.2.2 Rủi ro thiên tai
Theo quy định của Luật Phòng, chống thiên năm 2013, rủi ro thiên tai là thiệt hại mà thiên tai có thể gây ra về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống
và hoạt động kinh tế - xã hội [14]
Ủy ban liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) đưa ra định nghĩa khác biệt về rủi ro thiên tai Theo IPCC, rủi ro thiên tai là khả năng thay đổi nghiêm trọng, trong một thời gian nhất định, các hoạt động bình thường của một cộng đồng hay một xã hội do các hiện tượng vật lý nguy hiểm tương tác với các điều kiện xã
Trang 24hội dễ bị tổn thương, dẫn đến các tác động tiêu cực có phạm vi lớn lên con người, vật chất, kinh tế, môi trường và đòi hỏi phản ứng khẩn cấp ngay lập tức để đáp ứng các nhu cầu nhân đạo cơ bản và có thể yêu cầu hỗ trợ bên ngoài để phục hồi [38]
Trong phạm vi nghiên cứu này, rủi ro thiên tai được hiểu không phải là thiên tai mà là một nguy cơ xảy ra thiên tai Rủi ro thiên tai không cố định, nhưng liên tục; và thiên tai là một trong nhiều khoảnh khắc mà không quản lý được những rủi ro đó [17] Rủi ro thiên tai là yếu tố tiềm ẩn, khi xảy ra thiên tai, các yếu tố này được bộc lộ sẽ gây ra thiệt hại [17] BĐKH có khả năng sẽ làm cho rủi
ro thiên tai trở nên trầm trọng hơn và có thể trở thành thảm họa, gây rủi ro lớn cho phát triển kinh tế, xã hội hoặc xoá đi những thành quả nhiều năm của sự phát triển
Do vậy, xác định được rủi ro thiên tai đóng vai trò vô cùng quan trọng, là yếu tổ then chốt trong công tác giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra Có thể nói đây là yếu tố quyết định cho hiệu quả của công tác phòng chống thiên tai
Nhìn chung, rủi ro thiên tai liên quan đến ba thành tố chính gồm cấp độ thiên tai, tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực phòng chống thiên tai, được thể hiện qua biểu thức sau:
Cấp độ thiên tai & Tình trạng dễ bị tổn thương Năng lực phòng chống thiên tai
Để hiểu rõ hơn về khái niệm rủi ro thiên tai, điều quan trọng hơn là phải xem xét các khái niệm về cấp độ thiên tai, tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực phòng chống thiên tai
Cấp độ rủi ro thiên tai
Theo quy định tại Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg ngày 22/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi
ro thiên tai Rủi ro thiên tai được phân thành nhiều cấp độ, cấp độ rủi ro thiên tai
là sự phân định mức độ thiệt hại do thiên tai có thể gây ra về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và hoạt động kinh tế - xã hội [5] Mức độ rủi ro của thiên tai được đánh giá dựa trên nhiều tiêu chí, bao gồm: Cường độ hoặc mức độ nguy hiểm của thiên tai; Phạm vi ảnh hưởng; Khả năng gây thiệt hại Căn cứ vào các tiêu chí trên, rủi ro thiên tai được phân thành 5 cấp độ, tương ứng với mức độ Rủi ro thiên tai
Trang 25nguy hiểm và ảnh hưởng, được gắn với một màu đặc trưng, theo mức độ tăng dần của rủi ro thiên tai: cấp 1 màu xanh dương nhạt là rủi ro thấp, thiệt hại ít, chủ yếu ảnh hưởng đến một số khu vực nhỏ; cấp 2 màu vàng nhạt là rủi ro trung bình, thiệt hại ở mức độ vừa phải, ảnh hưởng đến một số khu vực; cấp 3 màu da cam là rủi
ro lớn, thiệt hại nặng nề, ảnh hưởng đến nhiều khu vực; cấp 4 màu đỏ là rủi ro rất lớn, thiệt hại nghiêm trọng, ảnh hưởng đến nhiều khu vực rộng lớn; cấp 5 màu tím
là rủi ro ở mức thảm họa, thiệt hại cực kỳ nặng nề, ảnh hưởng đến phạm vi rộng lớn, có thể gây ra nhiều tổn thất về người và tài sản
Bảng 1.1: Các cấp độ rủi ro thiên tai theo Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg của
chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), tình trạng dễ bị tổn thương là xu hướng
hoặc khả năng dễ bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các tác nhân bên ngoài Khả năng này xuất phát từ những đặc điểm bên trong của bản thân các yếu tố có nguy cơ bị tác động Trong lĩnh vực rủi ro thiên tai, tình trạng dễ bị tổn thương được thể hiện qua đặc điểm của con người hoặc nhóm người và hoàn cảnh sống của họ Những yếu tố này ảnh hưởng đến khả năng dự đoán, ứng phó, chống lại và phục hồi sau khi chịu tác động tiêu cực từ các hiện tượng tự nhiên nguy hiểm Nguyên nhân dẫn tới tình trạng dễ bị tổn thương xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm:
Trang 26nguồn tài lực xã hội, điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, thể chế, tài nguyên thiên nhiên và điều kiện môi trường và các quy trình Như vậy, tình trạng
dễ bị tổn thương là một vấn đề phức tạp, có nhiều yếu tố tác động và ảnh hưởng đến khả năng ứng phó với rủi ro thiên tai của con người Hiểu rõ những yếu tố này là nền tảng quan trọng để xây dựng các biện pháp giảm thiểu rủi ro và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa về tình trạng dễ bị tổn thương theo tài liệu “Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng dành cho cấp xã” được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành tại quyết định số 315/QĐ-TCTL-GNTT ngày 29/4/2014 Theo đó, tình trạng dễ bị tổn thương được hiểu là những đặc điểm và hoàn cảnh của một cộng đồng, môi trường hoặc tài sản dễ bị ảnh hưởng tiêu cực của các tác động bất lợi từ thiên tai [3] Một số ví dụ điển hình
về tình trạng dễ bị tổn thương bao gồm: Cộng đồng sinh sống tại những khu vực
có nguy cơ cao xảy ra thiên tai như lũ quét, sạt lở đất; Khu vực có mật độ nhà ở tạm bợ, nhà cấp 4 cao, nằm trong vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão, lũ lụt; Cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu hệ thống cảnh báo và ứng phó thiên tai hiệu quả; Thiếu kiến thức và kỹ năng phòng chống thiên tai,…
Năng lực phòng chống thiên tai
Năng lực là tập hợp các nguồn lực, điểm mạnh và đặc tính sẵn có trong từng cá nhân, cộng đồng, tổ chức và xã hội Những yếu tố này có thể được huy động và sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu chung, bao gồm cả mục tiêu phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu Năng lực phòng chống thiên tai trong nghiên cứu này được định nghĩa là tổng hợp các nguồn lực, điểm mạnh, và các điều kiện và đặc tính sẵn có trong cộng đồng, tổ chức và xã hội có thể được
sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu đề ra [3] Khái niệm về năng lực là nền tảng cho sự thay đổi quan điểm trong công tác phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu Thay vì tập trung vào việc giảm nhẹ rủi ro thiên tai, quan điểm mới đề cao việc nâng cao năng lực của cộng đồng, tổ chức và xã hội để họ có thể
tự chủ và chủ động ứng phó với các thách thức do thiên tai và biến đổi khí hậu
Trang 27gây ra Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy năng lực PCTT không nhất thiết đối lập với tình trạng dễ bị tổn thương vì nhiều cộng đồng rất dễ bị tổn thương, nhưng trên thực tế lại có một vài khả năng rất cao nào đó [17] Tính dễ bị tổn thương có thể được hiểu là sự thiếu một hoặc một vài khả năng nào đó, nhưng không có nghĩa là thiếu khả năng chống chịu hoàn toàn Ví dụ, một cộng đồng thiếu năng lực dự đoán rủi ro, do vậy sẽ có tính dễ bị tổn thương cao, nhưng cũng
có thể có khả năng phục hồi để tái thiết sau khi bị ảnh hưởng bởi thiên tai Do vậy, mặc dù rủi ro thiên tai, năng lực PCTT và tình trạng dễ bị tổn thương là những khái niệm riêng biệt nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau và giảm nhẹ rủi
ro thiên tai liên quan mật thiết tới các biện pháp làm giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương và tăng cường năng lực phòng chống thiên tai Hay nói cách khác, một cộng đồng có nhiều năng lực và ít tình trạng dễ bị tổn thương thì cộng đồng đó sẽ
ít bị rủi ro thiên tai và ngược lại
1.2.3 Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
Trong vòng 30 năm qua, khái niệm về quản lý rủi ro thiên tai đã trải qua những thay đổi đáng kể Trên toàn cầu, quản lý rủi ro thiên tai ngày càng được quan tâm như một chiều hướng phát triển, đi kèm với sự tập trung hơn vào chủ động phòng ngừa rủi ro thiên tai, khác với các ứng phó giảm nhẹ rủi ro thiên tai [17] Tại Việt Nam, phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng trong quản lý rủi ro thiên tai đã được
áp dụng trong nhiều năm qua cùng với phương châm “bốn tại chỗ”: 1) Chỉ huy tại chỗ, 2) Lực lượng tại chỗ; 3) Vật tư, phương tiện tại chỗ; 4) Hậu cần tại chỗ Với việc thông qua Luật Phòng, chống thiên tai vào năm 2013 (Luật 33/2013/QH13), Việt Nam cũng đang trên con đường phát triển toàn diện hơn về quản lý rủi ro thiên tai Mô hình quan điểm về quản lý thiên tai dần chuyển hướng từ tập trung vào quản
lý khẩn cấp sang nhấn mạnh vào công tác phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai và
có xu hướng khuyến khích cách tiếp cận cơ sở từ dưới lên, nhấn mạnh quản lý rủi ro tại chỗ và dựa vào cộng đồng
Theo quan điểm của IPCC [33], Quản lý rủi ro thiên tai được là tập hợp các hoạt động nhằm xây dựng, thực hiện và đánh giá chiến lược, chính sách và biện
Trang 28pháp để nâng cao nhận thức về rủi ro thiên tai, thúc đẩy giảm nhẹ rủi ro thiên tai
và chuyển giao, thực hiện cải tiến liên tục trong công tác phòng ngừa, ứng phó và phục hồi sau thiên tai, góp phần tăng cường an ninh cho con người, hạnh phúc, chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững
Quản lý rủi ro thiên tai bao gồm hai mảng chính có mối liên quan nhưng độc lập là giảm nhẹ rủi ro thiên tai và quản lý thiên tai
Giảm nhẹ rủi ro thiên tai vừa là một mục tiêu, vừa là các biện pháp chiến lược nhằm dự đoán rủi ro thiên tai trong tương lai, giảm thiểu mức độ dễ bị tổn thương, và nâng cao khả năng chống chịu Giảm nhẹ rủi ro thiên tai bao gồm việc giảm bớt sự tổn thương của người dân, sinh kế, và các tài sản, và đảm bảo quản
lý bền vững thích hợp của đất, nước, và các thành phần khác của môi trường [17]
Quản lý thiên tai được hiểu là quá trình xã hội trong xây dựng, thực hiện và đánh giá chiến lược, chính sách và biện pháp thúc đẩy và nâng cao phòng tránh thiên tai, ứng phó và phục hồi hoạt động ở các cấp tổ chức và xã hội khác nhau Quá trình này bao gồm nhiều hoạt động từ phòng ngừa, cảnh báo sớm, ứng phó khẩn cấp cho đến phục hồi sau thiên tai Quản lý thiên tai giải quyết các rủi ro thiên tai mà quá trình giảm thiểu rủi ro thiên tai đã không loại bỏ được, hoặc ngăn chặn hoàn toàn [17]
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành tại
Quyết định số 315/QĐ-TCTL-GNTT ngày 29/4/2014 Theo đó, “Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng là một quá trình trong đó người dân trong cộng đồng
chủ động và tham gia tích cực vào việc xác định và phân tích các rủi ro thiên tai, lập kế hoạch, thực hiện, theo dõi và đánh giá các hoạt động nhằm mục đích giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương và tăng cường khả năng ứng phó, thích nghi của cộng đồng với tác động của thiên tai, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu” [3] Mục đích của mô hình này hướng đến sự chuyển biến tích cực từ một “cộng đồng dễ bị tổn thương” sang một “cộng đồng có năng lực, cùng nhau phòng ngừa,
Trang 29ứng phó và phục hồi” bằng cách phát huy tối đa các nguồn lực sẵn có trong cộng đồng kết hợp với các nguồn lực hỗ trợ khác
Hình 1.2 Các bước quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
Cốt lõi của cách tiếp cận này là trao quyền cho cộng đồng, biến họ thành chủ thể trong việc xác định, quyết định và thực thi các biện pháp giảm nhẹ rủi ro thiên tai Nhờ vậy, năng lực của cộng đồng cũng được nâng cao nhằm giúp họ tiếp cận tình huống, tự xác định và thực hiện các giải pháp giảm thiểu rủi ro Bên cạnh đó, dựa vào cộng đồng nhằm huy động những nguồn lực có sẵn của cộng đồng như thời gian, tiền bạc, cơ sở vật chất và con người trong cộng đồng đó, và không chỉ dựa vào ý kiến của một nhóm người mà là dựa vào nhu cầu và ý kiến của những nhóm khác nhau trong cộng đồng để đề ra cách giảm nhẹ rủi ro
Cơ sở lý luận cho sự tham gia của cộng đồng hoặc các hoạt động dựa vào cộng đồng hiện đã được nghiên cứu kỹ lưỡng [44] Vì các hoạt động dựa vào cộng đồng có nguồn gốc sâu xa từ xã hội và văn hóa của một khu vực nên chúng cho phép mọi người thể hiện những nhu cầu và ưu tiên thực sự của mình, cho phép
Trang 30xác định chính xác vấn đề, thiết kế, thực hiện các biện pháp đáp ứng và sự tồn tại của các tổ chức dựa vào cộng đồng cho phép mọi người ứng phó với các trường hợp khẩn cấp một cách nhanh chóng, hiệu quả và công bằng, do đó các nguồn lực sẵn có của cộng đồng (ngay cả khi khan hiếm) sẽ được sử dụng một cách tiết kiệm Cộng đồng không chỉ bao gồm những người sinh sống ở một địa điểm nhất định mà còn bao gồm chính quyền địa phương, các khu vực kinh doanh địa phương, các tổ chức học thuật địa phương và các tổ chức phi chính phủ [42] Trong nhiều năm qua, cách tiếp cận giảm nhẹ rủi ro thiên tai ngày càng trở nên dựa vào cộng đồng và đã có nhiều nỗ lực hơn trong việc kết hợp các khía cạnh quản lý thiên tai vào sự phát triển toàn diện của cộng đồng [37]
Thúc đẩy sự tham gia tích cực của người dân vào các hoạt động phòng chống thiên tai là chìa khóa để xây dựng cộng đồng có khả năng tự chống chịu trước thiên tai Để đạt được điều này, cần có sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa các cơ quan chức năng và người dân địa phương
Hình 1.3 Vai trò của các bên trong quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng
Để có sự phối hợp hiệu quả này, cần: 1) Xây dựng năng lực cho cán bộ làm công tác phòng, chống thiên tai các cấp để có thể chủ động ứng phó, huy động sự tham gia của người dân, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương trong các bước quản lý rủi ro thiên tai và có thể đáp ứng các nhu cầu cần hỗ trợ của người dân để
Trang 31phòng, chống thiên tai; 2) Nâng cao nhận thức của người dân, đặc biệt là các nhóm
dễ bị tổn thương để mỗi người dân xem việc quản lý rủi ro thiên tai là trách nhiệm của mình và chủ động tham gia, sử dụng nguồn lực mà cộng đồng sẵn có để phòng, chống thiên tai
Từ cơ sở lý luận trên, có thể thấy trong quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, bên cạnh nâng cao nhận thức của người dân thì nhận thức của đội ngũ cán
bộ làm công tác PCTT đóng vai trò quan trọng giúp chính quyền địa phương có thể chủ động ứng phó thiên tai, thích ứng BĐKH và huy động sự tham gia của người dân, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương trong các bước quản lý rủi ro thiên tai
1.2.4 Nhận thức
Nhận thức là quá trình phức tạp mà con người tiếp thu thông tin từ thế giới xung quanh, xử lý và tái tạo lại trong tư duy Quá trình này chịu ảnh hưởng bởi quy luật phát triển xã hội, gắn liền với thực tiễn và hướng đến mục đích chân lý khách quan Theo quan điểm triết học, nhận thức là quá trình "tái tạo lại hiện thực" trong tư duy con người Nó không chỉ đơn thuần là tiếp nhận thông tin mà còn là quá trình "phản ánh" và "tái tạo" thông tin đó một cách chủ động, sáng tạo Nhận thức chịu ảnh hưởng bởi quy luật phát triển xã hội, thể hiện qua các quan niệm, giá trị và hệ thống tri thức của thời đại Đồng thời, nhận thức cũng gắn liền với thực tiễn, là cơ sở cho mọi hoạt động thực tiễn của con người Qua thực tiễn, con người thu thập thông tin, kiểm nghiệm và hoàn thiện nhận thức của bản thân Mục đích cuối cùng của nhận thức là hướng đến chân lý khách quan, giúp con người hiểu biết đúng đắn về thế giới và bản thân
Theo Từ điển Giáo dục học định nghĩa nhận thức là “quá trình hay là kết quả phản ánh và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người” Như vậy, Nhận thức được hiểu là một quá trình, bao gồm các giai đoạn tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin và hình thành kết quả nhận thức Nhận thức cũng là kết quả, là sản phẩm của quá trình nhận thức đó
Trang 32Tóm lại, Nhận thức đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người Nhờ có Nhận thức mà con người mới có thể hiểu biết về thế giới xung quanh, từ đó có thể tác động và cải tạo thế giới, và hơn nữa là hiểu biết về bản thân, từ đó con người có thể cải tạo được chính bản thân mình, phục vụ được nhu cầu của chính mình Nhận thức là nền tảng cho mọi hoạt động và sự phát triển của con người Do đó, việc rèn luyện và nâng cao nhận thức là vô cùng quan trọng đối với mỗi cá nhân
Trong giới hạn luận văn này, “nhận thức về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng” của đội ngũ làm công tác phòng chống thiên tai cấp xã được coi là những kiến thức ở mức ghi nhớ, hiểu biết các hiện tượng, các quy định và vận dụng các kiến thức về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng vào thực tiễn công việc tại địa phương, bao gồm: Nhận thức chung về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng; Nhận thức về nội dung đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng; Nhận thức về xây dựng, thực hiện Kế hoạch phòng chống thiên tai và giám sát đánh giá kế hoạch có sự tham gia của cộng đồng
1.2.5 Đánh giá
Đánh giá là một khái niệm đa nghĩa, được định nghĩa và diễn giải theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực và quan điểm nghiên cứu Dưới đây là một
số góc nhìn tiêu biểu về đánh giá:
Theo quan niệm của triết học, đánh giá được hiểu như hành vi xác định giá trị của sự vật, hiện tượng, hoạt động con người dựa trên các mục tiêu, nguyên tắc, kết quả mong đợi và chuẩn mực nhất định Quá trình này thể hiện thái độ của người đánh giá và bao gồm yếu tố động cơ, phương tiện và mục đích hành động
Theo R.Tyler (1984) đánh giá là quá trình xác định mức độ đạt được các mục tiêu của chương trình giáo dục Cụ thể, đánh giá đòi hỏi việc xem xét mức
độ phù hợp giữa toàn bộ các thông tin thu thập được với toàn bộ các tiêu chuẩn tương ứng với mục tiêu đã đề ra, từ đó đưa ra quyết định đánh giá
Trang 33Theo C.E.Beeby (1997), đánh giá là hoạt động thu thập và lý giải thông tin một cách có hệ thống những bằng chứng để đưa ra phán xét về giá trị theo quan điểm hành động [13]
Theo Owen và Rogers (1999), đánh giá là việc thu thập thông tin một cách
hệ thống và đưa ra những nhận định dựa trên cơ sở các thông tin thu được Nhận định này nhấn mạnh tính phù hợp của đánh giá với mục đích và đối tượng cụ thể Theo đó, đánh giá là khả năng của người học trong việc đưa ra nhận định, phán quyết của bản thân về một vấn đề dựa trên các chuẩn mực và tiêu chí đã có
Đánh giá được thực hiện với nhiều mục đích khác nhau, tùy thuộc vào từng đối tượng cụ thể Mục đích chung của đánh giá là tạo động lực để điều chỉnh, phát triển nâng cao chất lượng công tác đào tạo, tập huấn, đồng thời nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng cho người học
Tóm lại, trong giới hạn luận văn này, đánh giá là một quá trình thu thập, tổng hợp, phân tích và xử lý các thông tin, dữ liệu về đối tượng cần đánh giá ( hiểu biết hay năng lực của cán bộ làm công tác phòng chống thiên tai, chương trình quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng,…) một cách có hệ thống nhằm mục đích hiểu biết sâu và sử dụng các thông tin này để ra quyết định hay đưa ra các khuyến nghị chính sách
1.3 Các quan điểm lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu
Để đánh giá nhận thức của Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích cấp
xã, nghiên cứu này đã sử dụng thang đo lường cấp độ tư duy – Thang Bloom Một cách khái quát, thang đo này đóng vai trò như một công cụ nền tảng giúp xây dựng
và sắp xếp các mục tiêu giáo dục, lập chương trình, quy trình giáo dục và đào tạo, đồng thời xây dựng và hệ thống hóa các câu hỏi, bài tập kiểm tra, đánh giá quá trình tư duy
Hệ thống phân loại này, được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1956 bởi nhà tâm lý học giáo dục Benjamin Samuel Bloom, được biết đến là một trong ba lĩnh vực của mục tiêu dạy học: nhận thức, thái độ và kỹ năng thao tác Trong lĩnh vực nhận thức, Bloom đã đề xuất sáu cấp độ tư duy, được sắp xếp theo mức độ hoạt động tư
Trang 34duy từ đơn giản đến phức tạp: 1 Nhận biết; 2 Hiểu; 3 Vận dụng; 4 Phân tích; 5 Tổng hợp; 6 Đánh giá [31] Thang cấp độ tư duy này thường được gọi tắt là Thang Bloom hay Bảng phân loại Bloom bao gồm 6 cấp độ sau:
Nhận biết: Đây là mức độ tư duy cơ bản nhất, tập trung vào việc ghi nhớ và nhắc lại được những gì đã học mà không cần giải thích những thông tin thu được
Hiểu: Khả năng nắm bắt ý nghĩa của thông tin ở mức độ cao hơn, liên hệ với kiến thức đã học, đã biết
Vận dụng: Khả năng áp dụng kiến thức đã học vào hoàn cảnh hoặc điều kiện cụ thể để giải quyết một vấn đề nào đó
Phân tích: Phân chia thông tin thành các đơn vị kiến thức nhỏ hơn, xác định cấu trúc tổ chức, dấu hiệu đặc trưng của chúng
Tổng hợp: Khả năng kết hợp các yếu tố khác nhau để tạo thành một cấu trúc mới, đề cao tính thống nhất và sáng tạo
Đánh giá: Khả năng thu thập thông tin một cách hệ thống về thực trạng của đối tượng được đánh giá, từ đó đưa ra nhận định xác thực dựa trên thông tin thu thập được, làm cơ sở cho việc đề xuất những biện pháp nhằm cải tiến hệ thống tư duy
Thang đo Bloom là một công cụ hữu ích để phân loại các cấp độ tư duy và giúp các nhà giáo dục thiết kế các hoạt động học tập phù hợp với mục tiêu giáo dục Việc ứng dụng Thang đo Bloom vào giảng dạy giúp học sinh phát triển tư duy phản biện, khả năng giải quyết vấn đề và sáng tạo
Vào những năm 1990, nhà tâm lý học giáo dục Lorin Anderson, học trò của Benjamin Bloom, đã đề xuất một số điều chỉnh cho Thang Bloom nhằm hoàn thiện hơn hệ thống phân loại các cấp độ tư duy Thay đổi đáng chú ý nhất là việc Anderson đưa ra 6 cấp độ thay vì 6 như bản gốc của Bloom, bao gồm: 1 Nhớ; 2 Hiểu 3 Vận dụng; 4 Phân tích; 5 Đánh giá; 6 Sáng tạo [28], hình thành nên Thang Anderson, hay còn được gọi là Thang Bloom tu chỉnh
Nhớ: Khả năng nhắc lại các thông tin đã học
Hiểu: Nắm được ý nghĩa của thông tin, thể hiện qua khả năng diễn giải, suy diễn, liên hệ, khái quát
Trang 35Vận dụng: Áp dụng kiến thức đã biết vào một tình huống, điều kiện mới Phân tích: Phân chia thông tin thành những phần nhỏ hơn và xác định mối liên hệ giữa chúng
Đánh giá: Đưa ra đánh giá, nhận định của bản thân về thông tin dựa trên các chuẩn mực, tiêu chí cụ thể
Sáng tạo: Tạo ra thông tin, sự vật mới dựa trên những thông tin, sự vật đã có
Sự điều chỉnh của Anderson mang đến một số điểm khác biệt so với Thang Bloom gốc: cấp độ tư duy thấp nhất, thay vì "Nhận biết", Anderson sử dụng "Ghi nhớ" để nhấn mạnh khả năng ghi nhớ thông tin một cách chính xác; Bỏ cấp độ Tổng hợp vì theo Anderson, quá trình tổng hợp đã được bao hàm trong các cấp
độ khác, đặc biệt là "Phân tích" và "Đánh giá"; Thêm cấp độ "Sáng tạo", đây là cấp độ cao nhất trong hệ thống của Anderson, thể hiện khả năng tư duy độc lập, sáng tạo và giải quyết vấn đề hiệu quả Nhìn chung, Thang Bloom tu chỉnh của Anderson được đánh giá cao bởi tính khoa học và thực tiễn Nó cung cấp một khung tham khảo hữu ích cho việc thiết kế chương trình giảng dạy, đánh giá học tập và rèn luyện kỹ năng tư duy cho học sinh
Trong khuôn khổ luận văn, tác giả vận dụng thang đo lường cấp độ tư duy của Bloom Mặc dù được trình bày dưới dạng hệ thống phân cấp, thang cấp độ tư duy Bloom không có nghĩa là một sự tiến triển tuyến tính hoặc tuần tự thông qua các kỹ năng, vì đối tượng của luận văn là người lớn, họ sử dụng linh hoạt cả kỹ năng tư duy bậc cao và bậc thấp
1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.4.1 Điều kiện địa lý-tự nhiên
1.4.1.1 Vị trí địa lý
Trịnh Tường là một xã vùng cao biên giới thuộc huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, cách trung tâm huyện lỵ 32 km về hướng Bắc Xã có tổng diện tích tự nhiên 8.237,71
ha, chiếm 7,95 % diện tích tự nhiên huyện Bát Xát [19] Vị trí địa lý của xã như sau:
- Phía Đông: Trịnh Tường giáp với huyện Hà Khẩu, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc
Trang 36- Phía Nam: Tiếp giáp xã Cốc Mỳ;
- Phía Tây: Giáp ranh với xã Y Tý và xã Ngải Thầu
- Phía Bắc: Tiếp giáp xã Nậm Chạc
Hình 1.4 Vị trí xã Trịnh Tường
1.4.1.2 Địa hình
Địa hình xã Trịnh Tường không chỉ đa dạng, phức tạp mà còn bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi cao, khe sâu Địa hình cao về phía Tây - Tây Nam (nơi cao nhất là 2570,2 m) và thấp dần về hướng Đông - Đông Bắc (điểm thấp nhất là sông Hồng khoảng có độ cao khoảng 100 m giáp xã Cốc Mỳ) Địa hình của xã chia thành 2 vùng rõ rệt như sau [19]:
- Vùng núi cao nằm ở khu vực phía Tây - Tây Nam xã có độ cao từ 700 m trở nên chiếm 1/2 diện tích tự nhiên xã, đây là khu vực địa hình có độ dốc lớn từ
Trang 3720 - 25o trở lên Được kiến tạo bởi các dãy núi trải dài và thấp dần về phía Đông và Đông Bắc;
- Khu vực vùng đồi núi thấp chiếm 1/2 diện tích đất còn lại có độ cao từ 700m trở xuống được tạo bởi các dải đồi thấp đan xen nhau không theo hướng nhất định, gần về phía sông Hồng độ cao càng thấp dần, địa hình tương đối bằng phẳng
Hình 1.5 Độ dốc địa hình xã Trịnh Tường
Phân bố diện tích theo độ dốc địa hình như sau [19]:
Độ dốc từ 25o trở lên chiếm 1900,0 ha, tương đương 23,82% diện tích tự nhiên (DTTN);
Độ dốc từ 15o đến 25o chiếm 4300 ha, tương đương 53,91% DTTN;
Độ dốc từ 7o đến 15o chiếm 1500 ha, tương đương 18,81% DTTN;
Độ dốc từ 3o đến 7o chiếm 2100 ha, tương đương 2,63 % DTTN;
Độ dốc dưới 3o chiếm 66 ha, tương đương 0,83 % DTTN
Độ
Trang 38Địa hình xã Trịnh Tường mang tính chất đặc trưng của các xã vùng núi cao biên giới phía bắc huyện Bát Xát Địa hình dốc cao, chia cắt mạnh tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các loại cây trồng Tuy nhiên, điều này cũng gây khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đặc biệt trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và mở rộng các khu dân cư
1.4.1.3 Đặc điểm khí hậu
Xã Trịnh Tường nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới
ẩm gió mùa [19] Đặc biệt là khu vực các thôn phía đông vùng thấp dọc sông Hồng Trong khi đó, do ảnh hưởng của địa hình, địa mạo nên khu vực các thôn vùng cao phía tây xã mang khí hậu tiểu vùng cận nhiệt đới và ôn đới ẩm Khí hậu nơi đây đặc trưng bởi mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều, trái ngược với mùa đông khô hanh và lạnh Thời tiết trên địa bàn xã chia thành 2 mùa rõ rệt [19]:
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kéo dài đến hết tháng 10, lượng mưa trung bình trong mùa này dao động từ 1673 mm đến 3838 mm, cao hơn nhiều so với các tháng còn lại trong năm Nhiệt độ thường dao động trong khoảng 22oC đến
33oC, tạo điều kiện cho sự phát triển của các loại cây trồng và sinh vật Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm dễ xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa lớn, lũ ống, lũ quét do lượng mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn Độ ẩm không khí
từ thường duy trì ở mức cao, từ 85% đến 97%, khiến cho thời tiết trở nên oi bức
mù dày đặc vào các tháng 11, 12 và tháng 1 năm sau
Theo số liệu từ các trạm quan trắc (Sa Pa, Lào Cai) cho thấy số giờ nắng trung bình trong năm khoảng 1300 giờ Năm thấp nhất khoảng 940 giờ, năm cao nhất là 1880 giờ Tổng tích ôn khoảng 7800oC
Trang 391.4.1.5 Đặc điểm thủy văn
Xã có sông Hồng chảy qua và các suối bắt nguồn trong nội xã Sông Hồng chảy qua địa bàn xã có chiều dài khoảng 9,07 km, đồng thời cũng là đường biên giới giáp với Trung Quốc [19] Do ảnh hưởng của địa hình chia cắt tạo thành hệ thống sông suối phân bố khá dày đặc Các suối nhỏ dẫn về các suối chính và đổ
ra sông Hồng Các suối chính bao gồm:
Suối Nà Lặc là con suối lớn nhất trên địa bàn xã Bắt nguồn từ dãy núi cao phía Tây Bắc giáp xã Nậm Chạc và xã Ngải Thầu Chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc với chiều dài khoảng 4 km và đổ ra Sông Hồng Đây là con suối chính
có lưu lượng nước tương đối ổn định, lưu vực bao gồm các nhánh nhỏ như: Suối
Tả Hồ, suối Làng San, suối Bản Hán… các suối này tập chung về suối Nà Lặc và
đổ ra Sông Hồng [19];
Suối Bản Mạc nằm trong lưu vực sông Hồng Được bắt nguồn từ các nhánh suối nhỏ khu vực phía Tây Nam xã giáp với xã Cốc Mỳ chảy dần về bao quanh khu vực thấp phía Đông Bắc xã, với chiều dài suối trong địa phận xã khoảng 6
km Gần khu vực Sông Hồng được chia ra nhiều các khe lạch nhỏ cung cấp nguồn nước tưới tiêu cho khu vực các thôn: Bản Trung, Tân Quang [19]
Hình 1.6 Mạng lưới sông, suối trên địa bàn xã Trịnh Tường
Trang 40Địa bàn xã sở hữu nguồn nước tương đối dồi dào Tuy nhiên, sự phân bố nguồn nước lại không đều theo không gian và thời gian
Sông Hồng: Lưu lượng nước hàng năm lớn, hàm lượng phù sa trong nước dồi dào Lưu lượng trung bình năm khoảng 300 - 700 m3/s và có chế độ dòng chảy phụ thuộc vào vận hành của các công trình phía thượng nguồn thuộc Trung Quốc;
Suối Nà Lặc: Lưu lượng trung bình năm khoảng 25 - 30 m3/s;
Suối Bản Mạc: Lưu lượng trung bình năm từ 10 - 15 m3/s
Mùa lũ trên các suối thuộc địa bàn xã có xu hướng trùng mùa mưa, mùa kiệt trùng với mùa mưa Do đặc điểm địa hình dốc nên dòng chảy mùa lũ thường lớn và tập trung nhanh, mùa kiệt dòng chảy rất nhỏ
1.4.2 Tình hình kinh tế - xã hội
1.4.2.1 Dân số và lao động
Xã Trịnh Tường có 16 thôn gồm: Tân Quang, Tân Tiến, Phố Mới 1, Phố Mới 2, Bản Lầu, Bản Trung, Phìn Ngan, Ná Đoong, Dền Thàng, Tùng Chỉn 2, Tùng Chỉn 3, Nà Lặc, San Hồ, Sín Chải , Tả Cồ Thàng và Lao Chải
Tổng dân số của xã đến năm 2023 là 6799 người thuộc 1453 hộ [20] Thôn
có dân số cao nhất là thôn Bản Lầu (600 người) và thôn thấp nhất là Tả Cồ Thàng (283 người) Tỷ lệ dân số nam (51,1%) và dân số nữ (48,9%) xấp xỉ bằng nhau
Hình 1.7 Phân bố dân số theo các thôn