Thêm vào đó, ở mỗi địa phương con ngừơi lại có sự phát âm , cách sử dụng từ ngữ khác nhau nên càng làm phong phú thêm tiếng nói dân tộc .Vùng đất Nam Bộ với nhữngđặc trưng riêng về địa l
Trang 1ĐẠI HỌC QUOC GIA THÀNH PHO HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HOC SƯ PHAM
KHOA NGU VĂN
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Em xin chân thành cam ơn thấy Bùi Mạnh Nhị -=
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đã va tạo điều hiện cho
em hoàn thành luận vdn nay
Em xin cảm on các thầy cô trong khoa ngữ văn, các cán bộ —
công nhân viên thư viện trường va bạn bà đã ghip đi cho em trong
que trình làm luận van
Nhân đây, em cũng xin ngô lời biết ơn các thầy cô
trong khoa da không quản nhọc nhàn, day dé em va cácban trong 4 năm qua.
Sinh uiên : Nguyễn Thị Hương Lài
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Phần 1: Dẫn luận "— Ả Ô 01
I Mie dich, J nghĩa cả cia để ta tài ee ee 0]
1 Nhiệm vịt, fie PHI, nhưnt vi nphi8# f ru xử Ertoen kde
4, ba wing payee da luận trăn ; t6o001214xi06 10
Phiin H: Nội ding ws " ¬ LÍ
Chàm I: Sựphong phí M ae đựng 6 của iu lập từ ừ ngữ m mating oe
ade dja phoney ¬ ôÔỎ H
|, Khái niệm " màu sắc địa Hit trung oe ngữ" ¿ "1 a
Bà ee tử ngữ mang màu tắc dia phương ¬ il
ale Maine \ từ r'hŸ die dunt, dia hình trang ea ioe dan ca
ize 3 Những tử FhốFv vé # cảnh quan sinh thải, sth vil trong ca
dees — châm cai Meat lộ Nữ WkiA1141 41A 20)
1.1 Những tứ chỉ công ey lao động, mae joer i dang
TrUNh tư dey — dđâN cite NHÌM độ cccenscassseevenseseatecssenssencssanee 26
“1„1, Mitre từ chÍ sinh beet, gine triển flay ngày trông
tư tủa — ale tư NHÀM THẪ vu cong, ¬ụ
eA, Mhưnn từ trưng Đã nướng co gla = dân ra "Nese hộ váy 3]
Ä "Meee nhân hình thành tàu ade dịu nang cầu lấn từ ngữ
tung tắn sặc dịu phường 25000225 000 4 EE1.-U0 ĐIỆPED" 33
3.1, lân giám hiếu tấn lui ineing tong đng Dan ren ETE 33
3.3, lâu cự they đổi ede từ mà nhận dẫn snide: goal phate g dẫu
hedge da kidag cit ae MP TP IPer4 H
1.3, Những tử này nữ t trực tiến cde Reale in mới mre Ag
Ad lần cả tính, tính ceded của agit Nan HG ee.eereeesesex at
Chương 11; Những mã cũng thite từ ngữ mang màu tắc dja plutdng
trung ca daw = dân ca Nam BG ‹ c1 n0 nena dã
| Dink nghĩa cảng shite tử nụ = nai dụng tả £ hức nững của xố
Lộ THẾ PEE HP 3P) TP?7 7107771271117 71 th ianttiquisa gian 4¬
3, Nhung công tte từ ngị? đặc trưng gi Atuikistv bia vvee 41
2, Những công thiếu từ apa? mane Ý nghĩa biểu inte: Parent 43
3.1, Những công dite thành xây dựng aifa trên hiện pháp tae lữ
TL eee eer eee ere ee epee Tee eee re eer rere §3
3.2 Những cúng vite dược: xây dung dive trên : biện nhún tu tử
psig Aba THIỆN gi ictt7<2201aGGG60001/11130184i08i230 18184 st 2 60)
Thi liệu tham khẩu
Trang 4Lugn văn tốt nghiệp
PHẦN I : DẪN LUẬN
1 Mục dich, ý nghĩa của dé tài
Tiếng Việt của chúng ta vốn đã phong phú và đa dạng Thêm vào đó,
ở mỗi địa phương con ngừơi lại có sự phát âm , cách sử dụng từ ngữ khác nhau
nên càng làm phong phú thêm tiếng nói dân tộc Vùng đất Nam Bộ với nhữngđặc trưng riêng về địa ly , thiên nhiên, lịch sử , vin hóa cũng như con người
đã tạo nên mau sắc địa phương trong ngôn ngữ của người Nam Bộ Biểu này
thể hiện rõ trong các sáng tác của họ, cụ thể là trong ca đao - dẫn ca
Tìm hiểu ca dao - dân ca Nam Bộ ở phương diện ngồn từ là một việc
làm hữu ích và rất cin thiết Ca đao — đân ca Nam Bộ góp phan làm kho tầng
ca dao - din ca dân tộc trở nên phong phú Ngôn ngữ địa phương Nam Bộ
làm ngôn ngữ dân tộc trở nên giàu màu sắc, đa dang Chính vì vậy, thông qua
việc tìm hiểu ngôn từ trong ca dao — dân ca Nam Bộ, chúng tôi hi vọng việctiếp nhận ca dao - dân ca Nam Bộ sẽ dé dang, sâu sắc hun và có điểu kiện, cơ
sở để tìm hiểu hơn về văn hóa, tâm hẳn, tính cách của những con người đã
sing tao ra nó
Nghiên cứu ca đao - din ca Nam Bộ ở bình diện ngôn từ sẽ giúp chúng
ta có một sự hiểu biết nhất định về con người và vùng đất này Đồng thời làmcho mọi người có cái nhìn đúng đắn về vai trò của ngôn ngữ địa phương
Qua việc tìm hiểu ca dao — din ca Nam Bộ, chúng ta nhận thấy rằng ca
dao - dân ca Nam Bộ không chỉ mang màu sắc địa phương mà nó còn có tính
thống nhất với ca dao - dân ca các miền khác của đất nước Chính vì thấy
được những nét chung và riêng của ca dao - dân ca Nam Bộ nên nhận thức về
ca dao — din ca dân tộc của chúng ta sẽ phong phú hon :1ật khác, thông qua
ngôn từ được sử dụng trong từng câu ca dao thì người nghiên cứu, sưu tim ca
dao — dân ca sẽ dễ dàng xác định được nơi xuất xứ của câu ca đó
Bên cạnh: đó, việc tìm hiểu ngôn ngữ ca dao - din ca Nam Bộ sẽ giúp chúng ta có những hiểu biết nhất định vé ngỗn ngữ Nam Bộ Để từ đó, góp
phần đưa ngôn ngữ địa phương Nam Bộ trở nên gin gũi với người dân ở các
địa phương khác, đưa ngôn ngữ Nam Bộ dẫn dẫn trở thành ngân net toần dân
2 Lịch sử vấn dé
Việc nghiên cứu ca dao -dân ca Nam Bộ đã và đang được nhiều người
quan tâm Ca đao - din ca Nam Bộ đang dẫn dẫn tự khẳng định vai trò, vị trí
Trang |
Trang 5Luận vẫn tốt nghiệp
của minh trong kho tang ca dao - din ca dân tộc Các công trình nghiên cứu,
tìm hiểu ca dao -dân ca Nam Bộ đã khá nhiều nhưng vé góc độ ngôn ngữ thì
cho đến nay còn ít và gần như chưa có công trình nào đi vào nghiên cứu một
cách chuyên biệt và qui mô cả , Chúng tôi đã sưu 14m được một số công trình sau và nói chung những công trình này chỉ để cập đến vấn dé ngôn ngữ ca dao
- din ca một cách khái quát mà chưa được khai thác triệt để.
Chúng ta xét ở hai góc độ :
2.1 Về góc độ ngân ngữ :
- Bài viết “ Hàn về vai trò vến hóa = xã hội của tiếng địa
Phuong "trong Tap chi ngôn ngữ số 2 - 1982, Hoàng Tuệ, Pham Văn Hảo ,
Lê Văn Trường :
Các tác giả đã cho rằng tiếng địa phương miền Nam có ảnh hưởng rất
lớn đến các sáng tác thd văn của các tác giả miền Nam, đặc biệt là Nguyễn
Đình Chiểu: “The văn Nguyễn Đình Chiểu thiệt đậm đà tiếng nói miễn Nam"
Các tác giả đã rút ra đặc điểm của tiếng địa phương Nam Bộ là: *
những danh từ cụ thé và động tử, tính từ có đối lập giữa các phương ngữ",
“những từ có biến thể ngữ âm giữa các phương ngữ"và phương ngữ Nam Bộ
thường sử dụng những từ láy rất gợi hình, gợi cảm
Tuy bài viết chưa nêu lên một cách đẩy đủ đặc điểm của ca dao — dân
ca Nam Bộ nhưng đã để cập đến một khía cạnh khác: ảnh hưởng của tiếng địa phương đến sáng tác văn chương ở Nam Bộ Bài viết khẳng định vai trò quan trọng của tiếng địa phương đồng thời tác giả mong muốn giới nghiên cứu quan
tâm hơn nữa trong việc tìm hiểu tiếng địa phương
- Bài "Tiếng Việt vàng Đồng bằng sông Cửu Long “trong sách: “ Mấyđặc điểm văn hóa vùng Đồng bằng sông Cửu Long” - Viện văn hóa 1984 cửa
Nguyễn Văn Aj.
Cũng như các tác giả khác, Nguyễn Văn Ai nhận định: “ bằng cách sử
dụng nguyên vẹn một số từ ngữ sẵn có, đặt ra từ ngữ mới, vay mượn từ ngữ của các ngôn ngữ lân cận như: Chàm, Khdmer, Hoa ", người Nam Bộ đã
hình thành cho mình một hệ thống tiếng nói mang màu sắc địa phương rõ rệt
Miễn đất Nam Bộ là nơi hội tụ những vườn cây xanh mượt, đẳng ruộng bao la
và sông ngòi chi chit, chính môi trường đó đã sản sinh ra biết bao từ igữ địa
phương của người dân Nam Bộ
Đặc biét trong bài viết của mình, tác giả đã để cập đến bối cảnh lịch sử
ra đời của phương ngỗn Nam Bộ, phạm vi sử dung của phương ngỗn Nam Bộ
và quia trình phat triển của phương ngôn Nam Bộ Tác giả đã thấy được mặt
tích cực của phương ngôn Nam Bộ là “gidu sức biểu hiện tình cảm, trẻ trung,
Trang 2
Trang 6Luda vấn tết nghiện
tươi tẤn, giàu hình tượng so sánh và ẩn dụ, giàu tính cường điệu, khuếch đại
và didém * Tác giả còn đưa ra vấn để là mong muốn sự ảnh hưởng của tiếng
Việt phổ thông chuẩn mực sẽ làm cho phương ngữ Nam Bộ ngày càng nhích
lại gin hơn với ngôn ngữ toàn dan Và ngược lại, việc nghiên cứu và im hiểu
phương ngữ Nam Bộ sẽ là con đường tất yếu để làm giàu và đẹp thêm Tiếng
Việt của din tộc ta.
- Bài “ Về riếng nói vùng Đẳng bằng sông Cửu Long Trong sách “Mấy đặc điểm văn hóa vùng Đồng bằng sông Cửu Long", Viện Văn Hóa
1984 của Nguyễn Kim Than
Giáo sư Nguyễn Kim Than đã cho chúng ta thẤy rõ màu sắc địa phương
của phương ngôn Nam Bộ bằng cách néu ra những nét khác biệt vé ngữ âm
giữa phương ngôn Nam Bộ với phương ngôn Bắc Bộ Chính sự khác biệt cơ
bản đó đã góp phần tạo nên màu sắc địa phương trong phương ngôn Nam Bộ
Về mat từ ngữ thì tiếng nói vùng đồng bằng sông Cửu Long có đặc
điểm "giữ lại một số từ cổ", "dùng một số từ theo nghĩa cổ”, “dùng một số từ
chung theo nghĩa trong vùng”, “ có một số từ mượn của mấy phương ngôn
miền Nam tiếng Hán" Vé mặt diễn đạt, thì với "Tối nói năng rất tình cảm”,
“dùng từ , ghép từ rất mộc mạc , có khả nang miêu td trực tiếp sự vật hiện
tượng”, đã tạo cho ngôn ngữ Đồng bằng sông Cửu Long có một mau sắc địa
phương rẤt rõ nét
Tác giả còn cho rằng do ảnh hưởng của đặc điểm văn hóa -xã hội màtiếng nói của vùng Đồng bằng sông Cửu Long “mang nhiều tính cách khẩu
ngữ , it trau chuốt” Nhưng tiếng nói của vùng cũng đã có những đóng góp
nhất định trong qua trình phát triển ngôn ngữ din tộc
- Bài viết " Phương ngữ và ca dao — đân ca địa phương" trong Tap chi Văn học số 5 - 1986 " của Trịnh Sim.
Mở đầu bài viết tác giả lên tiếng mong muốn mọi người phải tôn trọng
tính chính xác của ngôn ngữ địa phương trong qúa trình sưu tim, hiệu đính ca
đao - dân ca Tác giả viết: “ trung thành với lời An tiếng nói của nhân dân lao
động là một yêu cẩu có tính nguyên tắc " bởi vì theo tác giả " tách rời ”
hoàn cảnh sống " có nghĩa là tước bỏ đi một phdn tỉnh hoa vốn có của nó,
quan trọng hơn là đã đánh mất một tiêu chí nhận diện khá hãn hữu trong việc
đi im xuất xứ cũng như phân loại ca đao - dân ca ” Tác giả nêu ra miột số vi
du do không tồn trọng tiếng địa phương trong qúa trình chỉnh lí nên đã dẫn đến
việc hiểu không đúng hoặc không làm "tăng thêm gía trị nghệ thuật của câu
ca đao " Tác giả viết: "có khi phong vị địa phương, cim xúc thẩm mỹ do âm
hưởng mang lại được thể hiện khá tính tế, chỉ có sống hết mình với nó mớicảm nhận được ”
Trang 3
Trang 7Lujn vẫn tốt nghiệp
Tác giả cho thấy sự khác biệt giữa các phương ngữ và giữa phương ngữ
với tiếng Việt toàn dân Tác giả đưa ra những ví dụ cụ thể về cách dùng tử,cách diễn đạt, cách gieo vẫn để minh chứng cho sự khác biệt đó Theo tác giả,phương ngữ Nam Bộ gồm " hệ thống từ ngữ vốn xù xì, ngén ngộn, đẩy sức
sống “ Phương ngữ Nam Bộ có hiện tượng “vẫn uán chuyển thành wa", “
về thường được đọc là dia", " cách phát âm bàn chuyển thành bằng ”, cách “
đọc vin dc và dt giống nhau " Tiếp theo, tác giả cho thấy vì sao ngôn ngữ
của mỗi địa phương lại khác nhau: đo một số từ ngữ mới ra đời để gọi tên các
“suf vật, hiện tượng mới có ở vùng này không có ở vùng khác ", hoặc “ cùng
để chỉ một sự vật, một hiện tượng nhưng mỗi phương ngữ lại có cách gọi tên
khác nhau ", hoặc là do “ sự kết hợp một yếu tố thực với một hay nhiều yếu tố
mờ nghĩa trong cùng một tổ hợp từ ", hoặc do phụ thuộc vào tính cách con
người của mỗi vùng khác nhau Có rất nhiều lý do din đến việc hình thành
phương ngữ và tác giả lấy dẫn chứng trong ca dao — dan ca mỗi vùng để minh
hoa cho ý kiến của mình.
- Bài “ Ngân ngữ ca dao Việt Nam" trong Tạp chi Văn hoc số 2 — 1991
của Mai Ngọc Chữ:
Tác giả khảo sát ngôn ngữ ca dao — dân ca nói chung chứ không thiên
về ngôn ngữ của một địa phương nào nhưng qua bài viết chứng ta có một cái
nhìn tổng quát về đặc điểm ngôn ngữ của ca dao - dân ca Tác giả cho rằng “
ủ ca dao, chúng ta không chỉ bất gặp những cách nói trau chuốt , mượt mà , ýnhị , đẩy chất thơ mà còn gặp cả những lời “ đao to búa lớn " day sức
mạnh , đẩy tính chất khẩu nga”
Tác giả trình bày những cách thức mà ca dao - dân ca đã sử dụng đểtạo nên những đặt điểm riêng biệt, độc đáo trong ngôn ngữ Do sử dụng những
biện pháp tu từ nên ca dao có " cái nghĩa bể sâu, nghĩa bóng hay bình diện
ngữ nghĩa thứ hai" Chỗ ngững trong ngôn ngữ và sự ngừng nhịp trong thơ còn
có chức năng “ làm tăng thêm sức mạnh biểu đạt ý nghĩa, nang cao tác dụng
thể hiện nội dung " Cách hiệp vẫn trong ca dao — din ca đã làm cho ca dao —đân ca dễ thuộc, dễ nhớ, dễ đi vào lòng người và nó còn làm cho ngôn ngữ
của ca dao - dân ca trở nên mượt mà, trau chuốt, “ vẫn trong ca đao - đân ca
chặt chẽ đến mức tối đa ”
Ngôn ngữ ca dao - dân ca còn phan ánh “ lời ăn tiếng nói ” của quần
chúng bình dân Tính khẩu ngữ của ca dao — dân ca thể hiện ở “ hiện tượng
thêm (hoặc bđt) âm tiết ” ở cách sử dụng các lớp từ “ đặc biệt là những đại từ nhẫn xing”.
Cuối cùng tác giả kết luận : ngôn ngữ ca dao — dân ca đã " kết hợpnhuẫn nhuyễn hai phong cách : ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ hội thoại ”, Do đóngôn ngữ ca dao - dân ca “dé thấm đượm , thơm lâu hơn trong mdi con người
l2
‘
Trang 4
Trang 8Luận văn tốt nghiệp
-“ Tự vị tiếng Việt miễn Nam ", Nhà xuất bản Văn hóa 1993 của VươngHồng Sển :
Đây là một công trình nghiên cứu rất công phu , tỉ mi và đòi hỏi một
thời gian dai.“ Đó là kết qủa tổng hợp của một vốn sống , một vốn hiểu biếtsâu rộng và cả một đời ra sức tìm tòi, một vốn tình cảm tha thiết mặn mà với
miền đất chôn nhau cất rốn của minh” TM
Như vậy ta đã thấy được ý nghĩa giá trị của cuốn sách.
Có thể nói đây là một cuốn từ điển rất mới lạ, đặc sắc của tiếng Việt
miền Nam Tác giả cung cấp cho người đọc những hiểu biết cần thiết về têncủa một vùng đất, hoặc một từ, một ngữ nào đó của vùng đất Nam Bộ Quacuốn sách ta thấy được vốn sống, vốn hiểu biết sâu rộng của tác giả Với tên
của một vùng đất, tác giả đã trình bay rất tl mi về: nguồn gốc của cái tên đó,
tại sao lại gọi như vậy; năm bao nhiễu vũng đó có bao nhiễu tổng, bao nhiễu
làng và liệt kế tên làng thậm chí có lúc tác giả còn cung cấp cả diện tích và
dân số của mỗi làng Hoặc đổi với một từ hoặc một ngữ thì tác giả cho biết từ
đó có nguồn gốc từ đâu, là từ vay mượn hay thuần Việt, sau đó tác giả chú
thích ý nghĩa của từ
Công trình nghiên cứu của tác giả là rất cẩn thiết cho việc tim hiểu lịch
sử của những vũng đất d Nam Bộ và nó cồn giúp mọi người hiểu rõ nghĩa củamột từ, một ngữ góp phần làm cho vùng đất Nam Bé trở nên không còn xa
lạ với mọi người.
- Sách “ Phương ngữ Nam Bộ - những khác biệt về từ vựng — ngữnghĩa so với phitang ngữ Bắc BG", Nhà xuất bản Khoa học Xã hội 1995 của
Trần Thị Ngọc Lang.
Đây là công trình mà tác giả đã nghiên cứu những đặc điểm của
phương ngữ Nam Bộ một cách chỉ tiết và cụ thể Với quy mô là một cuốn sách
tác giả đã đưa một lượng thông tin lớn đến người đọc Thông qua công trình
nghiên cứu của tác giả chúng ta sẽ thấy được những đặc trưng rất riêng củaphương ngữ Nam Bộ
O phẩn II của cuốn sách, tác giả đã nêu lên những khác biệt ding kể
về mặt từ vựng - ngữ nghĩa giữa phương ngữ Nam Bộ và phương ngữ Bắc Bộ.
Dựa trên âm và nghĩa của từ, tác giả đã phân biệt ra các loại khác biệt
giữa phương ngữ Nam Bộ và phương ngũ Bắc Bộ như những từ khác âm, khác
nghĩa; hai từ khác âm nhưng gắn nghĩa, hai từ khác âm nhưng đẳng nghĩa
Nói chung, phương ngữ Nam Bộ và phương ngữ Bắc Bộ có cách điển đạt, cách
dùng từ, cách hiểu khác nhau Phương ngữ Nam Bộ thiên về lối nói với cách
"Lai nhà xuất bản, trang 5
Trang 4
Trang 9Luận văn tết nghiệp
phát âm nhẹ nhàng, nhỏ nhẹ nhưng đổi khi cũng rất mạnh mẽ, đứt khoát và
đôi khi ý nghĩa của từ thì rất gợi hình, gợi cảm.
Phan III tác giả đã khảo sát chỉ tiết sự khác biệt giữa phương ngữ Nam
Bộ và phương ngũ Bắc Bộ thể hiện qua một nhómtừ cụ thể
Tác giả đặt câu hỏi: " Cái riêng, cái đặc thù của phương ngữ Nam Bé là
do đầu? Phải chăng do nếp sống, do tinh cách của người Nam Bộ và do điểu
kiện địa lý tự nhiên của vùng đất này tạo nên?",
Theo tác giả cách xưng hô ở Nam Bộ nói chung là thần mật, tự nhiên,
bình đẳng, không cau kì, khách sáo, không nặng nể về phân biệt dia vị Tác giả cũng đã nghiên cứu một nhóm từ quan trọng tạo nên mau sắc địa phương của phương ngữ Nam Bộ, đó là nhóm từ có liên quan đến sông nước Nam Bộ.
Tác giả nhận định: “ Cuộc sống của người din địa phương gắn với sông nước
và số từ ngữ chỉ những sự vật, hiện tượng về sông nước cũng rất phong phú”,
và tác giả đã liệt ké ra những từ chỉ địa hình, chỉ sự vận động của dòng nước
Với công trình nghiên cứu của tác giả, chúng ta sẽ có một cdi nhìn rõ
nét hơn về sự khác biệt giữa hai phương ngữ Đồng thời chúng ta thấy được
những đặc trưng của phương ngôn Nam Bộ.
- Bài viết “ Ngắn ngữ của người Nam Bộ trong ca dao — đân ca”,
trong Tạp chí ngôn ngữ và đời sống số 6 - 1999 của Nguyễn Thế Truyền.
Trong khuôn khổ một bài báo nhưng tác giả đã trình bày một cách khá
đẩy đủ về những đặc trưng của phương ngôn Nam Bộ Tác giả nhấn mạnh:
“Trong ca dao - dân ca Nam Bộ đặc biệt rất hay gặp các từ ngữ địa phương và
cách phát âm địa phương ” Tiếp theo tác giả đã liệt kê ra những từ ngữ địa
phương của người Nam Bộ trong những câu ca dao cụ thể, những từ ngữ đó
mang đậm màu sắc địa phương Tác giả cho rằng từ ngữ được phản ánh trong
ca dao — dân ca "phẩn lớn đều là những từ quan trọng nhất biểu thị những sự
vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất rất quen thuộc, gin gũi trong đời sống
của người dân địa phương".
Trong hài viết, tác giả cũng đã nêu ra những ảnh hưỡng tác động đến
việc hình thành từ ngữ địa phương:” người Nam Bộ tất phải nói theo cách Nam
Bộ một trang những gicng của họ là theo cách ngang tầng, phóng túng thỏa
thuê, xả ling", " không chịu gò mình vào khuôn sáo”, cách nói năng của người
Nam Bộ cũng như con người của họ "giản dị lời lẽ không trau chuốt"” Tác giả
đã rất tinh t€ mà phát hiện ra trong ca dao - dân ca Nam Bộ hay “dé cập dén
luân lý, đạo nghĩa” Thật vậy ca dao din ca Nam Bộ nói nhiều đến hành đông
nghĩa hiệp của người din Nam Bộ.
Qua bài viết của mình, tác giả đã cho chúng ta thấy ngôn ngữ ca dao
-dân ca Nam Bộ mang đậm màu sắc địa phương.Tác giả không đi sâu hơn nữa
Trang ñ
Trang 10Luận văn tốt nghiệp
trong việc khai thác mau sắc địa phương trong ngôn ngữ ca dao - din ca Nam
Bộ nhưng bài viết đã cung cấp cho chúng ta một hiểu biết nhất định , một cái
nhìn tổng quan vé ngén ngữ ca dao - dẫn ca Nam Bộ
2.2 Về góc độ văn học dân gian:
Ở góc độ này, việc nghiên cứu tìm hiểu màu sắc địa phương trong ca
dao - din ca Nam Bộ chỉ được trình bay một cách khái quát, chưa thật cụ thể
và đây đủ Có các công trình sau:
- Bài viết “ Một số đặc điểm ngôn ngữ ca dao - dân ca Nam Hộ ",
trong Tap chí ngôn ngữ, số | — 1984 của Bùi Mạnh Nhị
Tác giả cho rằng: " Diện mạo ngôn ngữ ca đao - dân ca Nam Bộ là một
quá trình hội tụ, phát huy những truyền thống của ngôn ngữ ca dao — dẫn cadân tộc mà cha ông từ các miễn ngoài mang vào, đồng thời là quá trình sáng
tạo liên tục trước những đòi hỏi của cuộc sống ở moi hoàn cảnh, moi mục đích
giao tiếp đang đổi mới không ngừng Với lâp luận đó tác giả đã mạnh dạn khẳng định; “ vốn từ ngữ ca dao - dân ca Nam Bộ sử dụng bên cạnh kho từ
ngữ giàu có được phổ biến khắp cả nước là sự có mặt của những từ ngữ nảy
sinh tại địa phitdng ”.
Tác giả nêu ra những từ ngữ của địa phương phản ánh cuộc sống tình
cảm của nhân din trên sỗng nước, những từ ngữ gọi tên cây trái, những mô tip
về nhóm chữ, về kiểu câu mở đẩu Toàn bộ những nhóm chữ, những từ, những kiểu câu mở đầu đó đều " gắn chặt với cách phát âm, cách nói, từ ngữ
với hình ảnh tự nhiên và đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân Nam Bộ
Tác giả nhận xét: “ Ngôn ngữ, cách nói của ca đao - din ca Nam Bộthường biểu hiện ở hai cực Một cực là nhỏ nhẹ, hiển lành, dé thương Cực
thứ hai là chất xông xáo, phóng túng, trẻ trung " Sở dĩ ngôn ngữ của người
Nam Bộ có những đặc điểm đó là do hoàn cảnh sống, tâm trạng, tính cách,
phong cách sinh hoạt xã hội của người din ở đây Người din Nam Bộ vốn yêu
ra yêu, ghét ra ghét cộng với cách nói thẳng thắn, bộc trực nên “ mức độ đặc
tả của ngôn ngữ ca dao - dân ca Nam Bộ rất cao ” Bên cạnh đó, do không bj
gò bó nhiều vào khuôn mẫu của những ước lệ nên “ ca dao - dan ca Nam Bộ
có khả năng rộng mở để tạo nên và sử dụng những từ ngữ đẩy sáng tạo TM
Những đóng góp của tác giả trong bài viết là rất cẩn thiết cho những ai
muốn đi vào nghiên cứu, tìm hiểu về sắc thái địa phương trong ngôn ngữ ca
dao - dân ca Nam Bộ nói riêng và ngon ngữ Nam Bộ nói chủng
- BÀI “ Phương ngữ Nam Hộ "trong cuốn “Vda hóa dan gian người
Việt “„ Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà N6i,1992 của Hồ Lé
Trang?
Trang 11Luận văn tối nghiệp
Tác giả nghiên cứu phương ngữ Nam Bộ ở nhiều bình điên như: bình
điện ngữ âm, bình điện từ vựng, bình diện cú pháp và phong cách diễn đạt của
người Nam Bộ
Về bình diện ngữ âm, tác giả nghiên cứu rất chỉ tiết cách phát âm phụ
âm đầu, phụ âm cuối, nguyên âm giữa và thanh điệu trong ngôn ngữ Nam Bộ.
Do cách phát âm riêng của mình nên "giọng Nam Bộ có được chất dịu dang,
dễ mến " Đối với người Nam Bộ d và gi không phát 4m là # ⁄ như tiếng Việt
phổ thông mà phát âm thành /j /, nguyên âm giữa của phương ngữ Nam Bộ
được phat âm khác so với các vùng khác: "nguyên 4m o, ø trong tiếng Việt
phổ thông trở thành 6 trong phương ngữ Nam Bộ khi chúng đứng trước các phụ
âm cuối #m “hoặc /p/", “vẫn ut trong tiếng Việt phổ thông được phát âm
thành we *
Về hình điện từ vựng, tác giả đã liệt kê ra những vốn từ vựng mang sắc
thái địa phương Nam Bộ “đó là những tên gọi về cây cỏ, cẩm thú, hoa trái dụng cụ, ngành nghề, sản vật, địa hình, địa danh mà chỉ riêng Nam Bộ mới
có Đó còn là những từ mượn - mượn Hắn, mượn Pháp, mượn Kho Me — theo
một lỗi nói riêng Đó cũng là những cách tạo từ độc đáo phản ánh sắc thái tâm
lý -vin hóa vùng ” Bên cạnh đó, tác giả cho chúng ta thấy những nét riêng
trong cách cấu tao từ ngữ theo kiểu Nam Bộ là "tiếng đệm rất phát triển ", "từ
ngữ chỉ mức độ rất phong phú ”, “từ đổng nghĩa rất đa dạng "
Về phương diện cú pháp thì “ cú pháp phương ngữ Nam Bộ giống cú
pháp tiếng Việt phổ thông” chỉ có một số trường hợp là có mang đặc điển
riêng như ding lối nói gộp hoặc “vừa gộp vừa đảo trật tự tr”.
Người Nam Bộ “thich diễn đạt cụ thể, với đường nét rõ ràng, hình ảnh sinh
động thing tuột, không quanh co úp mở, gây ấn tượng sâu, chin chất khỏe
khoắn ”,
Nhìn chung các công trình và các bài viết trên đã đi vào nghiên cứu ngôn ngữ Nam Bộ nói chung và ngôn ngữ ca đao — din ca Nam Bộ nói riêng
Hầu hết các tác giả đã nhận thấy được những đặc điểm riêng biệt về ngôn ngữ
của người Nam Bộ Mỗi công trình, mỗi bài viết đểu đưa ra những vấn để,
những khía cạnh đặc sfe liên quan đến phương ngữ Nam Bộ ,Tuy nhiên,
những bài viết, những công trình trên vẫn chưa nói lên được một cách toần
diện và thấu đáo về những đặc điểm, những khả năng diễn đạt đặc sắc và độc
đáo của phương ngữ Nam Bộ Phương ngữ Nam Bộ còn chứa đựng trong nó
những đặc điểm, những khả nang độc đáo mà các nhà nghiên cứu đôi khi chia
phát hiện ra Nhưng những tài viết, những công trình nghiên cứu kể trên đã
giúp chứng tôi có điểu kiện kế thừa, pháp huy và hoàn thiện thêm khi tìm hiểu
về ngôn ngữ ca dao - dân ca Nam Bộ.
Trang &
Trang 12Luận văn tốt nghiệp
3 Nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp
nghiên cứu 3.1 Nhiệm vụ :
Nhiệm vụ của luận văn là nghiên cứu và phát hiện, chỉ ra sắc thái địa
phương trong ngôn ngữ ca dao - dẫn ca Nam Bộ
3.2 Đối tượng
-Để thực hiện nhiệm vu đó chúng tôi nghiên cứu ca dao - dân ca Nam
Bộ ở phương diện ngôn từ, chủ yếu là đi vào khảo sắt các đơn vị từ ngữ, công thức từ ngữ trong ca dao - dân ca Nam Bộ Trên cơ sở đó chỉ ra những yếu tố
mang đậm mau sắc địa phương trong ca dao — dân ca Nam Bộ.
3.3 Tư liệu nghiên cứu :
La những câu ca dao - din ca Nam Bộ đã được in thành sách Gm
- “Ca daaĐẳng Tháp Mười - Tuyển tập I trước 1945 " Trường Đại học
Sư phạm TPHCM, Trường Cao đẳng Đồng Tháp, Nhà xuất bản Déng Tháp,
1986.
- "Dân ca Sông Bé " Lư Nhất Vũ và những người khác, Nhà xuất bảnTổng hợp Sông Bé, 1991
- “ Văn học dân gian Đẳng bằng sông Cửu Lang ", Trường Đại học
Cần Thơ - khoa Ngữ Văn , Nhà xuất bản Giáo dục, 1997,
Đây là những công trình phản ánh được thành tựu sưu tim ca dao — dân
ca Nam Bé từ sau ngày giải phóng miền Nam Những tư liệu của cdc côngtrình này đủ để khảo sát đến đối tượng một cách khách quan trên bình diện
ngỗn ngữ.
3.4 Phương pháp nghiên cứu :
Để nghiên cứu, tìm hiểu và phát hiện ra yếu tố mang mau sắc địa
phương trong ng6n ngữ ca dao — din ca Nam Bộ chúng tôi sử dụng các phương
pháp:
- Phương pháp miéu tả: nhằm thể hiện rõ nét mau sắc địa phương
Trang Ø
Trang 13Luận văn tốt nghiệp
- Phương pháp thống kê: thống kê ra những từ, ngữ mang đậm màu sắc địa phương và sắp xếp nó vào một nhóm nhất định để những miêu tả có ý
nghĩa định lượng.
- Phương pháp so sánh: để thấy rõ màu sắc địa phương của ngôn ngữ
chúng tôi đã so sánh ca dao - dân ca Nam Bộ với ca dao — dẫn ca các miễn
khác.
- Phương pháp qui nạp : nhận xét, rút ra những nhận định quan trọng
nhằm làm rõ vấn để.
- Phương pháp liên ngành: 4p dụng những thành tựu của sử học, ngôn
ngữ, văn học đân gian để tìm hiểu ngôn ngữ
Tất cả những phương pháp mà chúng tôi vận dụng chỉ nhằm mục đích cuối cùng là chỉ ra những yếu tố mang đậm mau sắc địa phương trong ngôn
ngữ ca đao -din ca Nam Bộ.
4 Những đóng góp của luận văn
Qua luận văn này chúng tôi đưa ra một bảng thống kê tuy chưa thật đẩy
đủ về từ ngữ địa phương cũng như các nhóm từ, các công thức riêng mà ca dao
= dân ca Nam Bộ đã sử dung.
Và cũng thông qua luận văn chúng tôi hy vọng từ địa phương Nam Bộ
sẽ không còn xa lạ đối với mọi người Mọi người sẽ cảm nhận được cái chung
và đặc biệt là cái riêng độc đáo có trong kho ting ca dao thống nhất, đa dạng
+ Chương I: Sự phong phú và da dang của lớp từ ngữ mang màu
sắc địa phương Nguyên nhân hình thành lớp từ ngữ
mang màu sắc địa phương.
+ Chương II: Những mã công thức mang mau sắc địa phương
trong ca dao - dân ca Nam Bộ.
-PhẳnHI: Kết luận
Tài liệu tham khảo.
Trang 10
Trang 14Lugo văn tối nghiệp
PHẦN II : NỘI DUNG
Chương I
SỰ PHONG PHU VA DA DANG CUA LỚP TU NGỮ MANG MAU SAC DJA PHƯƠNG
1 Khái niệm “ màu sắc địa phương trong ngôn ngữ ”
Tiếng Việt là một ngõn ngữ thống nhất ở mật độ cao so với nhiều ngôn
ngữ khác trên thế giới Tuy nhiên, sự phát triển đa dang của lịch sử, diéu kiện
xã hội, điểu kiện địa lý đã làm cho sự giao tiếp giữa các cư dân trong một
cộng đồng xã hội thống nhất trở nên không được thường xuyên và có ft nhiềubất lợi Và trên đà trát triển không ngừng của ngôn ngữ đã đẩn din đã hìnhthành những kiểu biến dạng ngôn ngữ theo từng địa phương nhất định, tạo ra “
màu sắc địa phương trong ngôn ngữ ”
Mau sắc địa phương trong ngôn ngữ là sự khác nhau trong lời ăn tiếng
nói giữa vùng này với vùng khác Thể hiện 3 giọng nói hay cách phát âm, 3
từ ngữ, ở phong cách diễn đạt và phan ít ở cấu trúc ngữ pháp Nét khác nhau
đó là tạo ra đường ranh giới phân chia ngôn ngữ ở các địa phương trong cùng
một cộng đồng thống nhất tạo cho ngôn ngữ từng địa phương có màu sắc riêng._ Vậy có thể nói một cách nôm na “màu sắc địa phương trong ngôn ngữ " là
một chuỗi các nét biến dạng địa phương của một ngôn ngữ chung toàn dân ở
địa phương đó
Màu sắc địa phương là do lịch sử hình thành và nó trở nên một cái gì đó
rất bén vững trong nhân dân Khi nghiên cứu ngôn ngữ Nam Bộ chúng ta không thể không quan tâm tới nó
2 Những từ ngữ mang màu sắc địa phương
Ca dao - dân ca chiếm một vị trí vô cũng quan trọng trong kho tầng văn
học dẫn gian Việt Nam Nó gắn bó mật thiết, sâu sắc với con người Cũng như
ca dao - din ca mọi miễn, ở ca dao - din ca Nam Bộ con người cũng ca ngợi
thiên nhiên quanh mình, coi mình như một bộ phận của thiên nhiên Ngườinông dan thường “trao đổi với thiên nhiên nhiều hơn là giao tiếp với xã hội" |?
'!! Tuyển tận Mác - Ang phen , tập 2, HXB So That, HN, 1961,
Trang II
Trang 15Luin vẫn tốt nghiện
Cây cỏ, sản vật, núi sông đều lắng đọng tâm tình con người Tuy nhiên, ở
vùng đất phía Nam này của Tổ quốc có rất nhiều sự khác biệt so với vùng đất khác của đất nước Đó là những khác biệt về :lịch sử khai phá, điểu kiện tự
nhiên, văn hoá, con người tất cả những yếu tố đã tạo cho ca dao — dẫn ca Nam Bộ có một màu sắc riêng, nhiều nét đặc thù mà người ta thường gọi là mau sắc Nam Bộ.
Ca dao - dân ca Nam Bộ, một mặt mang những nét chung của ca dao —
dân ca dân tộc nhưng mặt khác nó mang những nét riêng rất độc đáo Đọc ca
dao - din ca Nam Bộ chúng ta dé nhận ra rằng:ngôn ngữ ca đao ~ dân ca Nam
Bộ mang màu sắc địa phương rất rõ nét Màu sắc địa phương đó thể hiện rất
rõ trên phương điện ngôn từ
Những yếu tố đặc trưng ở vùng đất Nam Bộ (điểu kiện tự nhiên, văn
hóa, con người ) đã ảnh hưởng đến ngôn ngữ ca dao — din ca Nam Bộ Cụ
thể là trong ca dao - dân ca Nam Bộ có một lớp từ ngữ địa phương Đó là
những từ ngữ nảy sinh từ điểu kiện tự nhiên, nảy sinh từ hiện thực khách quan mới mẻ; là những từ ngữ xuất phát đáp ứng nhu cầu gọi tên sự vật, hiện tượng
chỉ có ở vùng này; là những từ ngữ nảy sinh từ tính cách con người
Phan tiếp của luận văn sé lan lượt liệt kê ra những từ ngữ tiêu biển
trong ngỗn ngữ ca dao — din ca Nam Bộ, những từ ngữ đó mang đậm đà màu
sắc của qué hương Nam Bộ, của tiếng nói người Nam Bộ
2.1 Những từ ngữ chi địa danh, địa hình trong ca ao -dân ca Nam
Bộ :
Vùng đất Nam Bộ cách đãy 300 nim vẫn là một ving sinh My, hoang
vu, rừng rậm bao phủ, đẩy cọp, sấu, rấn độc, muỗi mòng Trong qúa trìnhkhai hoang lập đất người dân đã tạo vùng đất này và biến nó thành một nơiđẩy tiểm năng, màu mỡ Những người dân đến đây định cư đã lập nên nhữngkhu dân cư, những làng xã khác nhau và để gọi tên những vùng đó họ đã tạo
ra một loạt những từ ngữ chỉ địa danh, địa hình Những từ ngữ đó chỉ riêng ở vùng đất Nam Bộ mới có, nó mang đậm màu sắc địa phương Nam Bộ
Nam Bộ được phân thành hai mién rõ rệt: mién Đông Nam Bộ và miễn
Tây Nam Bộ Hai miễn đất với những địa danh, địa hình rất phong phú mà
không thể nào thống kê một cách đẩy đủ những từ ngữ chỉ các địa danh đó
Co thể nói rằng những từ ngữ mà người dân Nam Bộ dùng để đặt tên cho mỗivùng đất mà mình khai phá mang vẻ rất mới, xa lạ đối với người dân ở vùng
khắc
Miễn Đông Nam Bộ với trung tâm chính là thành phố Biên Hòa có rất
nhiều thing tên đất, tên vùng :
Trang |?
Trang 16Luận vin tốt nghiệp
Ai ơi về Đại Phố Châu,
Thăm núi Châu Quới, qua câu Đẳng Nai
Miễn Đông Nam Bộ phần lớn đất đai là đồng bằng, một số ít là núi vàcao nguyên nên những từ chỉ địa danh ở đây thưỡng là nói về tên huyện , xã ,
làng Những dia danh về núi non , sông ngòi chiếm số lượng ít Mỗi một
địa danh hay vùng đất thường gắn với sản vật, thing cảnh mà nơi đó có : nhấc
đến Biên Hòa người ta nhớ đến loại trái cây là bưởi ,tỉnh Tây Ninh có núi Bà
Đen cao 986m ,là thắng cảnh nổi tiếng Người dân luôn tự hào về quê hương
, Xử sở của mình : ‘
Biên Hoa có bưởi Thanh Trà,
Thủ Đức nem nudng ,Điện Bà Tây Ninh.
Hết gạo thì có Đẳng Nai,
Hết cải thì có Tan Sài chờ vô.
Người dân ở Nam Bộ phan lớn là những lưu dan di cư từ nhiều nơi đến
Họ là những người thợ thủ công, nông dân nghèo ở phía ngoài cùng cực , bị
giai cấp phong kiến bóc lột tàn bạo; không chịu nổi họ phải bỏ quê hương,
làng xóm ra đi tìm chỗ nương thân Họ đã tim đến miền đất được coi là "Rừng
thiêng, nước độc,thú bay Muỗi kêu như sáo thổi.Đĩa lội đẩy như bánh canh “
Nhưng những con người lưu lạc, không nản lòng trước thiên nhiên khắc nghiệt,
ho đã sinh sống, cưu mang dim bọc lẫn nhau để tổn tại Chính vì vậy ,họ rất
tự hào về làng quê mới của mình và ngày càng làm giàu thêm cho miễn đất
vốn mầu mỡ này :
Đẳng Nai nước ngọi, giá hiển,
Biên Hùng muôn thud đây niém an vui
Và cũng chính vì nhận thấy những ưu thế của vùng đất khắc nghiệt, họ
đã không lùi bước, không nắn lòng mà cứ tiếp tục khai hoang mở đất tạo ra
nhiều làng xóm trù phú, lập nên những xã, những huyện mới Để gọi tên
những vùng đất mới khai hoang thì một loạt những từ ngữ mới ra đời ,những từ
ngữ chỉ địa danh này chỉ có ở vùng đất Nam Bộ và nó không trùng lặp hay lẫn
lộn với những vùng khác
Lấy chẳng Tân Lang, TânHội bà nội hổng cho,
Lấy chẳng Suốt Sủi ăn mắm kho rặc ròng
Không chỉ riêng miễn Đông Nam Bộ mới có những từ ngữ chỉ danh
phong phú và mang đâm sắc thái địa phương như vậy mà ở vùng miễn Tây
Nam P6 những từ ngữ chỉ địa danh cũng không kém phan phong phú Miễn
Tây Nam Bồ có điện tích lớn hơn so với miễn Đông Nam Bộ Ở đây đã xuất
Trang I3
Trang 17Luận văn lổi nghiệp
hiện một loạt từ ngữ chỉ địa danh như: My Hòa, Mỹ Quới, Mỹ Đông, Châu
Đốc, Nam Vang, Sa Déc, Lap Và Đó có thể là quê hương của những đồng
lúa bát ngất thẳng cánh cò bay, hoặc là quê hương của những rừng dừa, những
dòng sông Người dân đã chỉnh phục thiên nhiên và làm chủ vùng đất hoang
v này Họ lập nên nhà cửa làng xóm
My Hoa, Mỹ Qudi, Mỹ Bông,
Xử ndo cũng dep, cũng mệnh mông lúa vàng,
Ai qua Châu Đốc, Nam Vang, Ghé qua Đẳng Tháp bat ngàn bâng sen.
Ai về Sa Đéc, Lap Và
Nhớ kinh Vĩnh Thanh, nhớ giọng hò Tân Dương.
Không thể nào kể hết những từ ngữ chỉ địa danh trong ca dao — dân ca
Nam Bộ Và những địa danh đó đã được người din đưa vào trong những câu
ca, câu hò miột cách rất duyên đáng, đặc sắc Đi đôi với tên đất, tên làng
chúng ta thấy toát lên niém tự hào, kiêu hãnh của con người sống trên mảnh
đất đó Họ tự hào về qué hương, làng xóm của minh; tự hào về sự giầu có, sự
trù phú của mộng đồng; tự hào vé con người, về lời ca tiếng hát Nhắc đến
một địa danh nào đó là người Nam Bộ có thể hình dung được những đặc điểm
„ đặc sản , tinh cách của con người xứ đó :
Bình Lương là chỗ nâu nương,
An Bình là chỗ tình thương đậm đà.
Anh đi đâu cũng ghé lại nhà,
Nghéo em, em chịu vit gà đãi anh.
Đọc ca dao vùng miền Tây Nam Bộ chúng ta nhận thấy hình ảnh sông
nước được sử dụng khá nhiều Sông nước, kênh rạch, cù lao, láng, lach, bau,
ao, hồổ là những hình ảnh quen thuộc, rất dễ bất gặp trong ca dao - dân ca
Nam Bộ Tên mỗi con sing, một cd lao, hay một vùng qué nào đó déu gắn với
những sản vật, những đặc điểm riéng của mỗi vùng Chính những đặc điểm ấy
khiến người đi xa thường nhớ về quê hương xứ sở :
Thấy dita thì nhớ Hến Tre,
Thấy bông sen nhủ động quê Tháp Mười
Ba phen qua nói với diéu,
Cù lao Ong Chường có nhiều cá tôm.
Anh đi đáng đáy Bảy Ngang, Ghé qua Láng Lậc cho nàng lượm tôm.
Trang l4
Trang 18Luin văn tốt ñghiệp
Trong quá trình khai hoang lập đất, người dân thường tự do lựa chọn nơi
cư trú và tự do trong việc khai hoang mở đất Bởi vì người din ở đất Nam Bộ
thường không di cư vào một lúc, mà ho di cư theo từng đợt Họ thường chọn
những vùng đất cao ráo, thuận lợi để khai phá trước Và họ dùng nơi đó làm
chỗ định cư để tiếp tục khai phá những khoảng đất khác Do đó, khó tập trung
qu†tụ những người dân thành những đơn vị làng,xã Nếu có chăng thì làng, xã
ở miễn đất Nam Bộ cũng không có tính thống nhất cao như ở Bắc Bộ, ngườidân của một làng có thể tùy tiện lựa chọn cho mình nơi sinh sống mới vàngược lại việc gia nhập cư dân mới vào trong tổ chức làng cũng rất dé dai
Mặt khác, do điểu kiện địa lý sông ngòi chằng chịt khó có thể qui tụ những
người dân thành cụm lớn Vi vậy, gắn với tên làng, tên tỉnh là sông, vam, củ
lao, lắng là điểu tự nhiên Bên cạnh đó, người din Nam Bộ cồn có cách đặt
tên mỗi vùng theo cách: thường gắn những từ như xứ hoặc cdi trước những địa
danh;
Xứ nào bằng xứ Cạnh Đền,
Muổi kêu như sdo thổi, đĩa lội lén như bánh canh
Xứ Cần Thơ nam thanh nữ tú,
Xử Rach Gid vượn hú chim kêu.
Cầu nào cao bằng cầu Cái Cốt,Gái nào giỏi bằng gái Bến Tre
Khen ai khéo bắc Câu Ke,
Cái Thia đi xuống Cái Bè di lân,
Thực tế khá nhiều địa danh ở Nam Bộ bắc đầu bằng từ "cái” như: CáiMon , Cái Lon, Cái Cối Từ "cái "là tiếng rút gọn của "sông cdi", chỉ consông lớn nhiều sông nhỏ ,rạch , xẻo , mương đổ ra đó , Diéu này đã làm chonhững từ ngữ chỉ địa danh ở Nam Bộ càng đậm đà màu sắc địa phương , khó
có thể lẫn lộn với những nơi khác
Chúng ta nhận thấy rằng, đặc điểm chung của tên những địa danh ở
Nam Bộ là người dân thường kết hợp với một danh từ loại nay với một danh từ
loại khắc hay một tinh từ, một ngữ để tạo địa danh Một trong hai danh từ đồ
có một danh từ thường chỉ đặc điểm về địa hình của vùng đất đó Ví dụ như từ
“giống” chỉ chỗ đất cao hơn ruộng, trên đó người dân cất nhà ở và trồng rau
đậu, khoai củ, dứa người dân đã kết hợp từ này với một danh từ khác để đặt
tên cho vùng đất mình sinh sống :
Ai về Giẳng Dita qua truông,
Giỏ lay bông sậy bd buôn cho em
Mudi khô ở Gdnh mặn nổng,Giẳng Trôm, Phụng Nằm dua đẳng gidng gidng
Trang 15
Trang 19Ladin văn tết nghiệp
Tương tự như vậy, hấu hết địa danh ở Nam Bộ đều được tạo ra theo
kiểu đó: từ “ldng " chỉ chỗ đất thấp sát bên đường nước chảy, vùng đất đó
thường là nơi tu tập của chim, cò nên một loạt địa danh đã ra đời: Láng Cò, Lang Chim, Lang Le (nơi có chim le le)
Sông sâu sóng bia Lang Ca,
Thương em vì bởi câu hd có duyên,
Không những đặt tên theo những đặc điểm của vùng đất, người dânNam Bộ còn đặt tên cho vùng đất mình sinh sống trên cơ sở lấy những từ chỉ
các vị trí liên hệ đến giao thông dé cấu tạo địa danh Ngudi dân đã lấy từ
“cầu "để cấu tạo ra một số địa danh như :Cdu Ngang, Câu Kè, Câu Ô, Chợ
Cầu
Khen ai khéo bắc Cầu Ke,
Cái Thia di xuống, Cái Bè đi lên.
Đế anh con rít mấy chân,
Câu O mấy nhịp, chợ Dinh mẩy người.
Vùng đất ở cửa rach, sông đổ ra biển người ta gọi là ‘vam " Người dân
đã kết hợp từ “van " với một số thành tố khác để gọi tên vùng đất như: Vàm
Cậu, Vam Cả
Neo ra Vàm Cậu la mù,
Đông Hỗ, Thị Vạn, Tô Châu, Rach Dita,
Tây Ninh có núi Điện Bà,
Có sông Vam Cd, có tòa Cao Sơn.
Ngoài ra, địa danh ở Nam Bộ còn được đặt tên dựa vào vị trí tập hợp cư
dan như: chợ Quán, chợ Thơm, chợ Dinh “ Chợ" là nơi tập hợp nhiều người
có nhu cầu mua và bán, nơi đó có những người mua bán tụ tập vào những thời
gian nhất định và cũng dựa vào những đặc điểm này người dân Nam Bộ đãcho ra những địa danh mới mẻ và giàu sắc thái Nam Bộ
Chitng nào chợ Quán hết vôi, Thủ Thiêm hết gạo em thai đưa đò ,
Ai về Ba Vát, chự Thơm, Ruộng maa lúa tốt cây vườn xanh tươi.
Địa danh của vùng đất Nam Bộ còn được đặt theo tên các đơn vị rổ
chức hành chính đời xưa Thời Nguyễn Hữu Cảnh (1698) mới vào lập huyện
đặt dinh, xứ Đẳng Nai được đặt là Trấn Biên Dinh Ngày xưa từ “ Thủ * dùng
Trang 16
Trang 20Luận văn tốt nghiệp
để chỉ nơi đầu bến lập đổn để thu thuế “Sở "là khu vực quy định để nhà nước đấu thầu khai thác cá Những địa danh có từ * Thủ *, “Sd” đứng đầu cũng được nhấc nhiều đến trong ca dao :
Thủ Thiêm, Bến Lúc, Thủ Đoàn,
Anh phải lòng nàng tai Thủ Chiến sai.
Một trăm con gái Thủ, Một lũ con gdi chợ anh không màng,
Cảm thương con gái ruộng, cơ hàn nắng mưa
Ngó lên Sử Thượng thêm buẩn,
Muốn giàm cội rễ, sợ đường xa xôi.
Với những từ ngữ chỉ địa danh trên, chúng ta đã phẩn nào biết được sự
phong phú, da dạng của lớp từ ngữ chỉ địa danh ở Nam Bộ đồng thời chúng ta
cũng biết được cách thức cấu tạo địa danh của những con người miễn đất này
Chính những lớp từ ngữ chỉ địa danh đã tạo cho ca dao -din ca Nam Bộ có
một mau sắc địa phương riêng khó lẫn lộn với các vàng khác Điều này giúp chúng ta có cơ sở để xác định được sắc thái vàng ca dao Nam Bộ.
Những câu ca dao nói về địa danh Nam Bộ không chỉ có ý nghĩa xác
định địa chỉ của cấc câu ca dao mà còn dùng để miêu tả tình cảm thiết tha,long tự hào đối với quê hương đất nước của con người Nam Bộ Mỗi địa danh
gắn liển với một sản vật, một con sông người dân nhắc đến tên một làng, một
huyện nào đó là một déu có dụng ý riêng của mình: hoặc là ca ngợi vùng đất
đó, hoặc nói lên sự gấn bó, yêu mến của người dân đối với mảnh đất quê
hương:
Ai đi qua xử Hòa An,
Dita xanh, mận đỏ chứa chan nghĩa tình ,
Ai ơi về miệt Tháp Mười,
Cá tôm sẵn bắt lúa trời sẩn ăn.
Chính vì thế, chúng ta có thể kết luận rằng: hầu hết những câu ca dao
nói về địa danh thường là những câu ca dao ca ngợi quê hương đất nước đổng
thời nói lên tình yêu quê hương đất nước của những con người sắng tắc ra câu
ca dao Ấy.
Không chỉ nhờ vào lớp từ ngữ chỉ địa danh mà chúng ta mới có thể xác
định được xuất xứ của các câu ca dao Có những câu ca dao không nhắc đến
địa danh nhưng khi tiếp cận với nó ta vẫn có thể khẳng định đây là ca dao của
vùng đất Nam Bộ, thậm chí chúng ta cũng có thể xác định được cụ thể nơi
Trang 17
Trang 21Luận văn tốt nghiện
xuất xứ của các câu ca dao Chính nhờ đặc điểm là ca dao-dân ca Nam Bộ
thường đưa vào những từ chỉ địa hình của vùng đó
Địa hình của vùng đấÍNam Bộ vốn di rất phức tạp, địa hình không được
bằng phẳng như những vùng đất khác Xen giữa đẳng bằng là sông ngòi kênhrạch Chính những yếu tế ấy, cộng với đặc tính của từng loại đất mà người dân
Nam Bộ đã phân chia đất đai ra thành từng vùng riêng biệt Mỗi vùng với một
tên gọi riéng , tên gọi ấy phản ánh đây đủ đặc điểm của vùng và những từ gọi
tên ấy mang đậm màu sắc ngồn ngữ Nam Bộ ,chỉ có ở vùng đất Nam Bộ và
chỉ trong ca dao — dân ca Nam Bộ chúng ta mới bắt gặp những từ như vậy :
Giá đưa gid đẫy, về rẫy ăn còng,
Vé kinh ăn cá, về đẳng ăn cua.
Chỉ trong một câu ca dao, chúng ta đã thấy xuất hiện ba từ chỉ địa hình:
"rẫy " "kinh "+ "đẳng”, Ai là người dân Nam Bộ thì có lẽ chẳng thấy xa lạ đối
với những từ này , người dân không chỉ phân biệt từng vùng đất mà còn phân
biệt ti ml vùng nào có đặc sản nào “Ray” "kinh" “đồng "là những từ chỉ
những vùng đất có địa hình khác nhau: từ “rấy tó ý nghĩa thay đổi tùy từngđịa phương Ở miền Đông Nam Bộ thì “ rấy "là vùng đất khô ráo trồng những
loại cây lâu năm, ở miễn Tây Nam Bộ thì “rấy " cũng dùng để chi vàng đất
khô ráo nhưng có thể trồng những loại cây như rau cải hoặc để trổng lúa
*Kinh" dùng để chỉ những nơi có dòng nước chảy nhưng hep và tương đối dai
“Đẳng "là khoảng đất rộng lớn, đại bộ phận bằng phẳng để tring lúa
Khi đã phân ra từng vùng đất, người dân còn tiếp tục phân biệt ra từng
khoảng đất nhỏ trong vùng đó , Như ở "đổng” thường có một chỗ đất tringnim giữa déng , mùa nắng có nước đọng , nhưng mùa mưa thì nước ngập khá
sâu , đó là “bung”;
Trắng da vì bởi md cưng,
Den da vì bài em lội bung tát bau.
Người din Nam Bộ còn sử dụng một loạt những từ ngữ để chỉ địa hình
như: cù lao, cén, doi, vịnh, đất giổng, hòn, đầu giéng, cuối gidng
Chững nào ngọn sống bả ganh,
Cù lao bỏ biển anh mới đành bỏ em
Mênh mông sông rộng, cỗn dài,
Suốt đêm lặn ngụp nghèo hoài anh di.
Lui cui, lắc xúc con cá sat mỗi, Lên doi, xuống vịnh lẫn hãi theo anh.
Trang IR
Trang 22Luận văn tốt nghiệp
Đất giẳng trang cải ngon dua,
Gdn sông rửa sạch kén lita đẹp đôi.
Đầu giẳng có trồng cây chuối ,
Cudi giẳng có trồng cây đa
Miễn Tây Nam Bộ là một vùng đất không giống các vùng đất khác
trên đất nước ta Trước hết , đây là xứ sở của sông ngồi, kênh rạch Kênh rạch
ching chịt tạo nét riêng của một vùng quê sông nước Trong ca dao — dân ca
Nam Bộ, ta bắt gặp một lớp từ ngữ nói về sông nước rất phong phú và đa dạng
đến không ngờ như : rach, xẻo , láng , ngọn, doc, lung , bưng, ddm, địa,
trấp , vũng , gành không phải người dân chỉ đơn giản là muốn tùy tiện đặt tên mà ở đây mỗi tên gọi đều nói lên đặc điểm từng vùng đất :
Em ơi em có chẳng chưa?
sông còn có lạch nữa là người ru.
hiển cạn láng khô, ghe vô không được,Phải trở lộn về đi ngược làng em
Chitng nào sáng nọ bd gành,
Cà lao bỏ biển anh mới đành bd em
Pua em về tới bờ bưng,
Ditt tình trở lại dậm chân than dai.
Gần liền với hình ảnh kênh rạch là hình ảnh con nước chảy Sống và
làm việc trên vùng đất dọc ngang kênh rạch , sông ngòi tất yếu con người phải
am hiểu tường tận về nó Con người phải quan sất và từ đó thấy được tác dụng của nó để sử dụng một cách hợp lý và có hiệu quả Sự quan sắt tỉnh tế
động thái của thủy triểu và dòng nước chảy ngoài những khái niệm : nước
cường , nước ròng , nước lũ , người dân còn sáng tạo một loạt từ ngữ chỉ con
nước chảy phong phú và độc đáo Những từ ngữ này đã miéu tả chính xác , tường tận từng thời điểm nước chảy như : nước lớn , nước ròng , nước rong, nước giut, nước kém , nước trôi, nước dệnh , nước chitng , nước sụt , nước bò, nước đứng , nước nằm
Vốn từ ngữ con nước chảy là một sự phần ánh mà con người quan sắt
được Những từ ngữ đó không đơn thuần là chỉ sự vận động của dòng nước mà
còn được dùng để điển tả tâm trang, tinh cảm của con người Tình cảm của đồi
trai gái được diễn tả theo mức độ của đồng nước chảy
Bim bip kêu miñfc lon anh ơi,
Budn bán không lời chèo chống mỗi mé,
Nước ròng chảy thấu Nam Vang,
Trang 23Luận văn tốt nghiệp
VỀ Đẳng Tháp Mười đừng sợ đổi, sợ no
Nước nổi nhổ bông súng, nưc gigt nhổ củ co cũng no lòng.
Anh đi nước ngược, nước xuỗi,
Cá về Đẳng Tháp Mười theo tôi thì về
Hình ảnh sông ngồi, kênh rạch gắn bó in sâu trong tâm trí mỗi con
người miễn Tây Nam Bộ Ngừơi dân sống giữa một vùng sông nước mênh mông, nhìn đâu cũng thấy hình ảnh con nước Bởi vậy, khi gọi tên con nước
người din không chỉ gọi tên theo sự vận động của dòng nước mà còn gọi tên
theo tính chất của loại nước như : nước rẫy, nước phần
Tàu Nam Vang mũi đỏ,
Che Sa Déc mũi đen,
Em ở chỉ nước rẫy, nước phèn,
Theo em vé chợ đốt đèn măng xông.
Những từ ngữ chỉ địa danh, địa hình trong ngôn ngữ ca dao - din ca
Nam Bộ vô cùng phong phú và mang đậm màu sắc địa phương, ở đây chúng tôi chỉ liệt kê ra một số từ ngữ tiêu biểu, quen thuộc
Ngoài ra, còn vô số những từ ngữ khác không kém phiin độc đáo và rất riêng biệt, chỉ d vùng đất Nam Bộ mới có Vùng đất Nam Bộ vốn đã rất khác
so với các vùng khác, thêm vào đồ con người và những yếu tố khác cũng đã
ảnh hưởng rất lớn đến ngôn ngữ ca dao Chính vì vậy ca dao — dân ca Nam Bộ
có một lớp từ ngữ chỉ địa danh , địa hình rất Nam Bộ , không thể lẫn lộn được ,
nó mang đậm sắc thái địa phương , góp phần tạo nền phương ngữ Nam Bộ
2.2 Những từ ngữ nói về cảnh quan - sinh thái, sdn vật trong ca
dao - din ca Nam Bộ :
Vào thế kỷ XVII vùng đất Nam Bộ là “ một vùng hoang vu, sinh lẫy ,
sông ngồi ching chit , cây rừng rim rạp với hang trăm con trâu rừng tụ họp” "”
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, qua nhiều đợt di dân khác nhau, ngườinông dân Việt Nam từ các đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ đã tới định cư ở
vùng đất này Ho không quản ngại sự khắc ngiệt của thiên nhiên, tuy nhiễn
con người không thể tránh được những cảm giác kinh hãi , ghê sợ trước cảnh
vật côn xa lạ như vậy :
Tái đây xứ sử lạ làng,
Chim kên phải sợ, cá vùng cũng ghê.
t! [Lịch sử khai nhá vùng đất Nam Bộ , Huỳnh Lita, NXB TPHCM ,1974 , trang 9
Trang 20
Trang 24Luận văn tốt nghiệp
Cà Mau khỉ khot trên bung,
Dưới sông sấu lội , trên rừng cọp um.
Một vùng đất hoang vu, dân cư còn quá thưa thớt, thêm vào đó thiên nhiên quá khấc nghiệt: vùng đất ma “ đĩa lội lền như bánh canh”, “cd mọc thành tinh, rắn đẳng biết gáy”, chỉ đọc lại câu ca dao thôi ta đã thấy rợn người,
chứng tổ vùng đất đó rất hoang vu, khắc nghiệt và hdu như chưa có dấu vết sinh sống của con người:
Chiéu chiều én liệng trên trời, Rùa bò dưới đất , khỉ ngỗi trên cây.
Tâm trạng kinh sợ thiên nhiên bí ẩn ở buổi ban đầu khai hoang ấy làmột đặc điểm nổi bật trong ca dao - dân ca Nam Bộ Diéu này cho thấy lịch
sử khai phá vùng đất Nam Bộ diễn ra trong thời gian dài và đẩy gian truần,
Trước sự kiên trì, nhẫn nại bất chấp mọi khó khăn gian khổ của người dân,
thiên nhiên cũng đã không phụ lòng họ Thiên nhiên đã thực sự ưu đãi con
người và con người đã biến vùng đất “ khÏ ho cd gáy” thành một vùng đất giàu
có thiên nhiên khắc nghiệt nhưng ẩn chứa một tiểm năng “ rừng vàng biển
bạc” phong phú thực sự Những con người cùng đường (những người trốn tránh
binh dịch, những ngừơi bị lưu day, những thầy lang, thầy đổ nghèo ) đã nhận
ra sức mạnh, tiểm năng của vùng đất khấc nghiệt này Họ đã thích ứng và sử
dụng được một cách tài tình thiên nhiên đa dạng đó Vùng đất Nam Bộ ngày
càng trở nên giàu đẹp nhờ ban tay và khối óc của những người khai phá Từ
đó quê hương trở thành niềm tự hào của người din Nam Bộ, họ gắn bó và ca
ngợi vùng đất vốn hoang vu, khắc nghiệt:
Có ai về miệt Tháp Mười,
Xin mời ghé chút quê tôi xử này,
Quê tôi vita đẹp vita hay,
Dudi séng cá lội, chim bay trên trời.
Ai ơi nhớ lấy cho thông,
Tháp Mười đất rộng, người đông lúa nhiễu
Thiên nhiên quá khắc nghiệt nhiều lúc con người tưởng chừng như
không chỉnh phục được thiên nhiên:
Anh đi ba bữa anh về ,
Rừng sâu nước độc chớ hé ở lâu.
Tiếp cận với thiên nhiên, người dân cũng phin nào chin bước nhưng
càng ngày họ càng thấy được rằng thiên nhiên không khắc nghiệt mà chẳng
qua con người chưa khai thác hết những gì thiên nhiễn ưu đãi Một thiên nhiên
Trang 21
Trang 25Luận văn tốt nghiệp
mênh mông, phong phú, đa dạng, phì nhiêu mời gọi cư dân tiếp tục khai phá,
mở mang đất đai Dẫn din miễn đất này không còn hoang vu , xa lạ đổi với
con người mà nó trở thành một vùng đất trù phú ; kênh rach ching chịt , những
đẳng lúa thing cánh cò bay, những miệt vườn bốn mùa cây trái, những bau ,
những lắng sen súng
Ddm sen, bãi sậy ,rừng tram,
Kinh dài thét đất, lúa xanh ngập trời.
Đẳng Tháp Mười cò bay thẳng cánh,
Nước Tháp Mười lấp lánh cá tâm.
Thiên nhiên đã ban tặng cho con người một khối lượng sản vật dồi dào,phong phú Những sản vật của vùng đất Nam Bộ trước hết phải kể đến những
sản vật làm ra từ hạt gạo, từ con cá, con tôm Không ở đâu chúng ta lại bất
gip nhiều tên gọi các loại bánh như ở trong ca dao Nam Bộ: bánh phẳng,
bánh trắng, bảnh ít, bảnh bà bông, bảnh canh mặn, bánh canh ngọt, bánh bào,
bảnh hỏi
Bánh trắng Mỹ Lông,
Banh phẳng Sơn Đốc,
Măng cut Hàm Luông,
Vd ngoài nâu, trong trắng như bông gòn,
Anh đây hỏi thiệt sao em còn so do?
Bánh canh trắng con vấn, con dài
Banh canh ngọt chui tot khỏi nhai.
Con qua nó đứng chuông heo,
Nủ kêu bd má bánh béo chín chưa?
Hà ơi, tiếng anh ăn học cũng thông,
Vào đây em hỏi thử bánh bò bông bột gì?
Những loại bánh kể trên chỉ có ở vùng đất Nam Bộ.Đất Nam Bộ, đặc
biệt làmiển Tây Nam Bộ, một vùng sông nước mênh mông, thích hợp với
những loại cây như: cù nèo, súng, điên điển,rau đắng, rau cẩn và từ những
loại cây đó người Nam Bộ đã chế biến ra nhiều món ăn rất độc đáo như: canh
béng súng, canh rau đẳng nấu cả trê, canh rau cdn, cháo le le, chè hội sen
Anh đi anh nhd Thap Mười,
Nhé canh bằng súng, nhớ nụ cười Mỹ An,
Rau đẳng nấu với cá trễ,
Ai đến lục tinh thì mê không về
Canh chua điên điển cá linh,
An chỉ mật mình thì chẳng biết ngon
Trang 22
Trang 26Luận văn tốt nghiệp
Me mong gd thiếp về vườn,
An bông bí luộc, dua hường nấu canh
Thương chẳng nấu cháo le le
Nấu canh bông bí, nấu chè hột sen
Những món ăn đơn giản, không cẩu kỳ cao sang nhưng nó được người
dan Nam Bộ ưa chuộng Bởi vì những món ăn đó được chế biến từ những vật
liệu do chính tay họ trồng trọt, chăn nuồi, rất quen thuộc Đó còn có thể lànhững loại cây mọc hoang ven bờ sông, mộng đồng nhưng với tâm hẳn phong
phú cộng với sự nhạy bền trong việc thưởng thức cic món ăn, người din da
chế biến ra những món ăn có khẩu vị rất độc đáo
Vùng đất Nam Bộ với hệ thống sông ngồi , kênh nét ching chit nên nguồn
thủy sản rất phong phú Từ nguồn lợi thủy sản đó người dân đã chế biến ra
nhiều loại mắm: mdm cá lác, mdm cong, mắm kho
Lấy chẳng Tân Long, Tân Hội bà nội hổng cho,
Lấy chẳng Suối Sdi ăn mắm kho ric ròng
Thương em muốn tặng mdm cong,
Nhớ em anh đến Phước Long anh tim
Tất cả những món ăn đó trở thành đặc sản của vùng đất Nam Bộ Người dân Nam Bộ xa xứ không thể nào quên được những món ăn độc dio
của địa phương mình Vốn từ chỉ thiên nhiên, sẵn vật trong ca đao —- din ca
Nam Bộ không chỉ dừng lại ở những từ ngữ chỉ món ăn mà nó còn thể hiện ở
một loạt những từ ngữ chỉ cây trái, chỉ các loại thuỷ sản Có thể nói rằngmiễn đất ở Nam Bộ là miễn đất của trái cây Trái cây ở Nam Bộ nhiều vô kể.Trái cây cũng là một trong những đặc sản,của Nam Bộ như : sẩu riêng , măng
cụt, châm chôm, xoài , mãng câu , budi, núi tố nữ
Ngọi hon quit mật, cam sành,
Biên Hoà có bưởi trứ danh tiếng đân.
Sdu riêng, măng cut, châm chémXoài ngon, mít ngọt, chuối thơm nghìn trùng
Sdu riêng anh chẳng buén ăn,Bàn bon, tố nữ anh quăng cùng đường
Có lẽ không một địa phương nào trong ca dao lại có nhiều tên trái cây nhứ ở miễn Nam, mỗi địa phương déu có một thứ trái cây đặc sản của qué
mình Thậm chí có vùng với rất nhiều sản vật, người dân đã mượn câu ca,
tiếng hát để giới thiệu với mọi người về quê hương mình, vé đặc sản của quê
hương , qua đó thể hiện niém tự hào về sự giàu đẹp của quê hương
Trang 23
Trang 27Luận vẫn tốt nghiệp
Bến Tre nước ngọt idm dita,
Ruộng vườn màu mỡ, biển thừa cá tôm.
Sau riêng, măng cụt Cái Mon,
Nghâu sò cần lợi , thuốc ngon Mỏ Cay
Xoài chua, cam ngọt Ba Lai
Bdp thì chợ giữa, giẳng khoai Mỹ Hoà
Mdm ban ven đất pha sa
Bà Hiền, Tân Thủy hằng hà cá tôm Quýt đường, vú sữa ngẩn ngang
Dita xanh sóc sải, tơ vàng Ba Tri
Xếo Dâu cau tất ai bi
Lúa vàng Thanh Phú, khoai mì Thanh nhang
Muối khô ở Gảnh mặn nẵng
Giỗng Trôm, Phong Nằm đưa đẳng gidng gidng.
Bên cạnh những từ ngữ chỉ trái cây, trong ngôn ngữ ca dao Nam Bộ còn
xuất hiện một lớp từ ngữ chỉ những loại cây chỉ thích hợp với diéu kiện địa lý
vùng đất Nam Bộ (tức chỉ sinh sống ở nơi đất ẩm, hoặc mọc ven bờ sông, kénhrạch ) như ; tram, đước, tram bdu, cây bdn, mà u, mắm, 6 dước, ô rô,mái
gdm, song chàng, mắt mèo, bò mốc, cd cù để, cd bắc, cd hôi
Ban ghe đóm đậu sáng ngời,
Ld duyên tai bậu, trách trời sao nên.
Mù u bông trắng, lá qudn nhụy vàng, Thấy em chân trắng, đi cấy lội sình anh thương.
Mái gdm mọc kế 6 rô,
Ban bè dâu chẳng ai xô cũng gắn,
Song chàng nước mặn, ôi thôi.
Di qua một lỗi mô hôi udt đẫm
Các kèn cột mái nhà tranh,
Lá non ăn bánh thương anh quá chừng.
Biểu kiện địa lý tự nhiên của Nam Bộ không những tạo cho vùng có
một cảnh quan sinh thái đặt biệt khác với các vùng khác mà nó còn góp phần tạo ra những đặc điểm về văn hoá, đời sống, phương thức sinh hoạt lao động
mang đậm mau sắc Nam Bộ Tất cả đều được thể hiện thông qua ngôn ngữ,
chính vì vậy ngôn ngữ của người dân Nam Bộ mang đậm đà màu sắc địa phương Con người khi tiếp cận với thiên nhiên, họ phản ánh và miéu tả thiên
nhiền thông qua một loạt từ ngữ mới lạ Bởi vì thực tế khách quan quá mới mẻ
và có phẩn xa lạ với con người Lúc đó tất yếu người dân phải sắng tạo ra
những từ ngữ mới để đặt tên cho sự vật, hiện tượng mà họ bắt gặp Điều này
Trang 34
Trang 28Luận vẫn tốt nghiện
càng làm cho ngôn ngữ địa phương trở nên phong phú và độc đáo hơn Ca dao
- dân ca là phương tiện, là nơi để con người gởi gắm tâm tư, tình cảm củamình Đọc ca dao - dân ca Nam Bộ là đến với đời sống và tâm hỗn người laođộng, đến với thiên nhiên và xã hội, là sống lại với những chặng đường hìnhthành và phát triển của vùng đất mới này Ca đao -dân ca Nam Bộ đã phần
ánh một cách chân thực những nét đặc thù của vùng đất và con người Nam Bộ
Tài nguyên, sản vật của vùng đất Nam Bộ còn được ẩn chứa trong các
lòng sông Các loại tôm cá thường tụ tập về đây sinh sống Các con sông,
kênh rach, bung, dim, đìa là nơi phù hợp cho các loai tôm cá simh sống vàsanh nở Theo số liệu điểu tra cơ ban cho biết: ở vùng sông ngồi miễn Tây
Nam Bộ có đến 200 lọai tôm cá Ngay từ thời mới khai hoang người dân đã từng tự hào trước sản vật của vùng sông nước :
Đông Tháp Mười cò bay thẳng cánh,
Nước Tháp Mười lấp lánh cả tôm.
Bến Tre nước ngọt lắm dừa,
Ruộng vườn màu md, biển thừa cd tôm
Tôm cá ở vùng đất này nhiều vô kể, khi "nước ding lên, cá lên rừng
mà sanh dé di chuyển " f? Như vậy ta thấy được tiểm năng phong phú của
vùng đất này, một vùng đất "rất dễ bể làm ăn ”, “làm chơi ăn thiệt "vi một
phẩn được thiên nhiên hết sức ưu đãi Sự giàu có về thủy sin cũng được thể
hiện trong ca dao Nam Bộ Chi riêng lớp từ gọi tên các loại tôm cá cũng đã
tạo cho ngôn ngữ Nam Bộ có một màu sắc riêng biệt
Trước sự giàu có về thủy sản, để phân biệt người dân đã gọi tên từng
loại tôm cá một cách cụ thể và tl ml: tôm càng, tôm bạc, tâm đất, tôm đá, tôm
gong, tm kẹt, tôm him, tôm rằn : cá thì có cá lác, cá sặi, cá linh ,cá kéo,cd
vỗ,cá lim kìm, cá budi, cá là tho Một sự phân biệt rất tinh tế và độc đáo
Cách gọi tên như vậy đã làm cho ngôn ngữ vùng đất Nam Bộ càng thêm đậm
đà mau sắc địa phương, tạo cho ngôn ngữ Nam Bộ một nét riéng :
Tâm càng lột vỏ bở đuổi,
Giã gạo trong trắng mà nuôi mẹ già
Con ed sdt rượi con cd rô,
Anh ăn nói xô bé chẳng biết trước sau
Rô, trê, lác, sặt dây dây
Rồng rỗng, hãn hin lộn bây lia thia
Má ơi con vịt chết chìm,
Thé tay con bắt, cả lim kim nó cắn tay.
"Lich sử khẩn hoang miề ¡ Nam , Huỳnh Lửa , NXB TP.HCM, 1974 , trang 222
Trang 25
Trang 29Ludo văn tất nghiện
Cá lò tho ăn no chưa ngắn,
Khô sặc rdn đem bán chợ Dinh.
Miệt mộng với những cánh đồng lia mênh mông, cò bay thẳng cánh
đã đem lại cho con người nguồn lương thực cẩn thiết Một số từ ngữ gọi tên hat lúa, hạt gạo ở vùng đã xuất hiện như: gạo nàng co, gạo nàng hương, gạo
thơm, lúa trời
Cảm on hat gạo nang co,
Ne ndin trả hết lai no tấm lòng.
Ai ơi vê miệt Tháp Mười,
Cá tôm săn bắt, lúa trời sẵn ăn.
Thiên nhiên ở vùng đất Nam Bộ thật muôn màu muôn vẻ; không có
một chỗ đất nào trở nên dư thừa cả Những vàng đất sình lầy, ẩm thấp ở vensông không thể trong lúa, trồng cây trái, mà còn là nơi tụ tập của chim cò.Chính nơi đây lại trở thành nơi du lịch, danh lam thắng cảnh độc đáo của Nam
Bộ Những tên gọi phát sinh từ thực tế này như : Lắng Le, Láng Cò, Trảng
Cả, Ddm Chim, Sân Chim, Vườn Cò cũng in bồng trong ca dao Chỉ ở Nam
Bộ mới có những từ ngữ gọi tên đặc sắc như vậy.
Vùng đất Nam Bộ với sự ưu đãi của thiên nhiễn nên rất giàu có về sản vật: cây trái, tôm cá, món ăn và Nam Bộ có những thắng cảnh dep dé thu
hút khách tham quan Những vườn cây ăn trái xum sué với đủ loại trái cây đặc sản, những “biển lúa sông tôm ", những cánh đồng bạt ngàn xanh thẳm
đã làm cho miễn đất Nam Bộ trù phú, xanh tươi, đẩy sức sống thu hút mọi
người đến sinh cơ lập nghiệp Lớp từ ngữ chỉ cảnh quan sinh thái sẵn vật trong
ngôn ngữ của người Nam Bộ cũng trên cơ sở đó mà phong phú, đa dạng hơn.
Những từ ngữ đó phản ánh thực tế khách quan ở Nam Bộ nên nó mang đậm
màu sắc địa phương Lời ăn tiếng nói của người dân Nam Bộ, những từ ngữ
mà họ sử dụng không thể nào lẫn lộn được với các vùng khác Chính vì vậy,
ngôn ngữ ca dao — dân ca Nam Bộ mang đậm màu sắc địa phương
2.3 Những từ ngữ chỉ cũng cụ lao động, sinh hoạt lao động trong ca
dao - đân ca Nam Bộ:
Đến với vùng miễn Tây Nam Bộ hau như mọi người ai cũng đều có ấn
tượng về cảnh sông nước đan xen ching chit Các hoạt động sẵn xuất, sinh
hoạt hằng ngày của cư dân nơi đây đều gin bó với mọi biến động của dòngnước, của con nước Người Nam Bộ đã cảm nhận sâu sắc đặc điểm thiênnhiên đó và họ đã biết tận dụng, phát huy tối ưu nhất những thế mạnh của
sông nước để phục vụ cho việc đi lại, vận chuyển của con người Họ đã chế
tạo và sử dụng nhiều loại ghe thuyển khác nhau, Ghe thuyển ở Nam Bộ được
người dân coi là phương tiện "để làm chân" trong việc đi lại Ghe thuyển gắn
Trang 26
Trang 30Luận vin tốt nghiệp
bó với mọi sinh hoạt của người din vũng này, Sa nên ta dùng ghe thuyén để đichợ, đi làm đồng, đi thăm viếng, đám cưới Do vậy những từ ngữ chỉ các loại
ghe thuyén rất phong phú Mỗi tên của một oni ghe là một cách dùng riéng
trong những điểu kiện khác nhau Ghe thuyển ở Nam Bộ thật nhiều loại, lắm
kiểu; có thể kể tên các lọai ghe như: ghe bản lẳng, ghe bẫu nóc, ghe lườn, phe
rổi, ghe chai, ghe lê, ghe cá, ghe củi, xuống ba ld, tam bản, tắc rdng, vd
Lãi người din đã dựa vào đặc điểm của từng loại ghe, dựa vào tác dung và
điểu kiện sông nước để gọi tên các loại ghe Ví dụ: “ghe rể" là loại ghe khá
lớn, thường dùng để chở cá và là phương tiện đùng để đi chuyển trên những
con sông rộng; “ghe bẩu"” là loại ghe lớn nhất mũi lái nhọn, bụng phình ding
để vận thun lúa gạo, nông sản
Anh đi giữ rổi chín chào,
Bởi anh thua bạc chín chèo còn ba,
Má ai, con má chính chuyên,
Ghe bầu lại cưới một thiên hẳn hỏi.
Đừng ham hết bạc ghe chài,
Cột buẩm cao, bao lúa nặng, tấm đòn dài khó di
Ghe lên ghe xuống gập ghénh,Ghe củi, ghe nghéu chẳng thấy ghe em
Ngôn ngữ không chỉ được người đân dùng để chỉ những công cụ laođộng mà nó còn là phương tiện để người nói lên tâm trạng, tình cảm của mình.Cách miêu tả những chiếc ghe, chiếc xuổng giữa sông nước mênh mông đã
nói lên một cách thành công tình cảm của con người đối với nhau:
Linh định một chiếc xuẵng ba lá,Cảm thưưnng nàng mẹ góa con cỗi,
Thâm thiết thương chiếc ghe lườn di ngược, Không biết chừng nào mới được nước xuôi.
Vốn từ ngữ chỉ công cụ lao động không chỉ dừng lại ở những từ ngữ chỉ
ghe thuyén ma còn bao gém những từ ngữ chỉ các công cụ lao động khác phục
vụ cho công việc đánh bất thủy sản như: cdi nom, nóp, đó, đăng, sa,
lờ Những công cụ chỉ có ở vùng đất Nam Bộ Mỗi một công cụ lao động
thích hợp với mỗi một cách thức lao động, tùy vào mục đích và hình thức đánh
bắt mà người đân sử dụng một công cụ thích hợp: 4
Mùa nước nổi lắm tâm nhiều cả,
Xách cải nom di đá di đam.
Héi nào mặt mũi tem lem,
Bây giờ xách núp, chèo ghe đi tìm,
Trang 27
Trang 31Luận văn tốt nghiệp
Trai chưa vợ như đăng không đó,
Gái không chẳng như đá nọ không đăng.
Thấn đàn cả nhảy khỏi sa,
Ưng không tại hậu, cha me già biết đâu.
Đó là những công cu lao động mà người din sử dụng ở vùng sông nước.
Đối với người dân làm mộng rẫy, thì ngôn ngữ trong ca đao cũng đã có một
loạt từ ngữ chỉ các công cụ lao động như: phdng (dùng để phát cỏ), củ nẻo
(dùng để kéo cỏ), cào
Nghe hò tao bắt nổi xung,
Tao cho mội phẳng chết chung cho rồi.
Điều kiện tự nhiên, cảnh quan - sinh thái mới đã buộc con người suy
nghĩ và sáng tạo ra những phương thức lao động mới Mặt khác, với những
công cụ lao động mới mẻ, xa lạ như đã kể trên thì tất nhiên phải có những từ
ngữ mới chỉ những cách thức sinh hoạt lao động tương ứng với những công cụ lao động đó Hình thức sinh hoạt lao động của người dân Nam Bộ có những
nét riêng so với các vùng khác Đối với vùng sông nước bao la, kênh rạch chằng chịt thì đã có một số hình thức sinh hoạt lao động mới và một loạt
những từ ngữ chỉ những phương thức lao động đó ra đời như: cẩm lái, bơi
xuống, cẩm sào, kết bè, giăng lưới, giăng câu, bán vam (bắn hàng ăn trên các cửa sông), ddp đập, be bờ, dam, đóng đáy, bủa lưới
Lưới thưa bia bắt cd chuẩn,
Buông lời hồi bạn : bơi xung đi đâu?
Ghe anh vừa tới cẩm sào,
Nghe em có chốn anh muốn lận nhào xuống sông.
Chịu oan mang tiếng bán vàm,
Ban vam tôi ban, điểm đàng tôi không.
Tiếc công anh đắp đập, be bờ,
Để ai quay đó mang lờ đến đơm
Trong nông nghiệp cũng xuất hiện hàng loạt những từ ngữ chỉ sinh hoạtlao động của người nông dân như: làm rdy, lập vườn, khai mương, cấy muốn,
chiết, fa, vun Những từ ngữ này mang đậm màu sắc địa phương Nam Bộ:
Giá đẩy, gid đưa tàu dita dua đẩy,
Chẳng di làm rẫy, vợ qudy cơm theo.
Lập vườn thì phải khai muting,
Làm trai hai vợ phải thương cho đẳng
Trang 28
Trang 32Luận văn tốt nghiệp
Dang tay chiết nhánh mai vàng,
Chút nhìn thấy bạn hai hàng lệ rơi.
Vùng đất Nam Bộ xa lạ, đẩy khắc nghiệt đã thu hút những con người có
đầu óc phiêu lưu mạo hiểm đến sinh sống và cuối cùng họ đã chinh phục được thiên nhiên Họ đã khai thác một cách triệt để những tiểm năng của vùng đất
nay, sự sáng tao trong lao động đã giúp ho làm cho vùng đất thêm phong phú, phì nhiều Vốn từ ngữ mới xuất hiện để chỉ những công cụ lao động, sinh hoạt
lao động đã góp phẩn làm phong phú thêm tiếng nói dân tộc đồng thời làm cho tiếng địa phương của Nam Bộ cũng phong phú hơn.
2.4 Những từ ngữ chỉ sinh hoạt, giao tiếp hằng ngày:
Không phải do môi trường sinh thái - cảnh quan tự nhiên mới tạo cho
ngôn ngữ Nam Bộ có sắc thái riêng mà ngay trong cách sinh hoại, giao tiếp
hằng ngày người din Nam Bộ cũng có một vốn từ ngữ phong phú Vốn từ ngữ
nay được người dân Nam Bộ sử dụng hằng ngày và nó trở nên quen thuộc,
không còn xa lạ đổi với mọi người Tiếp xúc, giao tiếp với người dân Nam Bộ
qua cách nói chuyện dùng từ ngữ của họ chúng ta dé dang nhận ra những từ
ngữ địa phương mà họ đã dùng Có thể coi những từ ngữ đó là những từ ngữ
đặc trưng của người Nam Bộ Đây là những từ ngữ bình thường tổn tại trong lời ăn tiếng nói của mọi người (kể cả người miền Bắc và mién Trung) nhưng
với người din Nam Bộ thì họ có một cách nói riêng, một từ ngữ khác để diễn đạt Chính vì vậy, ngôn ngữ Nam Bộ lại càng đậm màu sắc địa phương Có thể
kể ra một số từ ngữ như :Aga (vẽ), dang (được), biểu (bảo), mẫn (làm), với hut(không bất được), vớt đăng, hoài (mãi), cuốn mễn, gidng màng, xài (sử dung),mẫn ơn (làm ơn)
Anh về ngoài Huế lâu vô,Hoa bức tranh dé để lại cho em
Bởi thương nên ốm nên gây,
An cơm chẳng đặng gdn đây ba trăng
Mẫn chỉ cực khổ bd mình
Lại đây ga nghĩa chung tình với em.
Má oi đừng đánh con hoài,
Dé can câu cd bằm xoài má ăn.
Anh ơi, ơn cha chưa trả, nghĩa mẹ chưa đến,
Sao anh dám biểu em cuẩn mẫn theo anh?
Để diễn tả thái độ và trạng thái tâm lý người Nam Bộ cũng có một loạt
từ ngữ rất Nam Bộ như: mắc cỡ (e then), giả lo, rdy (la mắng), hổng cho
Trang 29
Trang 33Luận văn tốt nghiệp
(không cho), hổng đe`(không ngờ), cưng (thương), ung bung (vừa ý), gat (lừa
dối), lâm (nhằm), để ý, phải lòng, chuộng (thích)
Đá than, đó thd không mắc cữ lại còn phân tran,
Đó chê đây duyên ng không gần,
Đó kiếm nơi chấn khác sao còn lần tôi đây?
Bdp non xao xác trổ cờ,
Người thương đẳng đó giả lo không chào.
Ban ghe con hac đậu cánh xòe,
Tưởng anh vô gd nghĩa hổng dé gạt em
Cách dùng từ, cách nói của người Nam Bộ thật hóm hỉnh, đễ thương và
có vẻ gì ngỗ ngộn, giàu sắc thái biểu cảm Chính điểu đó tạo nên nét riêngđặc sắc cho phương ngữ Nam Bộ Ngay cả việc miêu tả những hành động,
người Nam Bộ cũng sử dụng một loạt từ ngữ có ¥ nghĩa tương đương chứ không dùng từ truyền thống: bung (cẩm, bê), rrợi (trượt), leo (trèo), giut (giật),
bận ( mặc), thà tay , bửng ( nhổ ), bổng (bế) , bứt (bể) , máng (treo) , rink,
nhích (xích lại}
Đường di chân trựt bử sinh,
Trợt ba bốn cái chẳng thấy mình đỡ tui
Ai về nhắn với ông câu,
Cả ăn thì giựt để lâu hết mỗi
Oi em nho nhỏ bứt cỏ giữ trâu,
Bước qua năm nữa anh bung trau cưới em
Cằng bước tới, gỗi chan, chân bại
Cha con hoa hình mắng lại nhàng loan.
Ao bà ba cải ngắn, cái đài
Sao anh không bận, bận chỉ hoài chiếc áo bành tâ
Con người ở vùng đất Nam Bộ đã sắng tạo, tìm tồi ra biết bao từ ngữ
mới la Dường như họ không bao giờ chấp nhận những cái gì đã có mà họ thíchtạo ra cho mình những gì mới mẻ, phù hợp với mình hơn Chính vì vậy, không
phải chỉ sáng tạo ra những từ ngữ mới để gọi những tên sự vật, hiện tượng mới
mà họ còn tìm ra những từ ngữ mới để thay thế cho những từ vốn đã có sẵn
trong ngôn ngữ của dân tộc tạo cho ngôn ngữ của họ thêm phong phú, đậm đà
mau sắc địa phương Những từ ngữ thuộc loại này xuất hiên trong ca dao - dân
ca Nam Bộ rất nhiều, trong khuôn khổ một luận văn chúng tôi không thể nào
Trang 30