1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Tâm lý học: Mối quan hệ giữa stress và hành vi sử dụng rượu bia của sinh viên trên địa bàn TP. HCM

119 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ giữa stress và hành vi sử dụng rượu bia của sinh viên trên địa bàn TP. HCM
Tác giả Nguyễn Minh Trớ
Người hướng dẫn NCS. ThS. Mai Mỹ Hạnh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 79,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự không dừng lại trong việc xem xét stress đưới góc độ sinh hoc, sự tác động từ môi trường hay xem stress như quá trình tâm lý — quá trình tương tac giữa con người với môi trường của cá

Trang 1

BỘ GIÁO ĐỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUONG DH SƯ PHAM THÀNH PHO HO CHÍ MINH

ens Ứ a~.@ø———

Nguyễn Minh Trí

MOI QUAN HỆ GIỮA STRESS VÀ

HÀNH VI SỬ DỤNG RƯỢU BIA CỦA

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP

TP Hồ Chi Minh — 2023

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG DH SƯ PHAM THÀNH PHO HO CHÍ MINH

——veets ‘PF 053

Nguyễn Minh Trí

KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DAN KHOA HỌC:

NCS THS MAI MỸ HẠNH

TP Hồ Chí Minh - 2023

Trang 3

Ý KIEN CUA NGƯỜI HƯỚNG DAN KHOA HOC

Dong ý cho sinh viên Nguyễn Minh Trí bao vệ khóa luận tốt nghiệp “Mối quan

hệ giữa stress và hành vi sử dụng rượu bia của sinh viên trên địa bàn TP HCM"

trước hội đồng.

TP HCM, ngày thắng năm 2023

Người hướng dẫn khoa học

NCS ThS Mai Mỹ Hanh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tác gia xin cam đoan bài nghiên cứu khoa này là do tôi thực hiện Các số liệu,

kết quả nêu trong bài nghiên cứu khoa học này là trung thực và chưa từng được aicông bồ trong bat kỳ công trình nào khác

TP.HCM, ngay thang nam 2023

Tác gia khóa luận

Nguyễn Minh Trí

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Dé hoàn thành khóa luận này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến NCS ThS Mai

Mỹ Hạnh đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện khóa luận Cô

đã truyền cho tôi một tinh thần nghiên cứu khoa học hiện đại và chỉ day tôi nhiều

phương pháp cách tiếp cận hay trong nghiên cứu.

Tác giả cũng chân thành cam ơn các ban SV tại ba trường DH Sư phạm

TP.HCM, DH KHXH & NV TP.HCM và DH Sai Gòn đã nhiệt tình thực hiện khảo

sat.

Cuối cùng, tác giả gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động

viên con đường phát trién tri thức của tác giả.

Trang 6

DANH MỤC TU VIET TAT

Thanh phố Hỗ Chi Minh

Trung học phé thông THPT

Đại học DH

Sinh viên SV

Khoa học xã hội và nhân văn KHXH & NV

Hanh vi su dụng rượu bia HVSDRB

Diém trung binh ĐTB

Độ lệch chuẩn DLC

Trang 7

DANH MỤC BANG BIEU, BIEU DO

DANH MUC BIEU DO

Biéu đồ 2.1 Mức độ stress của SV trên địa bàn TP.HCM

Biểu đỏ 2.2 Mức độ HVSDRB của SV

Biéu đồ 2.3 Mối quan hệ giữa stress và HVSDRB của SV trên địa bàn TP.HCM

DANH MỤC BANG BIEU

Bang 1.1 Biểu hiện của HVSDRB

Bảng 2.1 Cách tính điểm các nội dung hỏi

Bang 2.2 Thang điểm đánh giá thực trạng biểu hiện HVSDRB

Bảng 2.3 Cách tính điểm thang đo PSS

Bảng 2.4 Thang diém đánh giá mức độ stress

Bang 2.5, Cách tính điểm của thang đo AUDIT

Bang 2.6 Thang điểm đánh giá mức độ HVSDRB của thang do AUDIT

Bang 2.7 Khách thé nghiên cứu chính

Bang 2.8 Mức độ stress của SV trên địa bàn TP.HCM

Bảng 2.9 Kết quả so sánh tỷ lệ stress của SV trên phương điện các trường ĐH

Bang 2.10 Biểu hiện vẻ nhận thức của SV về HVSDRB

Bảng 2.11 Biểu hiện về xúc cam — tình cảm của SV về HVSDRB

Bảng 2.12 Biêu hiện về ý chí của SV về HVSDRB

Bang 2.13 Biéu hiện về hành vi — thói quen của SV vẻ HVSDRB

Bảng 2.14 Biêu hiện về sức khoe của SV về HVSDRB

Bang 2.15 Biểu hiện về hành vi lệch chuẩn của SV về HVSDRB

Bang 2.16 Ty lệ mức độ HVSDRB cua SV dựa vào bảng hỏi

Bảng 2.17 Tỷ lệ SV đã từng tham gia điều trị các vẫn đẻ liên quan đến rượu bia

Bảng 2.18 Kết quả so sánh tỷ lệ HVSDRB của SV trên phương điện giới tính

Bảng 2.19 Kết quả so sánh tỷ lệ HVSDRB của SV trên phương diện tôn giáo

Trang 8

MỤC LỤC

MÔ ĐẦU bo gezsaitiiiiiii00161460366056160066338G01/85340033183914639383116336833405316016.1250QÓ 4

CHUONG 1: LÝ LUẬN VE MOI QUAN HỆ GIỮA STRESS VÀ HVSDRB

CUA SY Guaggnandiitbstiiigi16013161616161606366160063003388388036038308861G0833034838805883036i430403338803E 9 1.1 Lich sử nghiên cứu về mối quan hệ giữa stress và HVSDRB 9

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa stress và HVSDRB trên thé giới 91.1.1.1 Lịch sử nghiên cứu Wx Ỗ:Ÿ4ắắồềẳỶẲẮỶẲ 9

1.1.1.2, Lich sử nghiên cứu về HVSDRB iiscsssccssscsssscssscssscssssssnesssnsssasssaassossnassscssnes 15

1.1.1.3 Lịch sử nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa stress và HVSDRB 17

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa stress và HVSDRB trong nước 9 1.1.2.1 Lịch sử nghiên cứu về stress 2- 2222222222222zcSveccxercsercsrree 19

1.1.2.2 Lịch sử nghiên cứu về HVSDRB - 22222 252 92 1122127211721 1c yee 221.1.2.3 Lịch sử nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa stress và HVSDRB 24

1.2 Lý luận nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa stress và hành vi sir dụng rượu bia

4651201010011 015:901110101116:171511152103511121512208/9082/016211121052111111352141221350112051 51002 0862101210227052101210121115 26

1.2.1 Lý luận nghiên cứu vẻ StrẻSS 25-22 22v 2222211 2112212212222 e 26 1.2.1.1 Khái niệm về StreSS - 2: 52 S2 S3 E2 211221111112 112 112 11g 1 26 1.2.1.2 Biểu hiện của StT€$S - 52 Sc St S3 S32 EE SE 3E 3S TE E1 S1 211 111 2e re 30

II;2;I,3:IPRRRIÍOBi:0ÙAISU§§togiastioctiiiiiiiiiiistiistiiit141012510051112111311153116131831383118561583138515886 36

1.2.1.4 Mức độ của stFẴ§S + - - c1 21 31211111 11111 nàn ng ca 37

1.2.2 Lý luận nghiên cứu về HVSDRB -52-22222222 2222222 cv srrcrvee 3§

1.2.2.1 Khái niệm HVSDRB 2 2-52 S2 2222121113211 11.111.11.11 38

1.2.2.2 Biêu hiện của HVSDRB - 22222 S2222222222521111171171221222 112 ve, 40

1.2.2.3 Các yếu tô ảnh hưởng đến HVSDREB 2 220 0 0s 43

1.2.2.4 Tác hại của việc sử dụng rượu bia 5c c~<c<c<eeeeee 45

I

Trang 9

1.2.3 Đặc điềm tâm sinh lý và van dé stress, HVSDRB ở SV 46

1.2.3.1 Khái niệm SV 2222-2222 2221222112222211271112211112222122111 112221 E1 cty 46

1.2.3.2 Đặc điểm sự phát triển thé chất của SV 200 c0 2 c0 s0 sec 47

1.2.3.3 Đặc điểm sự phát triển tâm lý của SV.u ccccecccssccssscsssesssesssccssecssesssecssecssees 47 1.2.4 Lý luận nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa stress và HVSDRB 31

1.2.3.1 Khái niệm mỗi quan hệ 52 SE S2 1122112111 11111 Hy 5I

1.2.3.2 Khái niệm mỗi quan hệ giữa stress và HVSDRB - 2-22©52-52 52

1.2.3.3 Lý luận nghiên cứu về mối quan hệ giữa stress và HVSDRB 52

2.1.1 Mục đích nghiên cứu môi quan hệ giữa stress và HVSDRB của SV trên địa bàn

2.1.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 2-2222 S22zc£2Zzzeczzxeccrred 55

2.1.2.2 Phương pháp thông kê toán học 2-7222 22222 3223222222 cEEsrrrsrrree 6]

2.1.3 Khách thê nghiên cứu mỗi quan hệ giữa stress và HVSDRB của SV trên địa

Trang 10

2.2.2 Thực trạng vẻ HVSDRB của SV trên địa bàn TP.HCM s:-5¿ 65

2.2.2.1 Thực trang biêu hiện của HVSDRB của SV 25c SccccSsecscrvec 6S

2.2.2.2 Mức độ HVSDRB của SV cuc“ nu ng x4 80

2.2.2.3 So sánh ty lệ HVSDRB của SV trên địa bàn TP.HCM trên các phương diện.

488863355138ã1583159468885155ã1305888358835958158388858688358885835348:5853584358835848534853815413588858385548788158ã1564888s6 $1

2.2.3 Mỗi quan hệ giữa stress và HVSDRB của SV trên địa bàn TP.HCM $3

Tidu Ket Chuang c ((“.ŒdA , 85

KẾT LUẬN VÀ KIỀN NGHỊ ssssiessssssssasssscnssssssscsscssssssasasosssscssscsssscasscosssosassesssessass 87

DK Gt Ua na 87

pm na ỀẼEĂ 88

2A (ĐÔI MST ¿itxsntta00921116222243039132835418933184158255183113211123812384393815987118Z4938114921382314330823382 88 2.2 Hạn chế của đề tài va đề xuất cho các nghiên cứu sau - 2-55-5552 88

TAI LIEU THAM KHAO

PHY LUC

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chính sách của Nha nước trong phòng chồng tác hai của rượu bia nêu rõ: “Uu

tiên hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông thực hiện các biện pháp phòng.chống tác hại của rượu bia đối với trẻ em, học sinh, SV, thanh niên, phụ nữ mangthai" Đồng thời cần phải “Thong tin, giáo duc, truyền thông nhằm nâng cao nhận

thức, định hướng hành vi, thay đổi thói quen có hai để phòng, chồng tác hại của rượu bia đối với sức khỏe con người, gia đình, cộng đồng, an toàn giao thông, trật tự, an toàn xã hội kinh tế và các vấn dé xã hội khác” (Luật phòng, chong tác hại của rượu bia, 2019) Trong Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân cũng xác định rõ: “Sire khóc là vốn

quý nhất của con người, là một trong những điều cơ bản để con người sống hạnhphúc, là mục tiêu và là nhân tô quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xãhội và bảo vệ Tô quốc” (Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, 1989) Trong đó, sức khỏe

tâm thần là một khía cạnh quan trọng trong sức khỏe nói chung Từ đó, có thể thấy việc sử dụng rượu bia và các vấn đề liên quan đến sức khỏe con người đang được Pang, Nha nước quan tâm từ rất sớm.

Stress (căng thăng) là phản ứng của cơ thé đối với các tình huồng có hại — cho

dù đó là thực tế hay cảm nhận Khi co thé cảm thấy bị đe doa, một phản ứng hóa học

xảy ra trong cơ thé cho phép hành động dé ngăn ngừa thương tích Sự kiện gây stress

khác nhau đối với những người khác nhau Với mức độ nhẹ stress có thê giúp hoàn

thành nhiệm vụ và ngăn bị thương Nhưng stress mãn tính, lâu dai sẽ gây ra hậu quả

xau.

HVSDRB là biểu hiện bên ngoài trong quá trình sử dụng rượu bia, gắn liền với

động cơ vả mục đích Day là một trong những hành vi sức khóc không lành mạnh, là

một trong những vấn đề y tế cộng đồng nôi cộm trong những năm qua Việc sử dụng

rượu bia đã gây ra những hậu quả hết sức nặng nẻ về sức khỏe như tôn thương trựctiếp vẻ thé chất (bệnh tim mạch, ung thư gan ) hoặc bệnh lý thần kinh (rối loạn lo

âu, rối loạn tram cảm hoặc rối loạn việc sử dụng chất ).

Trang 12

Theo thông kê của Tô chức Y tế Thế giới (WHO), có khoảng 25% dân số rơi vào tình trạng stress và có sự phỏ biến cao trong nhóm các bạn SV Các bệnh viện tại

TP Hồ Chi Minh cũng ghi nhận sự gia tăng đáng ké của số người mắc các hội chứng liên quan đến trầm cảm, chủ yếu là học sinh, SV với 2 nguyên nhân lớn nhất là áp lực học tập và sự kỳ vọng của gia đình Bên cạnh đó, theo thống kê, năm 2010 có 70% nam và 6% nữ giới trên 15 tuôi có uống rượu bia thì đến năm 2015 tỷ lệ nay đã tăng

lên tương ứng là §0,3% ở nam giới và 11,6% ở nữ giới, trong đó có tới 44,2% nam

giới uống rượu bia ở mức nguy hai (tức là uống từ 6 cốc bia/rượu trở lên trong 1 lầnuống) Nếu quy đổi rượu bia ra lít cồn nguyên chất thì mức tiêu thụ bình quân đầungười Việt Nam (trên 15 tuổi) hằng năm theo số liệu ước tính năm 2016 của Tô chức

Y tế thé giới là 8,3 lít, xếp ở vị trí 64/194 nước, trong khi mức tiêu thụ trên toàn cầu

tăng không đáng kẻ Nếu tính riêng nam giới trên 15 tuổi có sử đụng rượu bia thì trung bình một nam giới Việt Nam tiêu thụ 27.4 lít cồn nguyên chất vào năm 2010,

xếp thứ hai trong các nước Đông Nam Á và thứ 29 trên thế giới Việt Nam còn lànước tiêu thụ bia cao nhất Đông Nam Á và thứ 3 Châu Á sau Nhật Bản, Trung Quốc

Sinh viên là đối tượng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng tương lai cho

đất nước và tương lai của bản thân, đang trong giai đoạn học tập quan trọng trước

ngưỡng cửa gia nhập xã hội Song, họ là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tôn

thương khi sử dụng rượu bia so với các nhóm đối tượng khác và có những nguy cơ

cao trong tương lai Đặc biệt, ở TP.HCM nơi tập trung nhiều SV từ các tỉnh lân cậnsông xa gia đình và tới một môi trường mới, nơi có thể mang lại nhiều bạn bè mới

lỗi sống mới nhưng cũng có thể làm tăng hành vi nguy cơ mới đặc biệt uống rượu quá mức Vì vậy, chúng ta cần có các biện pháp can thiệp sớm đề ngăn ngừa và giảm thiểu nguy cơ sử dụng rượu bia của SV.

Xuất phát từ những van đề nêu trên, dé tài “Mới quan hệ giữa stress và HVSDRB

của SV trên địa bàn TP.HCM " được xác lập.

2 Mục đích nghiên cứu

Xác định mỗi quan hệ giữa stress và HVSDRB của SV trên địa bàn TP.HCM

Trang 13

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Khách thê nghiên cứu chính: SV tại trường DH Sư phạm TP.HCM, DH KHXH

& NV TP.HCM và ĐH Sài Gòn.

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Mỗi quan hệ giữa stress và HVSDRB của SV trên địa bàn TP.HCM.

4 Gia thuyết khoa học

Có tương quan thuận giữa stress và HVSDRB của SV trên địa bàn TP.HCM.

SV càng gặp nhiều stress thì càng có HVSDRB.

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa các van đề nghiên cứu liên quan đến đề tài như: stress hành vi,

HVSDRB, HVSDRB của SV, mối quan hệ giữa stress và HVSDRB

Tìm hiểu thực trang stress của SV, thực trạng HVSDRB cua SV, thực trang mối

quan hệ giữa stress và HVSDRB của SV

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Giới hạn về khách thé nghiên cứu: đề tài chỉ nghiên cứu 489 SV đang học tập

tại các trường ĐH trên địa bàn TP.HCM.

Giới hạn về nội dung nghiên cứu: đề tai nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa stress

và HVSDRB của SV trong cộng đồng mà không nghiên cứu các trường hợp lâm sàng.

Giới hạn về phương pháp nghiên cứu: đề tải chỉ xác định mức độ stress

HVSDRB trên phương diện sàng lọc ban đầu, không mang tính chân đoán stress, HVSDRB ở SV.

Giới hạn về dia ban nghiên cứu: nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa stress va

HVSDRB của SV chi khảo sat tại tường DH Sư phạm TP.HCM; DH KHXH & NV

TP.HCM và ĐH Sài Gòn.

Trang 14

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận

Dé nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa stress và HVSDRB của SV trên địa bàn

TP.HCM chúng tôi tiếp cận một số nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của tâm lý

học sau đây:

7.1.1 Nguyên tắc thống nhất giữa tâm lý - ý thức và hoạt động

Tâm lý con người được biểu hiện trong hoạt động và là thành phan tat yếu của hoạt động, đóng vai trỏ định hướng và điều khiến hoạt động Song, thông qua hoạt

động, tâm lý - ý thức con người được nay sinh, hình thành và phát triển Do vậy, khi

nghiên cứu can xem xét sự thống nhất giữa stress với HVSDRB của SV trên địa bàn

TP.HCM.

7.1.2 Nguyên tắc tiếp cận thực tiễn

Thực tiễn là một vòng tròn khép kín, khi nghiên cứu vẻ hiện tượng tâm lý nào

đó của con người thì các nhà nghiên cứu đều xuất phát từ thực tiễn Hiện tượng tâm

lý phải có tính cấp thiết, bức bách được đong đảo dư luận quan tâm, hay là một vấn

đề chung của một nhóm xã hội, một dân tộc, quốc gia có ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội Bên cạnh đó, cần nghiên cứu dé xem các hiện tượng tâm lý ảnh hưởng

đến hoạt động bên ngoài như thế nào Và khi đã nghiên cứu xong trên lý luận thì

nghiên cứu ấy sẽ phải đi kiểm nghiệm với thực tiễn, thực tiễn sẽ kiểm nghiệm ngược lại cái nghiên cứu khoa học ấy Chính vì vậy khi nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa stress và HVSDRB của SV trên địa bàn TP.HCM mà loại bỏ yếu tổ thực tiễn thì

nghiên cứu này sẽ không có tính ứng dụng, hoản toàn không có cơ sở đúng đắn nào

dé tiến hành và không có thước đo tiêu chuẩn cho mỗi giai đoạn.

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Mục đích: Khái quát hóa, hệ thông một số vấn đề lý luận cơ bản, trên cơ sở xây dựng bảng hỏi.

Yêu câu: Nhóm nghiên cứu tìm hiểu, phan tích, tong hợp, khái quát hóa lý thuyết

Trang 15

vả các công trình nghiên cứu được đăng trên tạp chí khoa học trong và ngoài nước,

các nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án, giáo trình Tâm lý học, sách chuyên khảo

tại thư viện về vẫn đề liên quan đến stress, HVSDRB

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn s* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích: Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài Chúng tôi xây dựng

bảng hỏi dé xác định mức độ stress, xác định thực trạng biểu hiện của HVSDRB va

xác định mức độ HVSDRB của SV trên địa ban TP.HCM.

Yêu cau: Dựa trên cơ sở lý luận của dé tài và các phương pháp luận đề xây dựngbang hỏi có tính khoa học, tính hệ thống va độ tin cậy phù hợp với khảo sát thực trạngHVSDRB của SY Bên cạnh đó, tim kiếm công cụ đã được chuân hóa hoặc sử dụng

rộng rãi tại Việt Nam Sau đó, tham khảo ý kiến của chuyên gia về sự phù hợp của

thang đo đôi với van đề và khách thé đang nghiên cứu Cuối cùng, khảo sát trên khách

thé SV đang theo học các trường DH trên địa bàn TP.HCM.

7.2.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Mue dich: Sit dụng chương trình phần mềm SPSS đề xử lý và phân tích các số

liệu thu được trong quá trình nghiên cứu thực tiễn Lập các bảng thống kê trên các dit

liệu nghiên cứu dé thuận lợi cho việc phân tích và là cơ sở dé áp dụng các phương

pháp tính vi hơn để đi đến các kết luận phục vụ cho mục đích nghiên cứu.

Yêu câu: Sử dụng phần mềm SPSS dé xứ lý thông tin thống kê như tan suất, mô

tả thong kẻ, tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn Đồng thời, sử dụng tương quanpcarson, one way anova để so sánh, xác định mỗi tương quan giữa stress và

HVSDRB.

Trang 16

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VE MOI QUAN HỆ GIỮA STRESS

VÀ HVSDRB CUA SV

1.1 Lich sử nghiên cứu về mối quan hệ giữa stress va HVSDRB

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về mối quan hệ giữa stress và HVSDRB trên thé

giới

1.1.1.1 Lịch sử nghiên cứu về stress

Từ các thé kỷ trước công nguyên, tại các quốc gia cô đại phương Đông, dù chưa

có tên gọi chính thức là stress nhưng các van đề xoay quanh stress đã được nhac đên.

Người Trung Quốc xưa mặc dù chưa hiểu bản chất của stress và cơ chế của nó,nhưng bằng thực tiễn cuộc sông sinh hoạt đã thay được tác hai của stress déi với sức

khỏe con người và đã dé xuất cách chống stress có hại Các đanh y Trung Hoa, thời

Xuân thu Chiến quốc (403 — 221 TCN), trong sách “Hoang dé Nội kinh tố van” đãtông kết các dữ liệu khoa học từ đời vua huyền thoại Hoàng Đề (2697 - 2597 TCN),

nêu rõ bệnh tật có ba nguyên nhân, đó là: Nguyên nhân bên ngoài (khí hậu, thời tiết, môi trường gọi là "lục khí ngũ vận”) nguyên nhân bên trong (rồi loạn bảy loại cảm

xúc, còn gọi là “thất tình”: hy, nộ, ai, lạc, ái, 6, duc (vui, giận, sau bi, khoái lạc, yêu,ghét, đam mê) và do các bệnh tật khác dẫn đến các rối loạn chung gọi là “luc dâm”:

phong — hàn, thử — tháp, táo hỏa), nguyên nhân không hoàn toàn bên trong cũng

không hoàn toàn bên ngoài, mà do tai nạn gây ra như: rắn rết cắn, chân thương, ăn

nhằm phải chất độc Như vậy, rỗi loạn cảm xúc đã được người xưa cho là một trong

ba nguyên nhân cơ bản gây nên bệnh tật ở con người (Triệu Thị Biên, 2012).

Các nhà y học cô truyền Tây Tạng từ xưa đã biết đến trang thái stress, rồi loạn

về tỉnh than của con người và lý giải: trong cơ thé con người tồn tại ba nhân tố lớn

đó là “long” (khí động học), “xích ba” (nhiệt động học) va “bồi căn" (thủy động học).

Các nhà y học này nói rằng, trong điều kiện bình thường, ba nhân tố này sẽ nương

tựa, chế ước nhau, duy trì vả điều phối cân bằng cho nhau, tuy nhiên, một trong ba nhân tô này néu vượt quá giới han sẽ gây bệnh Chang hạn, nếu dòng chảy của “khi”

bị xáo trộn, các cơ bắp sẽ căng lên, khi “nhiệt” quá nhiều, con người ta sẽ dan đến dé

cấu gat, nóng nảy, khi "nước ” mat cân băng tram cảm sẽ gia tăng và gây cảm giác

9

Trang 17

mệt mỏi Ở đây, theo các nha y học cô truyền Tây Tạng, chính những mệt mỏi vẻ mặt tâm lý như vậy là những stress tái diễn trên con người, và điều này gây ảnh hưởng

nghiêm trọng đến cuộc sống mỗi người Vì những stress tái diễn như thé ảnh hưởng

đến chính sự “bình thường” đang diễn ra ở cuộc sống mỗi cá nhân Những stress ay

có mặt và làm “dao lộn” những cái bình thường đấy, và sự đảo lộn ấy gây ra bệnh

cho con người (Nguyễn Thị Hường, 2014).

6 Án Độ, Kapil (700 năm TCN) chi ra ba nguồn gốc của bệnh tật về tinh than

một cách cụ thê trong triết lý Samkhya: Thiên nhiên: Tac động của một tai họa thiên

nhiên nào đó như gidng bão, động đất, núi lửa.; Xã hội: Có thẻ do tác động của các yếu tô về tôn giáo, sắc tộc, kinh té, chính trị hoặc do thay đổi lỗi sống, phong tục, tập quán; Bản thân: Có thé do anh hưởng của tín ngưỡng lòng tin, thái độ, hứng thú,

sự bat mãn, lo hãi những van dé nội tâm như căm giận, hận thù, ghen ty TheoKapil con người trong xã hội đều phải đối mặt với các vấn dé phát sinh từ ba yếu tô

trên, những ai có hiểu biết đúng đắn vẻ tự nhiên, bản thân (cảm xúc, trí tuệ, nhận

thức, hành động) tính chất của sự việc và những gì tạo ra ba nguồn gốc nói trên thì

có thé chịu đựng được khô đau, duy trì trạng thái cân bằng và có đời sống tâm lý vui

vẻ, hạnh phúc (Lê Thị Hương, 2013).

Dù chưa có cái nhìn tông quát, khoa học về các vấn đề liên quan đến sức khỏecon người nói chung, stress nói riêng Song, tiếp thu những quan điểm truyền thôngcủa các nhà nghiên cứu xưa, các nhà nghiên cứu stress từ thế kỷ XIX ở phương Tây

đã có cho mình những phát hiện và quan điểm rõ ràng hơn về stress

Vào thé kỷ XIV, stress dùng đề chi sự khó khăn, túng quan, nghịch cánh hoặc phiên não Vào cuối thé ky XVII, Hooke sử dung các thuật ngữ trong khoa học vật lý

để xem stress là “tai trọng” được định nghĩa là ngoại lực; “tng suất là tỷ lệ giữa nội

lực (do tải trọng tạo ra) với diện tích mà lực tác dụng: và “strain” là biến dạng hoặc

biến dạng của vật thé Khái niệm về stress này tn tại trong y học đến đầu thé kỷ 19.

chúng được coi là cơ sở của bệnh tat (Lazarus, R S & Folkman, S., 1984).

Năm 1859, tác giả Cllaude Benard cho rằng stress là "những thay đổi của môitrường bên ngoài sẽ không ảnh hưởng đến cơ thẻ, nếu cơ thé bù trừ và làm cân bang”

những thay đôi đó (Visel, D., 2014).

10

Trang 18

Năm 1932, Walter Cannon là người lưu ý lần đầu tiên về việc cơ thể con người

phan ứng theo một cách mơ hồ song song với các vật liệu vô tri vô giác Cannon lo

ngại về tác động của cái lạnh, thiểu oxy và các yếu tố môi trường khác Ông kết luận

rằng mặc dù có thé chịu đựng được các tác nhân gây căng thang ban đầu hoặc ở mức

độ thấp, nhưng các tác nhân gây căng thăng vẻ the chat ở cường độ cao hoặc liên tục dẫn đến rồi loạn cân bằng nội môi Khi kéo đài quá trình này có thê dẫn đến phá vỡ các hệ thông sinh học Ông cũng thấy rằng có sự hoạt hoá theo qui trình từ hệ thần

kinh giao cảm đến các tuyến nội tiết, nhằm chuẩn bị cho cơ thé ứng phó (chống tra

hoặc bỏ chạy) với tác nhân nguy hiểm Ông đã gọi đáp ứng này của cơ thé với stress

là đáp ứng kép (chống trả hoặc bỏ chạy) “fight — flight” (Honfoll, S E., 1988)

Năm 1936, Hans Selye, “cha đẻ của stress”, chịu rất nhiều ảnh hưởng từ Cannon.Ong quan sát thấy những bệnh nhân mắc nhiều loại bệnh có nhiều điểm “khong đặchiệu” giống nhau các triệu chứng là một phản ứng phô biến đối với các kích thích

căng thăng mà cơ thé trải qua Những quan sát lâm sàng này cùng với các thí nghiệm

trên chuột trong phòng thí nghiệm đã củng có khăng định răng việc tiếp xúc với stresskéo dài dẫn đến “can bệnh thích nghỉ", viết tắt là GSA Đó là, stress mãn tính, bằng

cách gây ra việc sản xuất quá nhiều hóa chất và kích thích hormone, gây loét đạ dày

tá tràng và huyết áp cao Mặc dù giả thuyết GAS sau đó đã được chứng minh là không

chính xác, nhưng nó đã tạo ra stress trên bản 46 và cũng nhân mạnh thực tế rằng stress

có ảnh hưởng lớn đến hệ thống miễn dịch cũng như tuyến thượng thận (Fink, G

2010).

Ngoài việc đưa ra định nghĩa rõ ràng đầu tiên vé stress, Hans Selye cũng làngười dau tiên nhận ra rằng bản thân cân bằng nội môi không thé dam bảo sự ôn địnhcủa các hệ thong cơ thé khi bị căng thăng Ong đã đặt ra thuật ngữ dj thẻ (từ tiếng HyLạp heteros) là quá trình đạt được trang thái ôn định mới bằng cách xử lý bang các

tác nhân kích thích cơ chế thích ứng sinh lý Hiện tượng di thê có thê được coi là tiên

thân của khái niệm phân bỏ, lần đầu tiên được đưa ra bởi Peter Sterling và Joseph

Eyer vào những năm 1980 Dé là, cân bằng nội môi, đã thống trị tư duy sinh lý học

và y học từ thế ký 19, được cho là mang lại “sự ồn định thông qua sự không đồi"

Mặt khác, phân bô cung cấp “sy ôn định thông qua thay đôi” do sự điều hòa thần kinh

Il

Trang 19

trung ương của các điểm thiết lập giúp điều chỉnh các thông số sinh lý dé đáp ứng

stress/thách thức (Fink, G., 2010).

Nhìn chung, trong các khoa học nghiên cứu về stress hiện nay trên thé giới có

ba hướng nghiên cứu cơ bản (Đồng Thị Yến, 2013):

Hướng nghiên cứu thứ nhất là tiếp cận stress đưới góc độ sinh học Các nghiêncứu theo hướng này chí ra rằng: hoạt động của hệ than kinh, hệ nội tiết, hoóc môn có

ảnh hưởng rat lớn đến cảm xúc cơ thê và liên quan trực tiếp đến stress V.V Suvôrôva

(1975) cho rằng; biéu hiện của các phản ứng cám xúc khi bị stress thé hiện không chỉ

qua các phản ứng hoóc môn mà còn thông qua các phản ứng sinh lý đặc biệt của hệ

than kinh.V.I Rôgiơ Déxovenxcaia và cộng sự (1980) bằng thực nghiệm đã khang

định rằng: khả năng làm việc giảm đi khi stress xuất hiện, sự giảm sút này ở những người có hệ thần kinh yếu xảy ra sớm hơn những người có hệ thần kinh mạnh Khả năng làm việc khi bị stress không chỉ phụ thuộc vao độ mạnh của hệ thần kinh mà còn vào một số các yêu tô khác Những người có hệ than kinh mạnh có thé dé bị stress

hơn đối với tác nhân là đơn điệu và kéo dài Những người có hệ thần kinh yếu ít bị

stress hơn đối với các tác nhân đơn điệu Điều này cho thấy; sự khác biệt về stress ở

cá nhân không chi phụ thuộc vào tình huống, tác nhân tác động, mà còn phụ thuộcvào đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh

Các nhà sinh lý học thường chỉ tập trung mô tả các phản ứng sinh lý trước các

tác động vào chủ thê, mà không nhận thay tam quan trọng của những đặc điểm tâm

lý và hành vi trong các phản ứng sinh học của cơ the Sự xuất hiện của các phản ứngchống trả hoặc bỏ chạy phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của chủ thê đối với kích

thích (có hại hay không có hại) Lý thuyết của W B Cannon và H Selye về phản ứng sinh lý của cơ thể trước một tác nhân gây stress đã bị nhiều mô hình lý thuyết

khác chỉ trích Một số nhà nghiên cứu đã cho rằng; cách thức đối phó của chủ thê đối

với những tình huống nguy hiểm, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các phan ứng sinh lý đối

với tình huống đó Tác giả đã nhân mạnh đến tam quan trọng của nhận thức và sựkiểm soát của chủ thê đối với những phản ứng sinh học xảy ra do các kích thích từ

bên ngoài.

Trang 20

Hướng nghiên cứu thứ hai coi stress như sự tác động từ môi trường Các công

trình nghiên cứu về tôn thương tâm lý của những người bị mat người thân trong chiến

tranh của Lindemann (1944) và nghiên cứu những chiến binh trong chiến tranh của

Grinker và Spiegal (1945) đã cho thay: không chỉ môi trường tàn khốc của chiến tranh gây ra stress, mà ngay cả những sự kiện ít nghiêm trọng hơn cũng được tích luỹ dan lại và gây stress cho chủ thẻ Hướng nghiên cứu trên đã xem stress như một sự kiện của môi trường yêu cầu cá nhân huy động mọi tiềm năng đề đáp ứng stress trú ngụ

trong sự kiện hơn 1a trú ngụ bên trong cá nhân.

Holme và Rahe (1967) nghiên cứu stress trên quan điểm môi trường, và đã chỉ

ra những sự kiện gây stress như: ly hôn, kết hôn, sinh con, mắc nợ, lễ giáng sinh Mỗi

sự kiện trên được xem như là những yếu tổ gây stress và đòi hỏi cơ thê thích ứng

Nhiều nghiên cứu đã sử dụng công cụ SRE (danh sách các sự kiện mới nhất) của

Holme và Rahe dé đánh giá quan hệ giữa stress và sức khỏe Những nghiên cứu này

có thé giải thích stress trong thời điểm hiện tại va chan đoán xu hướng của nó trong

tương lai Rabkin và Struening (1976) nghiên cứu trên các bệnh nhân đột tử do bệnh

tim đã làm rõ tương quan giữa số lượng với mức độ tác động của các yếu tô gây stress

đối với căn bệnh này

Quan niệm stress như sự kiện từ môi trường cũng bị các lý thuyết, quan điểmkhác phê phán Một số nhà nghiên cứu cho rang; các sự kiện không gây stress giỗng

nhau ở các cá nhân khác nhau Mức độ stress phụ thuộc vào ý nghĩa của sự kiện và

những tiềm năng sẵn có ở mỗi cá nhân trong việc ứng phó với stress Lazarus,Homikos và Rankin đã cho rằng quan niệm stress như một sự kiện từ môi trường là

chưa hoàn chinh và nhẫn mạnh; nhận thức sự kiện đóng vai trò trung tâm đỗi với

stress, Như vậy, quan điểm sinh học và môi trường đều giống nhau ở chỗ; dựa vào

mô hình kích thích — phản ứng (Stimulus — Response) Các quan điểm nay đã không

dé cập đến những yếu tô trung gian điều hoà tương tác giữa sự kiện (tác nhân) từ môi

trường và các phản ứng sinh học bên trong.

Hướng nghiên cứu thứ ba xem stress như quá trình tâm lý — quá trình tương tac

giữa con người với môi trường, trong đó chủ thê nhận thức sự kiện từ môi trường đề

huy động tiềm năng của mình đề ứng phó (Lazarus, 1966; Lazarus và Folkman, 1984).

13

Trang 21

GO day, stress không chi “tra ngụ” trong sự kiện với vai trò tác nhân kích thích mà

còn trong ca phản ứng của cơ thể Yếu tô nhận thức — hành vi ở đây đã đóng vai tròđiều hoà giữa yếu tố kích thích và phản ứng của cơ thé Quan điểm này nhắn mạnh

mặt nhận thức — hành vi trong nghiên cứu stress và ba dap được những thiếu sót của

các quan điềm sinh học và quan điểm môi trường đối với stress đã phân tích ở trên

Yếu tố trung tâm của quan điềm tâm lý là coi stress như một quá trình tâm lý

(nhận thức và hành vi) của chủ thé Nhận thức là quá trình cá phan tim hiểu và đánh

giá sự kiện, tác nhân từ môi trường (mức độ de doa, nguy hiểm) Sự kiện, tình huéngchỉ có thê gây ra được stress khi chủ thé nhận thức, đánh giá là có hại hoặc thiếu

nguồn lực ứng phó Trong tình huống này chủ thé sẽ đưa ra các ứng phó cụ thé thông

qua nhận thức, hành vi hoặc xúc cảm tương ứng.

Quan điểm nhìn nhận stress như một quá trình tâm lý có hạn chế là đã xem nhẹ mỗi quan hệ giữa các phan ứng sinh học với nhận thức hành vi, và xúc cảm Như

vậy, các hướng nghiên cứu trên chỉ tập trung vào một bình diện nào đó của stress và

loại bỏ các bình diện khác Diéu này đã dẫn đến những nhằm lan trong nghiên cứu

cũng như thực hành.

Nhìn chung, các van dé liên quan đến stress được loài người nhìn nhận và có

những quan tâm thỏa đáng từ rất sớm Mac dù mãi đến khoảng thé kỷ dau thé ky XX

mới có tên gọi chính thức là stress, nhưng những mô tả vẻ stress của các nhà nghiên

cứu ở thế kỷ trước lại là tiền dé quan trong Đồng thời, việc nhìn nhận, nghiên cứu

stress dưới các góc độ khác nhau của các nhà nghiên cứu sau này giúp ta có cái nhìn

đa chiều hơn về van đề này Sự không dừng lại trong việc xem xét stress đưới góc độ

sinh hoc, sự tác động từ môi trường hay xem stress như quá trình tâm lý — quá trình

tương tac giữa con người với môi trường của các khoa học nghiên cứu vẻ stress hiện

nay hứa hẹn sẽ mang đến nhiều phát hiện nhìn nhận thấu đáo về stress hơn nữa trong

tương lai.

Tóm lai, từ rat sớm, trên thé giới đã có rất nhiều nghiên cửu vẻ stress và góc

nhìn đa chiều, khác nhau Trong dé tài này, cần phải kế thừa những phát hiện mới.khoa học đề làm cơ sở nền tang, đặc biệt là những thành tựu liên quan đến Việc xem

xét stress như quá trình tâm lý — quá trình tương tác giữa con người với môi trường.

14

Trang 22

Bởi vì, dưới góc nhìn này, thay được tính chủ thê trong tâm ly người, con người phải

thụ động trước những tác động của môi trường.

1.1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về HVSDRB

Tác gia Elie, K và cộng su, năm 2007 đã thực hiện đề tai “Sir dung rugu bia

trong SV ĐH: quan điểm quốc tế", chi ra rằng SV DH ở nhiều quốc gia có nguy cơ uống nhiều rượu bia cao, với các nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe nghiêm trọng, chăng hạn như uống rượu lái xe và sử dụng chất kích thích khác; và có thê dẫn đến rủi ro

lâu đài, chăng hạn như nghiện rượu Tỷ lệ sử dụng đồ uống độc hại ở Australasia,Châu Âu và Nam Mỹ có vẻ tương tự như ở Bắc Mỹ, nhưng thấp hơn ở Châu Phi vàChâu Á (Elie, K và cộng sự, 2007)

Năm 2009, nhóm tác giả Perkins, H.W & Berkowitz, A.D., thực hiện nghiên

cứu “Nhận thức các chuẩn mực cộng đồng về sử dụng rượu bia trong SV: Một số ý

nghĩa nghiên cứu đối với chương trình giáo dục về rượu bia trong khuôn viên trường”

Dữ liệu được rút ra từ một cuộc khảo sát toàn điện vẻ việc sử dụng rượu trong cộng

đông SV DH (N = 1116) cho thay hau hết SV có thái độ không quá khích về việc sử

dụng rượu trong khi nhận thức sai về môi trường khuôn viên ĐH là tự do hơn nhiều.Hành vi uống rượu có liên quan đáng kẻ đến giới tinh, cách sống, thái độ của cá nhân

đối với VIỆC udng rượu, và mức độ nhất quán/khác biệt giữa thái độ và nhận thức của

họ về tiêu chuẩn của khuôn viên trường liên quan đến việc uống rượu Những SV

thay tiêu chuan trong khuôn viên trường giống với thái độ của chính họ được pháthiện là uống rượu nhiều hơn và ở những nơi công cộng hơn so với những SV có thái

độ và nhận thức khác biệt (Perkins, H.W & Berkowitz, A.D., 2009).

Trong nghiên cứu “Str dụng rượu bia và các yếu tổ liên quan đến trẻ vị thành

niên dang học ở Thái Lan” được thực hiện bởi Pengpid, S & Peltzer, K năm 2012

chỉ ra ty lệ sử dụng rượu bia hiện nay là 14,8% (nam là 21,2% và nữ là 9.3%) Các

biến số có liên quan cùng chiều với kết quả trong phân tích đa biến ở trẻ em trai là

tuôi lớn hơn, sử dụng chất kích thích khác (hút thuốc và sử dụng ma túy bắt hợp

pháp) quan hệ tình dục trong 12 tháng qua, đánh nhau, thương tích trong 12 tháng

qua; và giữa các trẻ em gái là nghèo đói, hút thuốc, đánh nhau và thiếu sự kết nối của

cha mẹ hoặc người giám hộ (Pengpid, S & Peltzer, K., 2012).

Trang 23

Nghiên cứu “Ganh nặng của việc sử dụng rượu bia: Uống quá nhiều rượu bia

và những hậu quả liên quan ở SV ĐH} của White, A., & Hingson, R., năm 2013 chi

ra rằng nhiều yếu tố ánh hưởng đến việc uống rượu ở trường DH, từ tính đi truyềncủa một cá nhân đối với tác động tích cực và tiêu cực của rượu, việc sử dụng rượu

trong thời gian học trung học, các quy định trong khuôn viên trường liên quan đến viéc uống rượu, ky vọng về lợi ích và tác động bat lợi của việc uống rượu hình phạt khi uống rượu khi chưa đủ tuổi, thái độ của cha mẹ vẻ việc uống rượu khi học DH,

và các điều kiện trong xã hội trong việc tiếp cận và sử dụng rượu Hậu quả của việcuống rượu ở trường DH bao gồm bỏ học và trượt lớp dưới, chan thương, tan côngtình dục, ding thuốc quá liều, mat trí nhớ, thay đổi chức năng não, suy giảm nhận

thức kéo dài và tử vong (White, A., & Hingson, R., 2013).

Năm 2017, Mekonen, T và cộng sự, trong nghiên cứu “Str dụng rượu bia có

vấn dé trong SV DH” nêu ra khoảng 11,4% người có van dé về rượu, trong đó 6,8%

có van dé ở mức độ trung bình và 4,6% có van dé ở mức độ cao Các biến số liên

quan đáng kẻ đến việc sử dụng rượu có van đề ở SV là sự ám ảnh sợ xã hội sử dụng

bat kỳ chat nào trong đời, điểm cao hơn ở điểm trung bình và có bạn thân sử dụng

rượu Việc sử dụng rượu có vẫn đề ở SV DH là phô biến và có liên quan đến chứng

sợ xã hội, thành tích học tập kém, sử dụng bất kỳ chất kích thích nào trong đời và áp

lực từ bạn bè (Mekonen, T và cộng sự, 2017).

Trong vòng 15 năm trở lại, các nghiên cửu trên thé giới ve HVSDRB của SV

thường tập trung vào việc tỷ lệ SV sử dụng rượu bia trong trường DH, các yếu tố ảnhhưởng đến việc sử dụng rượu bia của SV trong bỗi cảnh học đường Đồng thời, một

vài nghiên cứu còn chỉ ra được những ảnh hưởng, tác hại của việc sử dụng rượu bia

đôi với các bạn SV Điều này cho thấy răng còn một khoảng trống trong các nghiêncứu về HVSDRB của SV trên thé giới mà đề tài nên xem xét và thực hiện nghiên cứu

Đó là HVSDRB ở môi trường xã hội, môi trường gia đình.

16

Trang 24

1.1.1.3 Lịch sử nghiên cứu về mối quan hệ giữa stress và HVSDRB

Trong nghiên cứu “Ty lệ và mối liên quan của trạng thái stress, sử dụng chất gây nghiện và hành vi nghiện: một nghiên cứu cắt ngang giữa các SV ĐH ở Pháp,

2009 — 2011”, năm 2013 của Tavolacci, M.P., Ladner, J., Grigioni, S và cộng sự.

Nghiên cứu được tiền hành trên 1876 SV, SV stress cao được so sánh SV ít stress

hơn Một mối quan hệ tích cực đã được quan sát thấy giữa giới tính nữ, người hút

thuốc thường xuyên, van dé lạm dụng rượu, nguy cơ rồi loạn điều khiến mạng và đặc

biệt là rồi loạn ăn uống và tăng điểm PSS Tuy nhiên, điểm PSS không liên quan

đáng kê đến chương trình học, việc sử dụng rượu thường xuyên, say rượu hoặc uống quá chén ngay ca khi đã kiểm soát thêm việc sử dụng các chất khác Chúng tôi nhận

thay mỗi liên hệ tiêu cực đáng kê giữa stress và luyện tập thẻ thao: SV hoạt động thé

chất nhiều nhất ít có khả năng báo cáo ve tình trạng stress (Tavolacci, M.P., Ladner, J., Grigioni, S và cộng sự, 2013).

Nhóm tác giả Bodenlos, J S và cộng sự thực hiện dé tài “Cac van đề về chánh

niệm và rượu bia ở SV ĐH: Tác động trung gian của stress” Kết quả nêu ra chánh

niệm có tương quan nghịch với các van đề về rượu và stress, trong khi stress có tương

quan thuận với các vấn đề về rượu Stress làm trung gian hoàn toàn mỗi quan hệ giữachánh niệm và các vấn đề về rượu Các vấn đề về rượu có mỗi tương quan tiêu cực

với các khía cạnh Hành động với Nhận thức và Mô tả Kinh nghiệm của chánh niệm.

Vì vậy, giảm stress dựa trên chánh niệm hoặc các chương trình chánh niệm khác có

thê hữu ích trong việc giảm các van dé về rượu trong khuôn viên trường DH thông

qua tác động cua stress (Bodenlos, J S và cộng sự, 2013).

Năm 2016, Yoon, §.J., Kim, H.J & Doo, M thực hiện dé tài “Mối liên hệ giữa

trạng thái stress, mức độ uống rượu bia và béo phì ở người Hàn Quốc” Kết quả chỉ

ra những đối tượng có mức độ stress cảm nhận cao cho thấy tỷ lệ thói quen uống rượu

không lành mạnh cao hơn so với những người có mức độ trạng thái stress thấp Nam

giới cho thay môi tương tác đáng kê giữa cảm giác stress và tất cả thói quen uốngrượu liên quan đến béo phì Ở phụ nữ, mối tương tác giữa cảm giác stress và tìnhtrạng uống rượu vả lượng tiêu thụ rượu liên quan đến béo phì đã được tìm thấy làđáng kể Nghiên cứu đã chứng minh rằng cảm giác stress ảnh hưởng đến thói quen

17

Trang 25

uống rượu có thé ảnh hưởng đến bệnh béo phi (Yoon, S.J., Kim, HJ & Doo, M.,

2016).

Năm 2021, nhóm tác gia Charles, N E và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu “Gia

tăng các triệu chứng rỗi loạn khí sắc, trạng thái stress và sử dụng rượu bia ở SV ĐH trong đại dich COVID — 19” Các phép đo về các triệu chứng tâm lý, trạng thái stress

và sử dụng rượu trong đại dich đã được 148 SV hoàn thành vào mùa xuân năm 2020

và 352 SV vào mùa thu năm 2020 tại một trường DH ở đông nam Hoa Kỳ Kết quả

từ cá hai nhóm được so sánh với 240 SV đã hoàn thành các biện pháp tương tự trong

học kỳ mùa thu 2019 Những người tham gia vào mùa xuân năm 2020 cho biết các

triệu chứng réi loạn tâm trạng, trạng thái stress và sử dụng rượu nhiêu hơn những

người tham gia trước đại dịch và lo lắng về COVID — 19 có liên quan tiêu cực đến

sức khỏe Vào mùa thu năm 2020, các triệu chứng phan lớn đã trở lai mức trước dai

địch Nhìn chung, các SV Da trắng cho biết ảnh hưởng của đại địch đối với hạnh phúc

nhiều hơn so với các SV Mỹ gốc Phi Thanh niên đường như ít bị tôn thương hơn với

các biến chứng y tế nghiêm trọng nhất liên quan đến COVID - 19, nhưng vẫn trải

qua các tác động tâm lý từ đại dịch Các trường ĐH và các nhà thực hành làm việc

với SV DH có thé giúp thanh niên kiểm soát các triệu chứng của họ và tránh các hành

vi như sử dụng rượu có nguy cơ khi đối mặt với các tác nhân gây stress như đại dịch

COVID — 19 (Charles, N E và cộng sự, 2021).

Tóm lại, trên thé giới đã có những nghiên cứu về mối quan hệ giữa stress và sử

dụng/nghiện rượu bia ở SV Dac điểm chung của những nghiên cứu trên thé giới làxem xét môi quan hệ của nhiều biến với nhau, không phải chỉ giữa stress và

HVSDRB Các nghiên cứu déu chỉ ra tương quan nghịch của stress và HVSDRB.

một vài nghiên cứu còn chi ra cách thức giảm stress và giám việc sử dung rượu bia ở

SV Đặc biệt, trong 2 năm những năm gần đây, dưới tác động của đại dịchCOVID — 19, kết qua của các nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa stress và việc sử dungrượu bia cũng có sự khác biệt VỀ sự gia tăng mức độ stress và sử dụng rượu bia ở SV.Song, không có sự thay đôi về mối quan hệ của hai biến này

lả

Trang 26

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu về mối quan hệ giữa stress và HVSDRB trong

nước

1.1.2.1 Lịch sử nghiên cứu về stress

Vào những thập niên 70 của thé ky XX, giáo sư Tô Như Khuê có những nghiên cứu vẻ stress và cách chống stress đã được công bố trong một dé tài cấp nhà nước

“Tim hiểu tác dụng dưỡng sinh của võ thuật” Tác giả Tô Như Khuê cũng được xem

là người đầu tiên nghiên cứu stress đưới góc độ sinh lý và y học với những công trình

nghiên cứu trong thời chiến tranh (1967 — 1975) chủ yếu phục vị cho tuyển dụng,huấn luyện và nâng cao sức chiến dau cho bộ đội và các binh chung đặc biệt của Quân

đội nhân dan Việt Nam.

Nhóm tác giả Phạm Ngọc Rao và Nguyễn Hữu Nghiêm với tác pham “Stress trong thời đại văn minh” đã cánh báo với tat cả mọi người đang sống trong xã hội văn

minh về nguy cơ stress và hậu quả ghê gớm của nó Từ đó dé mỗi người có cách điều

chỉnh lỗi sống của mình cho phù hợp, dé đương dau với stress một cách tôi ưu và hiệu

quả nhất Xã hội càng văn minh, cảng hiện đại, thì ngày càng có nhiều những nguy

` £ as a £ ` x: ⁄ — ta ` ` ` ”‹

cơ stress hơn xảy đến với cuộc sông của môi chúng ta Vì vậy, việc phòng ngừa là rat

quan trọng (Nguyễn Thị Hường, 2014).

Nguyễn Khắc Viện và Đặng Phương Kiệt là những người nghiên cứu stress theo

hướng tiếp cận Tâm lý lâm sàng Các nghiên cứu của họ được thực hiện trên trẻ em vào những năm 1990 Kết quả các công trình nghiên cứu của hai tác giả trên được tập

hợp và xuất bản thành các bài giảng tại Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý Trẻ em và tácpham “Tam lý học và đời sống” Dang Phương Kiệt là người có nhiêu tâm huyết

trong việc nghiên cứu, phô biến trí thức ve stress và cách thức ứng phó với stress ở Việt Nam Ông cùng đồng nghiệp đã cho xuất bản bốn ấn phẩm về stress và cách phòng chống stress Thứ nhất “Chung sống với stress” (2003); thứ hai “stress va đời

sông" (2003); thứ ba “stress và sức khỏe” (2003); thứ tư “Phong chong stress” (2006)

Thco ông stress la “Mot lực nao đó (vật lý hay tâm lý) tác động vào hệ thông lạo ra stress hay làm sai lệch hệ thống, hoặc làm hỏng hệ thống đó nếu nó quá mạnh" Như

vay, ông hiểu stress rất rộng nó liên quan tới toàn bộ hoạt động và ứng xử của conngười trong cuộc sống (Đồng Thị Yến, 2013)

19

Trang 27

Tháng 11/1997, tại Hội thảo khoa học “Nhttng rồi loạn có liên quan đến stress

ở trẻ em và thanh thiếu niên" (Bệnh viện Bach Mai, Hà Nội), cùng với các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực, các nhà tâm lý học đã có những 18 những đóng góp đáng ké trong những báo cáo về stress ở trẻ em và học sinh — SV (Nguyễn Thị Thanh, 2012).

Một số công trình nghiên cứu các cấp cũng đã được thực hiện và nghiệm thu.

“Nghiên cứu stress ở cán bộ quản lý” (2001) của tác giả Nguyễn Thành Khải là công

trình đầu tiên nghiên cứu stress ở tuôi 15 trung niên, với nhóm khách thẻ đặc thù của

tuôi này Tuy nhiên, trong nghiên cứu, tác giả chưa chú ý đến những yếu tổ tâm lý,

gia đình của lứa tuôi (Triệu Thị Biên, 2012).

Năm 2012, tác giả Đỗ Văn Doat đã “Day kỹ năng ứng phó với stress trong hoạt động học tập theo học chế tín chỉ cho SV” gồm ba nội dung: Kỹ nang nhận thức van

dé gây stress và biểu hiện của stress trong học tập theo học chế tín chi, kỹ năng xácđịnh các phương án ứng phó với stress trong học tập theo học ché tín chi và kỹ năng

thực hiện các phương án ứng phó nhằm giảm stress và giải quyết van đẻ trong học

tập theo học chế tín chỉ Đồng thời, xác định các bước dạy kỹ năng ứng phó với stress

trong học tập theo học chế tín chỉ (Đỗ Văn Đoạt, 2012)

Tác giả Đoàn Vương Diễm Khánh và cộng sự, năm 2016, thực hiện nghiên cứu

“stress và các yêu tô liên quan ở SV Khoa Y tế công cộng, Trường DH Y dược Huế"

chi ra tỷ lệ SV bị stress cao chiếm 24,9%; SV nữ cao gap đôi so với SV nam ; SV

tỉnh khác cao gấp 2.8 lần so với SV trong tỉnh Các yếu tố có liên quan với tình trạng

stress cao ở SV bao gồm: (1) các mỗi quan hệ xã hội của SV: có hay không có bạn

thân, khó khăn trong quan hệ với bạn bè, khó khăn trong các hoạt động xã hội (2)

các yếu tổ liên quan đến quá trình học tập: áp lực học tập, có nguyên vọng thi lại DH,

khó khăn trong tim kiểm tài liệu; khó khăn trong tiếp cận các phương pháp giảng day,

học tập mới (Đoàn Vương Diễm Khánh và cộng sự 2016).

Năm 2018, tác gia Nguyễn Thị Cam Tú đưa ra những nhóm kỹ năng nhằm “Rén

luyện kỹ năng ứng phó với stress cho SV ngành Sư phạm Mam non Trường Cao Đăng

Sư phạm Nghệ An”, gồm nhóm kỹ năng nhận thức van đẻ gây stress và biêu hiện của

stress, nhóm kỹ năng xác định các phương an ứng phó với stress, nhóm kỹ năng thực

20

Trang 28

hiện các phương án ứng phó nhằm giảm stress và giải quyết van đẻ (Nguyễn Thị Cam

Tú, 2018).

Năm 2020, nhóm tác giá Phạm kế Thuận và cộng sự đã tiền hành nghiên cứu

“Thực trạng stress và một số yếu tô liên quan ở SV y được Trường Cao đăng Bách

Khoa Nam Sài Gòn — TP.HCM" đã chi rằng tỷ lệ stress ở SV Khoa Y Được Trường

Cao đăng Bách khoa Nam Sài Gòn — TP.HCM là 37,9% Trong đó các mức độ stress

được phân bồ lần lượt: tỷ lệ stress nhẹ 12,6%, tỷ lệ stress vừa 9,9%, tỷ lệ stress nặng

11,3% và tỷ lệ stress rất nặng chiếm 4,1% Một số yếu tổ liên quan đến stress ở SV:

nhóm tuôi, năm học, ngành học, hệ đảo tạo, tham gia hoạt động ngoại khóa SV y

khoa có tỷ lệ bị stress cao Hướng dẫn SV cách đối phó, giảm áp lực từ chương trình

học và tăng cường sự hỗ trợ của người thần sẽ cải thiện tình trạng này (Phạm kế

Thuan và cộng sự, 2020).

Năm 2019, tác giả Tạ Quang Đàm tiến hành nghiên cứu “Thuc trang stress của học viên trường Sĩ Quan lục quân 1°, kết quả chi ra rằng đa số học viên đều có cách

hiểu đúng về stress Tuy nhiên, về tác dụng của stress thì phan lớn họ chưa hiểu day

đủ khi cho rằng stress chỉ có hại Đối với mức độ stress của học viên, đa sé hoc vién

rơi vào mức độ stress và rat stress Thực trạng này là điều đáng quan tâm va cần cógiải pháp khắc phục về thực trạng bị stress của học viên Có nhiều nguyên nhân gây

stress ở học viên, trong đó các nguyên nhân gây stress ở mức độ cao (Tạ Quang Đàm,

2019).

Tóm lại, vào giữa thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã biết đến stress

và tiền hành nghiên cứu chúng dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, hau hết các

công trình nghiên cứu nói trên chưa đi sâu phân tích nguyên nhân của stress và nghiên

cứu trên nhóm đối tượng trẻ em.

Trong những năm gan đây, đã có nhiều nghiên cứu về stress trên nhiều nhóm

đối tượng khác nhau, đặc biệt có nhiều đề tài nghiên cứu stress ở SV Nhìn chung, các nghiên cứu ít tìm hiểu về nguyên nhân, các yếu tổ liên quan đến stress ở SV mà

thường là những nghiên cứu thực trạng vẻ stress, cách ứng phó với stress ở SV Chính

vì vậy, trong dé tài nghiên cứu này sẽ tiếp tục tìm hiệu thực trạng về stress ở SV trên

cơ sở kế thừa và phát huy các nghiên cứu trước đó.

21

Trang 29

1.1.2.2 Lịch sử nghiên cứu về HVSDRB

Tác giả Huỳnh Văn Sơn, Mai Mỹ Hạnh và Quang Thục Hảo đã tiến hành nghiêncứu “Mire độ nghiện rượu bia ở nam SV và người trưởng thành trẻ tuôi tại TP.HCM

hiện nay” chỉ ra có 37,9% được khảo sát thuộc mức độ “str dụng rượu bia một cách

bình thường”, 21,3% “cd xu hướng lạm dụng rượu bia”, 20,23% "nghiện nhẹ”, 16,0%

“nghiện vừa” va 4,6% “nghiện nặng” Ti lệ phan trăm khách thé khảo sát giảm dan

khi mức độ nghiện tăng dan Tuy nhiên, đây vẫn là những con số đáng quan tâm bởi

hậu qua và tính nghiêm trọng của các mức độ nghiện đối với chủ thé sử dụng rượu

bia và những người xung quanh (Huỳnh Văn Sơn và cộng sự, 2013).

Tác giá Nguyễn Thái Đăng đã thực hiện luận văn về “Thye trạng lạm dụng rượubia trên địa bàn TP Sóc Trang, tinh Sóc Trăng và giải pháp”, năm 2016 Kết quả

nghiên cứu cho thay người tiêu dùng rượu bia tại thành phố Sóc Trăng có tần suất sử

dụng và lượng tiêu dùng cao, phần lớn người tiêu dùng sử dụng vượt mức quy định

và nằm trong nhóm lạm dụng rượu bia Tỷ lệ người lạm dụng rượu bia là rất cao, tuy

nhiên hầu như rất ít người nhận ra rằng mình đã đang trong tình trạng lạm dụng rượubia Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những người có trình độ học vấn thấp hơncũng là những người có nhận thức vẻ tác hại của rượu bia thấp hơn vả tiêu dùng rượu

bia nhiều hơn (Nguyễn Thái Đăng, 2016).

Năm 2016, Nguyễn Minh Tâm và Jean — Pascal Assailly thực hiện nghiên cứu

“Tinh hình sử dụng rượu bia và hành vi lái xe sau uống rượu bia ở học sinh THPT tạitinh Bắc Giang và Bình Thuan” nêu ra độ tuổi trung bình bat đầu uống rượu bia là

14,4, độ tudi trung bình lần đầu tiên say rượu là 15,5 Tỷ lệ học sinh có sử dụng rượu bia chung là 25,9%, ở Bình Thuận là 17,6%, Bắc Giang là 33,2% Trong số học sinh

có sử dụng rượu bia, 80% học sinh thừa nhận thưởng sử dụng 1 — 2 cốc bia rượu,

8,6% sử dung 3 — 4 cóc bia rượu trong một ngày có sử dụng rượu bia Tan suất lái xe

sau khi uống rượu bia ở nhóm học sinh THPT là 12,1% (Nguyễn Minh Tâm và Jean

Trang 30

đột sau khi uéng rượu bia và 8,6% làm giảm sút kết quả học tập của SV Y định uéng

rượu bia của SV nam cao hơn SV nữ Thái độ với việc uống rượu, chuân chủ quan và

nhận thức kiểm soát hành vi đều có mỗi tương quan trung bình có ý nghĩa thống kê

với ý định thực tế uống rượu bia của SV (Phạm Thu Hà và cộng sự, 2019).

Nghiên cứu “Thue trạng HVSDRB của học sinh THPT tại TP HN, năm 2019”

của tác giả Nguyễn Hang Nguyệt Vân và cộng sự, kết luận có 52,7% học sinh tham

gia nghiên cứu đã từng sử dụng rượu bia, 36,3% học sinh tham gia nghiên cứu từng

sử dụng rượu bia trước năm 13 tuổi, 31% học sinh sử dụng rượu bia trong 30 ngày qua Nam giới, sống ở nội thành và có người thân/bạn bè uống rượu bia là những yêu

tô nguy cơ có thé làm tăng tỷ lệ sử dụng rượu bia ở vị thành niên (Nguyễn Hằng

Nguyệt Vân và cộng sự, 2019).

Năm 2020, trong nghiên cứu vẻ “Hanh vi tình dục an toàn và thực trang sử dụng

rượu bia, metamphetamine, dung môi trên đồng tính nam và chuyên giới nữ tại các

tinh phía nam năm 2019”, nhóm tác gia Nguyễn Thanh Thiên và cộng sự đã chi ra tỷ

lệ quan hệ tình dục an toàn là 16%, tỷ lệ sử dụng chất 98,8% Trong đó, pho biến nhất

là rượu bia (82,7%) Tỷ lệ sử dụng rượu bia, metamphetamine, popper trước khi quan

hệ tình dục lần lượt 62,2%; 81,4%; 91,9% Phân tích cho thấy quan hệ tình dục an

toàn có mối liên quan với tuôi nghé nghiệp, tài chính, STIs và vai trò khi quan hệ

tình dục với nam cũng như tình trạng sử dụng chất (Nguyễn Thanh Thiên và cộng sự, 2020).

Tác giả Nguyễn Tiến Nam, trong nghiên cứu “Thuc trạng HVSDRB tại Trường

ĐH Y tế công cộng”, năm 2020, cho rằng tí lệ uéng rượu bia ở nam SV viên trường

ĐH Y tế công cộng là 39.69% và tỉ lệ này ở nữ SV là 22.36% Ti lệ sử dụng rượu bia

của SV trường DH Y tế công cộng thấp hơn so với tỉ lệ SV của các nước Phương Tây

và thấp hơn so với ti lệ nam giới và nữ giới nói chung ở Việt Nam Nghiên cứu đã tìm thấy mối liền quan giữa giới tính và bệnh vẻ tìm với HVSDRB của SV (Nguyễn

Trang 31

từng sử dụng rượu bia gap hơn 2,5 lần ty lệ ở phụ nữ Việc sử dụng rượu bia không khác biệt nhiều giữa người trẻ tudi, người trung niên hay người cao tuổi Ngay nhóm thanh niên trẻ đưới 25 tuôi, 45,7% mẫu khảo sát cho biết họ đã từng sử dụng rượu bia Trong nhóm 26 — 35 tudi, tỷ lệ người hiện đang sử dụng rượu bia chiếm gần 53%.

Tỷ lệ này ở nhóm trung niên 36 — 45 tudi là 52% và ở nhóm 46 — 55 tuôi là 50,7%.

Khi bước vảo độ tuôi cao (trên 55 tuôi), ty lệ người hiện sử dụng rượu bia chỉ giảm chút ít song vẫn có 48.6% số người được khảo sát thuộc nhóm tuôi này cho biết hiện

họ dang sử dụng rượu bia Ty lệ người sử dụng rượu bia cứ tăng dần từ 52,7% ở nhómdân số chưa tốt nghiệp tiêu học lên 54.3% ở nhóm dân số tốt nghiệp tiểu học, lên59,0% ở nhóm tốt nghiệp trung học cơ sở, lên 61,6% ở nhóm tốt nghiệp THPT và lên

khoảng 70% ở nhóm tốt nghiệp trung cap nghề hay cao dang/DH (Lưu Bich Ngọc và

Nguyễn Thị Thiéng, 2018).

Ở Việt Nam, trong 10 năm trở lại đây, có nhiều dé tài về HVSDRB nói chung

Các nghiên cứu thường xoay quanh thực trạng HVSDRB; hành vi nghiện rượu bia; ý

định sử dụng rượu bia ở nhóm đối tượng học sinh, SV Đây la các nhóm đối tượng

chịu ảnh hưởng lớn nếu có HVSDRB Đồng thời, các tác giả còn đưa ra những giải

pháp các yếu tô liên quan đến HVSDRB nói chung nhằm giảm thiểu thực trạng sử

dụng rượu bia như hiện nay.

1.1.2.3 Lịch sử nghiên cứu về mối quan hệ giữa stress và HVSDRB

Năm 2013 nghiên cứu “Mỗi quan hệ giữa khí chất và stress ở học sinh THPT”được tác giả Đồng Thị Yến thực hiện Trong bốn nhóm khí chất thì khí chất ưu tư có

số học sinh bị stress chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là khí chất nóng nảy, khí chất bình thản ở vị trí thứ ba, cuối cùng là khí chất hoạt bát Không có sự khác biệt đáng ké về

tỷ lệ học sinh bị stress giữa các kiểu khí chat qua tiêu chi trường, lớp nhưng xét tiêu

chí giới tính thì có sự khác biệt rõ rệt Đó là nam giới bị stress ít hơn so với nữ giới.

Mặt khác, tỷ lệ nữ thuộc kiểu khí chat ưu tư và nóng nay cũng bị stress cao hon han

so với nam giới Học sinh bị stress được Xét ở bốn mức độ: không bị stress, stress ởmức độ nhẹ, stress ở mức độ vừa và stress ở mức độ nặng Tuy nhiên, phần lớn học

sinh THPT bị stress & mức độ nhẹ và vừa Số học sinh bị stress ở mức độ nặng và không bị stress chiếm một tỷ lệ nhỏ (Đông Thị Yến, 2013).

24

Trang 32

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang và Nguyễn Linh Chi đã thực hiện nghiên cứu “Mối liên hệ giữa ứng phó với stress học tập, mức độ stress và kết quả học tập của SV”.

Kết quá nghiên cứu chí ra rằng các chiến lược ứng phó điều hòa cảm xúc, chấp nhận,thay đôi nhận thức, và suy nghĩ tích cực có tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê

với mức độ stress, trong khi hai chiến lược ứng phó né tránh và mong ước có mối

tương quan thuận với mức độ stress của SV Đối với kết quả học tập chiến lược ứng

phó giải quyết van đề có liên hệ tích cực đối với điểm số của SV, trong khi chiến lược

ứng phó né tránh và mong ước làm giảm kết quả học tập (Nguyễn Ngọc Quang và

Nguyễn Linh Chi, 2018)

Năm 2020, tác giả Hoàng Thị Quỳnh Lan thực biện nghiên cứu “Mối tương

quan giữa stress trong học tập và mức độ lo âu, tram cam, stress của SV Trường DH

Bách khoa Hà Nội” Kết qua chi ra tỷ lệ tram cảm, lo âu, stress ở mức độ nhẹ đến rat

nặng biểu hiện trong thang do DASS - 42 của SV Trường DH Bách khoa Hà Nội lần

lượt là 4%, 49.9% 69,5% Có sự khác biệt giữa sự lo âu của nam và nữ nhưng không

tìm mỗi tương quan giữa mức độ trầm cảm, stress Thứ hai mức độ stress trong họctập của SV được đánh giá bằng thang ESSA ở mức nhẹ với M = 36,89 và có mốitương quan nhiều nhất với lo âu, kế tiếp là stress và không có tương quan với tramcảm của SV Trong đó các yêu tố đánh giá mình không đủ giỏi khó tập trung trong

giờ học, áp lực học tập dé tìm kiếm được một công việc trong tương lai có ảnh hưởng

nhiều nhất đến mức độ lo âu của SV (Hoàng Thị Quỳnh Lan, 2020)

Nhìn chung trong những năm gần đây tại Việt Nam gần như chưa có các nghiêncứu về môi quan hệ giữa stress và HVSDRB nói chung và ở đối tượng SV nói riêng

Đa phan là các nghiên cứu về mối quan hệ giữa stress trong học tập và các yếu tốkhác như kết qua học tập, khí chất Bởi lẽ đó, việc thực hiện đề tài về mối quan hệgiữa stress và HVSDRB ở SV là việc làm cần thiết

25

Trang 33

1.2 Lý luận nghiên cứu về mối quan hệ giữa stress và HVSDRB

1.2.1 Lý luận nghiên cứu về stress

1.2.1.1 Khái niệm về stress

Thuật ngữ “stress” lần đầu tiên được sử dụng ở thế kỷ 14 dé chỉ những khó

khăn, nghịch cảnh hoặc phiền não stress bắt nguồn từ tiếng là tỉnh “strengereTM, nó có

nghĩa là những trải nghiệm khó khăn vật chat, doi khát, tra tan và đau đớn (Trịnh Viết

Then, 2016).

Từ điển Tâm lý học đã đưa ra một định nghĩa khá hoàn chỉnh về stress:

“stress — trạng thái stress vẻ tâm lý xuất hiện ở người trong quá trình hoạt động ở

những điều kiện phức tạp, khó khăn của đời sống thường ngày, cũng như những điều

kiện đặc biệt” (Dintrenko, V.P và Mesiriakova, B.G., 1996).

Theo từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng, định nghĩa “stress là một thuật

ngữ có giới hạn rộng dùng dé chỉ những trạng thái của con người xuất hiện do phản

ứng với những tác động đa dạng từ bên ngoài ở các mức độ sinh lý, tâm lý, hành vi

(Vũ Dũng, 2000).

Theo tác giả J Delay “stress là một tình trạng stress cấp diễn ra của cơ thé bị

bắt buộc phải điều động những tô chức phòng vệ của nó dé đương đầu với một tìnhhuống de doa” (Lâm Xuân Điện, 2004)

Các định nghĩa trên xem stress là một tình trạng căng thăng, chịu áp lực, sự mấtcân bang do nhiều tác nhân gây ra Song tình trạng căng thăng được hiéu là chủ thécảm thấy khó khăn, chứ không có cái khó khăn chung, giống nhau ở tất cả mọi người

Vì đôi khi cùng một hoàn cánh, những tác động ấy là bất lợi với một người, nhưng

lại có thê là có lợi với người khác Vì vậy, stress chỉ xuất hiện khi được cá nhân nhận

định và cám nhận Song, các định nghĩa này giống nhau ở chỗ không chỉ ra ảnh hưởng

của stress ra sao đối với chủ thẻ.

Năm 1936, thuật ngữ stress được H Selye dé cập trong các công trình nghiên

cứu của mình dé mô tả “hội chứng của quá trình thích nghi với mọi loại bệnh tật” Vatrong các công trình sau này ông có các giải thích khác nhau về stress, các công trìnhkhoa học cuối đời của ông nhắn mạnh: stress có tính chất tông hợp chứ không phải

26

Trang 34

chỉ thê hiện trong một trạng thái bệnh lý, stress thê hiện phản ứng sống, là phản ứng không đặc hiệu của cơ thé đối với bat kỳ tín hiệu nào, năm 1975 ông quan niệm rộng hơn về stress; stress là nhịp sống luôn luôn có mặt ở bất kỳ thời điểm nào của sự tôn

tại, một tác động bat kì đến một cơ quan nào đó đều gây stress, stress không phải lúc

nao cũng là kết quả của sự tôn thương, ngược lại có hai loại stress khác nhau, đối lập

nhau đó là: stress bình thường khỏe mạnh là “Eustress”, stress độc hại tiêu cực là

“Dystress”, ông cảnh báo ring * Không cần tránh stress, tự do hoàn toàn khỏi stress

tức là chết” Như vậy ông khang định stress là phản ứng không thích nghỉ của cơ thé

với mọi tác động của môi trường do đó nó là phản ứng không thẻ thiếu ở động vật

nói chung, con người nói riêng (Nguyễn Thị Thanh, 2012).

Theo Stephen Worchel và Wayne Shebilsue: “stress là một quá trình mà bằng

cách đó con người phản ứng lại với các sự kiện môi trường và tâm lý mà được nhận

thức là de doa hoặc thách thức” (Worchel, S & Sheblsue, W., 2007).

Hai quan điểm trên, nhìn nhận stress là những đáp ứng, phản ứng sinh học của

cơ thê hoặc một quá trình phản ứng của con người Dáng chú ý, việc xem Xét stress

như một phan tat yêu của con người, trong quá trình sống đã loại bỏ những quan niệmphiền điện trước đây, khi cho rằng stress chí mang lại tiêu cực cho con người

Theo R.S Lazarus (1966), “stress như một quá trình tương giao giữa con người

và môi trường, trong đó đương sự nhận định sự kiện từ môi trường là có tính chất đe

dọa và có hại, đòi hỏi đương sự phải cô gắng sử dụng các tiềm năng thích ứng của

minh” Nói cách khác, theo Lazarus, “stress là trạng thái hay cảm xúc mà chủ thê trải

nghiệm khi họ nhận định răng các yêu cầu và đòi hỏi từ bên ngoài và bên trong có tính chất de doa, có hại, vượt quá nguồn lực cá nhân và xã hội mà họ có thê huy động

được” (Vũ Dũng, 2000).

Theo Tô Như Khuê, “stress chính là những phản ứng không đặc hiệu xảy ra một

cách chung khắp, do các yếu tổ có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà con người chủ quan thay là bat lợi hoặc rủi ro ở đây vai tro quyết định không chủ yếu do

tác tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó" (Tô Như Khuê,

1990).

27

Trang 35

Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thì cho rằng: “stress là một van dé mang tính cá nhân,

ta trải nghiệm bao nhiêu stress là do bản chất của tác nhân gây stress quyết định, do

cách stress được lý giải ra sao, những nguồn lực sẵn có đẻ đối phó với tác nhân gây

stress và loại stress nào ta chịu ảnh hưởng” (Đào Thị Duy Duyên, 2010).

Các quan điểm trên có điểm chung khi cho rằng stress là một hiện tượng nhận

thức của cá nhân, một quá trình tương tắc với môi trường Rõ ràng hơn ở các khái

niệm trước, stress ở đây được hiểu là một dién tả chủ quan, từ trong tâm trí, nên nó

xuất hiện tùy theo cách nhìn của con người với sự việc Các tác giả đã để cập đúng

và đủ ở yếu tô tâm lý, yêu tô cá nhân của con người và vai trò quyết định của nó trongcách con người sẽ hành xử với những tác nhân ma con người gặp phải là như thé nào

Vào thập niên 80, tác giả Xô — Viết Kitaepxmux, L.A nhìn nhận: “Stress là

những nét không đặc hiệu của những biểu hiện sinh lý và tâm lý của cơ thẻ, nảy sinh

trong mọi phản ứng của cơ thể” Theo ông, tính không đặc hiệu của các quá trình

thích nghi tâm lý và sinh lý thé hiện - cả tiêu cực lẫn tích cực - khi gặp các tác động

khác nhau về cường độ trường độ, và tam quan trong cúa nó đối với chủ thê (Nguyễn

Thành Khải, 2001).

Theo nhóm tác giả Phạm Minh Hac, Trần Trọng Thúy và Nguyễn Quang Uan:

“stress là những xúc cảm nảy sinh trong tình huống nguy hiểm hang hụt hay trong

những tình huống phải chịu sự nặng nhọc ve thé chat và tinh than hoặc trong những

điều kiện phải quyết định hành động nhanh chóng và trọng yếu” (Nguyễn Quang Uan

và cộng sự, 2002).

Theo Encarta và một số từ điện tâm lý học của Mỹ, danh từ stress có hai nghĩa: Thứ nhất, đó là “lực kháng lại được hình thành trong cơ thé chống lại lực tác động

bên ngoải” hoặc “mt tình trạng gay khó chịu hoặc gây những anh hưởng trái ngược

bên ngoài và có thê anh hưởng tới sức khỏe thé lý, dé nhận thay qua dấu hiệu: nhịp

tim tăng, huyết áp cao, cơ căng, cảm giác khó chịu, và ưu phiền” Thứ hai “stress là

một kích thích thé lý hoặc tâm lý có thé gây ra stress tinh thần hoặc các phan ứng sinh

lý - những phan ứng có the dẫn đến các bệnh”; còn động từ stress chỉ việc “chju áplực, stress về thể lý và tinh than” (Phạm Thị Hồng Dịnh, 2007)

28

Trang 36

Đứng dưới góc độ này, chúng ta thấy được một cách nhìn đa ngành hơn vẻ

stress Không chỉ nhìn nhận trên bình diện sinh học, những phản ứng cơ thé một cách

thông thường mà các yếu tố liên quan đến tâm lý cũng được thêm vào và nhìn nhận

một cách phù hợp.

Theo tác giả Đào Lê Duy Duyên, có rat nhiều định nghĩa khác nhau về stress,

có những định nghĩa về stress dựa trên bình diện sinh học có những định nghĩa dựa

trên bình điện tâm lý hoặc môi trường hoặc phối hợp cả ba bình diện đó, có những

định nghĩa đơn gián, có những định nghĩa phức tạp hơn nhưng khái quát lại các định

nghĩa đó đã chỉ ra được (Dao Lê Duy Duyên, 2010):

+ Bản chất của stress: stress là một tình trạng đang chịu một sức ép hay áp lực

mạnh hoặc một trạng thái stress về nhiều mặt (sinh lý tâm lý) biéu hiện qua các dấu

hiệu cơ thé; hoặc stress như một quá trình tương tác giữa con người và môi trường;

hoặc stress là nỗ lực của cơ thé dé thích nghỉ: hoặc stress là mọi đáp ứng, phản ứng của con người xảy ra một cách chung khắp, trên nhiều bình điện (sinh lý, tâm lý, xã

hội) với những tác động vào người đó.

+ Những nguồn gốc (tác nhân, nguyên nhân) gây stress hoặc góp phan tạo nên stress ; một phan đo bản chat cúa những kích thích (sức ép) da dang từ bên ngoài hoặc

do chính ban thân gây ra (tự tạo áp lực ) một phan do nhận thức của cá nhân lý giải

về nguôn gốc gây stress ra sao và nhận thức về khả năng và tiềm lực của bản thân,

cũng như các nguồn lực sẵn có dé ứng phó (stress xuất hiện khi thiếu khả nang, nguồn

lực để ứng phó)

+ Những anh hưởng, hệ quả của stress: gây ra những hậu qua và ánh hưởng đến

sức khỏe con người biéu hiện ở các mặt sinh lý tâm lý (quá trình nhận thức, cảm xúc,

hành vi), xã hội (cuộc sống, hoạt động thường ngày ) và những hậu quả đó sẽ tùy

theo khả năng ứng phó của mỗi người.

Thông qua việc tong hợp nhiều định nghĩa khác nhau về stress, người nghiên

cứu xác lập khái niệm stress như sau: “Stress là trạng thái mat cân bằng, gây ra

những căng thăng về tâm lý, do sự phản ứng của cơ thế với những tác nhân khó

khăn mang tính chủ quan từ bên ngoài, ảnh luưướng trên bình điện tâm lý và xã hội

của chii thé”.

29

Trang 37

1.2.1.2 Biéu hiện của stress

a Biểu hiện sinh lý

Theo nhà sinh lý học Walter Cannon, phản ứng của con người và động vật đối

với các tình huống nguy hiém hoặc stress là “fight — flight” (chống trả hoặc bỏ chạy),

nói lên được phan ứng cơ thẻ với các tác nhân kích thích Ngày nay, với sự phát triển

của khoa học hiện đại, các nha khoa học đã xác định được các hạch hạnh nhân có vai

trò quan trong trong phan ứng “Fight - Flight”, bằng cách gửi tín hiệu đến vùng đưới

đôi, kích thích hệ thông thần kinh tự trị Hệ thông thân kinh tự trị bao gồm hệ thông

thần kinh giao cảm và phó giao cảm Hệ thong than kinh giao cảm điều khién phan

ứng chiến dau hoặc bỏ chạy Còn hệ thống thần kinh phó giao cảm điều khiến phảnứng đóng băng — một phản ứng mới được phát hiện gần đây

+ Phản ứng chong trả (Fight): Khít hàm, nghién răng, bị thúc giục phải dam một

cái gì đó hoặc một ai đó, cảm giác tức giận dữ dội, dam chân hoặc đá chân, khóc vi

tức giận, cảm giác nóng hoặc that trong da dày của bạn và tan công lại môi de doa.

+ Phản ứng bỏ chạy (Flight): Sự gia tăng của các hormone, như adrenaline, giúp

cơ thê có sức chịu đựng dé tron tránh mối đe dọa lâu hơn mức bình thường, Phải vận

động quá mức, cảm thay bồn chon, căng thăng hoặc bị mắc kẹt, liên tục di chuyển

chân, ban chân và cánh tay của ban, cơ thé bồn chén, cảm giác tê tay và chân, và mat

H #

lam lét,

+ Phản ứng đóng băng (Freeze): Cảm giác sợ hãi, da nhợt nhạt, cảm giác cứng,

nang, lạnh và tê, tim đập mạnh và bạn cam thay nghe rõ tiếng tim mình đập, nhịp tim

giảm Phản ứng đóng băng sẽ khiến bạn cảm thay bé tắc Phản ứng này xảy ra khí cơ thé bạn không nghĩ rang bạn có thé chóng lại hay chạy trồn khỏi mỗi đe dọa.

Tác giá Hans Selye miêu tả quá trình phan ứng sinh lý của cơ thé với tác nhân

gây stress bang “hội chứng thích nghỉ chung” (viết tắt là GSA) với ba giai đoạn kế

tiếp nhau Biéu hiện của quá trình này là sự tăng cường rồi suy kiệt của hệ thông thần

kinh — nội tiết: đưới đôi — tuyên yên — vỏ thượng thận Ba giai đoạn, gồm:

30

Trang 38

- _ Giai đoạn bảo động: Những cơ quan đối đầu với tác nhân gây stress sẽ lập tức

đi vào trạng thái báo động qua một chuỗi những thay đối sinh học phức tạp

điển ra như tăng nhịp tim, thé nhanh và những triệu chứng khác.

- Giai đoạn cằm cự: Cơ quan giữ được sự thức tỉnh trong khi cơ thê hoạt động

để chống lại và thích ứng kích thích đó, những tác nhân gây stress tiếp tục làmdju đi thời gian stress, cơ quan sẽ tiền vào giai đoạn ba gọi là kiệt sức

- Giai đoạn kiệt quệ: Thời kì này, cơ quan làm giảm bớt sự nghiêm trọng và bắt

đầu cảm nghiệm sự thay đôi của việc suy yếu hay ánh hưởng của stress kéođài như bệnh tim, huyết áp cao Nếu stress cham dứt, giai đoạn ba sẽ dẫn đến

sự chết đi của cơ quan nào đó

Theo tác giả Nguyễn Công Khanh, stress có 3 ảnh hưởng sinh lý (Nguyễn Công

Khanh, 2000):

- Lam rồi loạn các quá trình trao đôi chất, làm thay đôi các quá trình sinh hoá,

dẫn đến các tác nhân gây bệnh (như vi khuẩn, vi trùng, vi rút) có nhiều cơ hội

thâm nhập gây bệnh hay truyền bệnh.

- Khởi động hay thúc đây một tác nhân gây bệnh đã có nay có điều kiện sinh sôi

hay hoạt động trở lại gây bệnh.

- Giúp duy trì một quá trình bệnh lý dang dién ra, làm chậm lại quá trình khỏi

bệnh.

Theo Đào Lê Duy Duyên, một số ảnh hưởng sinh lý, đồng thời cũng là nhữngbiêu hiện cụ thé của stress đã được biết đến như (Đào Lê Duy Duyên 2010):

- Anh hưởng đến não: stress thường xuyên khiến não trở nên kém linh hoạt,

minh man, thậm chi có nguy cơ bị tôn thương nghiêm trong.

- Anh hưởng đến hệ hô hap: stress kích thích tuyển thượng thận giải phóng

hormone adrenaline Khi lượng hormone này tăng cao thì hơi thớ thường trở

nên gap gap, hôn hên không sâu, phải rướn lên dé thở Người bi stress néu đã

mắc bệnh suyén hoặc các bệnh khác về đường hô hap thì bệnh tình sẽ trở nên

tôi tệ hơn

Ji

Trang 39

Ảnh hưởng đến tim: stress liên quan đến bệnh sơ vita động mạch vành, rốiloạn nhịp tim (tim đập nhanh, mạnh) Một số stress vẻ tinh than hoặc tình cảm,gây ra quá trình thiểu máu cục bộ cơ tim có thé dién ra một cách lặng lẽ.

Anh hưởng đến hệ bài tiết: khiến cơ thê hay bị dé m6 hôi một cách khác thường (ví dụ, đẫm mỏ hôi tay) ngay cả khi nhiệt độ không cao hoặc không có sự vận

động cơ thé gắng sức

Anh hưởng đến cơ khớp: Ngoài tác hại làm hơi thở trở nên gấp gdp, hormone

adrenaline còn khiến cơ bắp dé căng cứng, mệt mỏi; lưng, cô, hàm hay mặt dé

bị đơ hoặc đau nhức Các nhà khoa học cho rằng stress không những khiến chúng ta lười vận động ma còn có khuynh hướng nằm, ngồi, đi, đứng không

hợp lý, càng thêm moi mệt, và gây ra những bệnh cơ khớp

Ảnh hưởng đến mắt, cơ quan cảm giác: Mất ngủ đo stress lâu ngày làm mắt mệt mỏi, thâm quang hoặc sưng đỏ thậm chí còn có thé làm giảm thị lực cũng như gây thêm nhiều căn bệnh nguy hiểm khác về mit stress làm cho cơ thé có

những phản ứng giác quan quá mức như tai có cảm giác khó chịu với những

tiếng động hằng ngày, mắt nhạy cảm với ánh sáng

Ảnh hướng đến da: Theo các nhà khoa học tại Trường DH Freedom ở Berlin,

một trong những tác hại chính của stress đối với da là kích thích các tuyến nhờn hoạt động mạnh, khiến da trở nên kém mịn màng, nhanh lão hóa và dé nôi mun, có khi còn làm xuất hiện các bệnh nguy hiểm khác như chàm bội

nhiễm vay nến

Ảnh hướng đến tiêu hóa: Khi bị stress, những loại hormone có tác dụng tăngcường lưu lượng máu đến các cơ trên cơ thé sẽ thuyên giảm rõ rệt hậu quả làsức vận động cũng như sự co bóp của chúng bị giới hạn hoặc yếu đi, trong đó

có da dày, dẫn đến tình trạng khó tiêu, day hơi, buôn nôn và chướng bung, tiêu

chảy hoặc táo bón Đông thời tạo ra những thay đôi trong ăn uống (ăn không ngon miệng, ăn quá nhiều hoặc ít hơn bình thưởng, không muốn ăn) dẫn đến

cơ thé tăng hoặc giảm cân đột ngột.

Ảnh hưởng đến răng miệng: Khi tỉnh thần suy sup, stress, hoat động của hệ

miễn dịch trở nên kém hiệu quả, nguy cơ nổi mụn nhiệt (còn gọi là đẹn) ở vòm

miệng, nướu, lợi, lưỡi sẽ rat cao.

‡2

va

Trang 40

- Anh hưởng đến dau: stress là một trong những nguyên nhân chính khiến đầu

óc dễ choáng váng, mệt mỏi, kể cả chứng đau đầu kinh niên Nguy cơ này sẽcao hơn néu lung và cỏ bị tổn thương trong khi stress hành hạ

- Ảnh hưởng hệ sinh sản: Giảm nhu cầu tình dục, lãnh cảm, giao hợp đau, xuất

tinh sớm Đối với nữ thì có sự rỗi loạn kinh nguyệt, đau hơn khi hành kinh.

- Anh hướng đến giấc ngủ: làm rồi loạn giắc ngủ như khó ngủ, ngủ chap chon,

hay thức giac, hay có ác mộng và cảm giác khó thức dậy, khó hỏi phục sức lực sau khi ngủ.

- Anh hưởng đến hệ thần kinh: gây ra các chứng nhức đầu (đau nửa đầu, chóng

mặt, choáng, hoa mắt và nhiều trường hợp gây ra chứng suy nhược thần kinh

b Biểu hiện tâm lý

Theo tác giả Nguyễn Thị Thanh, biểu hiện của stress trên phương diện tâm lý

được thê hiện qua ba mặt (Nguyễn Thị Thanh, 2012):

- Sw thay đôi vẻ nhận thức: Theo L.A.Kitaepxmux, stress làm tăng cường tính

tích cực của tư duy đó là sự xứ lý toàn bộ thông tin mà chủ thé có nhằm làm

chủ tình huống gây stress, nhưng đến một mức độ stress nào đó ở chủ thê xuất hiện tình trạng giảm tính tích cực tư duy, giảm hoặc mat trí nhớ, chú thê “rời

bỏ việc giải quyết van dé gây stress” Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra khi

stress ở mức độ vừa có thé dẫn đến những thay đôi tích cực như tăng cường khả năng thích nghỉ, tập trung chú ý Tuy nhiên nếu stress kéo dai sẽ làm

giảm sút các hoạt động nhận thức như tiếp nhận thông tin chậm, giảm cảm

giác với các sự vật, trí nhớ giảm, hay quên, nói năng không mạch lạc, quyết định đưa ra thiếu chính xác

Tác giá Lưu Hữu Thông cũng đồng ý với sự thay đổi về nhận thức trên khi có

mặt của stress, nêu rằng: khi có stress ở một mức độ nhất định có thê dẫn đến sự thay

đôi tích cực của tư duy, trí nhớ, khả năng chú ý Điều này có lợi với chủ thê và giúp

chủ thẻ thích ứng tốt hơn với cuộc sông và công việc Nếu như chỉ dừng lại ở mức

này, stress là có lợi Nhưng nếu stress quá mức hoặc kéo đài, điều này có thê dẫn đếnnhững sự giám sút về nhận thức của con người như: cảm giác, tri giác kém nhạy bén

(như tiếp nhận thông tin chậm, nhìn, nghe không rõ cảm nhận sự vật không đúng

33

Ngày đăng: 20/01/2025, 00:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Thang điểm đánh giá thực trạng biểu hiện HVSDRB - Khóa luận tốt nghiệp Tâm lý học: Mối quan hệ giữa stress và hành vi sử dụng rượu bia của sinh viên trên địa bàn TP. HCM
Bảng 2.2. Thang điểm đánh giá thực trạng biểu hiện HVSDRB (Trang 64)
Bảng 2.8. Mie độ stress của SV trên địa bàn TP.HCM - Khóa luận tốt nghiệp Tâm lý học: Mối quan hệ giữa stress và hành vi sử dụng rượu bia của sinh viên trên địa bàn TP. HCM
Bảng 2.8. Mie độ stress của SV trên địa bàn TP.HCM (Trang 70)
Bảng 2.10. Biểu hiện về nhận thức của SV về HVSDRB - Khóa luận tốt nghiệp Tâm lý học: Mối quan hệ giữa stress và hành vi sử dụng rượu bia của sinh viên trên địa bàn TP. HCM
Bảng 2.10. Biểu hiện về nhận thức của SV về HVSDRB (Trang 72)
Bảng 2.11. Biểu hiện về xúc cảm — tình cảm của SV ve HVSDRB - Khóa luận tốt nghiệp Tâm lý học: Mối quan hệ giữa stress và hành vi sử dụng rượu bia của sinh viên trên địa bàn TP. HCM
Bảng 2.11. Biểu hiện về xúc cảm — tình cảm của SV ve HVSDRB (Trang 74)
Bảng 2.12. Biểu hiện về ý chí của SV về HVSDRB - Khóa luận tốt nghiệp Tâm lý học: Mối quan hệ giữa stress và hành vi sử dụng rượu bia của sinh viên trên địa bàn TP. HCM
Bảng 2.12. Biểu hiện về ý chí của SV về HVSDRB (Trang 76)
Bảng 2.14. Biểu hiện về sức khỏe của SV về HVSDRB - Khóa luận tốt nghiệp Tâm lý học: Mối quan hệ giữa stress và hành vi sử dụng rượu bia của sinh viên trên địa bàn TP. HCM
Bảng 2.14. Biểu hiện về sức khỏe của SV về HVSDRB (Trang 82)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w