Tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia theo đạo Thiên Chúa không cho phép vợ chồng ly hôn, ngay cả khi cả hai bên đều thực sự mong muốn được chấm dứt ly hôn như Vatican…2
Trang 1BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN GIA PHÚ HƯNG
460223
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN MÔN
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRƯỜNG HỢP LY HÔN TẠI
TÒA ÁN (BỘ MÔN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH)
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN
HÀ NỘI - 2024
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo thực tập do tôi thực hiện trong thời gian thực tập tại cơ quan tiếp nhận thực tập Các nội dung trong báo cáo là trung thực, đảm bảo
độ tin cậy./
Xác nhận của Cán bộ hướng dẫn thực tập
Tác giả báo cáo thực tập (KÝ và ghi rõ hõ tên)
Trang 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Luật HN&GĐ: Luật Hôn nhân và gia đình
Trang 4
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT CÁC TRƯỜNG HỢP LY HÔN 2
1.1 Khái niệm ly hôn và giải quyết ly hôn 2
1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết ly hôn 3
1.1.1 Căn cứ ly hôn 3
1.1.2 Căn cứ áp dụng cho trường hợp thuận tình ly hôn 3
1.1.3 Căn cứ áp dụng cho trường hợp ly hôn do một bên yêu cầu 4
1.1.4 Các trường hợp hạn chế quyền ly hôn 6
1.1.5 Hậu quả pháp lý của ly hôn 7
1.1.6 Thủ tục giải quyết ly hôn 9
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRƯỜNG HỢP LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 10
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội………10
2.2 Thực trạng ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân 10
2.2.1 Tình trạng ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân qua số liệu thực tế 10
2.2.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ly hôn 14
2.2.3 Hậu quả pháp lý 18
2.3 Thực tiễn giải quyết các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân……….19
2.3.1 Căn cứ giải quyết ly hôn 19
2.3.2 Đường lối giải quyết của TAND quận Thanh Xuân Đối với việc giải quyết các vụ việc ly hôn 20
Trang 5CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRƯỜNG HỢP LY HÔN TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH XUÂN 21
3.1 Nhận xét chung về thực tiễn giải quyết các vụ việc ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội 21
3.1.1 Thuận lợi 21
3.1.2 Khó khăn 21
3.1.3 Sự cần thiết phải hạn chế ly hôn 21
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giải quyết các trường hợp ly hôn tại toà án nhân dân quận Thanh Xuân 22
KẾT LUẬN 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
PHỤ LỤC 1: BẢNG BIỂU, SỐ LIỆU THỐNG KÊ 25
PHỤ LỤC 2: MẪU ĐƠN KHỞI KIỆN VỀ TRANH CHẤP 26
PHỤ LỤC 3: BẢN ÁN SỐ 225/2024/HNGĐ – ST NGÀY 30 THÁNG 5 NĂM 2024 VỀ VIỆC TRANH CHẤP LY HÔN 28
PHỤ LỤC 4 QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ 30
PHỤ LỤC 5 QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ VIỆC XÉT ĐƠN YÊU CẦU GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 32
Trang 6MỞ ĐẦU
Gia đình là nòng cốt của xã hội Để một xã hội phát triển thì góp phần trong đó phải
là những gia đình bền vững và hạnh phúc, tuy nhiên hiện nay sự bền vững ấy đang dần bị tác động mạnh mẽ bởi rất nhiều các yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau Điển hình cho sự tác động sâu sắc này được thể hiện ở sự gia tăng và biến động không ngừng của tình trạng ly hôn hiện nay Ly hôn không chỉ là sự chia cắt của một gia đình mà còn là nguy cơ tiềm tàng đối với xã hội Thực trạng việc vợ bỏ chồng, chồng bỏ vợ, vợ chồng bỏ nhau, gia đình ly tán cũng tác động mạnh mẽ đến các con – thế hệ tương lai của đất nước, không ít đứa trẻ vì khuyết thiếu tình yêu thương của cha, mẹ mà lầm đường lạc lối, cũng không ít cặp vợ chồng vì tranh giành tài sản ly hôn mà đánh nhau sứt đầu mẻ chán Đây không chỉ
là một thực trạng mà còn là một mối nguy cơ đối với xã hội Do đó, em đã quyết định lựa chọn đề tài báo cáo thực tập của mình là “Thực tiễn giải quyết các trường hợp ly hôn tại Tòa án”; mà cụ thể ở đây là: “Thực tiễn giải quyết trường hợp ly hôn tại TAND quận Thanh Xuân” - nơi em đã được có cơ hội thực hiện 9 tuần thực tập chuyên môn đầy ý nghĩa và bổ ích
TAND quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội được thành lập từ tháng 1 năm 1997, trụ sở tại: Khu Liên cơ Nội chính, ngõ 27, Lê Văn Lương, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội Tòa rất khang trang, các phòng cơ sở vật chất đầy đủ tiện nghi Thanh Xuân là một quận nằm phía tây của Thủ đô Hà Nội, có tốc độ đô thị hóa rất nhanh,
có nhiều doanh nghiệp, nhà máy, công ty sản xuất và kinh doanh; dân số tăng nhanh, các quan hệ giao dịch xã hội rất rộng, đa dạng và phức tạp nên số lượng án mỗi năm đều tăng nhanh Riêng số lượng án dân sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động hàng năm chiếm tới 2/3 số lượng án phải giải quyết Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, TAND quận Thanh Xuân luôn là đơn vị giữ vững được truyền thống đi đầu trong phong trào thi đua của các TAND thành phố Hà Nội Hiện công tác tại Tòa gồm có 25 cán
bộ, công chức; trong đó có 13 Thẩm phán Chánh án TAND quận Thanh Xuân hiện là bà
Sa Thị Phượng; Các Phó Chánh án bao gồm: Ông Nguyễn Tuấn Phúc và Bà Đinh Thị Kiều
My
Em rất vinh dự được thực tập tại phòng của thẩm phán - Cô Nguyễn Thị Thanh Huyền - một thẩm phán có kinh nghiệm lâu năm và luôn chỉn chu trong công việc, đồng thời nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của Chú Ngô Xuân Huy - một trong các thư ký đang công tác tại TAND quận Thanh Xuân, cùng với đó là sự giúp đỡ trong quá trình thực tập và thu thập số liệu của các anh chị trong cơ quan Theo số liệu thống kê, hàng năm, TAND quận Thanh Xuân thụ lý, giải quyết khoảng 1.200 - 1500 vụ việc các loại Trước con số khổng lồ này, các vụ việc hôn nhân và gia đình chiếm một vị trí không hề nhỏ Để có thể triển khai thực tập cụ thể để thực hiện được bài báo cáo thực tập này, em đã xin phép để thực hiện tham dự một số phiên tòa xét xử về đơn phương ly hôn tại TAND quận Thanh Xuân, đồng thời thực hiện một số công việc như: giúp đỡ thư ký trong việc hoàn thiện hồ sơ, cùng thư ký tống đạt văn bản tố tụng, cho các đương sự trong hồ sơ ly hôn bao gồm cả các việc công nhận thuận tình ly hôn và các vụ đơn phương ly hôn để qua
Trang 7đó tìm hiểu thêm về các lý do dẫn đến sự đổ vỡ trong hôn nhân của các cặp vợ chồng, cùng với đó là nỗ lực tiếp thu, học hỏi từ các phiên hòa giải của thẩm phán Nguyễn Thị Thanh Huyền và thư ký Ngô Xuân Huy nhằm mở rộng sự hiểu biết của mình trong vấn đề này Ngoài ra, em còn thực hiện kèm theo đó là việc xem xét và thống kê các số liệu thụ lý, số liệu quyết định, số liệu đình chỉ để có thể nắm bắt tốt hơn thực trạng ly hôn trên địa bàn quận Thanh Xuân trong 06 năm trở lại đây
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
CÁC TRƯỜNG HỢP LY HÔN
1.1 Khái niệm ly hôn và giải quyết ly hôn
Luật HN&GD 2024 định nghĩa về hôn nhân là “quan hệ giữa vợ và chồng sau khi
các quốc gia đều coi trọng hôn nhân và có những quy định pháp luật điều chỉnh liên quan đến xác lập và chấm dứt quan hệ hôn nhân Tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia theo đạo Thiên Chúa không cho phép vợ chồng ly hôn, ngay cả khi cả hai bên đều thực sự mong muốn được chấm dứt ly hôn như Vatican…2 Thậm chí, có quốc gia không theo đạo này nhưng vẫn cấm ly hôn, cụ thể: Theo Khoản 2 Điều 15 Hiến pháp Philippines
quy định: “Hôn nhân với tư cách là thiết chế xã hội bất khả xâm phạm được coi là nền tảng
Có nhiều quan điểm cho rằng quy định cấm ly hôn đã vi phạm quyền con người cơ bản nhất của người dân, tuy nhiên lại có những quan điểm trái ngược rằng việc đưa ra quy định cấm ly hôn, hoặc đưa ra các điều kiện ngặt nghèo để hạn chế việc ly hôn sẽ khiến các bên suy nghĩ chín chắn và kỹ càng trước khi đã ra quyết định kết hôn
Có nhiều cách định nghĩa về ly hôn, cụ thể: Theo Từ điển xã hội học súc tích Oxford
(1994), “sự huỷ bỏ hợp pháp chính thức của cuộc hôn nhân được thiết lập hợp pháp” được gọi là ly hôn Từ điển Tiếng Anh Heinemann lại coi ly hôn “là sự kết thúc của một kết hôn
theo phán quyết của Toà án hoặc bất kỳ sự ly hôn hoàn toàn nào” (1987)
Còn dưới quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng: “Ly hôn chỉ là việc xác
nhận một sự kiện: Cuộc hôn nhân này là cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối” Theo đó, quan điểm này khẳng định điều kiện của hôn nhân là phải xuất
phát từ tình cảm chân thành và mong muốn của hai bên vợ và chồng Vì vậy, khi cả hai không còn tình cảm với nhau và hôn nhân chỉ là nghĩa vụ và “vỏ bọc” thì ly hôn là điều tất yếu
1 Xem: Khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014
2 Theo sách “Giáo lý của Công giáo” thì hôn nhân là việc do Chúa tạo lập và những gì Thiên Chú tạo lập thì loài người không được phân ly Do đó, vợ chồng không thể chia tách, ruồng bỏ nhau mà phải luôn gắn bó, “ăn đời ở kiếp” với nhau Cụ thể Giáo lý Công giáo số 2384 đã ghi nhận: “Ly dị là một vi phạm nặng nề đối với luật tự nhiên:
Nó dám phá vỡ giao ước đã được hai vợ chồng tự do ký kết, là sống với nhau cho đến chết”
3 Hiến pháp năm 1987 của Cộng hoà Philippines
Trang 8Có thể thấy, ly hôn là hiện tượng xã hội bất bình thường nhưng cần thiết để đảm bảo quyền tự do trong hôn nhân và nó như là biện pháp để củng cố hôn nhân tự nguyện, tiến
bộ Trong khi đó, pháp luật về Hôn nhân gia đình của Việt Nam lại định nghĩa: “Ly hôn là
việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà
Cách định nghĩa này dù mang tính pháp lý nhiều hơn nhưng đều khẳng định rằng ly
hôn là sự kiện chấm dứt quan hệ hôn nhân Như vậy, để ly hôn cần có “bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án”, tức là thủ tục ly hôn cần diễn ra theo trình tự thủ tục pháp luật quy định và thẩm quyền giải quyết ly hôn thuộc về Toà án
Từ những phân tích trên, có thể hiểu “Ly hôn là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan
hệ hôn nhân, được giải quyết thông qua Toà án theo những căn cứ ly hôn được pháp luật quy định” Truyền thống của dân tộc Việt Nam nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng
đều xây dựng theo hướng quy định chi tiết và cụ thể các căn cứ ly hôn cũng như yêu cầu Toà án nhân dân có thẩm quyền xem xét kỹ càng nguyên do khiến các bên ly hôn Cùng với đó, quá trình ly hôn tại Toà án cũng cần trải qua các phiên hoà giải để đảm bảo các bên
vợ chồng thật sự có nhu cầu và mong muốn được ly hôn
Từ đó, cũng có thể hiểu “Giải quyết vụ án ly hôn là quá trình Toà án nhân dân có
thẩm quyền vận dụng những căn cứ ly hôn, trình tự thủ tục giải quyết các vụ việc ly hôn được quy định trong pháp luật để giải quyết vụ việc ly hôn”
Pháp luật Hôn nhân gia đình của Việt Nam tôn trọng quyền quyết định của các bên trong quan hệ hôn nhân, cho phép các cặp vợ chồng được quyền ly hôn Tuy nhiên, có những ràng buộc về căn cứ và thủ tục để các bên suy nghĩ thấu đáo trước khi chính thức ly hôn Dù được xác lập trên cơ sở tình cảm và tự nguyện của các bên, nhưng trong đời sống hôn nhân có thể phát sinh các mâu thuẫn khiến cho hai bên vợ chồng không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân, do đó ly hôn là giải pháp cuối cùng mà các bên lựa chọn để chấm dứt quan hệ hôn nhân
1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết ly hôn
1.1.1 Căn cứ ly hôn
Nhà nước quy định những căn cứ để được kết hôn và những điều kiện để chấm dứt quan hệ hôn nhân, ý chí của các bên đương sự không phải là điều kiện quyết định để chấm dứt hôn nhân mà việc ly hôn phải căn cứ vào điều kiện được quy định trong Luật HN&GĐ Theo đó, căn cứ ly hôn là những tình tiết hoặc điều kiện được quy định trong pháp luật và chỉ khi có những tình tiết, điều kiện đó, Toà án mới được xử cho ly hôn5
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định hai trường hợp ly hôn: Thuận tình ly hôn và ly hôn do một bên yêu cầu Với mỗi trường hợp ly hôn có căn cứ áp dụng là khác nhau
1.1.2 Căn cứ áp dụng cho trường hợp thuận tình ly hôn
Thuận tình ly hôn là trường hợp mà hai vợ chồng cùng yêu cầu chấm dứt hôn nhân được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ chồng
4 Xem: Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014
5 ThS Nguyễn Văn Cừ, ThS Ngô Thị Hường (2002), Một số vấn đề về lí luận và thực tiễn về Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Tr.153
Trang 9Điều 55 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về Thuận tình ly hôn như sau: “Trong
trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và
đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thoả thuận được hoặc có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án giải quyết việc ly hôn”
Theo đó, Toà án công nhận thuận tình ly hôn khi thoả mãn hai điều kiện sau:
Điều kiện thứ nhất: Vợ, chồng cùng thể hiện ý chí thực sự tự nguyện ly hôn Ý chí
thể hiện thực sự ly hôn được hiểu là cả hai vợ chồng cùng bày tỏ ý chí của mình mong muốn được chấm dứt quan hệ vợ chồng, không bên nào bị cưỡng ép hoặc bị lừa dối, không phải là vợ chồng ly hôn giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân
Sự tự nguyện ly hôn là điều kiện cần thiết để Toà án công nhận thuận tình ly hôn
Vợ chồng thuận tình ly hôn vì cùng nhận thấy giữa vợ và chồng đã không còn tình cảm yêu thương, không muốn tiếp tục chung sống, chăm lo, vun đắp cho đời sống chung Khi cả hai bên vợ chồng đã cùng chung y chí muốn chấm dứt quan hệ vợ chồng thì Toà án không thể cưỡng ép vợ chồng duy trì quan hệ hôn nhân Việc không giải quyết ly hôn trong trường hợp này chỉ có thể ép buộc hôn nhân tồn tại về mặt hình thức mà không thể thay đổi sự thật khách quan là quan hệ vợ chồng đã tan vỡ trên thực tế
Điều kiện thứ hai: Vợ chồng đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi
dưỡng, chăm sóc, giao dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con
Ly hôn dẫn đến hậu quả làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng, làm thay đổi cách thức thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với con chung Do đó, khi vợ chồng thuận tình ly hôn mà họ tự thoả thuận với nhau về chia tài sản, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án mới công nhận thuận tình ly hôn cho họ Trong trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn nhưng không thoả thuận được với nhau về chia tài sản hoặc việc nuôi dưỡng, chăm sóc con hoặc có thoả thuận nhưng không đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà
án sẽ thực hiện theo thu tục giải quyết việc ly hôn
1.1.3 Căn cứ áp dụng cho trường hợp ly hôn do một bên yêu cầu (đơn phương
ly hôn)
Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014, có ba căn cứ ly hôn áp dụng cho trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên Tuỳ thuộc vào người yêu cầu, nội dung yêu cầu để Toà án xem xét giải quyết
Căn cứ thứ nhất: Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không
thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được
Khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu
ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ
về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực giao đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ
Trang 10của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”
Theo đó, việc quy định căn cứ ly hôn của Luật HN&GĐ năm 2014 đã có sự phát triển cụ thể hơn, rõ ràng hơn khi quy định về căn cứ ly hôn là hôn nhân đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được do
vợ, chồng có hành vi bảo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng Để đánh giá tình trạng hôn nhân, không thể chỉ dựa vào tình trạng mâu thuẫn vợ chồng ở một hay một số thời điểm ngẫu nhiên của thời kỳ hôn nhân mà phải xem xét cả quá trình Trong quá trình đó, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài mà không có dấu hiệu được giải quyết Nếu thực tế cho thấy hành vi không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; ngược đãi, hành hạ nhau, không chung thuỷ là hành vi có tính chất tái diễn, đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục thì mới có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được
Ngoài ra, việc bổ sung hành vi bạo lực gia đình làm căn cứ đơn phương ly hôn cho thấy pháp luật đã tiếp cận và sửa đổi bổ sung theo hướng gần gũi với đời sống người dân Thực tế cho thấy, bạo lực gia đình tương đối phổ biến trong xã hội và đây cũng là nguyên nhân chính dẫn tới ly hôn của nhiều cặp vợ chồng, trong đó đa phần nạn nhân của bạo lưc gia đình là người phụ nữ
Căn cứ thứ hai: Chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình đối với vợ, chồng là người
bị tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của người kia
Khoản 3 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Cha, mẹ, người thân thích
khác có quyền yêu cầu toà án giải quyết lly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời
là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra là ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của họ”
Căn cứ thứ ba: Vợ hoặc chồng bị Toà án tuyên bố mất tích
Khoản 2 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Trong trường hợp vợ hoặc
chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn” Đây là trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ, chồng trong Luật HN&GĐ
năm 2014 mà không xét đến yếu tố lỗi của vợ, chồng Ly hôn trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng mất tích được quy định trên cơ sở quan điểm thừa nhận sự tan sợ của quan hệ
vợ chồng khi vợ hoặc chồng vắng mặt trong một thời gian dài, không chăm lo cho đời sống chung
Tuyên bố một người mất tích là một sự kiện pháp lý nhằm xác định một người cụ thể “hoàn toàn không rõ tung tích, cũng không rõ còn sống hay đã chết”6 Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, việc chồng hoặc vợ bị mất tích đã ảnh hưởng sâu sắc tới quan hệ vợ chồng và các thành viên trong gia đình Cần phải giải phóng vợ, chồng thoát khỏi “hoàn
6 Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hoá – Thông tin
Trang 11cảnh đặc biệt” này, khi họ có yêu cầu được ly hôn với người chồng hoặc người vợ đã bị Toà án tuyên bố mất tích
Như vậy, bên cạnh việc cho phép vợ hoặc chồng được quyền yêu cầu ly hôn, còn cho phép người thân thích như cha, mẹ, người thân thích khác của vợ hoặc chồng được thực hiện quyền này Mặc dù ly hôn là quyền nhân thân, nhưng pháp luật đã quy định mở để trong một số trường hợp đặc biệt mà người vợ hoặc người chồng không có khả năng tự mình thực hiện yêu cầu ly hôn thì người thân có thể thay mặt họ thực hiện quyền này Đó
là khi “một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng,
vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thần của họ”
Đây là quy định tiến bộ của pháp luật HN&GĐ Việt Nam, đồng thời phản ánh thực tế đời sống xã hội Quy định này đã tháo gỡ vướng mắc cho nhiều trường hợp một bên vợ hoặc chồng có mong muốn ly hôn nhưng không được giải quyết do Toà án xác định họ không
có năng lực hành vi tố tụng dân sự Để có thể thực hiện được quyền này, người thân thích của vợ/chồng cần phải chứng minh người vợ/chồng là nạn nhân của bạo lực gia đình và hành vi này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, tính mạng, tinh thần của người vợ hoặc chồng
1.1.4 Các trường hợp hạn chế quyền ly hôn
Pháp luật cho phép các bên vợ chồng được quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, nhưng để đảm bảo quyền lợi của người phụ nữ trong giai đoạn mang thai và nuôi con, pháp luật đã hạn chế quyền được ly hôn của người chồng trong giai đoạn này Bởi lẽ, để bắt kịp nhịp sống hiện đại hoá, người phụ nữ vừa phải làm việc, vừa phải hoàn thành bổn phận của người vợ, người mẹ Đặc biệt, trong thời gian mang thai và nuôi con dưới 12 tháng tuổi, tâm lý của người phụ nữ có nhiều thay đổi và bất ổn, có thể xuất hiện các triệu chứng tâm
lý như trầm cảm sau sinh Thậm chí, họ có thể không đảm bảo được về mặt kinh tế và tài chính để tự chăm sóc bản thân và nuôi con cái Do vậy, Luật HN&GĐ năm 2014 đã đưa ra quy định về hạn chế quyền ly hôn của người chồng tại khoản 3 Điều 51 như sau:
“Điều 51 Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
1 Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn
2 Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chỉ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình
do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ, tinh thân của họ
3 Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”
Quy định này được hiểu rằng, trong trường hợp người vợ có yêu cầu ly hôn thì Toà
án vẫn sẽ xem xét và giải quyết theo quy định của pháp luật Bởi lẽ, quy định về hạn chế quyền ly hôn được đặt ra để bảo vệ người phụ nữ, tuy nhiên trong trường hợp người vợ không muốn tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân, hoặc giữa hai bên vợ chồng tồn tại mâu thuẫn quá lớn, hoặc không còn tình yêu và sự cảm thông giữa hai người thì pháp luật vẫn tạo điều kiện cho người vợ được quyền ly hôn Đặc biệt, hạn chế quyền ly hôn được áp dụng ngay
Trang 12khi người vợ ngoại tình và người chồng không phải bố sinh học của đứa trẻ Luật HN&GĐ
năm 2014 xác định: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong
nguyên tắc suy đoán, xác định con chung được thực hiện dựa trên thời điểm mang thai hoặc sinh con có trong thời kỳ hôn nhân hay không Do đó, kể cả trong trường hợp phát hiện con đang mang thai hoặc con dưới 12 tháng tuổi không phải là con ruột của mình, người chồng cũng không có quyền đơn phương ly hôn
1.1.5 Hậu quả pháp lý của ly hôn
Ly hôn không chỉ tác động lên mối quan hệ giữa hai vợ chồng, làm tan vỡ gia đình
mà còn ảnh hưởng đến những đối tượng có liên quan, ảnh hưởng một phần đến xã hội Do
đó, Luật HN&GĐ năm 2014 đã có những quy định cụ thể về các hậu quả pháp lý của ly hôn, trong đó các quy định này nằm chủ yếu ở Mục 1 Chương IV của Luật này
Thứ nhất, về quan hệ nhân thân giữa vợ chồng Quyền ly hôn là quyền nhân thân,
tác động trực tiếp lên mối quan hệ hôn nhân giữa hai người; nói cách khác, khi bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, quan hệ hôn nhân sẽ chấm dứt Lúc này, các bên không còn có nghĩa vụ và quyền lợi như khi hai bên còn là vợ chồng Bên còn lại hoàn toàn
có thể kết hôn cùng người khác mà không gặp rào cản về mặt pháp lý
Thứ hai, chia tài sản của vợ chồng Chia tài sản là vấn đề quan trọng và là một
trong những tranh chấp phổ biến khi các bên yêu cầu ly hôn Trên nguyên tắc tôn trọng sự thoả thuận của hai bên đương sự, pháp luật HN&GĐ cho phép các bên tự thoả thuận phân chia tài sản, Toà án sẽ chỉ giải quyết khi các bên có yêu cầu Các tài sản được xem xét để phân chia khi ly hôn bao gồm tài sản chung của vợ chồng, các tài sản được hình thành trong quá trình hôn nhân Tại Khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 đưa ra định nghĩa về tài sản chung của vợ chồng như sau:
“Điều 33 Tài sản chung của vợ chồng
1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng
và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung…”
Như vậy, trừ trường hợp các bên có thoả thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì tài sản chung của vợ chồng là các tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, bao gồm các khoản lợi tức, hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng Về nguyên tắc phân chia tài sản, khối tài sản mà vợ và chồng được hưởng từ khối tài sản chung là tương đương Tuy nhiên, Luật HN&GĐ năm 2014 cũng đã đưa ra các căn cứ khác để xác định tài sản mà mỗi bên vợ chồng được hưởng sau khi ly hôn như: hoàn cảnh các bên, công sức đóng góp, bảo
vệ lợi ích chính đáng trong kinh doanh và nghề nghiệp, đồng thời tính đến yếu tố lỗi của
7 Xem: Điều 88 Luật HN&GĐ năm 2014
Trang 13các bên Việc quy định các yếu tố đánh giá để phân chia tài sản chung đã thể hiện tính nhân đạo của pháp luật cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ hoặc chồng
Đối với trường hợp vợ chồng sống chung cùng gia đình và không xác định được giá trị tài sản chung thì căn cứ phân chia tài sản là công sức đóng góp của vợ hoặc chồng vào khối tài sản chung và đời sống chung của gia đình Quy định này xuất phát từ thực tế cũng như các nhìn nhận và đánh giá vai trò của người vợ trong gia đình Người Việt Nam có câu:
“Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, cho thấy người phụ nữ có vai trò vun đắp, xây dựng
và chu toàn cuộc sống gia đình Kể cả trong trường hợp người vợ không có đóng góp trực tiếp bằng tài sản, hiện vật vào khối tài sẩn chung của gia đình thì họ cũng đóng góp công sức, trách nhiệm để chăm lo, ổn định cuộc sống gia đình Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp người vợ sống chung cùng chồng và gia đình nhà chồng, đến khi ly hôn không thể xác định được tài sản chung vợ chồng Trong trường hợp này, Toà án vẫn phán quyết theo hướng người vợ được hưởng một phần tài sản, nếu tài sản chung là bất động sản thì người
vợ được chia tài sản chung dưới dạng tiền
Thứ ba, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn Cấp dưỡng trong trường
hợp ly hôn là nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hôn nhân, trong đó một bên có nghĩa vụ tài chính, vật chất với bên còn lại để đáp ứng nhu cầu cần thiết cho cuộc sống của người đó Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng được hình thành khi và chỉ khi bên yêu cầu được cấp dưỡng khó khăn và phải có lý do chính đáng Về mặt ý nghĩa, quy định này hướng tới bảo
vệ quyền lợi đối tượng yếu thế, thường là người phụ nữ Bởi lẽ, ở nhiều gia đình, người phụ
nữ sau khi kết hôn sẽ nghỉ việc và ở nhà nội trợ, chăm sóc chồng con Người vợ lúc này không có nguồn thu nhập trực tiếp, thiếu hụt các kỹ năng trong công việc; bởi vậy, khi ly hôn cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn Để xác định lý do yêu cầu cấp dưỡng có chính đáng hay không, cần nhìn vào thực tế hoàn cảnh của các bên Ví dụ, người vợ có yêu cầu cấp dưỡng nhưng lý do họ không tự trang trải được cuộc sống của mình là do không chủ động tìm công việc, hay lâm vào các tệ nạn như rượu chè, cờ bạc,… thì yêu cầu cấp dưỡng
sẽ không được chấp nhận Ngoài ra, Toà án còn xem xét khả năng tài chính của bên cấp dưỡng để đưa ra quyết định có chấp thuận yêu cầu cấp dưỡng của bên còn lại hay không
Thứ tư, quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con sau khi ly hôn Về bản chất, ly
hôn chỉ chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng, không làm mất đi quyền và nghĩa
vụ của họ đối với con cái Cha mẹ vẫn cùng nhau chăm sóc, nuôi nấng con cái, được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong chăm sóc con chung Luật HN&GĐ năm 2014 cho phép vợ chồng được quyền thoả thuận con chung sẽ do ai là người nuôi dưỡng trực tiếp, người còn lại sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con Cha mẹ không bị hạn chế các quyền chăm sóc, thăm nom con cái cũng như nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng cho con, trừ trường hợp đặc biệt, tạo điều kiện để đứa trẻ trong gia đình có bố mẹ ly hôn được yêu thương và chăm sóc toàn diện, nhận được tình yêu thương từ cả bố và mẹ
Về việc xác định ai là người có trực tiếp nuôi dưỡng, Luật HN&GĐ 2014 quy định theo hướng đảm bảo tốt nhất sự phát triển của trẻ Đầu tiên, trường hợp con dưới 36 tháng tuổi thì người nuôi dưỡng con sẽ là người mẹ Đây là điều dễ hiểu bởi khi trẻ còn nhỏ, cần nhiều tình yêu thương và chăm sóc của người mẹ, cũng như đảm bảo cho sự phát triển của trẻ Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, Toà án đều xác định mẹ là người nuôi
Trang 14dưỡng con sau khi ly hôn, đó là trường hợp người mẹ không đủ điều kiện (có thể là về tài chính, điều kiện sinh hoạt, sức khoẻ,…) hoặc các bên đương sự có thoả thuận Tiếp đến, trường hợp con từ đủ 7 tuổi trở lên thì mong muốn, nguyện vọng của trẻ cũng được xem xét bên cạnh những yếu tố khác, nhưng tựu chung lại vẫn cần đảm bảo trẻ được nuôi dưỡng trong điều kiện, hoàn cảnh tốt nhất có thể, được đảm bảo phát triển toàn diện về mọi mặt
Kể cả trong trường hợp các bên thoả thuận hoặc Toà án xác định được người trực tiếp nuôi con, khi có yêu cầu của các bên có thẩm quyền, Tòa án có thể đưa ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con theo Điều 84 Luật HN&GĐ năm 20148 Trong trường hợp này, Toà án vẫn cần xem xét ý kiến, mong muốn của trẻ từ đủ 7 tuổi trở lên cũng như các điều kiện để đảm bảo điều kiện sống, giáo dục và được chăm sóc của trẻ
1.1.6 Thủ tục giải quyết ly hôn
Trường hợp một bên có yêu cầu đơn phương ly hôn hoặc các bên chưa thoả thuận được về phân chia tài sản chung, các vấn đề liên quan đến nuôi dưỡng con chung thì thủ tục giải quyết vụ án ly hôn sẽ được Toà án áp dụng thực hiện Tương tự các vụ việc dân sự khác, tranh chấp liên quan đến ly hôn sẽ được giải quyết theo chế độ hai cấp xét xử.9
Thứ nhất, về thủ tục giải quyết ở cấp sơ thẩm Trong quá trình khởi kiện vụ án ly
hôn, để Toà án có căn cứ thụ lý yêu cầu ly hôn, cần đảm bảo các điều kiện về chủ thể khởi kiện, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án và tranh chấp này chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luât Thủ tục hoà giải tại Toà án sẽ được thực hiện sau khi yêu cầu ly hôn đã được thụ lý Đây là thủ tục bắt buộc, áp dụng trong cả trường hợp thuận tình ly hôn và đơn phương ly hôn Cụ thể Điều 54 Luật HN&GĐ năm
2014 quy định về Hoà giải tại Toà án như sau: “Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Toà
án tiến hành hoà giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự”
Theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, các trường hợp không tiến hành hoà giải bao gồm: Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; Đương sự không thể tham gia hoà giải được vì có lý do chính đáng; Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự; Một trong các đương sự đề nghị tiến hành hoà giải
Như vậy, nếu thuộc một trong các trường hợp trên, các bên đương sự trong vụ việc
ly hôn không cần thực hiện thủ tục hoà giải tại Toà án Nhưng cần phân biệt hoà giải tại Toà án và hoà giải tại cơ sở Hoà giải tại Toà án sẽ do thẩm phán tại toà tiến hành, hoà giải tại cơ sở sẽ do hoà giải viên thực hiện tại thôn, tổ dân phố theo quy định tại Luật Hoà giải
ở cơ cở 2013 Bên cạnh đó, nếu hoà giải ở Toà án là thủ tục bắt buộc thì pháp luật chỉ khuyến khích các bên vợ chồng hoà giải tại cơ sở (không bắt buộc)
Thứ hai, về thủ tục giải quyết cấp phúc thẩm Phúc thẩm là một hoạt động tố tụng
thuộc thẩm quyền của Toà án cấp trên, trong đó Toà án cấp trên sẽ xem xét, giải quyết lại
vụ án đã được xét xử sơ thẩm khi đáp ứng các điều kiện kháng cáo, khánh nghị theo quy định của pháp luật Theo đó, thủ tục xét xử ở cấp phúc thẩm được quy định chi tiết và cụ
8 Xem: Điều 84 Luật HN&GĐ năm 2014
9 Phụ lục 2: Mẫu đơn khởi kiện tranh chấp
Trang 15thể tại Chương XVII Bộ luật Tố dụng dân sự năm 2015, là căn cứ chủ yếu để các thẩm phán giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRƯỜNG HỢP LY HÔN TẠI TÒA
ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội
Quận Thanh xuân là một quận nằm tại khu vực đồng bằng Sông Hồng thuộc Thành phố Hà Nội Quận được thành lập từ 12/1996, với diện tích rộng 9,17 km2 Đến năm 2022 Quận đã có khoảng 293.292 cư dân với mật độ khoảng 31.971 người/km², phần lớn là dân tộc Kinh Quận Thanh Xuân là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, lịch sử của Việt Nam và cũng là nơi có tốc độ kinh tế phát triển nhanh chóng Quận Thanh Xuân có 11 phường trực thuộc cấp xã bao gồm: Phường Hạ Đình, phường Khương Đình, phường Khương Mai, phường Khương Trung, phường Kim Giang, phường Nhân Chính, phường Phương Liệt, phường Thanh Xuân Bắc, phường Thanh Xuân Nam, phường Thanh Xuân Trung, phường Thượng Đình
Theo số liệu mới nhất từ năm 2019, Quận sở hữu mức GDP tăng trưởng ổn định khi giá trị sản xuất trên địa bàn đạt hơn 34.104 tỷ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2018 Ngoài ra, Quận còn sở hữu các trục đường huyết mạch, giúp dân cư có thể kết nối nhanh chóng với ccs khu vực lân cận như: Vành Đai 3, Nguyễn Trãi, Lê Trọng Tấn, Trường Chinh, Đường Láng,…Giáo dục và đào tạo phát triển, chất lượng từng bước được nâng cao; đổi mới, phát triển về quy mô giáo dục, mạng lưới trường lớp và chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục mũi nhọn, số học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp quận, thành phố và quốc gia tăng hàng năm Đã hoàn thành phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ em 5 tuổi; hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2; 68,4% trường công lập được công nhận đạt chuẩn Quốc gia; công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh; 4 năm liên tiếp (từ năm 2014 đến năm 2018) công tác giáo dục - đào tạo quận được xếp thứ Nhất thành phố Văn hóa phát triển; hệ thống các thiết chế văn hóa được quan tâm đầu tư, hoàn thiện, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân.10
Thực tế cho thấy, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của địa bàn Quận Thanh Xuân cũng phản ánh và tác động đến các gia đình và mối quan hệ hôn nhân trên địa bàn Quận Qua đánh giá sơ lược về tình hình thực tế của địa phương, sẽ giúp cho chúng ta có thể đánh giá và xem xét kỹ lưỡng các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân
2.2 Thực trạng ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân
2.2.1 Tình trạng ly hôn tại Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân qua số liệu thực
tế
Có thể nói, số vụ án được thụ lý mỗi năm ở TAND các quận trên địa bàn Hà Nội nói chung luôn luôn là một số liệu khá “khổng lồ” so với TAND cấp huyện ở các địa phương khác Mỗi năm, riêng TAND quận Thanh Xuân thụ lý khoảng 1300-1500 vụ án các loại,
10 Cổng thông tin điện tử Quận Thanh Xuân, nguồn truy cập:[ https://thanhxuan.hanoi.gov.vn/gioi-thieu-chung ]
Trang 16tuy nhiên chỉ tính riêng các án về HNGĐ thì con số đã chiếm đến hơn một nửa, cụ thể như trong bảng thống kê dưới đây:
Bảng Số liệu thống kê giải quyết vụ, việc Hôn nhân và gia đình sơ thẩm tại TAND
Quận Thanh Xuân giai đoạn 2019-2023 (Đơn vị: vụ)
Nguồn: Bộ phận Thống kê – Tổng hợp TAND quận Thanh Xuân, TP Hà Nội
Mặc dù số liệu thống kê này không chỉ thống kê các vụ ly hôn mà còn thống kê cả các vụ, việc khác trong thuộc phạm vi Hôn nhân và gia đình như các vụ về tranh chấp tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tranh chấp đòi quyền nuôi con sau ly hôn, tranh chấp về cấp dưỡng sau ly hôn, yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật,… Tuy nhiên, nếu chỉ xét riêng các vụ ly hôn thì con số cũng có thể chiếm hơn nửa số vụ án được Tòa thụ
lý vì nhìn chung trong các vụ việc HNGĐ thì chiếm đến hơn 90% chính là các vụ ly hôn Đây có thể coi là một thực trạng vô cùng báo động đối với xã hội vì tỷ lệ ly hôn hiện tại là quá nhiều, đặc biệt là ở các vùng có kinh tế phát triển như các thành phố lớn, có thể chỉ đơn giản là do địa bàn Quận Thanh Xuân là nơi có số lượng dân cư đông đúc hoặc do mức sống cao nên yêu cầu về kinh tế cũng cao, từ đó phát sinh nhiều mâu thuẫn trong gia đình về vấn
đề tiền bạc khiến các gia đình đặc biệt là các gia đình trẻ dễ đổ vỡ
Năm
8 tháng đầu năm
Không chấp nhận yêu cầu
của đương sự
Chấp nhận yêu cầu của
Trang 17Đặc biệt trong giai đoạn năm 2019-2020, xuất hiện Đại dịch COVID-19, tỷ lệ giải quyết của TAND quận Thanh Xuân đạt hơn 90% Đại dịch COVID-19 là “chất xúc tác” đối với các mối quan hệ vốn đã rạn nứt trước đó, luật sư Emma Newman tại Stowe Family Law nhìn nhận11 Ly hôn có ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước mặc dù tình trạng ly hôn ở Việt Nam chưa thực sự phổ biến Nhìn chung trước khi đai dịch Covid-19 bùng phát,
tỷ lệ ly hôn ở nước ta thấp, tuy nhiên tỷ lệ này đang có xu hướng tăng trong 10 năm qua
Số vụ ly hôn có xu hướng tăng sau hai năm dịch bệnh Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những áp lực về kinh tế, dịch bệnh không có thu nhập; vợ, chồng mải chơi, vô tâm, cờ bạc dẫn đến mâu thuẫn, cãi vã Một số thì do áp lực về tinh thần, ngoại tình, bạo lực gia đình, dùng mạng xã hội quá nhiều dẫn đến vợ chồng ít trò chuyện, chia sẻ Đặc biệt nhiều cặp đôi ly hôn còn rất trẻ và phần lớn người viết đơn là phụ nữ Cuộc sống với nhiều mâu thuẫn khiến không chỉ các cặp đôi trẻ mà nhiều cặp đôi đã chung sống nhiều năm cũng đi đến quyết định này Bất cứ ai khi bước chân vào ngưỡng cửa hôn nhân đều mong muốn có cuộc sống viên mãn, hạnh phúc Nhưng khi cả hai không còn nhìn chung về một hướng, những rạn nứt bắt đầu xuất hiện Ly hôn là giải pháp cuối cùng được đặt ra để kết thúc sự đổ vỡ của tình yêu hoặc chấm dứt quan hệ gia đình khi không còn hạnh phúc
Nguồn: Bộ phận Thống kê – Tổng hợp TAND quận Thanh Xuân, TP Hà Nội
Qua biểu đồ số liệu trên có thể thấy rằng số vụ HNGĐ trên địa bàn quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội có sự thay đổi lớn giữa các năm Cụ thể: năm 2020 số vụ thụ lý
đã lên đến 726, tiếp tới năm 2021 tổng số vụ giảm còn 623 vụ, giảm 103 vụ so với năm trước đó Nhưng vào năm 2022, số vụ thụ lý lại tăng lên đến 720 vụ Năm 2020 được coi
là năm có tổng số vụ HNGĐ cao nhất trong 5 năm thống kê với 726 vụ Trong năm 2020
11 Bà cho rằng trước đại dịch, cuộc sống bận rộn với những cuộc gặp gỡ bạn bè, du lịch khiến mỗi người gần như
bỏ qua những khó khăn tồn đọng trong thực tế cuộc sống vợ chồng Và khi phải đối mặt trực tiếp với nhau 24/24, các cặp đôi bắt đầu nhận ra vấn đề từ người bạn đời Từ những khúc mắc khó dung hòa, họ bắt đầu đặt câu hỏi về tương lai của mối quan hệ
Biểu đồ số vụ, việc HN&GĐ thụ lý trong giai đoạn từ
năm 2019 - đầu năm 2024 (Đơn vị: vụ)
Số vụ, việc thụ lý
Trang 18và 2021, nhìn chung số vụ việc, vụ án ly hôn tại TAND quận Thanh Xuân đã có giảm thiểu, tuy nhiên, dựa trên tình hình thực tế, việc giảm sút ở đây có thể đến từ nhiều khía cạnh, có thể do tình hình dịch bệnh, thời gian cách nên nên số vụ việc, vụ án của một vài tháng giảm
đi đáng kể, còn khi hoạt động xã hội được trở lại bình thường, số vụ việc, vụ án HNGĐ lại quay trở về số lượng trung bình như mọi năm
Trong tổng số án được giải quyết:
Công nhận sự thỏa thuận của đương sự chiếm tỉ lệ cao nhất trong tổng số vụ, việc
đã giải quyết và tỉ lệ ổn định qua các năm Ví dụ như năm 2019 tổng số vụ đã giải quyết là
708 vụ thì công nhận sự thỏa thuận của đương sự là 592 vụ chiếm 83,5% Và đến năm 2020
và 2021 thì tỷ lệ này tăng lên lần lượt là 80,7% và 84,75% Tính đến năm 2022, tỉ lệ công nhận sự thỏa thuận của đương sự giảm nhẹ, chiếm 79,6% trên tổng số 750 vụ việc, vụ án
ly hôn đã giải quyết Năm 2023 tỉ lệ này lại tăng lên 83,5% và 8 tháng đầu năm 2024 tỉ lệ
là 81,75% 12
Xét xử chiếm tỷ lệ nhỏ và tăng giảm không đều qua các năm Ví dụ như năm 2019,
2020 tăng lên lần lượt là 8,75% và 10,6% nhưng đến năm 2021 tỷ lệ này xuống chỉ còn 8,54% và đến năm 2022, tỉ lệ xét xử lại tăng so với năm 2021, chiếm đến 12,8%, năm 2023
tỉ lệ xét xử còn 9,46%, đến đầu năm 2024 tỉ lệ xét xử tăng lên 10,3% Đình chỉ biến động qua các năm như chiếm 7,63% (2019); 8,69% (2020); 6,7% (2021); 7,6% (2022); 6,9% (2023); 7,91% (8 tháng đầu năm 2024) 13
Theo số liệu thống kê về 08 tháng đầu của năm 2024 thì có đến hơn 60% vụ ly hôn rơi vào trường hợp yêu cầu thuận tình ly hôn, có thể do nhiều lý do khác nhau nhưng nhìn chung khi kê khai bản tự khai thì đa số các cặp vợ chồng đều nói rằng do không có tiếng nói chung, do bất đồng quan điểm
Có thể thấy tình trạng ly hôn hiện nay ngày càng tăng về số lượng, nhưng xét về khía cạnh tích cực, các bên đã có hướng giải quyết và lối đi riêng cho mình và các con theo hướng văn minh, không đến mức phải tranh giành đối xử thiếu tôn trọng khi ở trên phiên Toà Với các vụ đơn phương ly hôn thì hai bên không thể tự giải quyết vấn đề phân chia tài sản chung hoặc không thể thống nhất quyền nuôi con, cũng có trường hợp một trong hai bên không đồng ý ly hôn
Tỉ lệ ly hôn ở Việt Nam thấp hơn các nước, tuy nhiên đây lại không phải là một điều đáng mừng Nó cho thấy còn quá nhiều người phải chịu đựng trong một cuộc hôn nhân không hạnh phúc mà không dám thoát ra vì sợ điều tiếng của xã hội cho rằng đó là sự "đổ
vỡ hạnh phúc" tuy nhiên thực tế nó phải là "lối thoát để đi đến hạnh phúc mới" Sở dĩ công nhận sự thỏa thuận của đương sự chiếm tỷ lệ cao là do trình độ văn hóa, sự hiểu biết về pháp luật của mọi người, đặc biệt là trên địa bàn Quận Thanh Xuân ngày càng được nâng cao dẫn đến việc các bên có thể thỏa thuận với trên cơ sở đảm bảo lợi ích của cả hai bên Mặt khác, trong quá trình giải quyết thẩm phán, thư ký chú trọng công tác hòa giải, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của các đương sự để phân tích, giúp họ đạt được nguyện vọng của
12 Phụ lục 4: Ví dụ về một quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân
13 Phụ lục 5: Ví dụ về một quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân
Trang 19mình Vì vậy tỷ lệ hòa giải đạt tỷ lệ cao, dẫn đến việc quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự được đưa ra Vẫn còn thực trạng nhiều vụ còn gây mất thời gian cho Toà án như: đưa đơn ra Toà nhưng khi gọi lên giải quyết thì không ai chịu lên dẫn đến đình chỉ vụ
án Án hôn nhân gia đình là loại án có số lượng lớn nhất và gia tăng về tính chất phức tạp trong quá trình giải quyết cho nên vẫn còn một số vụ án HNGĐ tồn đọng chưa giải quyết được Các vụ án giải quyết đều đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, nhiều vụ
án tranh chấp về con chung, về tài sản chung kéo dài đã được giải quyết dứt điểm góp phần
ổn định tình hình trật tự xã hội và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân
Xét về độ tuổi, các trường hợp ly hôn ở độ tuổi trung niên tại Toà án nhân dân quận Thanh Xuân qua các năm vẫn chiếm đa số vớ tỉ lệ dao động từ 40 - 50%.14
Đây là một con
số khá cao nhưng đầy báo động về tình trạng hôn nhân chưa bền vững hiện nay tại quận Thanh Xuân, về xu hướng "Ly hôn hoa râm/Ly hôn xám".15 Ly hôn có thể tàn khốc với mọi lứa tuổi Nhưng với tuổi già, "hạnh phúc cũ" hay "lỗi lầm mới" càng cần được cân nhắc
thật kỹ
2.2.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ly hôn
Nhìn chung, khi xem xét các nội dung được đương sự nêu ra tại các bản tự khai của hai bên khi đưa đến Toà, ngoại trừ các trường hợp cần khai đúng sự thật để có căn cứ xử cho ly hôn như các vụ đơn phương ly hôn hay các yêu cầu xin ly hôn trong trường hợp vợ/chồng bị tuyên bố mất tích, thì đa số đương sự đều chỉ khai lý do ly hôn là do không tìm được tiếng nói chung Tuy nhiên, qua quá trình thực tập được nghe một số đương sự chia
sẻ thật lòng trong phiên hoà giải cũng như kết hợp với kinh nghiệm được tiếp xúc với hồ
sơ vụ án thì lý do ly hôn có thể nói là rất đa dạng Cụ thể như:
Lý do 1: Ngoại tình
Thực tế, chuyện ngoại tình vẫn hằng ngày xảy ra giữa các cặp vợ chồng, mặc dù biết chắc rằng việc ngoại tình có thể đem lại nhiều hậu quả không mong muốn nhưng không phải ai cũng có đủ tỉnh táo để cưỡng lại được trước cám dỗ của một cuộc tình ngoài lề Đặc biệt là đối với người đang sinh sống và làm việc tại một thành phố lớn như Thành phố Hà Nội - một nơi luôn tấp nập, đời sống về đêm phong phú Phần lớn những người đàn ông ngoại tình đều không hề muốn bỏ rơi gia đình để theo người tình vì đa số họ chỉ đi tìm một thú vui nhất thời (nói vui thì là: Chán cơm thèm phở, lúc hết phở thì lại về ăn cơm), hoặc tìm người phụ nữ khác để sinh con nếu là vợ chồng hiếm muộn; đồng thời người phụ nữ khi biết chồng mình ngoại tình thì vì con cái, vì mặt mũi gia đình mà họ thường chấp nhận
hy sinh chịu thiệt thòi, thậm chí còn chấp nhận để giữ cho con một gia đình hạnh phúc Ngược lại nếu người đàn ông biết vợ ngoại tình, họ thường khó tha thứ hơn, tự cao và ít lo nghĩ đến vấn đề con cái hơn Do đó, hầu hết phụ nữ khi ngoại tình đều dễ dàng dẫn đến ly hôn còn đối với người đàn ông thì việc ly hôn thường sẽ ít hơn
14 Theo số liệu thống kê của Bộ phận thống kê – TAND Quận Thanh Xuân
15 Ly dị ở tuổi trung niên (grey divorce) là một hiện tượng tại nhiều quốc gia Trong xã hội ngày nay, những cuộc chia tay ở tuổi trung niên dần phổ biến hơn so với các thế hệ trước, người ta gọi những cuộc ly hôn này bằng thuật ngữ "ly hôn hoa râm"