BÀI THẢO LUẬN
TÀI NGUYÊN DU LỊCH
ĐỀ TÀI: “ PHÂN TÍCH TÀI NGUYÊN DU
LỊCH THỦY VĂN VÀ THỰC TRẠNG KHAI THÁC THỦY VĂN TRONG KINH DOANH DU
LỊCH TẠI VÙNG TÂY NAM BỘ ”
Trang 2Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2 :Thực trạng khai thác thủy văn trong kinh doanh du lịch ở Tây Nam Bộ
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị cho khai thác tài nguyên nước cho phát triển du lịch ở Tây Nam Bộ
Trang 3Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm tài nguyên du lịch
• Theo luật du lịch Việt Nam 2005: Tài nguyên du lịch là cảnh quan
thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản
để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị
du lịch
• Có 2 loại tài nguyên du lịch:
+ Tài nguyên du lịch tự nhiên
+ Tài nguyên du lịch nhân văn
Trang 41.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên thủy văn
1.2.1 Khái niệm thủy văn
• Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể
sử dụng vào những mục đích khác nhau Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường.
• Nhiều loại hình du lịch cũng gắn với đối tượng nước như du lịch tắm biển, du lịch tắm khoáng…
Trang 5
1.2.2 Các loại thủy văn
Tài nguyên nước mặt Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất.
Tài nguyên nước khoáng Nước thiên nhiên, chứa một số thành phần vật chất đặc biệt (các nguồn hoá học, các khí, chất phóng xạ,) hoặc có một số tính chất vật lý (nhiệt độ, độ pH ) có tác động sinh
lý với con người, có giá trị an dưỡng, chữa bệnh
Trang 6Việt Nam là nước có mạng lưới thủy văn dày đặc, nhiều nước, nhiều phù sa, với nhịp điệu mùa theo sát nhịp điệu mùa khí hậu.
Phản ánh tác động tổng hợp giữa khí hậu nội chí tuyến gió mùa ẩm và cấu trúc địa hình đồi núi già được tân kiến tạo làm trẻ lại
Theo sát nhịp điệu mùa mưa và khô của khí hậu nội chí tuyến gió mùa ẩm
Có sự phân hóa rõ rệt trong không gian
1.2.3 Đặc điểm thủy văn nước ta
Trang 71 Nước ngầm
• Vùng đồng bằng châu thổ ven biển
- Nhiều nước ngầm nhất là hai châu thổ lớn của sông Hồng và sông Cửu Long
• Vùng núi
- Có phạm vi từ Việt Bắc và Đông Bắc qua Tây Bắc và Bắc Trung Bộ xuống đến Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ
2 Nước khoáng
• Nước suối khoáng nóng là một tài nguyên thiên nhiên quí giá mà thiên nhiên ban
tặng cho con người
• Ở nước ta đã phát hiện nhiều nguồn nước khoáng nóng và đã được khai thác,
tạo các khu nghỉ dưỡng phục vụ cho sức khỏe
Trang 10Các điểm nước khoáng, nước suối nóng:
• Suối nước nóng Tiên Lãng - Hải Phòng
• Suối nước nóng Kim Bôi - Hòa Bình
• Suối nước nóng Quang Hanh - Quảng Ninh
Trang 11Chương 2: Thực trạng khai thác thủy văn trong kinh doanh du lịch ở Tây Nam Bộ.
Trang 122.1 Khái quát về vùng Tây Nam Bộ
• Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
- Tây Nam Bộ còn gọi là Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm 13 tỉnh, thành phố là Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Trà Vinh, An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang và Cà Mau.
- Đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông có diện tích 39.734 km² Có vị trí nằm liền kề vùng Đông Nam Bộ phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông.
• Khí hậu
- Tây Nam Bộ có nhiệt độ cao, ổn định trong toàn vùng, trung bình là 28 độ
Trang 13• Dân cư
- Dân cư sinh sống ở vùng Tây Nam Bộ bao gồm nhiều dân tộc khác nhau, trong đó có 4 dân tộc chính là: Kinh (Việt), Hoa, Chăm và Khmer
Trang 14• Văn hóa lịch sử
- Văn hóa nổi bật nhất ở vùng Tây Nam Bộ chính là văn hóa Óc Eo, một trong ba nền văn hóa cổ của Việt Nam là văn hóa Đông Sơn và Sa Huỳnh.
• Du lịch
- Miền Tây Nam Bộ có vùng đồng bằng rộng lớn với những làng quê, miệt vườn trù phú cùng những dòng sông, kênh rạch chằng chịt, bên các cù lao và rừng tràm ngập nước, mang vẻ đẹp hoang sơ
- Du lịch miền Tây Nam Bộ đã và đang khai thác nét văn hóa thể hiện qua sinh hoạt cuộc sống thường ngày của người dân
Trang 152.2 Đặc điểm thủy văn vùng Tây Nam Bộ
2.2.1 Mạng lưới sông và kênh
• Vùng Tây Nam Bộ có mạng lưới sông khá phức tạp, trong đó chủ yếu
là sông Cửu Long và các chi lưu của nó.
• Dựa vào bản đồ ta có thể phân biệt mạng lưới sông rạch tự nhiên với dạng ngoằn nghèo khác với các kênh nhân tạo thẳng tắp.
• Toàn bộ hệ thống sông rạch kênh mương này đã làm Tây Nam Bộ có một hệ thống thủy văn duy nhất, nối liền sông Hậu với biển Đông và biển Tây.
• Các kênh đào chủ yếu theo hướng Đông Bắc - Tây Nam
Trang 162.2.2 Đặc điểm chế độ thủy văn
• Hằng năm sông Cửu Long chuyển trên 500 tỷ m3 nước ra đến biển với lưu lượng bình
quân là 13.500 m3/s, trong 3/4 đưa về trong mùa mưa lũ kéo dài 5 tháng từ tháng 5 đến tháng 10 hằng năm, 1/4 lượng nước đưa ra biển trong 7 tháng còn lại.
+Module dòng chảy M = 17,2 l/s.km2
+ Độ sâu dòng chảy Y = 542,42 mm
+ Hệ số dòng chảy α = 0,25 - 0,30
• Trong mùa lũ, gió mùa Tây Nam xuất phát từ vùng biển Ấn Độ dương tràn tới kết hợp với
các luồng khí áp từ Châu Úc tạo nên một địa hình mưa nhiệt đới rất lớn
• Lũ sông Mekong là kết quả tập trung nước của nhiều nguồn:
15% do tuyết tan ở Tây Tạng 15 - 20% do mưa ở Tây Tạng
40 - 45% do mưa ở Hạ Lào 10% do mưa ở Campuchia
10% do mưa ở Tây Nam Bộ
Trang 172.2.3 Phân phối lượng chảy
Lưu lượng bình quân nhiều năm của sông Mekong khi chảy qua Kratié (Campuchia) vào khoảng 13.500 m3/s
Tính chất đặc thù của sông Cửu Long là mùa kiệt rất thiếu nước, lưu lượng bình quân lớn nhất trong mùa kiệt là 5.920 m3/s, lưu lượng bình quân là 1.700 m3/s và lưu lượng bình quân nhỏ nhất là 1.200 m3/s
Đặc trưng lũ của ĐBSCL là mực nước lũ tương đối lớn và thời gian lũ kéo dài Ta có thể phân biệt các cơn lũ ở ĐBSCL qua mực nước lớn nhất Hmax ở Tân Châu:
+ Lũ lớn: Hmax > 4,50 m + Lũ trung bình: Hmax = 4,00 - 4,50 m
+ Lũ nhỏ: Hmax < 4,00 m
Trang 182.2.4 Nước ngầm ở vùng Tây Nam Bộ
• Nước ngầm hiện nay là nguồn cung cấp nước ngọt quan trọng cho các vùng nhiễm mặn ở Tây Nam Bộ
• Tây Nam Bộ có cấu tạo địa chất tương đối đơn giản, gồm lớp phù sa
cũ nằm dưới lớp phù sa mới, việc khai thác nước ngầm cũng khá dễ dàng Lớp phù sa cũ này bao gồm các lớp sạn sỏi và cát chứa các
mạch nước ngầm rất tốt ở độ sâu trung bình từ 150 - 200 m trở lên
Trang 19• 2.3 Đối tượng được khai thác phục vụ du lịch ở Tây Nam Bộ
• Bãi biển Ba Động (Trà Vinh) Tên của bãi biển Ba Động được xuất phát từ những triền cát trắng
• Bãi biển Khai Long (Cà Mau)
Trang 20• Huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang) được mệnh danh là Đảo Ngọc nơi cực Nam Tổ quốc
• Đặc biệt năm 2006, Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới, trong đó có Phú Quốc
• Những sản phẩm du lịch ở đây như: Tắm biển, tắm suối, leo núi, nghỉ dưỡng, ngắm nhìn thắng cảnh thiên nhiên trong mối giao hòa giữa
biển - trời - mây - nước - núi rừng
Trang 21BÃI SAO PHÚ QUỐC
Trang 22nguồn cung cấp nước ngọt chính
cho cả hòn đảo du lịch Phú Quốc
• Hồ Soài So là hồ nằm ở sườn phía
đông núi Cô Tô, thuộc xã Núi Tô,
huyện Tri Tôn
HỒ DƯƠNG ĐÔNG
Trang 23• 2.3.3 Sông suối
• Du lịch Tiền Giang là du lịch sinh thái Các miệt vườn nối tiếp
nhau dài tít tắp với đủ các loại cây trái như: chôm chôm, bưởi,
xoài, vú sữa Cù lao Thới Sơn, một vùng chuyên canh cây ăn trái, được ví như viên ngọc quý ở hạ lưu sông Tiền Du khách xuống đò chèo xuôi theo những con rạch ngoằn ngoèo giữa hai hàng dừa
nước rậm rạp và những hàng thủy liễu ven sông
• Cần Thơ được ví như "Ðô thị miền sông nước“
• Hình ảnh những dòng sông khe suối lại gắn liền với chợ nổi- hình ảnh độc đáo phản ánh cuộc sống của nhân dân với thiên nhiên
miền Tây như chợ nổi Cái Răng của Cần Thơ, chợ nổi Cái Bè
(Tiền Giang)
Trang 24MỘT SỐ CHỢ NỔI Ở TÂY NAM BỘ
CHỢ NỔI CÁI BÈ TIỀN GIANG CHỢ NỔI CÁI RĂNG
Trang 252.4 Đánh giá thủy văn vùng Tây Nam Bộ trong kinh doanh
du lịch
Miền Tây Nam Bộ có tiềm năng du lịch rất lớn Ðó
là vùng đồng bằng rộng lớn với những làng quê, miệt vườn trù phú cùng những dòng sông, kênh rạch chằng chịt, bên các cù lao và rừng tràm ngập nước, mang vẻ đẹp hoang sơ
Du lịch miền Tây Nam Bộ đã và đang khai thác nét văn hóa thể hiện qua sinh hoạt cuộc sống thường ngày của người dân
THUẬN LỢI
Trang 26Phần lớn các địa phương mới chỉ tập trung khai thác sản phẩm du lịch dựa trên các tài nguyên chính là sông nước, miệt vườn và đờn
ca tài tử.
Là nơi dòng sông Mekong nặng trĩu phù sa đổ
ra biển nên mặc dù có bờ biển dài trên 700km nhưng đồng bằng sông Cửu Long không có
nhiều bãi biển đẹp
• KHÓ KHĂN :
Trang 27Chương 3: Giải pháp cho khai thác tài nguyên nước
trong phát triển du lịch vùng
Tây Nam Bộ
Trang 28Tăng cường xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp lý để khai thác hợp lý và bảo vệ tài nguyên thủy văn phục vụ du lịch
Quản lý việc khai thác và sử dụng tài nguyên thủy văn tại các khu du lịch
Có sự tuyên truyền, giáo dục về việc khai thác và bảo vệ tài nguyên nước với khách du lịch, các nhà kinh doanh du lịch
và người dân địa phương