– Sự tác động của quy luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hóa là quy luậtgiá trị, cung – cầu, cạnh tranh, … buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luônnăng động, nhạy bén, biết tín
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Lớp : 2251A01
Ngành : Luật kinh tế
Hà Nội, 3/2023
Trang 2Bài tập chương 2 Học phần: Kinh tế chính trị Mác-Lênin
Câu 1: Phân tích điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa? Nền sản xuất hàng hóa ở Việt Nam hiện nay có các điều kiện đó không? Cho ví dụ chứng minh Rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này?
1 Khái niệm:
Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức sản xuất mà trong đó sản phẩm làm ra không phải để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người sản xuất ra mà là để đáp ứngnhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi mua bán
2 Điều kiện ra đời, tồn tại của sản xuất hàng hoá:
- Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổchức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa
- Sản xuất tự cấp tự túc là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm do lao độngtạo ra là nhằm để thỏa mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất
- Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sảnxuất ra để trao đổi hoặc mua bán trên thị trường
- Sản xuất hàng hóa ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triểncủa xà hội loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng "mông muội",xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất vànâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội
Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đủ hai điêu kiện sau đây:
a) Phân công lao động xã hội:
- Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội thành cácngành, nghề khác nhau Phân công lao động xã hội tạo ra sự chuyên mônhóa lao động, do đó dẫn đên chuyên môn hóa sản xuất Do phân công laođộng xã hội nên mỗi người sản xuất chỉ tạo ra một hoặc một vài loại sảnphẩm nhất định Song cuộc sống của mỗi người lại cần đến rất nhiều loạisản phẩm khác nhau Để thỏa mãn nhu cầu, đòi hòi họ phải có mối liên hệphụ thuộc vào nhau, phải trao đổi sản phẩm cho nhau
- Ta lấy một ví dụ như sau: người thợ chuyên dệt vải sẽ có nhiều vải hơn
so vơi nhu cầu của bản thân mình nhưng họ lại cần nhiều loại sản phẩmkhác, trong đó có lương thực người thợ dệt vải đem vải đổi lấy gạo vàngược lại, người nông dân cũng cần vải để mặc nên dùng gạo đổi lấyvải Người dệt vải sẽ chuyên về lĩnh vực vải còn người nông dân sẽchuyên về lĩnh vực trồng trọt Trong phân công lao động xã hội, do chỉ
Trang 3sản xuất một hoặc một số loại sản phẩm nên người lao động có điều kiện
để cải tiến công cụ lao động, tích lũy kinh nghiệm… nhờ đó, năng suấtlao động tang lên
=>>Như vậy, phân công lao động xã hội biểu hiện sự phát triển của lực lượngsản xuất và chính sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho việc trao đổi sảnphẩm trở thành tất yếu Tuy nhiên, phân công lao động xã hội mới chỉ là điềukiện cần nhưng chưa đủ để sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại C.Mác viết:
"Trong công xã Ấn Độ thời cổ đại, lao động đã có sự phân công xã hội, nhưngcác sản phẩm lao động không trở thành hàng hóa Chỉ có sản phẩm của nhũnglao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhaunhư là những hàng hóa" Vì vậy, muốn sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại phải
có điều kiện thứ hai
b) Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất:
- Trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ Rõ rang, người chủ nô sở hữu nhiều nô lệ,mỗi người làm một công việc khác nhau, tạo ra sản phẩm khác nhau.Nhưng, họ lại không có sự tách biệt về kinh tế, sản phẩm của họ làm ralại thuộc sở hữu của người chủ nô Người nô lệ không thể tự do đem sảnphẩm đó đi trao đổi mua bán được nên sản phẩm lao động của họ khôngđược coi là hàng hóa Chỉ khi, người chủ nô mang sản phẩm lao động đó
ra chợ buôn bán thì đó mới được coi là hàng hóa Người chủ nô khác vớingười nô lệ ở chỗ họ được quyền sở hữu và có sự tách biệt kinh tế
- Sự tách biệt về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất làm cho nhữngngười sản xuất trở thành chủ thể sản xuất độc lập nhất định với nhau Do
đó, người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người kia thì phải trao đổihàng hóa Trong lịch sử , sự tách biệt này do chế độ tư hữu về tư liệu sảnxuất quy định Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì tư liệu sản xuấtthuộc sở hữu của mỗi cá nhân và kết quả là sản phẩm làm ra thuộc quyền
sở hữu của họ
=>> Như vậy, chính quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã làm chonhững người sản xuất độc lập, đối lập với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệthống phân công lao động xã hội nên họ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêudùng Trong điều kiện ấy người này muốn tiêu dùng sản phẩm cùa người khácphải thông qua việc mua - bán hàng hóa, tức là phải trao đổi dưới những hìnhthái hàng hóa Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đồng thời hai điều kiện nóitrên, nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì không có sản xuất hàng hóa và sảnphẩm lao động không mang hình thái hàng hóa
- Nền sản xuất hàng hóa ở Việt Nam hiện nay có các đầy đủ hai điều kiệnđược nên trên
Ví dụ Ở nước ta đang tồn tại hệ thống phân công lao động do lịch sử đểlại với nhiều ngành nghề Với sự phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại,nhiều ngành nghề mới xuất hiện làm cho sự phân công lao động ở nước ta
Trang 4trở nên phong phú hơn, nó tạo điều kiện cho hàng hóa phát triển Phâncông lao động xã hội với tư cách là cơ sở của trao đổi chẳng những khôngmất đi, trái lại ngày một phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Xét vềphạm vi, phân công lao động xã hội không chỉ diễn ra trên phạm vi quốcgia mà còn mở rộng trên quy mô quốc tế Nền kinh tế của mỗi quốc giatrở thành bộ phận của nền kinh tế thế giới, cùng hợp tác, các quan hệ kinh
tế đối ngoại ngày càng phát triển Mỗi quốc gia chỉ lựa chọn phát triểnmột số ngành, một số lĩnh vực phát triển lợi thế của quốc gia mình ViệtNam trên thế giới là một đất nước thuận lợi về phát triển nông nghiệp Vìvậy, những mặt hàng xuất khẩu ra nước ngoài của Việt Nam chủ yếu làsản phẩm của nông nghiệp Hiện nay, Việt Nam là nước xuất khẩu gạođứng thứ hai thế giới Phân công lao động xã hội đã phá vỡ các mối quan
hệ truyền thống của nền kinh tế tự nhiên khép kín, tạo cơ sở thống nhất,phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất vào hệ thống của hợp táclao động
- Sự phân công lao động của ta đã ngày càng chi tiết hơn đến từng ngành,từng cơ sở và ở phạm vi rộng hơn nữa là toàn bộ nền kinh tế quốc dân; có
sự chuyên môn hóa hình thành các vùng kinh tế, các ngành kinh tế Hiệnnay, nước ta có 4 vùng kinh tế trọng điểm đó là: Vùng kinh tế trọng điểmBắc Bộ (gồm Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương,Bắc Ninh, Vĩnh Phúc); vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ (gồm Thừathiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định); vùng kinh
tế trọng điểm Nam Bộ (gồm TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa –Vũng Tàu, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước, Long An, Tiền Giang); vàvùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long (gồm TP CầnThơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau)[4] Hiện nay ta đã có hàng loạt cácthị trường được hình thành từ sự phân công lao động đó là: Thị trườngcông nghệ, thị trường các yếu tố sản xuất,…Tạo đà cho nền kinh tế hànghoá nhiều thành phần phát triển giúp ta nhanh chóng hoà nhập được vớikinh tế trong khu vực và thế giới Việt Nam thừa nhận sự xuất hiện của
tư hữu Ngoài những doanh nghiệp nhà nước như: tập đoàn điện lực ViệtNam, tập đoàn dầu khí Việt Nam, tập đoàn xăng dầu Việt Nam, ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, tập đoàn công nghiệp thankhoáng sản Việt Nam, … Hiện nay còn có nhiều doanh nghiệp tư nhânhoạt động ở Việt Nam, đó là tập đoàn Vingroup, công ty cổ phần ôtôTrường Hải, công ty cổ phần tập đoàn vàng bạc đá quý Doji, công ty cổphần đầu thư thế giới di động, công ty cổ phần FPT,… Không những thế,các doanh nghiệp tư nhân còn có những thành tựu đáng ghi nhận trongsản xuất kinh doanh Tại bảng xếp hạng top 500 doanh nghiệp lớn nhất cảnước, bao gồm các khối doanh nghiệp Nhà nước, FDI và tư nhân -Vingroup đã vươn từ vị trí 28 năm ngoái lên vị trí 11 năm 2017
- Trong nền kinh tế đã và đang tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về
tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động: sở hữu nhà nước, sở hữu toàn dân,
Trang 5sở hữu tập thể của những người sản xuất hàng hoá nhỏ, sở hữu tư nhânTBCN, sở hữu hỗn hợp, đồng sở hữu,… tương ứng với nó là các doanhnghiệp thuộc sở hữu nhà nước, doanh nghiệp tư nhân,…
- Sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng trực tiếp tư liệu sản xuấtcũng được thể hiện rõ ràng
Ví dụ về doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước ở Việt Nam, quyền sở hữu
là sở hữu Nhà nước (vốn đầu tư của Nhà nước, lợi nhuận thuộc về ngânsách Nhà nước và lỗ do Nhà nước chịu), Nhà nước có quyền quyết định
“số phận” của doanh nghiệp: thành lập, giải thể, tổ chức lại, yêu cầu phásản,…; quyết định điều lệ, mức vốn đầu tư (điều chỉnh, chuyển nhượng);quyết định cơ cấu tổ chức quản lý, bộ máy quản lý doanh nghiệp; quyếtđịnh chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư phân phối lợinhuận Tuy nhiên, mặc dù quyền sở hữu là sở hữu Nhà nước, các doanhnghiệp Nhà nước lại có quyền sử dụng trực tiếp tư liệu sản xuất Đó làquyết định chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch đầu tư;quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm đốivới các chức danh quản lý quan trọng trong công ty; quyết định góp vốn,tăng giảm của công ty tại doanh nghiệp khác; quyết định tổ chức lại,chuyển đổi sở hữu, giải thể công ty; quy định quy chế quản lý nội bộ, tổchức, quản lý điều hành doanh nghiệp tuân thủ đúng quy định của phápluật,…[6] Ví dụ như công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk (thuộc sởhữu nhà nước) có quyền quyết định về việc thực hiện kế hoạch quảng cáosản phẩm Vinamilk cũng là điển hình sự thành công của mô hình cổphần hóa Doanh nghiệp Nhà nước
- Chế độ xã hội hoá sản xuất giữa các ngành, các xí nghiệp trong cùng mộthình thức sở hữu vẫn chưa đều nhau Sở dĩ như vậy là do cơ cấu kinh tếcủa ta giờ là cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, sự tồn tại của các thànhphần kinh tế là một tất yếu khách quan Ở nước ta cũng đang tồn tại quan
hệ sở hữu đa dạng về tư liệu sản xuất và ứng với nền kinh tế nhiều thànhphần Điều đó tạo nên sự độc lập về mặt kinh tế giữa các thành viên,doanh nghiệp Nó cũng có tác dụng làm cho hàng hóa phát triển
Có thể thấy: Việt Nam hiện nay tồn tại đầy đủ hai điệu kiện của sản xuất hànghóa Do đó, sản xuất hàng hóa tồn tại ở Việt Nam là một tất yếu
*Rút ra ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu:
- Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã hội, chuyênmôn hóa sản xuất Vì thế, nó khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội,
kỹ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất cũng như từng vùng, từng địaphương
Bên cạnh đó, sự phát triển của sản xuất hàng hóa lại có tác động trở lại, thúc đẩy
sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyên môn hóa lao động
Trang 6ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở lên mởrộng, sâu sắc.
Từ đó phá vỡ tính tự cấp tự túc, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành, mỗi địaphương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng
– Ở nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nhu cầu
và nguồn lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗivùng, mỗi địa phương, mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồnlực của xã hội
– Sự tác động của quy luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hóa là quy luậtgiá trị, cung – cầu, cạnh tranh, … buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luônnăng động, nhạy bén, biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nângcao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế, cải tiến hình thức, quycách và chủng loại hàng hóa, …
– Nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng và giao lưukinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng miền của cả nước không chỉ làm chođời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa, tinh thần cũng được nâng cao hơn,phong phú hơn rất nhiều
Câu 2: Hàng hóa là gì? Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa? Lấy ví dụ về một hàng hóa cụ thể và chỉ rõ từng thuộc tính của hàng hóa đó? Yếu tố nào chi phối giá cả? Các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa? Ý nghĩa của việc nghiên cứu nội dung này?
* Hàng hoá là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện khi có nền sản xuất hàng
hoá, đồng thời sản phẩm lao động mang hình thái hàng hoá khi nó là đối tượng mua bán trên thị trường Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thỏa mãn mong muốn, nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi hay mua bán
* Hàng hoá có 2 thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng.
Ví dụ 1: Giá trị sử dụng của cơm là để ăn, của áo là để mặc, của máy móc, thiết
bị, nguyên nhiên vật liệu là để sản xuất…
Trang 7Ví dụ 2: Nước có giá trị sử dụng to lớn, vì nó làm dịu cơn khát và nếu không có
nó thì cuộc sống hàng ngày chỉ là không thể Vai trò của nước là giá trị sử dụng của nước
* Giá cả của hàng hoá phụ thuộc vào 3 yếu tố:
- Một là: Giá trị của hàng hoá
- Hai là: Giá trị của tiền tệ
- Ba là: Quan hệ cung – cầu về hàng hoá trên thị trường
- Ngoài ra, giá cả hàng hóa còn chịu sự tác động của quan hệ cạnh tranh
Cụ thể:
+ Một là: Giá trị của hàng hoá – yếu tố QUYẾT ĐỊNH giá cả:
Giá trị của hàng hóa tỷ lệ THUẬN với giá cả của hàng hóa
Giá trị của hàng hóa (giá trị của 1 đơn vị hàng hóa) lại chịu sự tác động của 2 yếu tố là: năng suất lao động và mức độ phức tạp của lao động…
+ Hai là: Giá trị của tiền tệ tỷ lệ nghịch với giá cả hàng hoá…
+ Ba là: Quan hệ cung – cầu về hàng hoá trên thị trường
Làm cho giá cả lên xuống chung quanh giá trị Cung lớn hơn cầu làm giá cả xuống thấp hơn giá trị hàng hóa và ngược lại…
+ Ngoài ra, giá cả hàng hóa còn chịu sự tác động của quan hệ cạnh tranh Sự cạnh tranh càng cao thì giá cả hàng hóa càng có cơ hội được hạ thấp và ngược lại…
* Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hoá:
- Năng suất lao động:
+ Khái niệm: Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đợn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
+ Khi tất cả các yếu tố khác không đổi: Năng suất lao động xã hội tăng > Số lượng hàng hoá được sản xuất ra trong cùng 1 đơn vị thời gian tăng; nghĩa là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra 1 đơn vị hàng hoá giảm > lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá giảm
- Liên hệ: Trong kinh tế thị trường, cạnh tranh về giá cả là quan trọng nhất Để
cạnh tranh về giá cả với nhà sản xuất khác thì phải tăng năng suất lao động cá biệt vì nó làm giảm lượng giá trị cá biệt của một đơn vị hàng hoá xuống thấp hơn lượng giá trị xã hội của nó > giá cả bán hàng hóa có thể rẻ hơn của người khác mà vẫn thu lợi nhuận ngang, thậm chí cao hơn
- Cường độ lao động:
+ Khái niệm: Cường độ lao động là mức độ hao phí lao động của người lao động trong một đơn vị thời gian, được tính bằng số calo hao phí trong 1 đơn vị thời gian
+ Khi tất cả các yếu tố khác không đổi: Cường độ lao động tăng > mức độ hao phí lao động tăng > tổng số hàng hoá được sản xuất ra trong cùng 1 đơn vị thời gian tăng ĐỒNG THỜI với sự tăng của tổng lượng hao phí > nên lượng hao phílao động để sản xuất ra 1 đơn vị hàng hoá không đổi > lượng giá trị của một đơn
vị hàng hoá không đổi
Trang 8Kết luận:
⁃ Như vậy, sự thay đổi của CĐLĐ không tác động đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa nhưng nótác động theo tỷ lệ thuận đến tổng lượng giá trị của tổng số hàng hóa được sản xuất ra trong cùng một đơn vị thời gian
- Liên hệ: Trong thực tế SX hàng hoá TBCN, việc các nhà tư bản áp dụng tăng
CĐLĐ đối với người làm thuê (trong khi không trả công tương xứng) không nhằm làm giảm lượng giá trị của 1 đơn vị hàng hoá, không tạo ra khả năng cạnhtranh về giá mà là nhằm tăng mức độ bóc lột lao động làm thuê
Tính chất phức tạp hay giản đơn của lao động:
đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa mà tổng lượng giá trị của tổng số hàng hóa đưỡn sản xuất ra trong cùng 1 đơn vị thời gian
Ý nghĩa thực tiễn đối với nước ta hiện nay:
⁃
+ Đẩy mạnh phan công lao động để phát triển kinh tế hàng hoá, đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của xó hội
+ Phải coi trọng cả hai thuộc tính của hàng hoá để không ngừng cải tiến mẫu
mó, nõng cao chất lượng, hạ giá thành
Câu 3: Lượng giá trị của hàng hóa được đo như thế nào? Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa, Nếu giá trị của 1m vải là 300.000đ, nếu năng suất lao động sản xuất vải tăng lên 2 lần giá trị của 1m vải là bao nhiêu? Ý nghĩa của việc nghiên cứu?
* Lượng giá trị của hàng hóa được đo như thế nào?
- Nếu, xét về mặt chất, giá trị của Hàng hóa là do lao động hao phí của người sản xuất tạo ra, thì về mặt Lượng giá trị của hang hóa là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hang hóa đó Và lượng lao động tiêu hao ấy được đo bằng thời gian lao động ( như phút, giờ, ngày, tháng…)
- Tuy nhiên, có nhiều người cùng sản xuất 1 loại hang hóa như nhau, nhưng do điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề, năng suất lao động khác nhau, nên thời gian hao phí để sx ra hang hóa khác nhau Ví dụ:
Cùng sản xuất áo, nhưng có người mất 5h để làm ra cái áo, người khác lại mất 6h, nhưng có người chỉ mất 4 h do sự khác nhau về trình độ tay nghề, cách thức sản xuất, dây chuyền máy móc…
- Vậy, Nếu chỉ căn cứ vào thời gian lao động để quy ra giá trị hang hóa thì có
vẻ không hợp lý vì, những người lười biếng, tay nghề kém mất nhiều thời gian hơn sẽ tạo ra lượng giá trị nhiều hơn sao?
- Cho nên, Người ta phải sử dụng đơn vị đo lường là thời gian lao động xã hội cần thiết để đo lường lượng giá trị của hàng hóa Các bạn chú ý nhé: Thời gian lao động XÃ HỘI CẦN THIẾT
- Thời gian lao động xã hội cần thiết khác với thời gian lao động cá biệt, nó là thời gian cần để sản xuất một hàng hóa trong điều kiện sản xuất trung bình, với trình độ thành thạo trung bình và cường độ lao động trung bình Thường
Trang 9thường, thời gian lao động xã hội cần thiết trùng hợp với thời gian lao động các biệt của những người cung cấp đại bộ phận loại hàng hóa nào đó trên thị trường.
* Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
– Thước đo lượng giá trị của hàng hóa: Đo lượng lao động hao phí để tạo rahàng hóa bằng thước đo thời gian như một giờ lao động, một ngày lao động…
Do đó, lượng giá trị của hàng hóa cũng do thời gian lao động quyết định Trongthực tế, một loại hàng hóa đưa ra thị trường là do rất nhiều người sản xuất ra,nhưng mỗi người sản xuất do điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề là khônggiống nhau, nên thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hóa của họ khácnhau
– Thời gian lao động cá biệt quyết định lượng giá trị cá biệt của hàng hóa màtừng người sản xuất ra Vậy phải chăng lao động cá biệt nào càng lười biếng,vụng về, phải dùng nhiều thời gian hơn để làm ra hàng hóa, thì hàng hóa đócàng có nhiều giá trị? C.Mác viết: “Chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, haythời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng, mới quyếtđịnh đại lượng giá trị của giá trị sử dụng ấy”
– Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra mộthàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với mộ trình độ kỹ thuậttrung bình trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so vớihoàn cảnh xã hội nhất định Trong một xã hội có hàng triệu người sản xuất hànghóa, với thời gian lao động cá biệt hết sức khác biệt nhau, thì thông thường thờigian lao động xã hội cần thiết gần sát với thời gian lao động cá biệt của nhữngngười sản xuất và cing cấp đại bộ phận một loại hàng hóa nào đó trên thịtrường
Nếu giá trị của 1m vải là 300.000đ, nếu năng suất lao động sản xuất vải tăng lên
2 lần giá trị của 1 m vải là 150000đ
*Ý nghĩa của việc nghiên cứu? Việc nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa là rất cần thiết
- Thứ nhất, nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa đã xác định được giá cả của hàng hóa đã làm ra Bởi vì khi nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa cho biết: “ Thời gian lao động xã hội cần thiết giản đơn trung bình để sản xuất ra một hàng hóa
là thước đo lượng giá trị hàng hóa và từ đó xác định được giả cả của hàng hóa nào cao hơn của hàng hóa nào
- Thứ hai, nghiên cứu lượng giá trị hàng hóa tìm ra được các nhân tố tác động đến nó, từ đó tìm ra cách để làm giảm giá cả sản xuất như: tăng năng suất lao động, đầu tư vào khoa học kỹ thuật hiện đại, đầu tư đào tạo giáo dục chất xám… mà vẫn giữ nguyên hoặc làm tăng thêm giá trị để tiến tới cạnh tranh trên
Trang 10thị trường, đây chính là điều mà các nhà làm kinh tế luôn hướng tới nhằm đạt được lợi nhuận siêu ngạch.
- Thứ ba, bởi vì lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn trong cùng một đơn vị thời gianlao động như nhau Vì thế các nhà làm kinh tế cần phải chú trọng đầu tư vào những ngành lao động phức tạp đòi hỏi nhiều chất xám Muốn làm được điều này thì phải nâng cao trình độ công nhân, nâng cao tay nghề và áp dungj những biện pháp tiên tiến
Câu 4: Tiền tệ là gì? Phân tích nguồn gốc và bản chất của tiền? Các chức năng của tiền? Phân tích chức năng thước đo giá trị? Cho ví dụ khi tiền làm chức năng thước đo giá trị của 1 hàng hóa
cụ thể, khi nền kinh tế bị lạm phát thì giá cả của hàng hóa đó thay đổi như thế nào (biết rằng các nhân tố khác không đổi)?
1.Khái niệm tiền:
Đặc trưng nền kinh tế hàng hóa dựa trên cơ sở giá trị Gía trị là đơn vị kết tinh trong hàng hóa, xuất hiện 1 đơn vị để đo sự kết tinh ấy được gọi là tiền Tiền chính là thước đo giá trị
2.Nguồn gốc và bản chất của tiền:
Giá trị của hàng hóa là trừu tượng, chúng ta không nhìn thấy giá trị như nhìn thấy hình dáng hiện vật của hàng hóa; giá trị của hàng hóa chỉ được bộc lộ ra trong quá trình trao đổi thông qua các hình thái biểu hiện của nó Theo tiến trìnhlịch sử phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, những hình thái của giá trị cũng trải qua quá trình phát triển từ thấp tới cao Quá trình này cũng chính là lịch sử hình thành tiền tệ Nghiên cứu lịch sử hình thành tiền tệ sẽ giúp lý giải một cách khoa học nguyên nhân vì sao tiền có thể mua được hàng hóa Cụ thể:
* Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên:
- Đây là hình thái ban đầu của giá trị xuất hiện trong thời kỳ sơ khai của trao đổihàng hóa Khi đó, việc trao đổi giữa các hàng hóa với nhau mang tính ngẫu nhiên Người ta trao đổi trực tiếp hàng hóa này lấy hàng hóa khác
- Ví dụ, có phương trình trao đổi như sau: 1A = 2B
- Ở đây, giá trị ẩn chứa trong hàng hóa A được biểu hiện ra ở hàng hóa B; với thuộc tính tự nhiên của mình, hàng hóa B trở thành hiện thân của giá trị của hàng hóa A Sở dĩ như vậy là vì bản thân hàng hóa B cũng có giá trị Giá trị sử dụng của hàng hóa A được dùng để biểu hiện giá trị của hàng hóa B được gọi là hình thái vật ngang giá
Trang 11* Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng:
- Khi trình độ phát triển của sản xuất hàng hóa được nâng lên, trao đổi trở nên thường xuyên hơn, một hàng hóa có thể được đặt trong mối quan hệ với nhiều hàng hóa khác Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng xuất hiện
- Đây là sự mở rộng hình thái giá trị giản đơn; trong đó, giá trị của 1 đơn vị hàng hóa A được biểu hiện ở 2 đơn vị hàng hóa B hoặc 3 đơn vị hàng hóa C; hoặc 5 đơn vị hàng hóa D
- Hình thái vật ngang giá đã được mở rộng ra ở nhiều hàng hóa khác nhau Hạn chế của hình thái này ở chỗ vẫn chỉ là trao đổi trực tiếp với những tỷ lệ chưa cố định
* Hình thái chung của giá trị:
- Việc trao đổi trực tiếp không còn thích hợp khi trình độ sản xuất hàng hóa pháttriển cao hơn, chủng loại hàng hóa càng phong phú hơn Trình độ sản xuất này thúc đẩy sự hình thành hình thái chung của giá trị
- Ví dụ: 2B; hoặc 3C; hoặc 5D; hoặc = 1A
- Ở đây, giá trị của các hàng hóa B, hàng hóa C, hàng hóa D hoặc nhiều hàng hóa khác đều biểu thị giá trị của chúng ở một loại hàng hóa làm vật ngang giá chung là hàng hóa A Tuy vậy, giữa các vùng lãnh thổ khác nhau trong cùng một quốc gia có thể có những quy ước khác nhau về loại hàng hóa làm vật ngang giá chung Khắc phục hạn chế này, hình thái giá trị phát triển hơn xuất hiện
* Hình thái tiền:
- Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hơn nữa, sản xuất hàng hóa và thị trường ngày càng mở rộng, thì tình hình có nhiều vật làm ngang giá chung sẽ gây trở ngại cho trao đổi giữa các địa phương trong một quốc gia Do đó, đòi hỏi khách quan là cần có một loại hàng hóa làm vật ngang giá chung thống nhất
- Ví dụ: 2B; 3C; 5D; = 0,1 gr vàng
- Vàng trong trường hợp này trở thành vật ngang giá chung cho thế giới hàng hóa Vàng trở thành hình thái tiền của giá trị Tiền vàng trong trường hợp này trở thành vật ngang giá chung cho thế giới hàng hóa vì tiền có giá trị Lượng laođộng xã hội đã hao phí trong đơn vị tiền được ngầm hiểu đúng bằng lượng lao động đã hao phí để sản xuất ra các đơn vị hàng hóa tương ứng khi đem đặt trongquan hệ với tiền
->Như vậy, về bản chất, tiền là một loại hàng hóa đặc biệt, là kết quả của quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, tiền xuất hiện là yếu tố