1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm

83 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Độc Tính Và Tác Dụng Nâng Huyết Áp Của Bài Thuốc Bổ Trung Ích Khí Thang Gia Giảm Trên Thực Nghiệm
Tác giả Nguyễn Trọng Phúc
Người hướng dẫn PGS.TS Đoàn Quang Huy, PGS.TS Nguyễn Hoàng Ngân
Trường học Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam
Chuyên ngành Y học cổ truyền
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Tổng quan về huyết áp thấp theo Y học hiện đại (13)
      • 1.1.1. Tổng quan về huyết áp (13)
      • 1.1.2. Định nghĩa huyết áp thấp (15)
      • 1.1.3. Nguyên nhân gây ra bệnh huyết áp thấp (15)
      • 1.1.4. Phân loại huyết áp thấp (16)
      • 1.1.5. Triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán huyết áp thấp (16)
      • 1.1.6. Điều trị huyết áp thấp (18)
      • 1.1.7. Dự phòng (19)
    • 1.2. Tổng quan bệnh huyết áp thấp theo Y học cổ truyền (20)
      • 1.2.1. Đại cương (20)
      • 1.2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh (20)
      • 1.2.3. Các thể lâm sàng (22)
    • 1.3. Tổng quan về bài thuốc nghiên cứu “Bổ trung ích khí thang gia giảm” (25)
      • 1.3.1. Thành phần bài thuốc nghiên cứu (25)
      • 1.3.2. Phân tích dược lý các vị thuốc (26)
      • 1.3.3. Một số nghiên cứu về bài thuốc Bổ trung ích khí thang (30)
    • 1.4. Tổng quan về mô hình nghiên cứu (31)
    • 1.5. Tình hình nghiên cứu về huyết áp thấp trên thế giới và Việt Nam (32)
  • Chương 2 CHẤT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (34)
    • 2.1. Chất liệu nghiên cứu (34)
    • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (35)
    • 2.3. Hóa chất, dụng cụ trang thiết bị nghiên cứu (36)
      • 2.3.1. Thuốc - hóa chất (36)
      • 2.3.2. Dụng cụ và trang thiết bị (36)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (37)
      • 2.4.1. Đánh giá độc tính cấp (37)
      • 2.4.2. Đánh giá độc tính bán trường diễn (40)
    • 2.5. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (45)
    • 2.6. Sai số và biện pháp khắc phục sai số (45)
    • 2.7. Phương pháp xử lý số liệu (45)
    • 2.8. Đạo đức trong nghiên cứu (45)
  • Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (47)
    • 3.1. Kết quả nghiên cứu độc tính cấ p (47)
      • 3.1.1. Kết quả đánh giá biểu hiện độc tính sớm (47)
      • 3.1.2. Kết quả đánh giá biểu hiện độc tính muộn (48)
    • 3.2. Kết quả nghiên cứu độc tính bán trường diễn (49)
      • 3.2.1. Ảnh hưởng của BTIKGG lên tình trạng chung và sự thay đổi thể trọng của chuột cống trắng khi dùng dài ngày (49)
      • 3.2.2. Ảnh hưởng của BTIKGG đối với một số chỉ tiêu huyết học của chuột (50)
      • 3.2.3. Đánh giá mức độ hủy hoại tế bào gan khi dùng BTIKGG dài ngày (53)
      • 3.2.4. Đánh giá ảnh hưởng lên chức năng gan khi dùng BTIKGG dài ngày (54)
      • 3.2.5. Đánh giá ảnh hưởng lên chức năng thận khi dùng BTIKGG dài ngày (55)
      • 3.2.6. Kết quả đại thể và mô bệnh học gan, thận của chuột thí nghiệm (56)
    • 3.3. Kết quả nghiên cứu tác dụng nâng chỉ số huyết áp (59)
  • Chương 4 BÀN LUẬN (61)
    • 4.1. Bàn luận về động vật nghiên cứu (61)
    • 4.2. Độc tính cấp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm (62)
    • 4.3. Độc tính bán trường diễn của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm (65)
    • 4.4. Tác dụng nâng chỉ số huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm (71)
  • KẾT LUẬN (42)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (77)
  • PHỤ LỤC (83)

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾHỌC VIỆN Y DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM NGUYỄN TRỌNG PHÚC NGHIÊN CỨU ĐỘC TÍNH VÀ TÁC DỤNG NÂNG HUYẾT ÁP CỦA BÀI THUỐC BỔ TRUNG ÍCH KHÍ THANG GIA GIẢM TRÊN THNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệmNghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm

CHẤT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chất liệu nghiên cứu

- Nghiên cứu bài thuốc “Bổ trung ích khí thang gia giảm”

Bảng 2.1 Thành phần bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm

Tên vị thuốc Tên khoa học Hàm lượng

Sinh hoàng kỳ Radix Astragali membranacei 40g

Nhân sâm Rhizoma et Radix Ginseng 15g Đương quy Radix Angelicae sinensis 15g

Bạch truật Rhizoma Atractylodis macrocephalae 15g

Sài hồ Radix Bupleuri chinensis 15g

Trần bì Pericarpium Citri reticulatae perettne 10g

Chích cam thảo Radix et Rhizoma Glycyrrhizae 04g

- Tên khoa học của các vị thuốc được viết theo thông tư 05, năm 2015 của Bộ

Bài thuốc được chiết xuất từ các dược liệu đạt tiêu chuẩn dược điển Việt Nam V, với tỷ lệ cân đối trong thang thuốc, sử dụng dung môi nước và đóng chai 500ml Dịch chiết từ bài thuốc “BTIKGG” có tỉ lệ 1:1, tương ứng 1ml dịch chiết với 1g dược liệu Quá trình chiết xuất diễn ra tại công ty cổ phần Dược phẩm Phú Tín, sau đó dịch chiết được cô đặc về tỉ lệ 5:1, tương đương 1ml dịch chiết với 5g dược liệu, và được pha loãng với nước cất để cho chuột uống.

Liều dùng dược liệu được tính theo g/kg/ngày, với liều dự kiến cho người là 01 thang/ngày, tương đương 124 g/người/ngày Đối với một người nặng 50kg, liều dùng tương ứng là 2,48 g/kg/ngày Khi quy đổi sang động vật thực nghiệm, liều trên chuột cống với hệ số quy đổi 07 là 17,36 g/kg/ngày, trong khi trên chuột nhắt với hệ số quy đổi 12 là 29,76 g/kg/ngày.

Đối tượng nghiên cứu

- Chuột nhắt trắng, 50 con, chủng Swiss, cả hai giống đực cái với số lượng bằng nhau, khỏe mạnh, trọng lượng 20 ± 2g, được dùng cho nghiên cứu độc tính cấp.

Chuột cống trắng Wistar, với 30 con gồm cả giống đực và cái, được chọn lọc với số lượng bằng nhau, khỏe mạnh và có trọng lượng từ 180 đến 220g, sẽ được sử dụng cho nghiên cứu độc tính bán trường diễn.

Chuột cống trắng, chủng Wistar, bao gồm 40 con với số lượng giống đực và cái bằng nhau, khỏe mạnh, trọng lượng từ 180 – 220g, được sử dụng để nghiên cứu tác dụng nâng chỉ số huyết áp Động vật này được cung cấp bởi Ban chăn nuôi động vật thí nghiệm - Học viện Quân y và đã được nuôi dưỡng trong phòng thí nghiệm ít nhất một tuần trước khi tiến hành thí nghiệm.

Chuột khỏe mạnh được đánh giá qua các tiêu chí như lông mượt, mắt trong, hậu môn khô, và hoạt động bình thường, bao gồm ăn uống và chất thải Quy trình lựa chọn chuột nghiên cứu được thực hiện bởi hai kỹ thuật viên có kinh nghiệm, sau đó cán bộ nghiên cứu sẽ kiểm tra và đánh giá lại Chuột thí nghiệm được cung cấp thức ăn tiêu chuẩn cho động vật nghiên cứu và nước sạch đã đun sôi để nguội, đồng thời diễn biến kết quả thí nghiệm được theo dõi và ghi chép hàng ngày.

Chuột cống trắng, chủng Wistar, 180 – 220g Chuột nhắt trắng, chủng Swiss, 18 - 22g

Hóa chất, dụng cụ trang thiết bị nghiên cứu

- Diltiazem hydrochloride (Sigma – Aldrich, St Louis, MO).

- Isofluran (Baxter Healthcare, Puerto Rico)

- Các hóa chất xét nghiệm sinh hóa AST, ALT, Creatinin, Albumin của hãng MEDIA, sản xuất tại Italia

- Hóa chất xét nghiệm huyết học của hãng Human, Đức.

- Heparin Injection BP 5000IU/ml (Sintez Joint Stock Company, Nga).

2.3.2 Dụng cụ và trang thiết bị

- Máy xét nghiệm sinh hoá Biochemical Systems International Srl, Italia, model 3000 Evolution.

- Máy phân tích huyết học Humancout 30TS, hãng Human, Đức, sử dụng phần mềm phân tích huyết học dành cho chuột thí nghiệm.

- Máy ly tâm lạnh Universal 320 (Hettich - Đức).

- Cân phân tích 10 -4 , model CP224S (Sartorius - Đức).

- Hệ thống Powerlab (ADInstruments – Australia) với đầu đo huyết áp Mikro-Tip BP Foundation System (Product Code RSBMIL001) và phần mềm LabChart v8.0.0.

- Kim cong đầu tù dùng cho chuột uống thuốc, sản xuất tại Nhật Bản.

- Bộ dụng cụ mổ động vật cỡ nhỏ và các dụng cụ thí nghiệm khác.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực nghiệm, có đối chiếu với nhóm chứng.

2.4.1 Đánh giá độc tính cấp

Nghiên cứu này nhằm xác định độc tính cấp và LD50 của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm (BTIKGG) trên chuột nhắt trắng chủng Swiss thông qua phương pháp Litchfield – Wilcoxon Nghiên cứu được thực hiện theo các quy định của Bộ Y Tế Việt Nam về đánh giá tính an toàn và hiệu lực của thuốc.

Mẫu nghiên cứu là 50 chuột nhắt trắng được chia làm 5 lô, mỗi lô 10 con và được uống mẫu thuốc nghiên cứu theo liều tăng dần.

Cao lỏng bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm được chế biến bằng cách cô đặc hoặc pha loãng với nước cất, nhằm đạt được nồng độ phù hợp theo liều dùng yêu cầu.

 Chuẩn bị chuột nghiên cứu

- Trước khi tiến hành thí nghiệm, cho chuột nhịn ăn qua đêm.

- Chuột được chia thành các lô khác nhau, mỗi lô 10 con.

- Sau 12h nhịn ăn, chuột được uống thuốc cưỡng bức, thuốc thử được đưa thẳng vào dạ dày chuột bằng kim cong đầu tù.

- Cho chuột uống thuốc với thể tích 0,25ml/10g thể trọng/lần nhưng với các liều tăng dần, tối đa 3 lần/24 giờ, mỗi lần uống cách nhau 3 giờ.

Hình 2.2 Chuột uống thuốc bằng kim đầu tù

 Chỉ tiêu theo dõi đánh giá kết quả

- Theo dõi các biểu hiện nhiễm độc sớm:

Theo dõi tình trạng sức khỏe của chuột, bao gồm sự khởi đầu và diễn biến của các triệu chứng nhiễm độc như nôn mửa, co giật, kích động và bài tiết Đánh giá khả năng hồi phục, thời gian hồi phục và số lượng chuột chết trong vòng 72 giờ sau khi sử dụng thuốc.

+, Tất cả chuột chết (nếu có) được mổ để đánh giá tổn thương đại thể và xác định nguyên nhân gây độc.

+, Tìm liều cao nhất không gây chết chuột, liều thấp nhất gây chết 100% số chuột và các liều trung gian, số chuột chết ở các liều trung gian (nếu có).

Từ đó xây dựng đồ thị tuyến tính (sử dụng giấy probit hoặc phần mềm excel) để xác định LD50 của mẫu thử.

- Theo dõi các biểu hiện nhiễm độc muộn và khả năng hồi phục các biểu hiện nhiễm độc:

Tiếp tục theo dõi tình trạng của chuột cho đến hết ngày thứ 7 sau khi sử dụng Cao lỏng bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm Các chỉ tiêu theo dõi sẽ giống như trong 72 giờ đầu.

Cao lỏng bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm.

- Chuột nhắt trắng, chủng Swiss, cả 2 giống, 20 ± 2 gam

Sơ đồ 2.1 Quy trình nghiên cứu độc tính cấp

Uống Cao lỏng bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm

(BTIKGG) liều tăng dần trong cùng một thể tích.

- Theo dõi tình trạng chung, biểu hiện nhiễm độc, số chuột chết trong 72 giờ sau khi uống thuốc.

- Theo dõi tình trạng chung, biểu hiện nhiễm độc, số chuột chết trong thời gian từ ngày 4 đến ngày 7 sau khi uống thuốc.

- Phẫu tích đánh giá tất cả chuột chết ( nếu có).

Tính toán xác định LD50

Liều cao nhất không có chuột chết

Các liều trung gian (số chuột chết) Liều thấp nhất gây chết 100% chuột

2.4.2 Đánh giá độc tính bán trường diễn

Nghiên cứu này tập trung vào độc tính bán trường diễn của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm (BTIKGG) trên chuột cống trắng Wistar, được thực hiện qua đường uống trong 90 ngày Nghiên cứu tuân thủ các quy định của Bộ Y tế Việt Nam, cũng như hướng dẫn của WHO và OECD.

Mẫu nghiên cứu là 30 chuột cống trắng được chia ngẫu nhiên làm 3 lô, mỗi lô

Cao lỏng bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm được pha loãng hoặc cô đặc với nước cất để đạt nồng độ phù hợp với liều dùng.

 Chuẩn bị chuột nghiên cứu

Chuột cống trắng, thuần chủng, chủng Wistar cả 2 giống, số lượng 30 con, được chia ngẫu nhiên làm 3 lô, mỗi lô 10 con.

- Lô chứng: uống nước cất 10 ml/kg/ngày

- Lô trị 1: uống BTIKGG liều 17,36 g/kg/ngày (quy đổi từ liều dùng trên người, tính theo hệ số 7).

- Lô trị 2: uống BTIKGG liều 52,08 g/kg/ngày (liều gấp 3 lần lô trị 1).

Chuột được uống nước hoặc mẫu thử trong 90 ngày liền, mỗi ngày một lần vào buổi sáng.

 Chỉ tiêu theo dõi đánh giá kết quả

Đánh giá tổng quát tình trạng sức khỏe của chuột và sự phát triển cân nặng của chúng là rất quan trọng Cần so sánh trọng lượng chuột ở các thời điểm khác nhau, bao gồm trước khi sử dụng thuốc, sau 45 ngày và sau 90 ngày điều trị, nhằm xác định hiệu quả của thuốc giữa các lô chuột.

Để đánh giá chức phận tạo máu, cần xem xét các chỉ số như số lượng hồng cầu, thể tích trung bình hồng cầu, hàm lượng hemoglobin, hematocrit, số lượng bạch cầu và số lượng tiểu cầu Bên cạnh đó, việc đánh giá chức năng gan cũng rất quan trọng, với các chỉ số như ALT, AST và albumin máu.

+ Đánh giá chức năng thận: Creatinin huyết thanh

+ Đánh giá chuyển hóa: Cholesterol toàn phần.

So sánh các giá trị cận lâm sàng về chức năng tạo máu, chức năng gan và chức năng thận được thực hiện trước và sau 45 ngày, cũng như sau 90 ngày sử dụng thuốc Việc theo dõi này giúp đánh giá hiệu quả của thuốc đối với các chỉ số sức khỏe quan trọng, từ đó cung cấp thông tin cần thiết cho việc điều chỉnh liệu trình điều trị.

- Chỉ tiêu giải phẫu bệnh:

Sau 90 ngày sử dụng thuốc, chuột được gây mê quá liều và sau đó bị giết để thu thập gan và thận Mẫu mô được phẫu tích để đánh giá đại thể và thực hiện nhuộm HE để phân tích vi thể.

Cao lỏng bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm.

Lô đối chứng: cho uống nước cất

Lô trị 1: uống thuốc nghiên cứu liều 17,36 g/kg/ngày

Lô trị 2: uống thuốc nghiên cứu liều 52,08 g/kg/ngày

Cả 3 lô đều được lấy máu trước, sau 45 ngày, sau 90 ngày uống thuốc để đánh giá các chỉ số:

- Tình trạng chung, thể trọng của chuột.

- Đánh giá chức phận tạo máu.

- Đánh giá chức năng gan.

- Đánh giá chức năng thận.

Sau 90 ngày uống thuốc, mổ ngẫu nhiên 30% số chuột ở mỗi lô để quan sát đại thể các cơ quan nội tạng, làm tiêu bản nhuộm đánh giá cấu trúc vi thể gan, thận của các chuột ở mỗi lô.

So sánh kết quả giữa các lô

Sơ đồ 2.2 Quy trình nghiên cứu độc tính bán trường diễn

2.4.3 Đánh giá tác dụng nâng chỉ số huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm

Nghiên cứu này tập trung vào tác dụng nâng cao chỉ số huyết áp trong mô hình hạ huyết áp do Diltiazem hydrochloride gây ra, theo phương pháp nghiên cứu của Shinya Yokote và cộng sự (2012) Việc tiêm từ từ thuốc hạ huyết áp chẹn kênh canxi dẫn đến sự giảm huyết áp dần dần ở chuột.

Mẫu nghiên cứu là 40 chuột cống trắng chủng Wistar, 12 tuần tuổi, được chia làm 4 lô, mỗi lô 10 con.

+ Lô 1 (lô chứng): uống nước cất + không gây hạ huyết áp

+ Lô 2 (mô hình): Uống nước cất + gây hạ huyết áp bằng Diltiazem.

+ Lô 3 (trị 1): Uống BTIKGG liều 17,36 g/kg/ngày + gây hạ huyết áp

+ Lô 4 (trị 2): Uống BTIKGG liều 52,08 g/kg/ngày + gây hạ huyết áp

Cao lỏng bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm được pha loãng với nước cất để đạt nồng độ phù hợp với liều dùng.

 Chuẩn bị chuột nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, chuột được cho uống thuốc hoặc nước cất trong 14 ngày Vào ngày thứ 14, sau khi uống thuốc 2 giờ, chuột sẽ được gây hạ huyết áp và theo dõi sự biến đổi huyết áp động mạch theo thời gian Các chuột được gây mê bằng isoflurane và đặt trên tấm sưởi Catheter được luồn vào động mạch chủ bụng qua động mạch đùi bên trái, được đổ đầy nước muối sinh lý chứa heparin (100 UI/ml) để đo áp lực động mạch bằng hệ thống powerlab Một catheter thứ hai được đặt vào tĩnh mạch đùi trái để tiêm Diltiazem (lô 2 đến lô 4), trong khi lô 1 không tiêm Diltiazem hydrochloride được hòa tan trong nước muối sinh lý (5mg/ml) và được bơm qua tĩnh mạch đùi trái bằng bơm điện tử, với liều 0,025 mg/kg/phút trong 2 giờ.

0,05 mg/kg/phút trong 2 giờ nữa Huyết áp được theo dõi trong suốt thời gian từ lúc bắt đầu tiêm Diltiazem cho đến hết 360 phút sau đó.

Đo huyết áp động mạch trung bình ở chuột được thực hiện thông qua phương pháp xâm lấn, cụ thể là luồn catheter vào động mạch chủ bụng qua động mạch đùi bên trái Việc đo được thực hiện bằng đầu đo huyết áp Mikro-Tip BP Foundation System (Mã sản phẩm RSBMIL001) của hệ thống Powerlab (ADInstruments – Australia) Dữ liệu thu thập được sẽ được xử lý bằng phần mềm LabChart v8.0.0.

- Các thời điểm đánh giá: xuất phát điểm (trước khi tiêm Diltiazem), thời điểm

60 phút, 120 phút, 180 phút, 240 phút, 300 phút và 360 phút (kể từ lúc bắt đầu tiêm Diltiazem).

Uống thuốc hoặc nước cất trong 14 ngày

Sơ đồ 2.3 Quy trình nghiên cứu tác dụng nâng chỉ số huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên động vật thực nghiệm

Chuột cống trắng Wistar 12 tuần tuổi, chia ngẫu nhiên thành 4 lô, mỗi lô 10 con

Theo dõi huyết động tại các thời điểm đánh giá

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Bộ môn Dược lý - Học viện Quân Y

- Cơ quan làm và đọc tiêu bản: Khoa giải phẫu bệnh và pháp y - Bệnh viện Quân y 103 - Học viện Quân y.

- Thời gian: từ tháng 02/2024 đến tháng 09/2024

Sai số và biện pháp khắc phục sai số

- Sai số các phương pháp thu thập số liệu.

Để hạn chế tối đa các sai số có thể xảy ra trong quá trình thu thập, phân tích và xử lý số liệu, nhiều phương pháp đã được áp dụng Những phương pháp này giúp đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của dữ liệu, từ đó nâng cao chất lượng kết quả phân tích Việc sử dụng các công cụ và kỹ thuật hiện đại cũng góp phần giảm thiểu rủi ro sai sót trong từng giai đoạn của quy trình nghiên cứu.

+ Động vật nghiên cứu được lựa chọn tương đối đồng đều, khỏe mạnh, không có dị tật hay dấu hiệu bất thường.

+ Thời gian thực hiện các bước thí nghiệm giữa các lô chuột là thống nhất cùng một thời điểm.

Dữ liệu được thu thập một cách cẩn thận và chính xác thông qua các thiết bị và máy móc tiêu chuẩn hóa tại phòng thí nghiệm, đảm bảo độ chính xác cao.

+ Xử lý số liệu bằng phần mềm chuyên dụng trên máy tính.

+ Các tiêu chuẩn và chỉ tiêu rõ ràng để đưa ra kết quả chính xác và sát với mục tiêu.

+ Lưu trữ số liệu, thông tin bằng sổ ghi chép, chụp ảnh.

Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu nghiên cứu được phân tích thông qua thuật toán thống kê y sinh học, sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2013 và SPSS 20.0 Kết quả được trình bày dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn (̅X ± SD).

Mẫu được kiểm định bằng T test để so sánh sự khác biệt giữa các lô Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.

Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu đã được thực hiện theo đúng đề cương đã được phê duyệt bởi Hội đồng bảo vệ đề cương Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam.

Nghiên cứu được tiến hành trên chuột cống trắng và chuột nhắt trắng, với số lượng động vật trong các thí nghiệm được hạn chế tối thiểu nhằm đảm bảo độ tin cậy của kết quả và đủ cho các phân tích thống kê Chúng tôi cam kết trung thực trong việc xử lý số liệu.

Những chuột chết trong quá trình làm thí nghiệm (nếu có) và số chuột sau khi thí nghiệm hoàn thành đều được xử lý theo đúng quy định.

Việc chọn lựa động vật thí nghiệm, cùng với điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc, được thực hiện theo quy định nghiêm ngặt trong “Hướng dẫn nội dung cơ bản thẩm định kết quả nghiên cứu tiền lâm sàng thuốc tân dược, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm y tế” của Bộ Y tế.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả nghiên cứu độc tính cấ p

3.1.1 Kết quả đánh giá biểu hiện độc tính sớm (72 giờ sau uống thuốc)

- Kết quả đánh giá số chuột có biểu hiện bất thường, số chuột sống/chết ở các lô nghiên cứu:

Kết quả nghiên cứu được trình bày ở bảng 3.1.

Bảng 3.1 Kết quả đánh giá độc tính sớm (72 giờ sau uống thuốc) của mẫu thử ở các lô nghiên cứu (n ở mỗi lô)

Trong 72 giờ đầu sau uống thuốc

Số chuột có biểu hiện bất thường Số chuột sống/chết

Lô 1 60 g/kg 20 mL/kg x 3 lần Không 10/0

Lô 2 120 g/kg 20 mL/kg x 3 lần Không 10/0

Lô 3 180 g/kg 20 mL/kg x 3 lần Không 10/0

Lô 4 240 g/kg 20 mL/kg x 3 lần Không 10/0

Lô 5 300 g/kg 20 mL/kg x 3 lần Không 10/0

Chuột được thử nghiệm với các liều lượng từ 60g/kg đến 300g/kg thể trọng Sau 72 giờ theo dõi, tất cả chuột trong các nhóm nghiên cứu đều không có biểu hiện bất thường và không có trường hợp tử vong nào xảy ra.

3.1.2 Kết quả đánh giá biểu hiện độc tính muộn (từ ngày 4 đến ngày 7 sau uống thuốc)

Kết quả nghiên cứu được trình bày ở bảng 3.2.

Bảng 3.2 Kết quả đánh giá độc tính muộn (từ ngày 4 đến ngày 7 sau uống thuốc) của mẫu thử ở các lô nghiên cứu (n ở mỗi lô)

Từ ngày 4 đến ngày 7 sau uống thuốc

Số chuột có biểu hiện bất thường Số chuột sống/chết

Lô 1 60 g/kg 20 mL/kg x 3 lần Không 10/0

Lô 2 120 g/kg 20 mL/kg x 3 lần Không 10/0

Lô 3 180 g/kg 20 mL/kg x 3 lần Không 10/0

Lô 4 240 g/kg 20 mL/kg x 3 lần Không 10/0

Lô 5 300 g/kg 20 mL/kg x 3 lần Không 10/0

Trong khoảng thời gian từ ngày 4 đến ngày 7 sau khi uống mẫu thử, tất cả các chuột trong các lô nghiên cứu đều không xuất hiện biểu hiện bất thường và không có trường hợp chuột nào chết.

Chuột đã uống liều 300 g/kg thể trọng mà không có biểu hiện độc tính, cho thấy thuốc nghiên cứu an toàn trong thử nghiệm độc tính cấp So với liều quy đổi từ liều dùng trên người sang chuột nhắt trắng (29,76 g/kg/ngày), liều cho chuột đã gấp hơn 10 lần liều lâm sàng quy đổi Việc không quan sát thấy độc tính ở mức liều này khẳng định tính an toàn của thuốc.

Kết quả nghiên cứu độc tính bán trường diễn

3.2.1 Ảnh hưởng của BTIKGG lên tình trạng chung và sự thay đổi thể trọng của chuột cống trắng khi dùng dài ngày

Chuột cống trắng được theo dõi hàng ngày về tình trạng sức khỏe tổng quát, bao gồm hoạt động, ăn uống, tình trạng lông, da, niêm mạc và chất tiết Kết quả cho thấy cả chuột ở lô chứng và lô dùng mẫu thử đều hoạt động bình thường, với lông mượt, da niêm mạc khỏe mạnh, ăn uống ổn định và phân thành khuôn.

 Sự thay đổi cân nặng của chuột

Kết quả được trình bày ở bảng 3.3

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của BTIKGG đối với cân nặng chuột (n = 10 ở mỗi lô, x ± SD)

- So sánh giữa các lô trong cùng một thời điểm đánh giá, ta thấy cân nặng của chuột ở các lô không có sự khác biệt (p > 0,05).

- So sánh trong cùng một lô giữa các thời điểm đánh giá, cân nặng chuột ở thời điểm sau cao hơn so với thời điểm trước (p < 0,01).

Nghiên cứu cho thấy BTIKGG, khi sử dụng với các liều lượng và thời gian khác nhau, không gây ảnh hưởng đến sự phát triển cân nặng của chuột.

Thời điểm XN Lô chứng (1) Lô trị 1 (2) Lô trị 2 (3) p giữa các lô

Sau 90 ngày (c) 220,20 ± 19,89 229,60 ± 18,66 223,50 ± 11,36 p trong cùng lô pb-a < 0,01; pc-a < 0,01; pc-b < 0,01; -

3.2.2 Ảnh hưởng của BTIKGG đối với một số chỉ tiêu huyết học của chuột

Kết quả được trình bày ở các bảng 3.4, bảng 3.5 và bảng 3.6.

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của BTIKGG lên số lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố trong máu chuột (n = 10 ở mỗi lô, x ± SD)

Khi so sánh các lô trong cùng một thời điểm, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố trong máu chuột (p > 0,05).

Trong từng lô thí nghiệm, sự so sánh giữa các thời điểm cho thấy số lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố trong máu chuột không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p >).

BTIKGG, với các liều lượng và thời gian sử dụng được nghiên cứu, không gây ra sự thay đổi nào đối với số lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố trong máu của chuột.

Thời điểm XN Lô chứng (1) Lô trị 1 (2) Lô trị 2 (3) p giữa các lô

Số lượng hồng cầu chuột (x10 12 g/l)

Sau 90 ngày (c) 7,75 ± 1,10 7,81 ± 1,45 7,90 ± 1,39 p trong cùng lô p b,c-a > 0,05; p c-b > 0,05 -

Hàm lượng huyết sắc tố trong máu chuột (g/dL)

Sau 90 ngày (c) 13,79 ± 1,42 13,86 ± 1,32 14,29 ± 1,10 p trong cùng lô p b,c-a > 0,05; p c-b > 0,05 -

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của BTIKGG lên hematocrit và thể tích trung bình hồng cầu trong máu chuột (n = 10 ở mỗi lô, x ± SD)

- So sánh các lô với nhau trong cùng một thời điểm, hematocrit và thể tích trung bình hồng cầu trong máu chuột thay đổi không có ý nghĩa thống kê (p >

- So sánh trong từng lô giữa các thời điểm thí nghiệm, hematocrit và thể tích trung bình hồng cầu trong máu chuột thay đổi không có ý nghĩa thống kê (p >

Nghiên cứu cho thấy BTIKGG, với các liều lượng và thời gian sử dụng đã được thử nghiệm, không gây ra sự thay đổi nào đối với chỉ số hematocrit và thể tích trung bình hồng cầu trong máu chuột.

Thời điểm XN Lô chứng (1) Lô trị 1 (2) Lô trị 2 (3) p giữa các lô

Sau 90 ngày (c) 32,72 ± 3,45 32,16 ± 4,43 33,77 ± 4,35 p trong cùng lô p b,c-a > 0,05; p c-b > 0,05 -

Thể tích trung bình hồng cầu (fl)

Sau 90 ngày (c) 50,10 ± 2,77 49,00 ± 3,16 49,60 ± 3,13 p trong cùng lô p b,c-a > 0,05; p c-b > 0,05 -

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của BTIKGG lên số lượng bạch cầu và tiểu cầu trong máu chuột (n = 10 ở mỗi lô, x ± SD)

Khi so sánh các lô mẫu trong cùng một thời điểm, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số lượng bạch cầu và số lượng tiểu cầu trong máu chuột (p > 0,05).

Trong từng lô thí nghiệm, sự so sánh giữa các thời điểm cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số lượng bạch cầu và tiểu cầu trong máu chuột (p > 0,05).

Nghiên cứu cho thấy BTIKGG, với các liều lượng và thời gian sử dụng đã thử nghiệm, không gây ra sự thay đổi nào đối với số lượng bạch cầu và tiểu cầu trong máu chuột.

Thời điểm XN Lô chứng (1) Lô trị 1 (2) Lô trị 2 (3) p giữa các lô

Sau 90 ngày (c) 6,85 ± 1,26 6,89 ± 1,16 6,22 ± 0,96 p 3-1 > 0,05 p trong cùng lô p b,c-a > 0,05; p c-b > 0,05 -

Sau 90 ngày (c) 632,90 ± 132,75 645,50 ± 101,15 638,30 ± 148,98 p 3-1 > 0,05 p trong cùng lô p b,c-a > 0,05; p c-b > 0,05 -

3.2.3 Đánh giá mức độ hủy hoại tế bào gan khi dùng BTIKGG dài ngày

Kết quả được trình bày ở bảng 3.7

Bảng 3 7 Ảnh hưởng của BTIKGG đối với hoạt độ AST,

- So sánh các lô với nhau trong cùng một thời điểm, hoạt độ các enzym AST, ALT trong máu chuột thay đổi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

- So sánh trong từng lô giữa các thời điểm thí nghiệm, hoạt độ các enzym AST, ALT trong máu của chuột thay đổi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Nghiên cứu cho thấy BTIKGG, với các mức liều và thời gian sử dụng đã thử nghiệm, không làm thay đổi hoạt độ của các enzym AST và ALT một cách có ý nghĩa thống kê, điều này chứng tỏ rằng BTIKGG không gây hủy hoại tế bào gan trên chuột.

Thời điểm XN Lô chứng (1) Lô trị 1 (2) Lô trị 2 (3) p giữa các lô

Sau 90 ngày (c) 99,80 ± 32,11 95,00 ± 29,35 91,90 ± 16,39 p 3-1 > 0,05 p trong cùng lô p b,c-a > 0,05; p c-b > 0,05 -

Sau 90 ngày (c) 83,80 ± 15,81 81,90 ± 23,97 81,30 ± 14,93 p 3-1 >0,05 p trong cùng lô p b,c-a > 0,05; p c-b > 0,05 -

3.2.4 Đánh giá ảnh hưởng lên chức năng gan khi dùng BTIKGG dài ngày

Kết quả được trình bày ở bảng 3.8.

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của BTIKGG lên các chỉ số albumin và cholesterol toàn phần trong máu (n = 10 ở mỗi lô, x ± SD)

- So sánh các lô với nhau trong cùng một thời điểm, các chỉ số albumin và cholesterol toàn phần máu chuột thay đổi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

- So sánh trong từng lô giữa các thời điểm thí nghiệm, các chỉ số albumin và cholesterol toàn phần máu chuột thay đổi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Nghiên cứu cho thấy rằng BTIKGG, khi sử dụng với các liều lượng và thời gian cụ thể, không ảnh hưởng đến các chỉ số albumin và cholesterol toàn phần trong máu của chuột thí nghiệm.

Thời điểm XN Lô chứng (1) Lô trị 1 (2) Lô trị 2 (3) p giữa các lô

Sau 90 ngày (c) 22,50 ± 2,37 22,10 ± 2,92 22,60 ± 3,69 p trong cùng lô p b,c-a > 0,05; p c-b > 0,05 -

Sau 90 ngày (c) 1,92 ± 0,30 1,86 ± 0,32 1,77 ± 0,31 p trong cùng lô p b,c-a > 0,05; p c-b > 0,05 -

3.2.5 Đánh giá ảnh hưởng lên chức năng thận khi dùng BTIKGG dài ngày

Kết quả được trình bày ở bảng 3.9.

Bảng 3.9 Ảnh hưởng của BTIKGG lên hàm lượng creatinin máu chuột (n = 10 ở mỗi lô, x ± SD)

- So sánh các lô với nhau trong cùng một thời điểm, nồng độ creatinin máu chuột thay đổi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

- So sánh trong từng lô giữa các thời điểm thí nghiệm, nồng độ creatinin máu chuột thay đổi không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Như vậy BTIKGG với các mức liều và thời gian sử dụng trong nghiên cứu không làm thay đổi nồng độ creatinin trong máu chuột nghiên cứu.

Thời điểm XN Lô chứng (1) Lô trị 1 (2) Lô trị 2 (3) p giữa các lô

Sau 90 ngày (c) 88,30 ± 16,83 83,90 ± 14,36 82,90 ± 15,19 p trong cùng lô p b,c-a > 0,05;p c-b > 0,05;p a-c > 0,05 -

3.2.6 Kết quả đại thể và mô bệnh học gan, thận của chuột thí nghiệm

3.2.6.1 Hình ảnh đại thể gan, thận chuột nghiên cứu.

Hình 3.1 Hình ảnh đại thể gan, thận chuột đại diện cho các lô chuột nghiên cứu độc tính bán trường diễn của BTIKGG

A Lô chứng (chuột 6); B Lô trị 1 (chuột 15); C Lô trị 2 (chuột 24).

Nhận xét ảnh: Hình ảnh đại thể các tạng gan, thận của chuột ở các lô trị 1

Các lô trị 2 (ảnh 3.1C) và lô BTIKGG (ảnh 3.1B) có màu nâu đỏ thẫm đồng đều, bề mặt nhẵn, không có u cục hoặc xuất huyết, và có độ đàn hồi khi ấn xuống Hình ảnh của chúng không khác biệt so với gan, lách, thận của chuột ở lô chứng (ảnh 3.1A).

3.2.6.2 Hình ảnh vi thể gan, thận chuột nghiên cứu.

Các tiêu bản mô bệnh học đọc tại khoa hình thái giải phẫu bệnh, bệnh viện

Nghiên cứu mô bệnh học trên gan, thận và lách của chuột cho thấy việc sử dụng BTIKGG qua đường uống với liều 17,36 g/kg/ngày và 52,08 g/kg/ngày liên tục trong 90 ngày không gây tổn thương cho gan và thận của chuột Hình ảnh vi thể của gan và thận từ các mẫu chuột nghiên cứu được trình bày dưới đây.

Hình 3.2 Hình ảnh vi thể gan chuột nhuộm HE, (x 400) đại diện cho các lô chuột nghiên cứu độc tính bán trường diễn của BTIKGG.

A Lô chứng (chuột 3); B Lô trị 1 (chuột 12); C Lô trị 2 (chuột 27).

1 Tĩnh mạch trung tâm tiểu thuỳ; 2 Tế bào gan.

Hình ảnh vi thể gan của chuột dưới kính hiển vi với độ khuếch đại 400 lần cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa các lô trị BTIKGG (ảnh 3.2B và 3.2C) so với lô chứng (ảnh 3.2A) Các tế bào gan được sắp xếp thành dải và bè, với các xoang mạch xen kẽ Nhu mô gan thể hiện bình thường, không có dấu hiệu thoái hóa, xuất huyết hay hoại tử.

Hình 3.3 Hình ảnh vi thể thận chuột nhuộm HE, (x 400) đại diện cho các lô chuột nghiên cứu độc tính bán trường diễn của BTIKGG

A Lô chứng (chuột 6); B Lô trị 1 (chuột 11); C Lô trị 2 (chuột 25).

Hình ảnh vi thể thận của chuột dưới kính hiển vi với độ khuếch đại 400 lần cho thấy không có sự khác biệt giữa các lô trị BTIKGG (lô trị 1 và lô trị 2) so với lô chứng Nhu mô thận bình thường với vỏ thận chứa các cầu thận, ống thận và mạch máu, trong khi các tế bào biểu mô ống thận không có dấu hiệu thoái hóa.

Kết quả nghiên cứu tác dụng nâng chỉ số huyết áp

Kết quả được trình bày ở các bảng 3.10 và 3.11

Bảng 3.10 Mô hình gây hạ huyết áp bằng Diltiazem ở chuột nghiên cứu (𝑿̅± SD, n = 10).

Lô 2 (2) (mô hình) Giá trị p

(kể từ lúc bắt đầu tiêm Diltiazem)

(kể từ lúc bắt đầu tiêm Diltiazem)

(kể từ lúc bắt đầu tiêm Diltiazem)

(kể từ lúc bắt đầu tiêm

(kể từ lúc bắt đầu tiêm

(kể từ lúc bắt đầu tiêm

- Tại thời điểm xuất phát điểm, áp lực động mạch trung bình của chuột ở các lô là tương đương (p > 0,05).

Sau khi tiêm Diltiazem, áp lực động mạch trung bình của chuột ở nhóm mô hình giảm đáng kể so với nhóm chứng trắng, với giá trị p < 0,05 tại 60 và 120 phút, p < 0,01 tại 180 và 240 phút, và p < 0,001 tại 300 và 360 phút.

Bảng 3.11 Ảnh hưởng của BTIKGG lên áp lực động mạch trung bình (mmHg) (Mean arterial blood pressure - MAP) của các lô chuột nghiên cứu (𝑿̅± SD, n = 10).

(kể từ lúc bắt đầu tiêm Diltiazem)

(kể từ lúc bắt đầu tiêm

(kể từ lúc bắt đầu tiêm

(kể từ lúc bắt đầu tiêm

(kể từ lúc bắt đầu tiêm

(kể từ lúc bắt đầu tiêm

- Tại thời điểm xuất phát điểm, áp lực động mạch trung bình của chuột ở các lô là tương đương (p > 0,05).

Sau khi tiêm Diltiazem, áp lực động mạch trung bình của chuột ở hai nhóm sử dụng BTIKGG đã tăng một cách có ý nghĩa thống kê so với nhóm mô hình, với giá trị p < 0,05 tại các thời điểm 60, 120, 180 và 240 phút, và p < 0,01 tại các thời điểm 300 phút.

Trong nghiên cứu với lô sử dụng BTIKGG liều cao, áp lực động mạch trung bình của chuột có xu hướng cao hơn so với lô sử dụng BTIKGG liều thấp, mặc dù sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

BÀN LUẬN

Bàn luận về động vật nghiên cứu

Nghiên cứu thuốc trên động vật thực nghiệm là bước quan trọng trước khi đưa vào điều trị lâm sàng Trong nghiên cứu này, chuột nhắt trắng và chuột cống trắng được lựa chọn làm đối tượng thí nghiệm, đảm bảo tính đồng đều về các tiêu chuẩn nghiên cứu.

+, Chuột nhắt trắng chủng Swiss, cả hai giống đực cái với số lượng bằng nhau, khỏe mạnh, trọng lượng 20 ± 2g, được dùng cho nghiên cứu độc tính cấp.

Chuột cống trắng chủng Wistar, cả giống đực lẫn cái, với trọng lượng từ 180 – 220g, được sử dụng trong nghiên cứu độc tính bán trường diễn và tác dụng nâng chỉ số huyết áp Động vật được cung cấp bởi Ban cung cấp động vật thí nghiệm - Học viện Quân y và được nuôi dưỡng trong phòng thí nghiệm ít nhất một tuần trước khi thí nghiệm Chúng được cho ăn thức ăn chuẩn và nước uống tự do để đảm bảo sự đồng đều về đáp ứng sinh học So với các loài động vật khác như thỏ, lợn, hay khỉ, chuột trắng và chuột cống trắng là lựa chọn phổ biến hơn do có thời gian sinh trưởng ngắn, tác dụng của thuốc nhanh chóng hơn, từ đó rút ngắn thời gian thí nghiệm và giảm chi phí cho hóa chất và dược liệu Việc chăm sóc và cho ăn cũng dễ dàng, tiện lợi và an toàn hơn so với các động vật lớn khác, giúp tiết kiệm chi phí đáng kể.

Độc tính cấp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm

Theo quy định của Bộ Y tế Việt Nam, tất cả các thuốc từ dược liệu, ngoại trừ bài thuốc cổ phương, đều phải được đánh giá tính an toàn trên động vật thực nghiệm trước khi thử nghiệm trên người Bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm, mặc dù giữ nguyên các thành phần dược liệu, nhưng tỷ lệ phối hợp các vị thuốc đã thay đổi, với một số vị giảm liều như Cam thảo và một số vị tăng liều như Nhân sâm, Hoàng kỳ, Đương quy, Bạch truật, Thăng ma, Sài hồ Do đó, cần tiến hành đánh giá độc tính cấp và bán trường diễn để đảm bảo tính an toàn của bài thuốc này.

Theo Hệ thống hòa hợp toàn cầu (GHS), độc tính cấp là các tác dụng không mong muốn xảy ra sau khi sử dụng một chất trong vòng 24 giờ Để khảo sát độc tính, động vật thí nghiệm (thường là chuột) được cho uống thuốc một lần hoặc nhiều lần (2-3 lần) trong 24 giờ, với khoảng cách giữa các liều khoảng 3 tiếng Khoảng cách giữa các liều cần được cân nhắc kỹ lưỡng; không nên quá gần để dạ dày có thời gian tháo rỗng, nhưng cũng không nên quá xa để đảm bảo thể hiện đầy đủ độc tính của tổng liều Vì thuốc nghiên cứu là bài thuốc từ dược liệu với ít độc tính, nên chuột được cho uống 3 lần trong 24 giờ để đánh giá an toàn của bài thuốc một cách hiệu quả.

Trong nghiên cứu độc tính cấp tính của bài thuốc BTIKGG, chuột được theo dõi trong 72 giờ đầu để đánh giá độc tính, sau đó tiếp tục quan sát trong 1 tuần để xác định các biểu hiện độc tính muộn nếu có Có thể kéo dài thời gian quan sát lên đến 14 ngày để đánh giá khả năng hồi phục nếu chuột có biểu hiện độc tính Tuy nhiên, do không có chuột nào xuất hiện độc tính, việc quan sát kết thúc sau 1 tuần Chúng tôi thực hiện công việc theo dõi với ít nhất 2 nghiên cứu viên có kinh nghiệm cho mỗi ca, đảm bảo theo dõi liên tục Chuẩn bị phẫu tích chuột ngay lập tức nếu có chuột chết để xác định nguyên nhân gây tử vong, có thể liên quan đến độc tính của thuốc như co giật, suy hô hấp, suy gan, suy thận, hoặc các vấn đề khác như tắc ruột hay rối loạn điện giải Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, không có chuột nào bị chết.

Nghiên cứu trên động vật cần có sự tương đồng với con người để đảm bảo tính liên hệ giữa kết quả Để bao quát cả hai giới tính, chuột đực và chuột cái được sử dụng trong nghiên cứu Đường đưa thuốc được thực hiện qua đường uống, giống như dự kiến trên người Để đảm bảo chuột nhận được liều lượng thuốc lớn và chính xác, thuốc được đưa vào dạ dày qua kim cong đầu tù chuyên dụng Tuy nhiên, phương pháp này có thể gây tổn thương thực quản, dạ dày, hoặc gây ra các tai nạn như sặc thuốc và suy hô hấp Hơn nữa, thao tác bắt chuột không đúng cách cũng có thể dẫn đến thương tích hoặc tử vong cho chuột Do đó, việc thực hiện quy trình này cần được thực hiện bởi kỹ thuật viên có kinh nghiệm để đảm bảo an toàn và hiệu quả.

Bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm, dựa trên kinh nghiệm lâm sàng của PSG.TS Đoàn Quang Huy, được thiết kế cho bệnh nhân huyết áp thấp Nghiên cứu độc tính cấp cho thấy chuột uống liều tối đa 300 g/kg thể trọng không có trường hợp tử vong hay triệu chứng bất thường trong 72 giờ và 7 ngày sau đó Điều này cho thấy chưa xác định được LD50 của bài thuốc và liều 300 g/kg được xem là liều dung nạp tối đa So với liều có tác dụng 29,76 g/kg/ngày, chuột đã uống gấp 10,08 lần mà không phát hiện độc tính, chứng tỏ thuốc an toàn và có khoảng an toàn điều trị rộng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tính an toàn của các vị thuốc trong bài thuốc BTIKGG nhờ vào sự phối hợp hợp lý giữa các dược liệu đã được sử dụng lâu đời và thường xuyên trong lâm sàng Nghiên cứu của Murbach và cộng sự (2019) khẳng định rằng hỗn hợp chiết xuất từ rễ cây Hoàng kỳ và Tam thất không gây độc tính cho chuột với liều cao nhất 1200mg/kg thể trọng/ngày Tương tự, Bak Su-Bin và cộng sự (2024) cũng cho thấy chiết xuất từ Đương quy, Xuyên khung, Thược dược an toàn với liều cao nhất 5000mg/10ml/kg/ngày Bài thuốc BTIKGG có thành phần giống với bài thuốc cổ phương Bổ trung ích khí thang, với sự điều chỉnh tỷ lệ các thành phần dược liệu nhằm nâng huyết áp, đồng thời tuân thủ nguyên lý y học cổ truyền Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với các nghiên cứu khác về việc gia giảm bài thuốc mà vẫn đảm bảo tính an toàn và hợp lý.

Nghiên cứu của Vũ Nam và cộng sự (2021) về viên nang cứng “Ích khí dưỡng não” cho thấy sản phẩm này, với thành phần chính là bài Bổ trung ích khí thang kết hợp Xuyên khung, Hồng hoa và Địa long, không gây độc tính cấp và bán trường diễn Đồng thời, tác giả Trần Long (2021) cũng xác nhận rằng viên nang này không gây tác dụng phụ trong điều trị bệnh nhân huyết áp thấp thứ phát, đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

Độc tính bán trường diễn của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm

Huyết áp thấp là một bệnh lý mạn tính cần điều trị lâu dài, do đó việc nghiên cứu độc tính bán trường diễn trên chuột thực nghiệm là rất quan trọng để xác định tính an toàn của bài thuốc Mặc dù một số dược liệu y học cổ truyền có tác dụng nhanh, hầu hết cần thời gian dài để phát huy hiệu quả Việc nghiên cứu độc tính bán trường diễn không chỉ là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo y đức mà còn tăng cường tính chặt chẽ và khoa học trong nghiên cứu Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian thử độc tính bán trường diễn được thực hiện trong 90 ngày, đảm bảo đáp ứng tốt yêu cầu về mặt thời gian và khoa học.

Nghiên cứu độc tính bán trường diễn của Bài thuốc BTIKGG được thực hiện trên 30 chuột cống trắng, chia thành 3 lô: một lô chứng sinh lý, một lô dùng thuốc với liều điều trị tương đương (gấp 7 lần liều ở người) và một lô dùng liều gấp 3 lần liều điều trị Thiết kế này nhằm đảm bảo độ tin cậy của nghiên cứu và tuân thủ quy định của Bộ Y tế về đánh giá tính an toàn của thuốc.

4.3.1 Tình trạng chung và sự thay đổi thể trọng

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), việc theo dõi tình trạng sức khỏe và cân nặng của động vật thí nghiệm là rất quan trọng trước và trong quá trình sử dụng thuốc Sự thay đổi trọng lượng cơ thể chuột là một chỉ số nhạy cảm phản ánh tình trạng sức khỏe của chúng trong thời gian thử nghiệm Nguyên nhân gây ra sự thay đổi cân nặng có thể liên quan đến sự biến động nồng độ hormon, rối loạn chức năng các cơ quan chính, hoặc sự thay đổi trong việc tiêu thụ thức ăn Ngoài ra, tốc độ tăng giảm thể trọng so với nhóm chứng sinh học cũng có thể chỉ ra tình trạng bất thường.

Trong suốt quá trình nghiên cứu, cả hai liều thuốc thử (17,36 g/kg/ngày ở lô trị

Cả hai liều 1 và 52,08 g/kg/ngày trong lô trị 2 không ảnh hưởng đến tình trạng chung và mức độ tăng trọng lượng của chuột so với lô chứng Cân nặng của chuột giữa các lô không có sự khác biệt đáng kể (p > 0,05), và cân nặng chuột sau điều trị cao hơn so với trước điều trị (p < 0,01) Trong suốt thời gian uống thuốc, chuột ở cả ba lô đều hoạt động bình thường, nhanh nhẹn, ăn uống tốt, có phân khô, lông mượt, mắt trong, và không có trường hợp chuột nào bị chết hoặc có biểu hiện bất thường.

Nghiên cứu cho thấy BTIKGG, với các liều lượng và thời gian sử dụng được áp dụng, không gây ảnh hưởng đến sự phát triển cân nặng của chuột.

4.3.2 Ảnh hưởng của BTIKGG đối với một số chỉ tiêu huyết học

Công thức máu là chỉ số quan trọng để đánh giá sức khỏe, vì máu liên quan chặt chẽ đến mọi bộ phận trong cơ thể Máu không chỉ bị ảnh hưởng bởi các tổ chức mà còn phản ánh tình trạng của cơ quan tạo máu Sự tác động của thuốc đến cơ quan tạo máu có thể dẫn đến biến đổi trong chỉ số công thức máu.

Mức độ tăng sinh và biệt hóa của tế bào máu, cũng như rối loạn chức năng tạo máu, có thể là dấu hiệu đầu tiên của độc tính dài hạn do thuốc thử Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của thuốc đến chức năng tạo máu thông qua việc xác định số lượng và chất lượng của ba dòng tế bào máu ngoại vi: hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu Hồng cầu có nhiệm vụ vận chuyển O2 và thải CO2, với số lượng, hàm lượng hemoglobin và thể tích trung bình hồng cầu là những chỉ số quan trọng để đánh giá tình trạng máu Hematocrit, tỷ lệ phần trăm thể tích huyết cầu, có thể thay đổi do tan máu, mất máu hoặc mất nước Bạch cầu, là tế bào tham gia vào quá trình viêm và bảo vệ cơ thể, có số lượng và công thức bạch cầu phản ánh chức năng miễn dịch Trong số đó, bạch cầu đa nhân trung tính và bạch cầu lympho chiếm tỷ lệ cao nhất Tiểu cầu đóng vai trò quan trọng trong quá trình đông máu, và sự thay đổi số lượng tiểu cầu do thuốc thử sẽ ảnh hưởng đến khả năng đông cầm máu, đồng thời cho thấy tác động của thuốc lên chức năng tạo máu.

Sau 45 ngày và 90 ngày sử dụng bài thuốc BTIKGG, ở lô trị 1 liều 17,36 g/kg/ngày (quy đổi từ liều dùng trên người, tính theo hệ số 7) và lô trị 2 liều 52,08 g/kg/ngày (gấp 3 lần liều lô trị 1), kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa so với lô chứng và so với trước khi dùng thuốc ở tất cả các chỉ số nghiên cứu bao gồm: Số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, thể tích trung bình hồng cầu, hematocrit, huyết sắc tố (p > 0,05) (Bảng 3.4, 3.5, 3.6) Các kết quả này bước đầu cho phép khẳng định chưa thấy có độc tính trên tủy xương và các tế bào máu ngoại vi.

4.3.3 Ảnh hưởng của BTIKGG đối với gan

Gan đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa và thải trừ thuốc, nhưng việc sử dụng thuốc có thể gây độc cho gan và ảnh hưởng đến chức năng của nó Do đó, việc nghiên cứu độc tính bán trường diễn của thuốc, cũng như tác động của thuốc lên tế bào gan, chức năng và mô bệnh học của gan là rất cần thiết.

Để đánh giá mức độ tổn thương tế bào gan khi sử dụng BTIKGG trong thời gian dài, chúng tôi đã đo nồng độ các enzym gan trong huyết thanh, chủ yếu là ALT (Alanin transaminase) và AST (Aspartat transaminase) Sự gia tăng nồng độ của các enzym này thường liên quan đến độc tính của thuốc do tổn thương tế bào gan ALT, enzym chủ yếu tại gan, tăng cao khi tế bào gan bị tổn thương Trong khi đó, phần lớn AST nằm trong ty thể, và khi tế bào gan bị tổn thương, AST từ ty thể sẽ được giải phóng vào máu Do đó, nồng độ ALT và AST đều tăng cao hơn mức bình thường khi có tổn thương gan, nhưng mức tăng của ALT thường cao hơn so với AST.

Sau 45 và 90 ngày sử dụng thuốc BTIKGG với liều 17,36 g/kg/ngày cho lô trị 1 và 52,08 g/kg/ngày cho lô trị 2, nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hoạt độ AST và ALT so với lô chứng cũng như so với trước khi dùng thuốc (p > 0,05) (Bảng 3.7).

Bài thuốc BTIKGG, khi được sử dụng ở hai mức liều 17,36 g/kg/ngày và 52,08 g/kg/ngày, không gây tổn thương tế bào gan, thể hiện qua các chỉ số hoạt động AST và ALT trên chuột nghiên cứu.

 Đánh giá ảnh hưởng lên chức năng gan khi dùng BTIKGG dài ngày.

Chức năng của gan bao gồm khả năng tổng hợp và bài tiết các chất, trong đó albumin và cholesterol toàn phần là hai chỉ số quan trọng Albumin, loại protein chủ yếu trong huyết thanh, chỉ được tổng hợp tại gan; do đó, khi gan bị tổn thương, nồng độ albumin trong máu sẽ giảm, giúp đánh giá tình trạng chức năng gan Bên cạnh đó, gan cũng tham gia vào quá trình tổng hợp và chuyển hóa lipid, với cholesterol toàn phần là thành phần chính của mật, được tổng hợp chủ yếu tại gan (75%) Việc định lượng cholesterol trong máu có thể cung cấp thông tin về chức năng tổng hợp lipid của gan.

Trong nghiên cứu, sau 45 và 90 ngày sử dụng thuốc BTIKGG với liều 17,36 g/kg/ngày cho lô trị 1 và 52,08 g/kg/ngày cho lô trị 2, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các chỉ số Albumin và Cholesterol toàn phần so với lô chứng và trước khi dùng thuốc (p > 0,05) Điều này cho thấy rằng bài thuốc BTIKGG, ở các mức liều và thời gian sử dụng đã nghiên cứu, không làm thay đổi các chỉ số albumin và cholesterol toàn phần trong máu của chuột thí nghiệm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy mô bệnh học cấu trúc của gan không có sự khác biệt giữa lô chứng và hai lô trị (17,36 g/kg/ngày và 52,08 g/kg/ngày) Cả gan chuột ở các lô đều không biểu hiện bệnh lý, với hình thái vi thể ổn định, không có tổn thương thoái hóa tế bào gan hay xâm nhập viêm.

Ngày đăng: 21/01/2025, 12:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quách Tuấn Vinh (2017). Huyết áp thấp và những điều cần biết. Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyết áp thấp và những điều cần biết
Tác giả: Quách Tuấn Vinh
Nhà XB: Nhà xuất bảnPhụ nữ
Năm: 2017
2. Saedon NI, Pin Tan M, Frith J (2020). “The Prevalence of Orthostatic Hypotension: A Systematic Review and Meta-Analysis”. J Gerontol A Biol Sci Med Sci, 75(1), 117-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Prevalence of OrthostaticHypotension: A Systematic Review and Meta-Analysis”. "J Gerontol A BiolSci Med Sci
Tác giả: Saedon NI, Pin Tan M, Frith J
Năm: 2020
3. Bộ môn Sinh lý (2019). “Sinh lý tuần hoàn động mạch”. Sinh lý học, Nhà xuất bản Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 172-182 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý tuần hoàn động mạch”. "Sinh lý học
Tác giả: Bộ môn Sinh lý
Nhà XB: Nhà xuấtbản Y học
Năm: 2019
4. Trần Văn Kỳ (2021). “Huyết áp thấp”. Đông- Tây y điều trị bệnh tim mạch, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 49-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyết áp thấp”. "Đông- Tây y điều trị bệnh tim mạch
Tác giả: Trần Văn Kỳ
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng
Năm: 2021
5. Fedorowski A, Ricci F, Hamrefors V, et al (2022). Orthostatic Hypotension:Management of a Complex, But Common, Medical Problem. Circ Arrhythm Electrophysiol, 15(3), 010573 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Circ ArrhythmElectrophysiol
Tác giả: Fedorowski A, Ricci F, Hamrefors V, et al
Năm: 2022
6. Ricci F, De Caterina R, Fedorowski A (2015). “Orthostatic Hypotension:Epidemiology, Prognosis, and Treatment”. J Am Coll Cardiol, 66(7), 848-860 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Orthostatic Hypotension:Epidemiology, Prognosis, and Treatment”. "J Am Coll Cardiol
Tác giả: Ricci F, De Caterina R, Fedorowski A
Năm: 2015
7. Bộ môn Miễn dịch - sinh lý bệnh (2020). “Sinh lý bệnh tuần hoàn”. Sinh lý bệnh, Nhà xuất bản Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 367-369 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý bệnh tuần hoàn”. "Sinh lýbệnh
Tác giả: Bộ môn Miễn dịch - sinh lý bệnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2020
8. Molnar F, Frank CC (2018). “Determining the causes of postural hypotension”. Can Fam Physician, 64(1), 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determining the causes of posturalhypotension”. "Can Fam Physician
Tác giả: Molnar F, Frank CC
Năm: 2018
9. Kulkarni S, Jenkins D, Dhar A, et al (2024). “Treating Lows: Management of Orthostatic Hypotension”. J Cardiovasc Pharmacol, 84(3), 303-315 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treating Lows: Management ofOrthostatic Hypotension”. "J Cardiovasc Pharmacol
Tác giả: Kulkarni S, Jenkins D, Dhar A, et al
Năm: 2024
10. Juraschek SP, Miller ER 3rd, Appel LJ (2018). “Orthostatic Hypotension and Symptoms in the AASK Trial”. Am J Hypertens, 31(6), 665-671 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Orthostatic Hypotension andSymptoms in the AASK Trial”. "Am J Hypertens
Tác giả: Juraschek SP, Miller ER 3rd, Appel LJ
Năm: 2018
11. Wessely S, Nickson J, Cox B (1990). “Symptoms of low blood pressure: a population study”. BMJ, 301(6748), 362-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Symptoms of low blood pressure: apopulation study”. "BMJ
Tác giả: Wessely S, Nickson J, Cox B
Năm: 1990
12. Lahrmann H, Cortelli P, Hilz M, et al (2006). “EFNS guidelines on the diagnosis and management of orthostatic hypotension”. Eur J Neurol, 13(9), 930-936 Sách, tạp chí
Tiêu đề: EFNS guidelines on thediagnosis and management of orthostatic hypotension”. "Eur J Neurol
Tác giả: Lahrmann H, Cortelli P, Hilz M, et al
Năm: 2006
13. Ngô Xuân Thiều, Nguyễn Văn Phú (2004). “Huyết áp thấp”. 1000 phương pháp dưỡng sinh chữa bách bệnh, Nhà xuất bản văn hoá thông tin, Hà Nội, 138-143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyết áp thấp”. "1000 phươngpháp dưỡng sinh chữa bách bệnh
Tác giả: Ngô Xuân Thiều, Nguyễn Văn Phú
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hoá thông tin
Năm: 2004
14. Freeman R, Abuzinadah AR, Gibbons C, et al (2018). “Orthostatic Hypotension: JACC State-of-the-Art Review”. J Am Coll Cardiol, 72(11), 1294-1309 Sách, tạp chí
Tiêu đề: OrthostaticHypotension: JACC State-of-the-Art Review”. "J Am Coll Cardiol
Tác giả: Freeman R, Abuzinadah AR, Gibbons C, et al
Năm: 2018
15. Khoa y học cổ truyền - Trường Đại học Y Hà Nội (2020). Bệnh học nội khoa y học cổ truyền. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 35-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học nội khoay học cổ truyền
Tác giả: Khoa y học cổ truyền - Trường Đại học Y Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2020
16. Trần Thúy (2006). Nội khoa y học cổ truyền- Sau đại học. Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội, 364-367 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội khoa y học cổ truyền- Sau đại học
Tác giả: Trần Thúy
Nhà XB: Nhà xuất bản YHọc
Năm: 2006
17. Trần Quốc Bảo (2020). “Huyễn vựng”. Bệnh học nội khoa Y học cổ truyền và ứng dụng lâm sàng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 413-416 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyễn vựng”. "Bệnh học nội khoa Y học cổ truyền vàứng dụng lâm sàng
Tác giả: Trần Quốc Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2020
18. Hải Thượng Lãn Ông- Lê Hữu Trác (2012). Hải Thượng Y tông tâm lĩnh- quyển 1, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 487-489, 498 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Hải Thượng Y tông tâm lĩnh-quyển 1
Tác giả: Hải Thượng Lãn Ông- Lê Hữu Trác
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2012
19. Bộ môn Phương tễ (2019). Giáo trình phương tễ, Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam, 184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương tễ
Tác giả: Bộ môn Phương tễ
Năm: 2019
20. Bộ Y tế (2018). Dược điển Việt Nam V- tập 2, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 1095, 1077, 1173, 1188, 1279, 1307, 1336, 1358 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược điển Việt Nam V- tập 2
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2018

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Chuột nhắt trắng và chuột cống trắng sử dụng trong nghiên cứu 2.3. Hóa chất, dụng cụ trang thiết bị nghiên cứu - Nghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm
Hình 2.1. Chuột nhắt trắng và chuột cống trắng sử dụng trong nghiên cứu 2.3. Hóa chất, dụng cụ trang thiết bị nghiên cứu (Trang 36)
Hình 2.2. Chuột uống thuốc bằng kim đầu tù - Nghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm
Hình 2.2. Chuột uống thuốc bằng kim đầu tù (Trang 38)
Sơ đồ 2.1. Quy trình nghiên cứu độc tính cấp - Nghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm
Sơ đồ 2.1. Quy trình nghiên cứu độc tính cấp (Trang 39)
Sơ đồ 2.2. Quy trình nghiên cứu độc tính bán trường diễn - Nghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm
Sơ đồ 2.2. Quy trình nghiên cứu độc tính bán trường diễn (Trang 42)
Bảng 3.1. Kết quả đánh giá độc tính sớm (72 giờ sau uống thuốc) của mẫu thử ở các - Nghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm
Bảng 3.1. Kết quả đánh giá độc tính sớm (72 giờ sau uống thuốc) của mẫu thử ở các (Trang 47)
Kết quả được trình bày ở các bảng 3.4, bảng 3.5 và bảng 3.6. - Nghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm
t quả được trình bày ở các bảng 3.4, bảng 3.5 và bảng 3.6 (Trang 50)
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của BTIKGG lên hematocrit và thể tích trung bình hồng - Nghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm
Bảng 3.5. Ảnh hưởng của BTIKGG lên hematocrit và thể tích trung bình hồng (Trang 51)
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của BTIKGG lên số lượng bạch cầu và tiểu cầu trong máu - Nghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của BTIKGG lên số lượng bạch cầu và tiểu cầu trong máu (Trang 52)
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của BTIKGG lên các chỉ số albumin và cholesterol toàn - Nghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của BTIKGG lên các chỉ số albumin và cholesterol toàn (Trang 54)
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của BTIKGG lên hàm lượng creatinin máu - Nghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của BTIKGG lên hàm lượng creatinin máu (Trang 55)
3.2.6.1. Hình ảnh đại thể gan, thận chuột nghiên cứu. - Nghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm
3.2.6.1. Hình ảnh đại thể gan, thận chuột nghiên cứu (Trang 56)
3.2.6.2. Hình ảnh vi thể gan, thận chuột nghiên cứu. - Nghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm
3.2.6.2. Hình ảnh vi thể gan, thận chuột nghiên cứu (Trang 57)
Hình 3.3. Hình ảnh vi thể thận chuột nhuộm HE, (x 400) đại diện cho các lô - Nghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm
Hình 3.3. Hình ảnh vi thể thận chuột nhuộm HE, (x 400) đại diện cho các lô (Trang 58)
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của BTIKGG lên áp lực động mạch trung bình (mmHg) (Mean  arterial blood pressure - MAP) của các lô chuột nghiên cứu ( ?̅ ± SD, n = 10). - Nghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của BTIKGG lên áp lực động mạch trung bình (mmHg) (Mean arterial blood pressure - MAP) của các lô chuột nghiên cứu ( ?̅ ± SD, n = 10) (Trang 60)
Hình ảnh các vị thuốc trong bài &#34;Bổ trung ích khí thang gia giảm” theo Dược - Nghiên cứu độc tính và tác dụng nâng huyết áp của bài thuốc Bổ trung ích khí thang gia giảm trên thực nghiệm
nh ảnh các vị thuốc trong bài &#34;Bổ trung ích khí thang gia giảm” theo Dược (Trang 83)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w