1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá nhận thức về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng Đồng của ban chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn và Đội xung kích phòng chống thiên tai xã trịnh tường, huyện bát xát, tỉnh lào cai (tt)

26 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Nhận Thức Về Quản Lý Rủi Ro Thiên Tai Dựa Vào Cộng Đồng
Tác giả Đỗ Thị Hồng Nhung
Người hướng dẫn GS.TS Nguyễn Tuấn Anh
Trường học Đại học quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Biến đổi khí hậu
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 665,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG KHOA HỌC LIÊN NGÀNH VÀ NGHỆ THUẬT --- ĐỖ THỊ HỒNG NHUNG ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC VỀ QUẢN LÝ RỦI RO THIÊN TAI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG CỦA BAN CHỈ HUY PHÒNG CHỐNG THI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG KHOA HỌC LIÊN NGÀNH VÀ NGHỆ THUẬT

-

ĐỖ THỊ HỒNG NHUNG

ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC VỀ QUẢN LÝ RỦI RO THIÊN TAI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG CỦA BAN CHỈ HUY PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI VÀ TÌM KIẾM CỨU NẠN VÀ ĐỘI XUNG KÍCH PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI XÃ TRỊNH TƯỜNG, HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Biến đổi khí hậu

Mã số: 8900201.01QTD

HÀ NỘI - 2024

Trang 2

Luận văn được hoàn thành tại Trường khoa học liên ngành và nghệ thuật, Đại học quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Tuấn Anh

Vào hồi 14:30 giờ ngày 20 tháng 8 năm 2024

Có thể tìm đọc luận văn tại:

- Trung tâm Thư viện và Tri thức số, Đại học quốc gia Hà Nội

- Trường khoa học liên ngành và nghệ thuật, Đại học Quốc gia

Hà Nội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Theo nhận định của Worlbank, Việt Nam là một trong số những quốc gia dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu (BĐKH) trên thế giới, xếp hạng 127 trong số 182 quốc gia theo Sáng kiến Thích ứng Biến đổi Khí hậu Toàn cầu Notre Dame (NDGAIN) và đứng thứ 13 trong số

180 quốc gia theo Chỉ số Rủi ro Khí hậu Toàn cầu Germanwatch giai đoạn 2000-2019 (Worldbank, 2022) Trước tình hình đó đòi hỏi phải có cách thức quản lý rủi ro thiên tai một cách hợp lý

Trong bối cảnh BĐKH, tình hình thiên tai tại Việt Nam đang ngày càng diễn biến cực đoan, trái quy luật, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản Công tác nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi

ro thiên tai dựa vào cộng đồng (RRTT DVCĐ) là một hoạt động quan trọng, được Luật Phòng chống thiên tai quy định thực hiện và là hai trong số những nội dung ưu tiên của Khung hành động Sendai Các nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế đã thống nhất nhận định, quản lý RRTT DVCĐ là một phương pháp tiếp cận hiệu quả để giảm thiểu rủi

ro thiên tai và tăng khả năng ứng phó “tại chỗ” với thiên tai của cộng đồng (JICA, 2011) Đây là một hình thức đầu tư phi công trình có chi phí không lớn nhưng mang lại hiệu quả cao trong công tác phòng, chống thiên tai Chính vì vậy, công tác này cần được thực hiện thường xuyên

và xuyên suốt trong quá trình phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai Việc nâng cao nhận thức không chỉ đối với người dân mà cần tăng cường nhận thức của các cán bộ làm công tác phòng chống thiên tai và các nhóm cộng đồng khác trong xã hội Theo quy định của Chính phủ tại Nghị định số 66/2021/NĐ-CP ngày 6/7/2021, Ban chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn (PCTT&TKCN) cấp xã được thành lập theo quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã và có trách nhiệm tham mưu giúp UBND cấp xã trong việc kiểm tra, đôn đốc, chỉ huy, điều hành công tác PCTT và tìm kiếm cứu nạn trong phạm vi địa phương Thành viên của Ban chỉ huy PCTT&TKCN cấp xã gồm lãnh đạo UBND xã, công chức cấp xã và trưởng các tổ chức chính trị, đoàn thể cấp xã (Chính phủ, 2021) Đội xung kích PCTT cấp xã là lực lượng tại chỗ để thực hiện nhiệm vụ PCTT&TKCN theo kế hoạch và phương

án phòng chống thiên tai của xã, do chủ tịch UBND xã quyết định thành lập và được kiện toàn hàng năm Lực lượng này đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là trong thời điểm thiên tai mới xảy ra Đây là lực lượng phản ứng nhanh, kịp thời xử lý các tình huống khẩn cấp trước khi có lực lượng

Trang 4

bên ngoài tiếp cận

Ngày 6/4/2021, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, đến năm 2030” tại quyết định số 553/QĐ-TTg (gọi tắt là Đề án 553) trên cơ sở kế thừa những kinh nghiệm và bài học của Đề án 1002 ban hành năm 2009 về nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý RRTT DVCĐ với tầm nhìn đến năm 2030 Theo đó, Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích PCTT là những đối tượng chính của

Đề án 553

Xã Trịnh Tường thuộc huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai là một xã vùng cao của khu vực miền núi phía Bắc, chịu nhiều tổn thương trước tác động bất lợi từ thiên tai Trong những năm qua, dưới tác động của biến đổi khí hậu, xã Trịnh Tường xuất hiện nhiều loại hình thiên tai như mưa lớn, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất, rét hại, sương muối và giông lốc Trong đó, loại hình lũ quét và trượt lở đất là nguy cơ lớn nhất Tại

xã, đã thành lập Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích phòng chống thiên tai cấp xã để tham mưu giúp UBND cấp xã trong việc kiểm tra, đôn đốc, chỉ huy, điều hành công tác phòng, chống thiên tai

và tìm kiếm cứu nạn trong phạm vi địa phương Tuy nhiên hiện nay, tình trạng cán bộ làm công tác phòng chống thiên tai tại địa phương còn thiếu về số lượng và hạn chế về năng lực, trình độ, kiến thức, kỹ năng phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai Khả năng xây dựng kế hoạch phòng chống thiên tai, phương án ứng phó thiên tai, lồng ghép nội dung phòng chống thiên tai vào Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của cấp xã cũng như triển khai các hoạt động nâng cao nhận thức cộng đồng, quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng còn nhiều hạn chế

Do đó cần phải đánh giá đúng nhận thức, nhu cầu của cán bộ Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích PCTT cấp xã về quản lý rủi ro thiên tai để có kế hoạch cụ thể nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ làm công tác phòng chống thiên tai

Từ những lý do trên, việc thực hiện nghiên cứu “Đánh giá nhận thức về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng của Ban chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn và Đội xung kích phòng chống thiên tai xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai” là rất cần thiết vừa đảm bảo tính khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Biến đổi khí hậu

2 Câu hỏi nghiên cứu

- Cộng đồng địa bàn nghiên cứu nhận thức như thế nào về rủi ro

Trang 5

thiên tai và biến đổi khí hậu, và những yếu tố nào ảnh hưởng đến nhận thức này ?

- Thực trạng nhận thức của Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai về quản lý RRTT DVCĐ như thế nào ?

- Giải pháp nào để nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng về quản lý RRTT DVCĐ cho Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích PCTT xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai nhằm đáp ứng yêu cầu mới của Đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản

lý RRTT DVCĐ, đến năm 2030” của Chính phủ

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng

- Đánh giá được thực trạng nhận thức về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng của Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích

xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Từ đó đề xuất được một

số giải pháp để nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng về quản lý RRTT DVCĐ cho Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích địa phương

4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng

- Nghiên cứu thực trạng nhận thức về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng của Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng về quản lý RRTT DVCĐ cho Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích địa phương

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: nhận thức về quản lý rủi ro thiên tai dựa

vào cộng đồng của Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích phòng chống thiên tai cấp xã

Phạm vi nghiên cứu: 1) Về nội dung: Nghiên cứu nhận thức của

Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích PCTT cấp xã về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu bao gồm: Nhận thức chung về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng; Nhận thức về đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng; Nhận thức

về xây dựng, thực hiện Kế hoạch phòng chống thiên tai và giám sát

Trang 6

đánh giá kế hoạch có sự tham gia của cộng đồng 2) Về không gian: Tại xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai 3) Về thời gian: Đề

tài nghiên cứu và sử dụng các số liệu trong khoảng thời gian từ năm

1980 - 2023 Về số liệu phân tích được cập nhật đến hết năm 2023

6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu được thể hiện trên cả 2 phương diện:

Về mặt khoa học, đề tài cung cấp thêm một góc nhìn mới từ tiếp cận xã hội học trong việc đánh giá nhận thức của cán bộ làm công tác phòng chống thiên tai về quản lý RRTT DVCĐ trong bối cảnh biến đổi khí hậu Trên cơ sở các quan điểm lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu, các dữ liệu thực địa được phân tích, luận giải để đưa ra đánh giá mức độ nhận thức của đối tượng nghiên cứu

Về mặt thực tiễn, đề tài cung cấp thêm dữ liệu, luận cứ về thực trạng tác động của thiên tai, BĐKH tới điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, cũng như thực trạng nhận thức của cán bộ làm công tác PCTT về quản lý RRTT DVCĐ Từ phân tích, luận giải các dữ liệu, đề tài đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng về quản lý RRTT DVCĐ của cán bộ địa phương Những khuyến nghị này không chỉ hữu ích đối với các nhà quản lý trong hoạt động thực tiễn mà còn hỗ trợ các cơ quan địa phương xây dựng, kiện toàn, củng cố đội ngũ cán bộ làm công tác phòng chống thiên tai có năng lực, góp phần triển khai

có hiệu quả Đề án Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý RRTT DVCĐ đến năm 2030 và các quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 15

và khoản 3, Điều 21 của Luật Phòng chống thiên tai số 33/2013/QH13 ngày 19/6/2013

Trang 7

TÓM TẮT NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 1 tổng hợp các nghiên cứu trước đây gồm các nghiên cứu trong và ngoài nước; giới thiệu khái quát về đối tượng, phạm vi

và địa bàn nghiên cứu, cũng như các phương pháp, khái niệm và lý thuyết được sử dụng để trả lời các câu hỏi nghiên cứu

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng

Qua phân tích tổng quan cho thấy, ở trên thế giới và tại Việt Nam

đã có nhiều nghiên cứu liên quan tới quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng Các nghiên cứu đưa ra cơ sở lý thuyết và thực tiễn triển khai quản lý rủi ro thiên tai tại các địa bàn nghiên cứu cũng như tập trung vào đối tượng cộng đồng, người dân Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các nghiên cứu về đánh giá nhận thức, nhất là nhận thức của đội ngũ cán bộ làm công tác phòng chống thiên tai tại địa phương Và cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu xã hội học nào nghiên cứu về vấn đề này tại một xã miền núi của tỉnh Lào Cai thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai

1.2 Khái niệm làm việc

Nhằm phân tích, luận giải và đánh giá mức độ nhận thức của cán bộ PCTT về quản lý RRTT DVCĐ, tác giả đã đi sâu vào phân tích các khái niệm cốt lõi liên quan như: thiên tai, rủi ro thiên tai, năng lực phòng chống thiên tai, tình trạng dễ bị tổn thương, quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, nhận thức và đánh giá Tác giả trình bày các khái niệm này một cách khoa học, logic đi từ khái niệm chung đến khái niệm cụ thể, từ định nghĩa của thế giới tới nêu rõ cách hiểu và áp dụng các khái niệm này tại Việt Nam, thể hiện trong các văn bản pháp luật liên quan Ngoài ra, tác giả cũng làm rõ cách hiểu các khái niệm này trong phạm vi và mục đích của luận văn, đảm bảo sự nhất quán và chính xác trong suốt quá trình phân tích và đánh giá

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng các định nghĩa về quản

lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, năng lực PCTT và tình trạng dễ

bị tổn thương theo tài liệu “Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng dành cho cấp xã” được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành tại quyết định số 315/QĐ-TCTL-GNTT ngày 29/4/2014 Các

Trang 8

khái niệm về thiên tai, rủi ro thiên tai được lấy theo Luật PCTT

Theo đó, “Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng là một

quá trình trong đó người dân trong cộng đồng chủ động và tham gia tích cực vào việc xác định và phân tích các rủi ro thiên tai, lập kế hoạch, thực hiện, theo dõi và đánh giá các hoạt động nhằm mục đích giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương và tăng cường khả năng ứng phó, thích nghi của cộng đồng với tác động của thiên tai, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu” Mục đích của mô hình này hướng đến sự chuyển biến tích cực từ một “cộng đồng dễ bị tổn thương” sang một

“cộng đồng có năng lực, cùng nhau phòng ngừa, ứng phó và phục hồi” bằng cách phát huy tối đa các nguồn lực sẵn có trong cộng đồng kết hợp với các nguồn lực hỗ trợ khác Quản lý RRTT DVCĐ gồm 6 bước, trong đó đánh giá RRTT DVCĐ là bước quan trọng nhất

Hình 1.2 Các bước quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng

Dựa trên quy trình quản lý RRTT DVCĐ, tác giả đã xây dựng bộ câu hỏi khảo sát nhằm đánh giá nhận thức của Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích cấp xã về các hoạt động: Đánh giá RRTT DVCĐ, xây dựng

kế hoạch PCTT, thực hiện kế hoạch phòng chống thiên tai và giám sát, đánh giá kế hoạch có sự tham gia của cộng đồng

1.3 Các quan điểm lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu

Trang 9

Để đánh giá nhận thức của Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích cấp xã, nghiên cứu này đã sử dụng thang đo lường cấp độ

tư duy của nhà tâm lý học giáo dục Benjamin Samuel Bloom Trong lĩnh vực nhận thức, Bloom đã đề xuất sáu cấp độ tư duy, được sắp xếp theo mức độ hoạt động tư duy từ đơn giản đến phức tạp: 1 Nhận biết;

2 Hiểu; 3 Vận dụng; 4 Phân tích; 5 Tổng hợp; 6 Đánh giá (Bloom

et al., 1956)

1.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu

1.4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: là một xã vùng cao biên giới thuộc huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, cách trung tâm huyện lỵ 32 km về hướng Bắc Xã có tổng diện tích tự nhiên 7936,0 ha

Địa hình: Rất phức tạp, có mức độ phân cắt mạnh bởi các dãy núi cao, khe sâu Địa hình cao về phía Tây - Tây Nam (nơi cao nhất là 2570,2 m) và thấp dần về hướng Đông - Đông Bắc

Khí hậu: Nhiệt đới ẩm gió mùa, mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông khô hanh và lạnh Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến hết tháng

10 Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến hết tháng 3 năm sau

Thủy văn: Do ảnh hưởng của địa hình chia cắt tạo thành hệ thống sông suối phân bố khá dày đặc Các suối nhỏ dẫn về các suối chính và

đổ ra sông Hồng Mùa lũ trên các suối thuộc địa bàn xã có xu hướng trùng mùa mưa, mùa kiệt trùng với mùa khô

1.4.2 Tình hình kinh tế - xã hội

Dân số: Xã Trịnh Tường có 16 thôn Tổng dân số của xã đến năm 2023 là 6799 người thuộc 1453 hộ Toàn xã có 07 dân tộc cùng sinh sống Trong đó, người H’Mông, người Dao, người Kinh chiếm đa

số, còn lại là dân tộc thiểu số như dân tộc Tày, Nùng

Cơ cấu lao động: Lực lượng lao động tại xã hiện có 4243 người, chiếm tỷ lệ 62% dân số Năm 2023, thu nhập bình quân đầu người đạt 30,039 triệu đồng/người/năm

Sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế địa phương Các cây trồng chính là lúa nước, lúa rẫy, ngô, cây dược liệu, cây vụ đông (khoai tây, cây ngô, rau các loại và dưa chuột); cây công nghiệp ngắn ngày (cà chua, ớt, sắn cao sản) và cây ăn quả (chuối, dứa) Chăn nuôi chủ yếu là gia súc trâu, bò, dê, lợn và gia cầm

Trang 10

Xã có tổng diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 34,48 ha Tỷ lệ che phủ rừng của xã đạt 56,24%, trong đó rừng phòng hộ chiếm 70%

Sản xuất công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp - Thương mại, Dịch vụ: Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với sản phẩm chủ yếu là chế biến lương thực, thực phẩm, say xát, nấu rượu, sản xuất vật liệu xây dựng (khai thác cát, sỏi khoảng 5000 m3/năm) Khai thác khoáng sản ở quy mô nhỏ Trong năm xã đón trên 11.000 lượt khách đến thăm quan và lễ Đền

Hệ thống giao thông: Gồm các tuyến đường tỉnh lộ, đường liên

xã, đường trục xã/liên thôn; đường nội thôn (ngõ, xóm) và đường nội đồng Hầu hết các tuyến đường trên địa bàn xã đều có những vị trí sạt trượt mái taluy về mùa mưa

Hệ thống điện: trên toàn xã có 13 trạm biến áp công suất từ 70 -

100 KVA Tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia đạt 71,28%

Hệ thống viễn thông và truyền thanh: Xã có 01 điểm bưu điện Hiện nay, sóng điện thoại di động và internet 3G đã phủ trên địa bàn

xã Toàn xã được trang bị hệ thống truyền thanh hiện đại bao gồm 1 đài trung tâm và hệ thống loa hoạt động tại tất cả 16 thôn

Hệ thống cấp nước sinh hoạt: Toàn xã có tổng số 19 công trình cấp nước tập trung Vào mùa khô các công trình cấp nước sinh hoạt của thôn Bản Lầu, San Hồ bị thiếu nguồn nước Một số công trình bị

rò rỉ đường ống, hư hỏng bể thu

Giáo dục, đào tạo: hệ thống trường học bao gồm các trường chính khu trung tâm xã (01 Trường phổ thông dân tộc bán trú THCS,

01 trường phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học, 01 trường mầm non) và các điểm trường ở các thôn gồm 14 điểm trường mầm non và 9 điểm trường tiểu học

Y tế, chăm sóc sức khỏe người dân và vệ sinh môi trường: Gồm trạm y tế, phòng khám đa khoa khu vực Trịnh Tường Các hoạt động khám chữa bệnh cho người dân được tăng lên Tỷ lệ hộ có đủ 3 công trình thiết yếu (nhà tắm, hố xí, bể nước) đạt chuẩn là 55,35% Địa phương có 2 điểm thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt cho người dân

1.4.3 Hiện trạng rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu tại khu vực nghiên cứu

Xã Trịnh Tường chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi những biến đổi khí hậu và thiên tai đặc trưng của tỉnh Lào Cai Biểu hiện của biến đổi khí

Trang 11

hậu trên địa bàn nghiên cứu được luận văn đánh giá rõ nét thông qua

sự thay đổi nền nhiệt độ, lượng mưa và các hiện tượng thời tiết cực đoan Theo kết quả điều tra thực địa những năm gần đây, xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xuất hiện nhiều loại hình thiên tai như mưa lớn, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất, rét đậm, rét hại, giông lốc, Trong đó, loại hình mưa lớn, lũ quét và sạt lở đất là nguy cơ lớn nhất

1.5 Phương pháp nghiên cứu

1.5.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu: Nghiên cứu

tiến hành trên nền tảng kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu sơ cấp và thứ cấp đã được thu thập Các tài liệu, thông tin, dữ liệu cần thu thập gồm: các đề tài nghiên cứu; các báo cáo thống kê; các văn bản quy phạm pháp luật; các quyết định thành lập Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích cấp xã; các thông tin liên quan tới khu vực nghiên cứu như tình hình thiên tai, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện khí hậu, diễn biến của các yếu tố thời tiết khí hậu của địa bàn nghiên cứu

1.5.2 Phương pháp quan sát: Nghiên cứu sử dụng quan sát tại

thực địa gồm quan sát điều kiện cơ sở vật chất của địa phương, quan sát hộ gia đình, quan sát người được phỏng vấn để tìm hiểu về tình hình thiên tai, các rủi ro thiên tai, tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực phòng chống thiên tai của người dân và cán bộ địa phương

1.5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu: Đối tượng được phỏng vấn

gồm: cán bộ có thâm niên công tác trong lĩnh vực PCTT, quản lý RRTT DVCĐ cấp trung ương và cấp tỉnh (cấp trung ương: 1 người và cấp tỉnh: 1 người); Trưởng ban chỉ huy PCTT&TKCN xã và Đội trưởng Đội xung kích PCTT xã Trịnh Tường Bộ câu hỏi phỏng vấn sâu đã xoáy sâu vào các lĩnh vực cần đánh giá như vai trò, trách nhiệm của Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích, người dân địa phương trong quản lý RRTT DVCĐ, định hướng của Đảng và Nhà nước trong thực hiện quản lý RRTT DVCĐ, thực trạng triển khai công tác đánh giá RTT DVCĐ, lập kế hoạch PCTT cấp xã, những khó khăn, thách thức, rào cản trong quá trình triển khai

1.5.4 Phương pháp khảo sát xã hội học

a Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phiếu khảo sát bao gồm

20 câu hỏi được xây dựng dựa trên 6 bước quản lý RRTT DVCĐ Mỗi câu hỏi được thiết kế để thu thập thông tin về một khía cạnh cụ thể của

Trang 12

chủ đề nghiên cứu Phiếu hỏi được thiết kế nhằm thu thập thông tin về: Các thông tin chung: tuổi tác, nghề nghiệp, chức vụ công tác trong Ban chỉ huy PCTT&TKCN/Đội xung kích PCTT cấp xã; Kiến thức chung về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng; Nhận thức về đánh giá RRTT DVCĐ, nhận thức về xây dựng, thực hiện kế hoạch phòng chống thiên tai cấp xã và giám sát, đánh giá kế hoạch có sự tham gia của cộng đồng

b Mẫu nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra

ngẫu nhiên phân tầng, áp dụng công thức Slovin để xác định tổng số quan sát mẫu nhằm đảm bảo tính đại diện của nghiên cứu Theo Slovin (1984), cỡ mẫu được xác định theo công thức sau:

Trong đó: n: Quy mô mẫu mong muốn; N: Quy mô tổng thể; e: Sai số cho phép Ba tỷ lệ sai số thường sử dụng là: ±0.01 (1%), ±0.05 (5%), ±0.1 (10%), Trong số này, mức sai số ±0.05 (5%) được sử dụng rộng rãi nhất

Năm 2023, theo quyết định của Ủy ban nhân dân xã Trịnh Tường về việc kiện toàn Ban chỉ huy PCTT&TKCN (UBND xã Trịnh Tường, 2023b) và Đội xung kích phòng chống thiên tai (UBND xã Trịnh Tường, 2023c), tổng số thành viên Ban chỉ huy PCTT&TKCN

và Đội xung kích phòng chống thiên tai xã Trịnh Tường là 163 người

Ở biên sai số 5%, độ tin cậy 95%, áp dụng công thức trên, ta có

số mẫu cần lấy cho nghiên cứu là 116 người Hoạt động thu thập dữ liệu được tiến hành vào tháng 6/2023, thông qua phát phiếu khảo sát

Cụ thể: Ban chỉ huy PCTT và TKCN: 37 cán bộ; Đội xung kích PCTT

xã Trịnh Tường là 79 cán bộ, trong đó chia đều mẫu điều tra về 16 tổ xung kích tại mỗi thôn là 79/16 thôn = 4 người/thôn

1.5.4 Phương pháp xử lý số liệu: Quá trình này gồm các bước:

Kiểm tra và mã hóa dữ liệu; Số hóa dữ liệu (Sử dụng phần mềm MS Excel hoặc các công cụ thống kê chuyên dụng để chuyển đổi dữ liệu dạng văn bản từ phiếu điều tra sang dạng số); Phân tích dữ liệu (Thiết lập các bảng biểu và biểu đồ thống kê phù hợp để trực quan hóa dữ liệu, sau đó phân tích, rút ra kết luận và kiểm định giả thuyết nghiên cứu)

Trang 13

CHƯƠNG 2 NHẬN THỨC VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO THIÊN

TAI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

Việc đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng đóng vai trò then chốt trong các bước quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng Chương 2 tập trung làm rõ thực tiễn nhận thức của Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích PCTT xã Trịnh Tường về quản lý RRTT DVCĐ và mục đích, nội dung, các công việc cần làm để đánh giá RRTT DVCĐ Ngoài ra chương này cũng sẽ thảo luận về nhận thức của Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích PCTT địa phương về các loại hình thiên tai, xu hướng và tác động của thiên tai tới địa phương cũng như nhận thức về tình trạng dễ bị tổn thương,

năng lực PCTT

2.1 Nhận thức chung về quản lý RRTT DVCĐ và mục đích, các công việc cần làm để đánh giá RRTT DVCĐ

2.1.1 Nhận thức chung về quản lý rủi ro thiên tai DVCĐ

Theo khảo sát, hơn 54% người tham gia nắm rõ khái niệm quản

lý RRTT DVCĐ Ngược lại, có một số bộ phận hiểu chưa đúng về bản chất của quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng Theo khảo sát, 30,2% người tham gia cho rằng quản lý RRTT DVCĐ là trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc giảm nhẹ tính dễ bị tổn thương

và nâng cao khả năng ứng phó, thích nghi của cộng đồng với thiên tai Mặt khác, có 9,5 % số người được khảo sát khẳng định quản lý RRTT DVCĐ là quá trình giảm tình trạng dễ bị tổn thương và tăng cường năng lực của người dân để phòng ngừa, giảm nhẹ và ứng phó với thiên tai Tuy nhiên vẫn tồn tại một số thành viên đội xung kích không biết

về bản chất của quản lý RRTT DVCĐ do chưa từng nghe nói về cụm

từ này (6,0%)

Bên cạnh đó, kết quả khảo sát còn cho thấy sự khác biệt trong nhận thức của cán bộ Ban chỉ huy PCTT&TKCN và Đội xung kích PCTT cấp xã Trong số người được khảo sát có nhận thức đúng về quản lý RRTT DVCĐ, có thể thấy tỷ lệ cán bộ trong Ban chỉ huy PCTT&TKCN xã chiếm tỷ lệ cao hơn thành viên đội xung kích PCTT cấp xã Điều này phản ánh đúng thực tế của địa phương là thành viên Ban chỉ huy PCTT&TKCN cấp xã thường xuyên được tham gia các lớp tập huấn về phòng chống thiên tai do Ban chỉ huy PCTT cấp tỉnh, huyện tổ chức

Ngày đăng: 23/01/2025, 14:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Các bước quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng - Đánh giá nhận thức về quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng Đồng của ban chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn và Đội xung kích phòng chống thiên tai xã trịnh tường, huyện bát xát, tỉnh lào cai (tt)
Hình 1.2. Các bước quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng (Trang 8)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm