Vào thời điểm nay c6 hai chinh quyén cung tén tai song song vé mat quan ly hanh chinh, mét 1a Chinh quyền quốc gia Việt Nam do thực dân Pháp thành lập chủ yêu kiểm soát các đô thị va các
Trang 1ss Se SK OS OO
UY BAN NHAN DAN TINH BINH DUONG TRUONG DAI HOC THU DAU MOT KHOA KINH TE [ &
Wind oa sor
MON HOC NGHIEN CUU NHUNG VAN DE KINH TE - XA HOI DONG
NAM BO
DE TAI: KINH TE XA HOI DONG NAM BO TRONG THOI KY
CHIEN TRANH GIAI PHONG DAN TOC (1945 - 1975)
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN
Hong Phuong Dung _| 2023401010748 | D20QTKDO08 | Thanh vién 100
Ha Thi Hong Van 2023401011460 |D20QTKD02 | Thành viên 100 Nguyễn Hoàng Ngọc | 2023401010683 | D20QTKD08 Nhóm 100
_Anh truong
Nguyễn Thị Thúy 2023401010554 |D20QTKD03 | Thành viên 100
Bo Thị Thanh Loan | 2023401010519 | D20QTKD03 | Thành viên 100 Đoàn Thủy Chung | 2023401010728 | D20QTKD03 | Thành viên 100 Phan Thi Yén Linh | 2023041010976 | D20QTKD03 | Thành viên 100
Đề tài: Kinh tế - xã hội Đông Nam Bộ trong thời kỳ chiến tranh giải phóng
dân tộc (1945 — 1975)
Trang 3PHAN MO DAU
Tinh cap thiét
Kinh tế - xã hội Dong Nam Bộ đang từng bước phát triển (thông qua 75 năm, kế
từ Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công cho đến năm 1975 khi Chủ tịch Hồ Chí
Minh đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập khai sinh ra nước Việt Nam Chiến thắng về mặt lãnh thô, Việt Nam đã từng bước hàn gắn vết thương chiến tranh, đưa nước ta từ một
nên kinh tế nông nghiệp tiến lên phát triển kinh tế, và định vị vị thế quốc gia trên bản
dé thé ĐIỚI Miền Đông Nam Bộ, Việt Nam là một trong những khu vực kinh tế trọng điểm của nước ta, và hiện đang được các nhà ngiên cứu khoa học trong cả nước đưa ra bàn luận nghiên cứu
Vấn dé vùng miễn ngày nay đang ngày càng được đa dạng hóa, những vùng miền khác nhau có những cách thức phát triển, vận động và liên kết khác nhau Những vấn đề ấy đã và đang ảnh hưởng không ngừng đến quá trình toàn cầu hóa trên khắp các khu vực của mọi quốc gia trên thế giới Vấn đề về văn hóa, sắc tộc, môi trường, tải nguyên và con người luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm, đề tìm ra các biện pháp
và chiến lược mang tính vĩ mô đề phát triển kinh tế - xã hội Trường Đại học Thủ Dầu Một định hướng nghiên cứu về miền Đông Nam Bộ về lâu dải, đây là vùng nhiều tiềm
năng và nguồn tài nguyên quan trọng dé phát trién và xây dựng đất nước
Mục tiêu
Mục tiêu tông quát: phân tích tình hình kinh tế - xã hội của Đông Nam Bộ trong
thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc (1945 — 1975)
Mục tiêu cụ thể:
- Tim hiểu tô chức và thiết chế hành chính Đông Nam Bộ (1945 — 1975)
- Xác định tỉnh hình kinh tế - xã hội Đông Nam Bộ (1945 - 1954)
- _ Xác định tỉnh hình kinh tế - xã hội Đông Nam Bộ (1954 - 1975)
Trang 4Sử dụng phương pháp quan sát, so sánh và phân tích tông hợp đề tìm hiểu về tô
chức và thiết chế hành chính Đông Nam Bộ (1945 — 1975) và xác định tình hình kinh
tế - xã hội Đông Nam Bộ trong 2 giai đoạn 1945 — 1954 và 1954 — 1975, Ngoài ra
nhóm còn tìm hiểu và thu thập thông tin, dữ liệu trên báo chí, giáo trình về kinh tế xã hội Đông Nam Bộ (1945 -1975) và các tài liệu có liên quan khác
Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp thông tin trên báo chi, gido trinh lich sử, sách báo
về các vấn đề liên quan
Y nghia
Về lý thuyết: bố sung thêm lý thuyết cho vấn đề kinh tế - xã hội Đông Nam Bộ
trong chiến tranh (1945 -1975)
Về thực tiễn: Hiếu và xác định được tỉnh hình đề kinh tế - xã hội Đông Nam Bộ
trong chiến tranh (1945 -1975)
Kết cầu đề tài
CHƯƠNG 1: TỎ CHỨC VÀ THIẾT CHẼ HÀNH CHÍNH ĐÔNG NAM BỘ (1945 - 1975)
CHƯƠNG 2: KINH TE - XA HOI DONG NAM BO (1945 - 1954)
CHUONG 3: KINH TE - XA HOI DONG NAM BO (1954 — 1975)
Trang 5cuối thế kỷ XVI - đến đầu XVII, theo Lê Quý Đôn từng ghi nhận lại trong Phú biên
tạp lục “7 các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lap, Cua Dai, Cua Tiểu trở vào toừn là rừng rậm hàng mấy ngàn dặm” Trải qua 3 thế kỷ khai phá, hình thành và phát triển, quá trình biến đổi thiết chế hành chính miền Đông Nam Bộ tương ứng với các cột mốc lịch
sử quan trọng như sau: miền Đông Nam Bộ trong cơ cấu hành chính phủ Gia Định
(1698 — 1808), miền Đông Nam Bộ trong cơ cấu hành chính thành Gia Định (1808 — 1836), miền Đông Nam Bộ trong cơ cầu hành chính Nam Ky luc tinh (1836 — 1859), miền Đông Nam Bộ trong cơ cấu hành chính thời kỳ Pháp thuộc (1859 - 1945), miền
Đông Nam Bộ trong cơ cầu hành chính thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
(1945 — 1975), mién Đông Nam Bộ trong cơ cấu hành chính từ sau ngày miền Nam
giải phóng đất nước thông nhất đến nay
Trong đó nhóm tập trung vào giai đoạn miền Đông Nam bộ trong cơ cấu hành chính thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945 — 1975)
Vào năm 1899 toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định đôi các khu tham
biện thành tỉnh Nam kỳ có tất ca 21 tinh, trong đó Đông Nam Bộ gồm tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Tân An, Mỹ Tho, Gò Công và 2 thành phố
Sài Gòn, Chợ Lớn Đến năm 1931 thì 2 thành phố này sát nhập chung khu Sải Gòn
Chợ Lớn, cơ cầu hành chính này duy trì đến năm 1945 Ngay sau thành công cuộc cách mạng tháng 8, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta lần 2 Vào thời điểm nay c6 hai chinh quyén cung tén tai song song vé mat quan ly hanh chinh, mét 1a Chinh quyền quốc gia Việt Nam do thực dân Pháp thành lập (chủ yêu kiểm soát các đô thị va các vùng giao thông nằm trên trục chính), hai là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do chính quyên cách mạng Việt Nam thành lập bao gồm Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam
bộ và các cấp ủy ban kháng chiến tỉnh, huyện và xã với vai trò quản ly xã hội và tô
chức nhân dân kháng chiến.
Trang 6Về mặt quân sự tại khu vực Nam bộ thực dân Pháp thành lập một số quân khu, vấn duy trì mặt hành chính Nam bộ như trước đó giữ nguyên 22 tỉnh thành Nam bộ
(Gia Định, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Tân An, Mỹ Tho, Gò Công và thành
phố Sải Gòn — Chợ Lớn với 4 cấp tỉnh, quận, tông, làng)
Đối với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mặt hành chính vẫn giữ
nguyên như trước đó (tên gọi — ranh giới), tuy nhiên thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn
được gọi là đặc khu Sải Gòn — Chợ Lớn Năm 1948, Ủy ban lấy 4 xã của Đức Hòa lập khu Đông Thành và giải thể trong năm, năm 1951 Ủy ban đã điều chỉnh lại cơ cấu
hành chính khu vực Đông Nam bộ nhằm đáp ứng yêu cầu cuộc kháng chiến Một số
xã Tân An nhập với Gò Công và Mỹ Tho thành tỉnh mới là Tân Gò Mỹ, một phân đất của tỉnh Tân An sáp nhập với tỉnh Sa Đéc thành tỉnh Đồng Tháp (khác với tỉnh Đồng
Tháp ngày nay) Một phần đất của Tân An và Chợ Lớn nhập với tỉnh Bà Rịa thành
tỉnh Bà Chợ Một phần đất của Chợ Lớn nhập với tỉnh Gia Định và Tây Ninh thành
tinh Gia Dinh Ninh Hai tinh Thu Dau Một và Biên Hòa nhập thành tỉnh Thủ Biên
Cho đến cuối cuộc kháng chiến chỗng Pháp địa giới hành chính miền Đông Nam Bộ gồm các tỉnh Thủ Biên, Gia Định Ninh, Bà Chợ, Mỹ Tân Gò, Đồng Tháp và đặc khu
Sài Gòn Chợ Lớn
Sau Hiệp định Genève 1954, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giữ nguyên ranh giới hành chính các tỉnh thuộc Đông Nam Bộ Đến năm 1955, đặc khu
Sài Gòn Chợ Lớn được đổi thành đô thành Sải Gòn - Chợ Lớn, năm 1956 đôi thành
đô thành Sải Gòn và thành lập một số tỉnh mới Sắc lệnh 21 (17/2/1956) tach quan
Mộc Hóa của tỉnh Tân An thành lập tỉnh Mộc Hóa (tháng 10/1956 đổi tên thành tỉnh
Kiến Tường) Phần đất của tỉnh Tân An còn lại nhập chung với một phần tỉnh Chợ
Lớn cũ thành tỉnh Long An 10/1956 chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thé tinh Thủ Dầu Một nhập chung với một phần tỉnh Biên Hòa để thành lập các tỉnh Bình
Duong, Binh Long và Phước Long (sắc lệnh 143-NV, ngày 22/ 10/1956), một phần tỉnh Biên Hòa được tách ra lập ra tỉnh Long Khánh Một phần của tỉnh Biên Hòa sáp
nhập với một phần tỉnh Bình Thuận đề thành lập tỉnh Bình Tuy Tỉnh Bà Rịa và Vũng
Tàu nhập lại thành tỉnh Phước Tuy sau thêm quần đảo Trường Sa
Từ năm 1957, đưới thời Đệ nhất cộng hòa, chính quyền Việt Nam Cộng hòa định
danh rõ tên gọi khu vực là Đông Nam Bộ là một khu vực hành chính với tên gọi Miền
Trang 7Đông Nam phan, dai dién béi Toa Dai biéu Chinh phu cho tinh thanh: D6 thanh Sai Gon, Gia Dinh, Tay Ninh, Binh Duong, Binh Long, Phudc Long, Bién Hoa, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy và Long An
Năm 1959, cắt một phần đất của 2 tỉnh Biên Hòa và tỉnh Phước Long lập ra tỉnh
Phước Thành (tỉnh này tổn tại đến năm 1965 thì giải thể) Năm 1963, chính quyền Việt
Nam Cộng hòa tách một phần của các tỉnh Long An, Gia Định và Tây Ninh thành lập
tỉnh Hậu Nghĩa (sắc lệnh số 124-NV, ngày 15/10/1963) Tháng 11/1963 Đệ nhất Cộng
hòa bị lật đỗ và đơn vị Miền Đông Nam phân bị xóa bỏ tuy danh từ này vẫn thông dụng, chỉ định khu vực địa lý Từ năm 1966- 1975 thời Đệ nhị Cộng hòa, Miền Đông
Nam phan bao gồm 12 tỉnh thành: Đô thành Sải Gòn, Gia Định, Tây Ninh, Bình
Dương, Binh Long, Phước Long, Hậu Nghĩa, Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy và Long An
Từ năm 1954 — 1969 là giai đoạn chưa có chính quyền chủ yếu do các cấp chính
ủy Đảng thực hiện chức năng lãnh đạo chính trị, vũ trang va phat động, tổ chức đấu tranh Đề thuận lợi cho việc chỉ đạo, ứng phó kỊp thời với chủ trương, âm mưu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chính quyền cách mạng giữ nguyên cơ cấu hành chính cấp tỉnh, thành, đồng thời, ở từng thời điểm cho thành lập các khu, phân khu để
chỉ đạo cách mạng Miền Đông Nam bộ năm 1961 lập thành 2 khu: khu Sài Gòn Gia
Định và khu 7 (Bà Rịa, Long Khánh, Biên Hòa, Bình Dương, Phước Long, Phước Thành, Tây Ninh) riêng Kiến Tường, Long An chuyên qua khu 8 Đến 12/1962, quân khu 10 thành lập với các tỉnh Phước Long, Bình Long, Quảng Đức, Lâm Đồng nhưng đến năm 1963 giải thể, đến năm 1966 được thành lập lại với 3 tỉnh Phước Long, Bình Long, Quảng Đức Đến năm 1967 các khu được giải thê nhằm lập 6 phân khu: huyện
Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp (tỉnh Gia Định), Bến Cát, Dầu Tiếng (tỉnh Bình Dương),
Trảng Bảng (tỉnh Tây Ninh) là phân khu 1, khu 2 gồm các huyện Tân Bình, Bắc Bình
Chánh, các quận 3, 5, 6 Sài Gòn, các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Thủ (tỉnh Long An), phân khu 3 gồm các huyện Nhà Bè, Nam Bình Chánh, các quận 2, 4, 7, 8 (Sai
Gòn) và các huyện Châu Thành, Cần Đước, Cần Giuộc (Long An), phân khu 4 gồm
các quận 1, 9, 10 (Sải Gòn), các huyện Thủ Đức, Cần Giờ (Gia Định), Long Thành,
Nhơn Trạch, Bình Sơn (Biên Hòa), phân khu 5 gồm Phú Nhuận, Bắc Thủ Đức (Sai Gon), cac huyén Tan Uyén, Déc Lap (Bién Hoa), cac huyén Phu Gido, Lai Thiéu,
Trang 8Châu Thành, Dĩ An, thị xã Thủ Dầu Một (Bình Dương), ngoài 6 phân khu trên, các
tỉnh Bà Rịa, Biên Hòa, Tây Ninh và Khu 10 được giữ nguyên, đến 3/1968 khu 7 được tái lập gồm địa bàn Phân khu 4, tỉnh Bà Rịa, Long Khánh và Biên Hòa
Năm 1969, chính phủ cách mạng lâm thời là Cộng hòa miền nam Việt Nam được thành lập, mặt trận giải phóng dân tộc miền nam Việt Nam chuyên giao chức năng hành chính cho chính phủ lâm thời Ủy ban nhân dân cách mạng Đông Nam bộ phân chia theo các cấp: phân khu, tỉnh, quận, xã Năm 1970 thành lập phân khu 23 Long An
(bao gồm phân khu 2 và phân khu 3 Năm 1971 giải thể khu 10, thành lập phân khu
Binh Phước gồm 2 tỉnh Bình Phước và Phước Long Năm 1971 giải thể khu 7, thành
lập hai phân khu mới: phân khu Bà Biên (gồm Bà Rịa, Long Khánh vả phân khu 4) và
phân khu Thủ Biên (gồm Biên Hòa và phân khu 5) Năm 1972 giải thể các phân khu
và thành lập lại khu 7 (khu Miễn Đông) và khu Sài Gòn Năm 1974 khu miền Đông thống nhất tên gọi là Khu 7 Đầu năm 1975 tỉnh Tây Ninh và Bình Phước tách khỏi
Khu 7 trực thuộc Trung ương Cục Miền Nam và Bộ Chỉ huy miền Hệ thông tổ chức hành chính này tồn tại đến ngày miễn Nam giải phóng (30/4/1975)
Trang 9CHUONG 2: KINH TE - XA HOI DONG NAM BO GIAI DOAN
(1945 — 1954 )
2.1 Kinh tế Đông Nam Bộ giai đoạn 1945 — 1954
2.1.1 Nông nghiệp
Thời kỳ 1945-1954 là thời kỳ đầu tiên xây dựng chế độ kinh tế mới ở Việt Nam
và là giai đoạn khó khăn nhất, gian khổ nhất vì vừa phải kháng chiến chống giặc, vừa
phát triển kinh tế trong điều kiện nghèo nản, thiếu thốn Sau thành công của cuộc Cách
mạng tháng Tám, nước ta đối mặt với nạn đói trầm trọng năm 1945 khiến cho hai triệu người chết Trên cơ sở phát huy truyền thống “nhiễu điều phú lấy giá gương” của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân voi tinh thần “nhường cơm sẻ áo”, “lá lành dum lá rách”, tự nguyện thực hành tiết kiệm, xây dựng các “hũ pạo cứu đói” giúp
đỡ các gia đình thiếu lương thực trầm trọng Đề tiêu diệt tận gốc “giặt đói”, biện pháp
cơ bản lâu dài là phát triển sản xuắt, tiết kiệm tiêu dùng lương thực Nông nghiệp được từng bước phục hồi thông qua phòng trảo “tăng gia sản xuất”
Từ năm 1945, người lao động nông nghiệp, bắt đầu được chính phủ bảo vệ, giảm nhẹ mức độ bốc lột của chủ đất Đê phát triên nông nghiệp, điều cần làm lúc bấy giờ không phải là một cuộc cách mạng ruộng đất mà là phải giải quyết những yếu tổ vật chát của sản xuất như đê điều thuỷ lợi, phân bón, thâm canh, giống mới, Một số nơi
đã lập nên những hợp tác xã cấp thôn, liên thôn và liên đoàn hợp tác xã nông nghiệp
cấp tỉnh, cấp khu
15/11/1945, Bộ kinh tế Quốc dân đã ban hành Nghị định số 41 BKT quy định
một số biện pháp đề khuyến khích tận dụng đất đai trồng màu cứu đói; tất cả người có ruộng đất phải khai báo với chính quyền địa phượng về diện tích canh tác, phần nào chưa canh tác thì buộc phải cho người thiếu ruộng mượn tạm trong một vụ dé trong màu; người mướn ruộng phải đảm bảo canh tác hết diện tích đó trước Tết âm lịch, thu hoạch xong phải trả lại cho chủ cũ; các địa phương phải tô chức sản xuất các loại nông
cụ nhỏ và nhẹ đề có thể sử dụng sức người thay cho sức trâu bò
Chính phủ đã từng bước thực hiện các chính sách về ruộng đất như giảm tô, giảm tức Thông tư số 55 VP về việc “Œiđm 1⁄2 mức địa tô đối với tá điền và các người cấy
rẽ, cấy thuế ” (1945) Năm 1946, Chính phủ ra Thông tư Liên bộ Nội vụ - Canh nông,
giảm 25% tô cho người lĩnh canh Đến 5/1950, nhà nước đồng thời ban hành Quy chế
Trang 10lĩnh canh, đảm bảo quyền lợi người lĩnh canh và Sắc lệnh về giảm tức, nhằm hạn chế
sự bóc lột thông qua cho vay nặng lãi ở nông thôn: lợi tức không quá 18%/năm nếu là
tiền và không quá 20%/năm nếu là thóc
01/7/1949, Nhà nước ban hành sắc lệnh về việc tạm cấp ruộng đất của Việt gian
và thực dân Pháp cho nông dân, bộ đội, du kích và tá điền đã từng lĩnh canh trên mảnh đất đó Năm 1950, Chính phủ ban hành Sắc lệnh tạm Đlao ruộng đất vắng chủ cho
nông dân sử dụng Đến tháng 3/1952, Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về việc sử
dụng công điền, công thổ, dựa trên nguyên tắc chia cấp công điền một cách công bằng, dân chủ và có lợi cho nông dân nghèo Kết quả của bước đầu tạm cấp ruộng đất giúp cho nhân dân vô cùng phấn khởi, hăng hái tăng gia sản xuất
Nông dân được cấp nông cụ, bán rẻ giống và được bộ đội bảo vệ trong quá trình làm thu hoạch giúp cho hoạt động nông nghiệp được thúc đây và mạng lại những kết quả đáng ghi nhận Cuối năm 1949, miền Đông Nam bộ được mùa, số lua thu hoạch vùng tự do tăng gấp 20 lần so với mùa năm 1948 Với chính sách toàn dân tăng gia sản xuất, lại được sự giup đỡ tận tình của Chính phủ, các cơ quan, các đơn vị bộ đội nên
nông nghiệp trong suốt thời kỳ kháng chiến được bảo đảm ôn định và cung cấp đủ
lương thực cho kháng chiến Nông nghiệp đã hoàn thành sứ mệnh là nền tảng của kinh tế kháng chiến với những đóng góp to lớn giải quyết nạn đói các năm 1945, 1946
Những năm cuối kháng chiến chỗng Pháp là giai đoạn hết sức khó khăn đối với
nên kinh tế cách mạng trong giai đoạn nảy, diễn ra tinh trang địch lắn đất, giành dân với ta, chúng lập vành đai trắng ở nhiều nơi khiến nhiều ruộng đất bị bỏ hoang, diện tích trồng trọt bị thu hẹp Năm 1950, giặt bắn chết 3.700 con trâu trong ba tỉnh Gia Định, Tây Ninh, Biên Hoà Nhiều cơ sở sản xuất nông nghiệp bị hư hại, tốn thất do địch băn phá hoặc phải di chuyên xây dựng nhiều lần Tháng 10/1952, thiên tai ập đến,
lũ lụt tàn pha hoa mau, gia suc bi cuốn trôi, hoạt động sản xuất bị đình trệ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là nạn đói, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân
2.1.2 Công nghiệp - Thủ công nghiệp
Công nghiệp và thủ công nghiệp kháng chiến được xây dựng, đặc biệt là công
nghiệp quốc phòng đã góp phần không nhỏ đáp ứng nhu cầu chiến đầu và tiêu dùng.
Trang 11Nhà nước tập trung cho những lĩnh vực quan trọng như công nghiệp quốc phòng, sản xuất vũ khí và đạn được cho chiến tranh Ngành quan giới đã chế tạo thành công sing SS', san xuất lựu đạn, địa lôi và thuỷ lợi, lựu phóng và bom phóng, cối 60mm và
§Imm, đạn AT, Peeta, cùng các nguyên liệu như thuốc phóng, suminat thuỷ ngân, cồn 90° đáp ứng yêu cầu chiến trường miền Nam Các binh công xướng ở chiến khu D tích cực sản xuất các đạn dược, vũ khí như rờ-sạc (recharge) đạn súng trường, trung liên, lựu đạn, mìn, thủ pháo, Bên cạnh đó còn có một số mặt hàng thủ công phục vụ nông nghiệp như: cuốc, xéng, túi da, thắt lưng da Ngoài ra, những ngành sản xuất khác khuyến khích nhân dân tự sản xuất như vải mặc, đường, mực, phần viết, ngòi bút, thuốc lá, các đổ dùng gia đình
Hoạt động sản xuất công nghiệp ở vùng địch tạm chiếm chủ yếu tập trung ở thị
tứ và những khu vực động dân cư, Trong điều kiện chiến tranh, nhân dân các tinh, thành Đông Nam Bộ vẫn cố gắng duy trì các ngành, nghê thủ công như: Ở Phước Tuy
có Ll xưởng cưa xẻ 26, 16 cơ sở chế biến nước mắm, 26 lò than, 10 cơ sở xay xát pạo,
4 cơ sở sản xuất nước đá, làm kem, 7 lò bánh mì Ở Thủ Dầu Một có l trại sửa điện,
48 nhà máy xay lúa, | nha may nude da, 14 trai cura may, | nhà máy giấy ở, 9 cơ sở
nấu đậu, 25 lò đường, 2 nhà máy sản xuất caramen, | nha may in, 1 nha may ché bién
bột sơn, 24 lò rèn, 13 lò bánh mi, l1 xưởng đá mài sranmite, 7 trại sơn, 7 xưởng dệt, 2.1.3 Thương nghiệp
s* Nội thương
Chính sách khuyến khích mở rộng việc buôn bán của Chính phủ đã làm cho hàng hoá được lưu thông tự đo trong toàn quốc Năm 1945, Chính phủ ban hành một số văn bản pháp lý như Nghị định ngày 02/10/1945 về bãi bỏ các luật lệ kinh doanh đưới thời
Pháp, Nhật; Sắc lệnh của Chủ tịch nước ngày 22/9/1945 về xoá bỏ các tổ chức độc
quyền kinh doanh của người Pháp, Nghị định của Bộ Quốc dân Kinh tế về xoá bỏ mọi hạn chế lưu thông hàng hoá thông thường cho kinh tế và đời sống như gõ, giấy, lương thực, thực phẩm Chợ búa được khuyến khích phát triên, các luỗng giao lưu hàng hoá hầu hết do thương nhân đảm nhiệm và Nhà nước giúp đỡ đề có thê lưu thông hàng hoá
từ nơi thừa đến nơi thiếu Những biện pháp đã đưa đến kết quả tích cực Lúa gạo và các loại hàng hoá thông thường khác được điều hoà đễ dảng từ nơi thừa đến nơi thiếu,
kích thích sản xuất phát triển.
Trang 12Năm 1946, Chủ tịch Hỗ Chí Minh kí sắc lệnh số 220/SL thành lập Nha Thương
vụ và tiếp tế thuộc Bộ Kinh tế Quốc dân Năm 1951, ban hành sắc lệnh lập Sở Mậu
dịch Trung ương, để mở rộng hình thức lưu thông hàng hoá Từ năm 1952 trở đi, một
số hàng quan trọng như thóc gạo, gà vịt, than củi, đã được đưa vào vùng tạm chiếm Qua đó đã phát triển được sản xuất trong vùng tự do, bảo đảm cung cấp cho kháng chiến và dân sinh
Trong thời gian kháng chiến (1946 - 1954), chính phú thực hiện nhiều biện pháp nhằm chống lại chính sách bao vây của địch, xây dựng dự trữ kháng chiến Tháng
4/1949, Uỷ ban kháng chiến - hành chính Nam Bộ phát hành công phiếu kháng chiến
và giấy bạc Việt Nam, cùng với đó là sắc lệnh cám lưu hành tiền Đông Dương Chính
phủ thực hiện chủ trương bao vây kinh tế địch, không bán hàng hoá về vùng địch tạm chiếm và tiêu thụ xa xỉ pham tir thanh thi vé
Mặc dù hàng hoá khan hiếm nhưng người dân vẫn có thể mua được các loại hàng hoá thiết yếu phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày ở các chợ, cửa hàng ven đường hoặc các thị trấn
s* Ngoại thương
13/8/1941, Chính phủ huỷ bỏ sắc lệnh do Pháp ban hành đặc quyền dành cho
hàng hoá của Pháp và các công ty ngoại thương của Pháp; Sắc lệnh ngày 10/10/1945 duy trì luật hải quan và thuế quan cũ; Nghị định 48/CT ngày 09/10/1945 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ấn định thể lệ mới về xuất cảng và nhập cảng, nhà kinh doanh Việt Nam đều có quyền kinh doanh xuất, nhập khâu theo quy định của pháp luật Chính phủ ra sắc lệnh quy định thuế xuất, nhập cảng mới của một số mặt hàng
Về xuất khẩu, Nhà nước khuyến khích các mặt hàng, đặc biệt là than đá Cấm xuất khẩu sao, thóc, ngô, đỗ và các chế phâm tr neu cốc, máy móc và đồ vật bằng kim
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Đông Nam Bộ không phải chiến
trường chính nhưng lại là nơi bị Pháp diễn biến nhiều chiêu trò và thủ đoạn chính trị
Trang 13nham hiểm Đầu tiên, là trò ma my thành lập “Nam Kỳ Quốc”, kế đó là âm mưu thành
lập chính phủ Quốc gia Việt Nam với Nam Bộ là một bộ phận có tên gọi là Nam Phan Đồng thời là các hoạt động chính trị nhằm xây dựng các đảng phái và lực lượng tay sai, xây dựng các nhóm võ trang trong tôn giáo nhằm hợp sức chống phá Việt Minh Tuy các chiêu trò, thủ đoạn này đã bị thất bại nhưng ít nhiều đã tác động đến xã hội
Đông Nam Bộ
Về quân sự, khi trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai, Pháp muốn “đánh nhanh, thang nhanh” nhung da thất bại Thực chất, Pháp chỉ chiếm đóng, kiểm soát các đô thị, thị xã, thị trấn, phố chợ như hai thành phố Sải Gòn, Chợ Lớn, các tỉnh ly, quận ly của các tỉnh Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Tân An, Tây Ninh, Bà Rịa Các làng nông thôn, đặc biệt là các vùng rừng núi vẫn là vùng tự do, do Việt Minh kiểm soát, thí thoảng mới có các cuộc hành quân ruồng bố của quân Pháp Cũng vì vậy mà xã hội hai vùng trên có
sự khác nhau
Pháp tô chức các cuộc hành quân lần lượt đưa các chủ tư bản trở lại đồn điền, tiếp tục mộ phu khai thác cao su với sự bảo vệ của các đồn binh Pháp bé tri trong khu vực Xã hội vốn được gol la “địa ngục trần gian” lại tái lập trong các đồn điền cao su với độ khắc nghiệt hơn trước Cùng với đó, ở đô thị, các nhà máy, xí nghiệp trở lại sản xuất; các bến cảng, phố chợ, đường giao thông, các cơ quan nhà nước và những cơ sở giao duc, y tế dần dần trở lại hoạt động Sài Gòn, Gia Định bị thực dân Pháp biến thành một trung tâm chỉ huy, tiếp viện lớn nhất của quân đội thực dân ở Nam Kỳ Cảng Sài Gòn trở thành nơi tiếp nhận các tàu chiến của Pháp và đồng minh Người Pháp đã cô tái lập một xã hội thuộc địa phương cũ nhưng lại có phần quân sự hoá nhằm phục vụ mục đích chiến tranh Xã hội thuộc địa tái sinh này mang tính chất của
chế độ thực dân thời chiến vừa khắc nghiệt áp bức vừa vơ vét, bóc lột, tận dụng cạn
kiệt mọi tải nguyên của thuộc địa
Về nhân dân ta, là dân tộc vừa giành được độc lập tự do, công cuộc kháng, chiến kiến quốc diễn ra mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông Dương, sau là Đảng Lao động Việt Nam
ở Đông Nam Bộ, lần đầu tiên ta có chính quyền là các uỷ ban Kháng chiến kiêm hành chánh các cấp, đồng thời có lực lượng vũ trang của quân Khu 7 Ngày