+ Nhà nước Âu Lạc đã có nhiều điểm tiến bộ hơn so với nước Văn Lang,như: lãnh thổ mở rộng hơn; có vũ khí tốt, thành Cổ Loa kiên cố Nhận xét: Văn Minh Văn Lang - Âu Lạc là một trong những
Trang 2I- ÔN TẬP CUỐI HỌC KÌ II HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM
Phần 1: Văn minh Văn Lang Âu Lạc (Văn minh sông Hồng)
Nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc được cho là xuất hiện vào khoảng năm
2879 TCN, một thời kỳ cổ đại rất sớm theo lịch sử Việt Nam Với sự xuấthiện của Văn Lang - Âu Lạc, nó được coi là nhà nước đầu tiên của ViệtNam, đặt nền móng cho lịch sử chính trị và xã hội của dân tộc Lãnh thổ củaVăn Lang - Âu Lạc chủ yếu tọa lạc ở lưu vực sông Hồng, là một vị trí địa lýquan trọng với nền nông nghiệp phồn thịnh Chính vì vậy, nền văn minhVăn Lang - Âu lạc còn được gọi là nền văn minh sông Hồng
Cơ sở hình thành và phát triển nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc:
- Điều kiện tự nhiên: Nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc phát triển chủ yếutrên lãnh thổ của ba con sông lớn: Sông Hồng, Sông Mã, và Sông Cả SôngHồng, được coi là con sông lớn nhất ở miền Bắc Việt Nam, bắt nguồn từdãy núi Ngụy Sơn, gần hồ Đại Lí (Văn Nam - Trung Quốc) và chảy vàonước ta tại vùng Hà Khẩu (Lào Cai) Sông này có lưu lượng lớn, dao động
từ 700m3/giây đến 28.000m3/giây, và hàng năm chuyển tải một lượng lớnphù sa (khoảng 130 triệu tấn), đóng vai trò lấp đầy vịnh Biển Đông, tạothành một đồng bằng rộng lớn và màu mỡ (hơn 15.000km2) Đồng bằngBắc Bộ này còn được bồi đắp bởi phù sa của sông Thái Bình Sông Mã bắtnguồn từ Tuần Giáo và Pu Sam, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và
đổ vào Biển Đông Phù sa của Sông Mã, cùng với Sông Chu, đã tạo nênđồng bằng Thanh Hoá Sông Cả, hay còn được gọi là Sông Lam, đóng gópvào việc tạo nên các đồng bằng nhỏ ở Nghệ An
- Điều kiện kinh tế: Do nhu cầu về sản xuất và tiêu dùng hàng ngày tăng lên,đồng thời với sự gia tăng dân số và sự phức tạp của các ngành nghề luyệnkim, ngành đúc đồng ngày càng phát triển mạnh mẽ Qua những di vật được
Trang 3khám phá tại các di chỉ sau Phùng Nguyên như Đồng Đậu, Gỗ Mun, ThiệuDương, Đông Sơn, chúng ta có thể hiểu rằng trong thời kỳ đó, đã xuất hiệnnhiều công cụ sản xuất, vũ khí và nhạc cụ được làm từ đồng Trong số này,lưỡi cày đồng là một điểm đáng chú ý, có nhiều hình dáng khác nhau nhưcánh bướm hình thoi và có sự trang trí bằng hình con bò trên mặt trốngđồng Sự xuất hiện của lưỡi cày chứng tỏ sự chuyển đổi từ việc sử dụngcuốc nông nghiệp sang việc sử dụng cày Nông nghiệp lúa nước trên lãnhthổ của các con sông lớn như Hồng, Mã, Cả, Chu đã trở thành ngành kinh tếchủ yếu, cung cấp cơ sở cho định cư lâu dài và sản xuất thực phẩm hàngngày Để đảm bảo mùa màng, con người đã phải thích nghi với môi trườngsông nước và xây dựng mối quan hệ cộng đồng Bên cạnh nghề nông, việctrồng rau, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc như gà, lợn, chó, trâu, bò cũng pháttriển Điều này đã đưa đến sự tăng cường nguồn lương thực và thực phẩm,làm cho đời sống của người dân trở nên ổn định và phong phú hơn Ngoài
ra, các nghề thủ công như luyện kim, rèn sắt, làm đồ gốm, dệt lụa, dan látcũng ngày càng sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn, đáp ứng nhu cầu đa dạngcủa con người Số lượng đồ đồng, đồ gốm cùng với các công cụ như rìu,mũi giáo, mũi tên, liềm, dao, nhạc cụ bằng đồng như chiêng, trống và tượngđồng cũng tăng lên
Cơ sở xã hội nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc:
Xã hội của Việt cổ đã trải qua sự phân hoá thành ba tầng lớp chính: quý tộc,nông dân tự do và nô tì Quý tộc đại diện cho tầng lớp giàu có và có thế lựctrong xã hội Họ thường sở hữu đất đai và tài nguyên quan trọng, từ đó cókhả năng kiểm soát và định hình các quyết định xã hội Quý tộc thườngđược coi là lớp lãnh đạo và thường xuyên tham gia vào các quyết định vềchính trị, kinh tế và xã hội Nông dân tự do chiếm đa số dân cư và sống chủyếu trong các công xã nông thôn Họ là những người làm việc trên ruộngđất, cung cấp nguồn lực chính cho xã hội Mặc dù có sự tự do trong việcquản lý đất đai của mình, nhưng nông dân tự do vẫn phải đối mặt với sự áp
Trang 4đặt và kiểm soát từ phía quý tộc Nô tì là tầng lớp thấp nhất trong xã hội,thường là những người phục vụ cho quý tộc và phải tuân thủ theo các quytắc và quy định của họ Nô tì thường không có quyền tự do và sống trongđiều kiện khó khăn.
Mối liên kết giữa các cộng đồng cư dân được hình thành thông qua quátrình giao lưu và trao đổi sản phẩm Sự trao đổi này không chỉ giúp đổi mới
và phát triển văn hóa, mà còn tạo ra một môi trường kinh tế phong phú hơn.Mối liên kết này giúp cộng đồng cư dân tạo ra một sự ổn định và sự hỗ trợtrong cuộc sống hàng ngày, đồng thời làm tăng cường sức mạnh xã hội
Đời sống vật chất:
Nguồn lương thực, thực phẩm chủ yếu của cư dân bao gồm: gạo nếp, gạo
tẻ, các loại rau, củ, quả, gia súc, gia cầm (lợn, gà, vịt, ) và các loại thuỷ sản(cá, tôm, cua, )
Về trang phục: Ngày thường: nam giới đóng khố, mình trần; nữ mặc áo,váy, yếm che ngực và đều đi chân đất Vào dịp lễ hội, trang phục có thêm đồtrang sức, như vòng, nhân, khuyên tai, mũ gắn lông vũ, Nhà ở phổ biến làkiểu nhà sản làm bằng gỗ, tre, nứa, lá Phương thức di chuyển trên sôngnước chủ yếu là dùng thuyền, bè
Đời sống tinh thần:
Người Việt cổ có trình độ thẩm mĩ và tư duy khá cao, thể hiện qua: nghệthuật điêu khắc, kĩ thuật luyện kim, kĩ thuật làm đồ gốm; hoa văn trang trítrên đồ đồng, đồ gốm
Âm nhạc, ca múa có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của cư dânvới các loại nhạc cụ như trống đồng, chiêng, cổng, chuông, các hoạt độnghát múa…
Tín ngưỡng: Sùng bái các lực lượng tự nhiên (thờ thần Mặt Trời, thần núi,thần sông ); Thờ cúng tổ tiên, anh hùng, thủ lĩnh… Thực hành lễ nghi nôngnghiệp cầu mong mùa màng bội thu Trong các dịp lễ hội, cư dân thường tổthức đua thuyền, đấu vật
Trang 5Phong tục tập quán có những nét đặc sắc như tục ăn trâu, nhuộm răng, xămmình,
Tổ chức xã hội:
Người Việt cổ quần tụ trong xóm làng (chiêng, chạ, mường, bản, ), gồmnhiều gia đình, dòng họ sinh sống trên cùng một khu vực Cư dân đoàn kếtđắp đê, trị thuỷ, khai hoang mở rộng địa bàn cư trú và canh tác
Tổ chức nhà nước:
- Thời Văn Lang:
+ Kinh đô đặt tại Phong Châu (Phú Thọ)
+ Tổ chức nhà nước đơn gian: đứng đầu nhà nước là Vua Hùng, giúp việc
có các Lạc Hầu Cả nước chia làm 15 bộ do Lạc tướng cai quản, dưới bộ làcác chiềng, chạ do Bồ chính phụ trách
- Thời Âu Lạc:
+ Kinh đô đặt ở Phong Khê (Hà Nội)
+ Bộ máy nhà nước cơ bản giống với thời Văn Lang
+ Các đơn vị hành chính địa phương không có nhiều thay đổi so với nướcVăn Lang
+ Nhà nước Âu Lạc đã có nhiều điểm tiến bộ hơn so với nước Văn Lang,như: lãnh thổ mở rộng hơn; có vũ khí tốt, thành Cổ Loa kiên cố
Nhận xét: Văn Minh Văn Lang - Âu Lạc là một trong những nền văn minhsáng giá của lịch sử Việt Nam
Là một nền văn minh thành thị phát triển Đây là một trong những nền vănminh đầu tiên của Việt Nam có những thành thị phát triển mạnh mẽ, với cácsàn giao dịch, các cơ sở sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, và các địađiểm thương mại quốc tế
Nền văn minh có truyền thống giáo dục phát triển Nền giáo dục của VănLang - Âu Lạc đã phát triển mạnh mẽ với các trường học và các học việnđược thành lập để đào tạo các nhà lãnh đạo và quan chức cho đất nước
Trang 6Văn hóa và nghệ thuật cũng được phát triển rất mạnh mẽ Văn học, thơ ca,nghệ thuật điêu khắc, vẽ tranh và khắc in đều được đánh giá cao và chútrọng.
Vì vậy, Văn Minh Văn Lang - Âu Lạc được coi là một trong những nền
⇒
văn minh tiên tiến và đáng ngưỡng mộ của lịch sử Việt Nam
Phần 2: Văn minh Đại Việt ( Thành tựu, Ý nghĩa)
Văn minh Đại Việt là những sáng tạo vật chất và tinh thần tiêu biểu củacộng đồng các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam từ thế kỉ X đến giữathế kỉ XIX
Cơ sở hình thành:
Cội nguồn từ những nền văn minh cổ trên đất nước Việt Nam; phản ánhquá trình sinh sống, lao động và thích ứng với điều kiện tự nhiên và cuộcđấu tranh trong hơn 1000 năm Bắc thuộc để giành độc lập và bảo tồn vănhoá dân tộc
Trải qua các triều đại, triều đình và nhân dân luôn kiên cường chiến đấuchống ngoại xâm, bảo vệ và củng cố nền độc lập, tạo điều kiện cho nền vănminh Đại Việt phát triển rực rỡ
Tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của các nền văn minh bên ngoài (Ấn
Độ, Trung Hoa, ) về tư tưởng, chính trị, giáo dục, văn hoá, kĩ thuật,
Tiến trình phát triển
- Thời Ngô - Đinh - Tiền Lê (thế kỉ X)
Sau chiến thắng Bạch Đằng (năm 938), Ngô Quyền xưng vương, đóng đô
ở Cổ Loa (Hà Nội), nền độc lập dân tộc được khôi phục hoàn toàn
Triều Định và Tiền Lê đóng đô Hoa Lư (Ninh Bình), bắt đầu phát triển kinh
tế và văn hoá dân tộc
- Thời Lý - Trần - Hồ (thế kỉ XI - XV)
Năm 1010, Lý Công Uẩn dời đô ra Thăng Long (Hà Nội), mở đầu kỉnguyên mới của văn minh Đại Việt Nhà Trần kế thừa và phát huy các thành
Trang 7tựu của nhà Lý Một trong những đặc trưng nổi bật của văn minh Đại Việtthời Lý - Trần - Hổ là tam giáo cộng tồn (kết hợp hài hoà Nho - Phật - Đạotrong xây dựng và quản lý đất nước)
Từ năm 1407 đến năm 1427, nhà Minh thống trị và thực hiện chính sáchhuỷ diệt văn minh Đại Việt
- Thời Lê sơ (thế kỉ XV - XVI)
Năm 1428, nhà Lê sơ được thành lập, Đại Việt trở thành một cường quốctrong khu vực Đông Nam Á
Văn minh Đại Việt thời Lê sơ đạt được những thành tích rực rỡ trên cơ sởđộc tôn Nho học (coi trọng giáo dục Nho học, tuyển dụng quan lại thôngqua thi cử, )
- Thời Mạc - Lê Trung Hưng (thế kỉ XV - XVIII)
Năm 1527, nhà Mạc thành lập, khuyến khích phát triển kinh tế Côngthương nghiệp và văn hoá Một trong những đặc trưng nổi bật của văn minhĐại Việt thời Mạc là kinh tế hướng ngoại
Thời Lê trung hưng, văn minh Đại Việt phát triển theo xu hướng dân gianhoá và bước đầu tiếp xúc với văn minh phương Tây
- Thời Tây Sơn - Nguyễn (cuối thế kỉ XVIII - 1858)
Cuối thế kỉ XVIII, Vương triều Tây Sơn được thành lập, lật đổ các chínhquyền phong kiến trong nước, đánh tan quân xâm lược bên ngoài, xoá bỏtình trạng chia cắt đất nước, tạo nền tảng cho sự thống nhất quốc gia.Năm 1802, nhà Nguyễn thành lập, xây dựng quốc gia thống nhất
Văn minh Đại Việt thời Nguyễn nổi bật là tính thống nhất: những khác biệtgiữa các vùng miền được giảm bớt
Những thành tựu văn hóa tiêu biểu của Đại Việt:
Chính trị
Thiết chế chính trị
- Các vương triều Đinh - Tiền Lê đã tiếp thu mô hình thiết chế chính trịquân chủ trung ương tập quyền của phong kiến Trung Quốc Thiết chế đó
Trang 8ngày càng được hoàn thiện qua các triều đại Lý - Trần và đạt đến đỉnh caodưới triều Lê sơ.
+ Hoàng đế đứng đầu chính quyền trung ương, có quyền quyết định mọicông việc
+ Giúp việc cho hoàng đế có các cơ quan và hệ thống quan lại
+ Chính quyền địa phương được chia thành các cấp quản lí, mỗi cấp đều sắpđặt các chức quan cai quản
- Trong tiến trình phát triển, các triều đại quần chủ có đặt ra yêu cầu cảicách Tiêu biểu là cải cách Hồ Quý Ly (cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XV), cảicách Lê Thánh Tông (cuối thế kỉ XV), cải cách Minh Mạng (đầu thế kỉXIX)
Pháp luật
Các vương triều Đại Việt chú trọng xây dựng luật pháp
- Các bộ luật như: Hình thư thời Lý, Hình luật thời Trần, Quốc triều hìnhluật thời Lê và Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn
+ Thành lập các cơ quan chuyên trách để điều
+ Bảo vệ sức kéo cho nông nghiệp
+ Khuyến khích nhân dân khai hoang mở rộng diện tích thường xuyên
- Kĩ thuật thâm canh cây lúa nước có nhiều tiến bộ
- Cư dân du nhập và cải tạo những giống lúa từ bên ngoài
Thủ công nghiệp
Trang 9- Nghề thủ công phát triển, nổi tiếng nhất là các nghề: dệt, gốm sứ, luyệnkim Bên cạnh đó còn có các nghề: chạm đục gỗ, chạm khắc đá, thuộc da,làm giấy, khảm trai, sơn mài, kim hoàn,
- Các xưởng thủ công của nhà nước (Cục Bách tác) chuyền sản xuất các mặthàng độc quyền của triều đình như: tiền, vũ khí, trang phục và đồ dùng củahoàng cung,
- Trong các làng xã, đã xuất hiện một số làng chuyên sản xuất các mặt hàngthủ công trình độ cao, ví dụ: gốm Bát Tràng (Hà Nội); gốm Chu Đậu (HảiDương)…
- Thợ thủ công từ nhiều làng nghề cùng tập trung ở các khu đô thị để sảnxuất, buôn bán
- Đầu thế kỉ XV, Đại Việt có nhiều thương cảng có buôn bán với nướcngoài do nhà nước quản lí
- Từ thế kỉ XVI, đặc biệt trong thế kỉ XVII, khi thương mại Á - Âu pháttriển, các công ti như Công ti Đông Ân Hà Lan, Công ti Đông Ấn Anh vàthương nhân Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Á, đã đến Đại Việt buônbán nhộn nhịp ở khắp cả nước
Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo
Tín ngưỡng dân gian
- Tín ngưỡng thờ thần Đồng Cổ (thần Trống đồng) được đưa vào cung đình
từ thời Lý, được triều đình bảo trì và phát triển
- Từ thế kỉ XVI, đạo Mẫu trở thành tín ngưỡng được đông đảo người Việttin theo
Trang 10- Việc thờ Thành hoàng làng tại đình, đền, miếu ở các làng xã ngày càngphổ biến.
Tôn giáo
- Nho giáo:
+ Được du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc
+ Nhà Lý là triều đại đầu tiên chính thức sử dụng chế độ thi cử Nho học đểtuyển chọn quan lại
+ Nhà Lê sơ thực hiện chính sách độc tôn Nho học, Nho giáo trở thành hệ tưtưởng chính thống của nhà nước quân chủ
- Phật giáo:
+ Được du nhập vào Việt Nam khoảng đầu Công nguyên
+ Phật giáo hoà quyện với tín ngưỡng bản địa, phát triển mạnh mẽ trongcung đình và đời sống dân gian
+ Thời Lý - Trần, Phật giáo rất được tôn sùng Vua Trần Thái Tông sáng lập
ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
+ Thời Lê sơ, Phật giáo không còn vị trí như thời Lý - Trần, nhưng vẫn cóảnh hưởng sâu rộng trong đời sống dân gian
+ Từ thời Mạc, Phật giáo hưng thịnh trở lại
- Đạo giáo:
+ Có vị trí nhất định trong xã hội
+ Các triều đại cho xây dựng một số đạo quán: Khai Nguyên (thời Lý); Trấn
Vũ, Bích Câu, Huyền Thiên (thời Lê trung hưng);
- Thiên Chúa giáo:
+ Được du nhập vào Việt Nam từ khoảng đầu thế kỉ XVI
+ Đến giữa thế kỉ XVII, có khoảng 340 nhà thờ và 350 000 tín đồ, tập trung
ở các đô thị và vùng ven biển
Giáo dục và khoa cử
- Nền giáo dục, khoa cử bắt đầu được triển khai từ thời nhà Lý
- Đến thời Trần, khoa cử được tổ chức đều đặn và quy củ hơn
Trang 11- Từ thời Lê sơ, khoa cử Nho học phát triển thịnh đạt.
- Nhiều người đỗ đạt, làm quan và trở thành các nhà văn hoá lớn của dân tộcnhư: Lê Văn Hưu, Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Lê QuýĐôn,
- Các triều đại đều có chính sách nhằm khuyến khích giáo dục và khoa cử
Ví dụ:
+ Từ năm 1442, nhà Lê sơ tổ chức lễ xướng danh và vinh quy bái tổ.+ Năm 1484, vua Lê Thánh Tông bắt đầu cho dựng bia đá ở Văn Miếu,khắc tên những người đỗ tiến sĩ,
+ Nhà Nguyễn đặt ở mỗi tỉnh một quan Đốc học để chuyên trách việc giáodục, khoa cử,
Phong phú, đa dạng, gồm hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết
- Văn học dân gian:
+ Được lưu truyền và bổ sung qua thời gian, gồm các thể loại như truyềnthuyết, sử thi, cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, thành ngữ, tục ngữ, cadao, dân ca,
+ Phản ánh đời sống xã hội, đúc kết kinh nghiệm và răn dạy,
- Văn học viết:
+ Được sáng tác chủ yếu bằng chữ Hán, Nôm
+ Gồm các thể loại như thơ, phú, hịch, cáo, truyện,
+ Nội dung thể hiện tinh thần yêu nước, niềm tin tôn giáo tín ngưỡng,
Trang 12Huế (thời Nguyễn) …
+ Kiến trúc tôn giáo, tiêu biểu là: chùa, tháp, đền, đình, miếu, nhà thờ,
- Điêu khắc
+ Phát triển, đạt đến trình độ cao
+ Thể hiện qua những tác phẩm chạm khắc trên các công trình kiến trúc,điêu khắc tượng,
Tranh dân gian
- Gồm hai loại chính là tranh thờ và tranh chơi Tết
- Kĩ thuật chủ yếu là in trên giấy dó bằng nhiều ván khắc, sau đó có sửa lạibằng tay
- Thời kì Lê trung hưng xuất hiện các dòng tranh nổi tiếng: Đông Hồ (BắcNinh), Hàng Trống (Hà Nội)…
Nghệ thuật biểu diễn
- Đa dạng về thể loại, bao gồm biểu diễn cung đình và biểu diễn dân gian
- Năm 1437, vua Lê Thái Tông giao Nguyễn Trãi và Lương Đăng làm nhãnhạc cung đình và cấm các loại hình ca múa nhạc cổ truyền như tuồng,chèo,
- Trong dân gian, các loại hình diễn xướng như tuổng, chèo, múa rối pháttriển rộng rãi Nhiều giáo phường được thành lập
- Nhạc cụ truyền thống gồm nhiều loại thuộc bộ gõ, bộ hơi và bộ dây
- Hát ca trù (còn gọi là hát ả đào, hát cô đầu, hát cửa đình) xuất hiện từkhoảng thế kỉ XV trong cung đình, rồi dần lan toả và phổ biến trong đờisống dân gian
Trang 13- Hát văn (còn gọi là chầu văn) là loại hình ca múa nhạc dân gian, gắn liềnvới thực hành nghi lễ trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.
Thành tựu của văn minh Đại Việt đạt được trong gần mười thế kỉ là nềntảng để Việt Nam đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong công cuộc xâydựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo dựng bản lĩnh, bản sắc của con người ViệtNam, vượt qua thử thách, vững bước tiến vào kỉ nguyên hội nhập và pháttriển mới
Phần 3: Các cuộc cải cách ( Hồ Quý Ly, Lê Tháng Tông, Minh Mạng)
a/ Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly
Bối cảnh: đất nước ta cuối thế kỷ XIV lâm vào tình trạng khủnghoảng sâu sắc Chính quyền suy yếu, triều chính thêm rối ren, tài chínhkiệt quệ, quân Minh đang nhòm ngó đất nước ta đòi hỏi phải canhtân đưa đất nước vượt qua khó khăn Đó là những tiền đề dẫn đến cuộccải cách của Hồ Quý Ly Sau khi lên ngôi, Hồ Quý Ly đổi niên hiệu làThánh Nguyên, đổi quốc hiệu là Đại Ngu
Hồ Quý Ly (1336-1407) trước có tên là Lê Quý Ly, tự là Lý Nguyên.Theo gia phả họ Hồ, tổ tiên của Hồ Quý Ly là Hồ Hưng Dật vốn ngườiChiết Giang (Trung Quốc), đời Hậu Hán thời Ngũ đại Thập quốc (năm 947-950), tương đương thời Dương Tam Kha của Việt Nam, sang làm Thái thú
Trang 14Diễn Châu và định cư ở hương Bào Đột, nay là xã Quỳnh Lâm, huyệnQuỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Lê Quý Ly là một vị quan có nhiều công trạng dưới thời Trần Kể từ năm
1371, vua Trần Dụ Tông phong cho Lê Quý Ly làm Trưởng cục Chi hậu.Sau, vua Trần Nghệ Tông đưa ông lên làm Khu mật đại sứ, lại gả em gái làcông chúa Huy Ninh
Ông là người có nhiều năng lực về chính trị, kinh tế, văn hóa Làm việctrong hoàn cảnh nhà Trần đã suy yếu cực độ, đất nước nghiêng ngả, nhândân cực khổ, ông không chịu nổi Ông được cử giữ chức cao nhất trongtriều Năm 1395 Thượng hoàng Trần Nghệ Tông chết, ông được cử làmPhụ chính Thái sư, tước Trung tuyên Vệ quốc Đại vương, nắm trọn quyềnhành trong nước
Lê Quý Ly tham dự vào chính sự nhà Trần khoảng 28 năm Sau đó Lê Quý
Ly bức vua Trần rời đô từ Thăng Long vào Thanh Hoá, đồng thời giết hàngloạt quần thần trung thành với nhà Trần Tháng 2 năm Canh Thìn (1400),
Lê Quý Ly ép Trần Thiếu Đế phải nhường ngôi cho mình, lấy niên hiệu làThánh Nguyên, quốc hiệu là Đại Ngu Ông đổi sang họ Hồ, lập nên nhà Hồ.Ông làm vua chưa được một năm, sau đó nhường ngôi cho con thứ là HồHán Thương rồi làm Thái Thượng hoàng cùng coi việc nước
Hồ Quý Ly là một nhà cải cách lớn trong lịch sử Việt Nam Trong khoảng
35 năm nắm quyền chính ở triều Trần và triều Hồ, ông đã tiến hành một loạtcác biện pháp cải cách về nhiều mặt, thay đổi chính sách cũ, đề ra chínhsách mới Những biện pháp đó nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế -
xã hội Đại Việt, thủ tiêu những yếu tố cát cứ của quý tộc nhà Trần, xâydựng một nhà nước quân chủ chuyên chế tập trung vững mạnh Những cảicách của ông tương đối toàn diện và có hệ thống nhất, bao gồm nhiều lĩnhvực từ chính trị, quốc phòng đến kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục
Về hành chính, đổi tên gọi thành Thăng Long là Đông Đô, cho xâydựng một kinh thành mới Tây Đô bằng đá kiên cố ở Vĩnh Lộc, Thanh Hoá
Trang 15Về chính trị, năm 1397, Hồ Quý Ly đặt quy chế về hệ thống quan lạiđịa phương, thống nhất việc quản lý từ trên xuống Các chức an phủ sứ ở lộphải quản toàn bộ các lộ, phủ, châu, huyện trong lộ mình, ngoài ra quảnchung toàn bộ các việc về hộ tịch, thuế khóa và kiện tụng Lộ trực tiếp chịutrách nhiệm trước trung ương, như thế có nghĩa là thắt chặt hơn về mặtchính trị và nâng cao quyền lực của nhà nước trung ương Đó là một cảicách quan trọng về mặt chính trị theo xu hướng trung ương tập quyền Đổitên một số đơn vị hành chính cấp trấn và quy định cụ thể, rõ ràng cách làmviệc của bộ máy chính quyền các cấp, đổi trấn Thanh Hóa làm trấn Thanh
Đô, trấn Quốc Oai làm trấn Quảng Oai,…Quy định lộ coi phủ, phủ coichâu, châu coi huyện Cải tổ hàng ngũ võ quan, thay thế dần các võ quancao cấp do quý tộc tôn thất nhà Trần nắm giữ bằng những người khôngphải họ Trần nhưng có tài năng và thân cận với mình Đặt lệ cử các quan ởtriều đình về các lộ thăm hỏi đời sống nhân dân và tìm hiểu tình hình làmviệc của quan lại để thăng hay giáng chức
Về kinh tế tài chính: Phát hành tiền giấy thay thế tiền đồng Ban hànhchính sách hạn điền Quy định lại biểu thuế đinh, thuế ruộng Năm 1396,
Hồ Quý Ly mở đầu cuộc cải tổ của mình về kinh tế với việc phát hành tiềngiấy, gọi là “Thông bảo hội sao”, bỏ hẳn việc dùng tiền đồng đang lưu hànhtrong xã hội Đó là một cải cách táo bạo, không những hủy bỏ đồng tiền cũ
mà còn xóa đi một quan niệm cũ về tiền tệ Sử dụng tiền giấy là một hiệntượng chưa từng có trong lịch sử nước ta trước đó Năm 1397, Hồ Quý Lyđặt ra phép hạn điền, tức là hạn chế việc sở hữu ruộng tư Theo phép hạnđiền, trừ đại vương và trưởng công chúa, còn tất cả mọi người, từ quý tộccho đến thứ dân, đều bị hạn chế số ruộng tư (tối đa 10 mẫu), cho phép lấyruộng tư chuộc tội Nhà nước tiến hành đo đạc lại ruộng đất, diện tích thừaphải sung công, nghĩa là khôi phục chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất
Đó là những cải cách tiến bộ đánh mạnh vào thế lực của tầng lớp quý tộcđiền trang và địa chủ tư hữu, tăng nguồn thu nhập sưu thuế cho nhà nước
Trang 16Một chính sách cải cách kinh tế quan trọng của nhà Hồ là sự đổi mới chế độthuế khóa Mức thuế đối với ruộng đất công làng xã khoảng 1/3 sản lượng.
Đó là mức thuế nhẹ mà nông dân các làng xã có thể chịu được Đối vớiruộng đất tư hữu, nhà Hồ đã tăng mức thuế từ 3 thăng/1 mẫu (thời Trần) lên
5 thăng/1 mẫu Cùng với chính sách thuế, phép hạn điền phần nào có lợicho những người nghèo ít ruộng, mặt khác, chặn đứng xu thế phát triển tựnhiên của ruộng đất tư hữu năm 1401, nhà Hồ đã ban hành phép hạn nô,các quý tộc bị hạn chế số nô tì, số thừa ra (những nô tì không có chúc thư 3đời) bị sung công, bồi thường cho chủ 5 quan một người Các loại gia nôphải thích dấu hiệu vào trán Phép hạn nô đã chuyển một số lớn gia nô thànhquan nô (nô tì nhà nước, họ có thay đổi về thân phận, nhưng vẫn khôngđược giải phóng) Cùng với phép hạn điền, phép hạn nô về cơ bản đã làmsuy sụp tầng lớp quý tộc cũ nhà Trần và nền kinh tế điền trang, tăng cườngthế lực kinh tế của Nhà nước trung ương
Về xã hội: Ban hành chính sách hạn chế số nô tì được nuôi của cácvương hầu, quý tộc, quan lại Những năm có nạn đói, nhà Hồ lệnh cho cácquan địa phương đi khám xét, bắt nhà giàu thừa thóc phải bán cho dân đói
và tổ chức nơi chữa bệnh cho dân. Hồ Quý Ly thiết lập sở “Quản tế” (như ty
y tế ngày nay) - một loại bệnh viện công, chữa bệnh bằng châm cứu; lập khobán thóc rẻ cho người nghèo Việc ông ban hành cân, thước, đấu, thưng đểthống nhất đo lường cũng góp phần làm tăng thêm giá trị văn minh của đờisống xã hội
Về quân sự, Hồ Quý Ly tìm cách chấn chỉnh và tăng cường quân đội,loại bớt người yếu, bổ sung những người khỏe mạnh, kể cả các sư tăng, tăngcường quân số và các lực lượng quân sự địa phương, cho xây dựng mộtkinh thành mới bằng đá kiên cố ở An Tôn (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) là Tây
Đô thường gọi là Thành nhà Hồ Nhà Hồ cũng chú ý cải tiến kỹ thuật quân
sự Hồ Nguyên Trừng (con trai cả Hồ Quý Ly) đã chế tạo ra những khí tàimới: súng lớn thần cơ, thuyền chiến Cổ Lâu đi biển
Trang 17Về văn hóa - giáo dục, Hồ Quý Ly đã chấn chỉnh lại Phật giáo và Nhogiáo Ông đã hạn chế Phật giáo, Đạo giáo, đề cao Nho giáo nhưng là Nhogiáo thực dụng, chống giáo điều, kết hợp với tinh thần Pháp gia Hồ Quý Ly
đã cho sa thải các tăng đạo dưới 50 tuổi, bắt phải hoàn tục, tổ chức sát hạchkinh giáo Hồ Quý Ly phản đối lối học sáo rỗng, nhắm mắt học vẹt lời nóicủa cổ nhân để xét việc trước mắt Năm Nhâm Thân (1392), Hồ Quý Lysoạn sách “Minh Đạo” gồm 14 thiên đưa ra những kiến giải xác đáng vềKhổng Tử và những nghi vấn có căn cứ về sách “Luận ngữ”, một trongnhững tác phẩm kinh điển của nho giáo Cho dịch sách chữ Hán ra chữNôm để dạy cho vua Trần và phi tần, cung nữ Hồ Quý Ly là vị vua đầu tiên
ở nước ta phổ biến rộng rãi việc dùng chữ Nôm, đưa chữ Nôm lên vị tríquan trọng Điều đó được xem là biểu hiện của ý chí nêu cao tinh thần dântộc
Về quốc phòng: Trước sự lăm le xâm lược của nhà Minh, Hồ Quý Lytích cực chấn chỉnh quân đội, xây thành, đóng thuyền chiến, v.v Để cónhiều quân, Hồ Quý Ly lập ra hộ tịch bắt mọi người cứ 2 tuổi trở lên phải kêkhai ai ẩn náu phải phạt Hộ tịch làm xong, số người từ 15 tuổi đến 60 hơngấp mấy lần trước Quân số do vậy tăng thêm nhiều
Trước tình trạng suy sụp của nhà Trần và cuộc khủng hoảng xã hộicuối thế kỉ XIV, Hồ Quý Ly đã thực hiện cuộc cải cách khá toàn diện để đưanước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, điều đó chứng tỏ ông là một nhàcải cách có tài và là người yêu nước thiết tha Tác dụng: Ổn định tình hình
xã hội Hạn chế tập trung ruộng đất của quý tộc Văn hóa, giáo dục mangđậm tính dân tộc Giải phóng sức lao động của nô tì Giảm bớt tình trạng bấtbình đẳng trong xã hội Quyền lực của chính quyền trung ương được củng
cố, làm suy yếu thế lực họ Trần Hạn chế: Chưa triệt để, chưa phù hợp vớithực tế, chưa giải quyết dược những yêu cầu bức thiết của cuộc sống củađông đảo nhân dân, không hợp với lòng dân
Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc cải cách của Hồ Quý Ly:
Trang 18Muốn tồn tại và phát triển thì phải luôn có sự thay đổi để thích ứng với tìnhhình Nội dung cải cách, đổi mới cần phù hợp với yêu cầu phát triển và điềukiện thực tiễn của đất nước Tiến hành cải cách, đổi mới một cách quyếtliệt, triệt để và toàn diện trong đó chú trọng đến đầu tư phát triển giáo dục,góp phần đào tạo nên những con người: yêu nước, có năng lực, bản lĩnh,tinh thần sáng tạo, ý chí quyết tâm, ham hành động,… Luôn chú trọng pháthuy và không ngừng củng cố, nâng cao sức mạnh của khối đại đoàn kết toàndân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
b / Cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông
Vua Lê Thánh Tông (1442-1497) có tên thật là Lê Tư Thành, con thứ
4 của vua Lê Thái Tông Ông lên ngôi năm 1460, lúc 18 tuổi, đặt niên hiệu
là Hồng Đức Triều đại ông là giai đoạn thịnh vượng của nước ta, thực hiệnđược nhiều cải cách về kinh tế, chính trị, văn hóa
Bối cảnh lịch sử: Năm 1460, vua Lê Thánh Tông lên ngôi trong bốicảnh tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước đã từng bước ổn địnhnhưng máy hành chính bộc lộ một số hạn chế
Ở cấp trung ương: Sự tập trung quyền lực chủ yếu trong tay các quan đạithần trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã ảnh hưởng đến tính tập quyền củanhà nước Tình trạng quan lại lộng quyền, tham nhũng, ngày càng trở nênphổ biến
Ở địa phương: đất nước rộng lớn nhưng chỉ được chia thành 5 đạo, quyềnlực của những người đứng đầu mỗi đạo rất lớn, là mầm mống của xu hướngphân tán quyền lực
Vì vậy, vua Lê Thánh Tông đã từng bước tiến hành cải cách nhằm tăngcường quyền lực của hoàng đế và bộ máy nhà nước
Nội dung cuộc cải cách:
Về hành chính: ở trung ương: Xóa bỏ hầu hết các chức quan đại thần
có quyền lực lớn, chỉ giữ lại một số ít quan đại thần để cùng vua bàn bạccông việc khi cần thiết Vua nắm mọi quyền hành và trực tiếp chỉ đạo các cơ
Trang 19quan chuyên môn Hoàn thiện cơ cấu, chức năng của lục Bộ (sáu bộ) đồngthời, đặt ra lục tự (sáu tự) để giúp việc cho lục Bộ, lục Khoa (sáu khoa) đểtheo dõi, giám sát hoạt động của lục Bộ Ở địa phương: Năm 1466, vua LêThánh Tông xoá bỏ 5 đạo, chia đất nước thành 12 đạo thừa tuyên và phủTrung Đô (Thăng Long); Năm 1469, đổi tên một số đạo thừa tuyên như:Quốc Oai thành Sơn Tây, Bắc Giang thành Kinh Bắc, Nam Sách thành HảiDương, Thiên Trường thành Sơn Nam; Năm 1471, đặt thêm đạo thừa tuyênthứ 13 là Quảng Nam Đứng đầu Thừa tuyên là Đô ty, Thừa ty và Hiến ty cóquyền ngang nhau, cùng quản lí công việc chung Dưới đạo thừa tuyên làphủ, huyện, châu và cuối cùng là xã Kinh thành Thăng Long thuộc mộtđơn vị hành chính đặc biệt gọi là Phủ Trung Đô, về sau gọi là phủ PhụngThiên Đến năm 1490, hoàn thành vẽ bản đồ gửi về bộ Hộ và được in vớitên gọi là Hồng Đức bản đồ sách Bộ máy quan lại: Quan lại được tuyểnchọn chủ yếu thông qua khoa cử Nhà nước chú trọng xây dựng đội ngũquan lại có năng lực và phẩm chất tốt Nhà nước tổ chức nhiều khoa thi đểchọn nhân tài và đặt lệ định kì kiểm tra năng lực quan lại.
Về kinh tế: Vua Lê Thánh Tông ban hành các chính sách phát triểnkinh tế như chế độ lộc điền và chế độ quân điền: Chế độ lộc điền là chế độban cấp ruộng đất làm bổng lộc cho quý tộc, quan lại cao cấp từ tứ phẩm trởlên; Chế độ quân điền là chế độ chia ruộng đất thành các phần bằng nhau,ban cấp lần lượt cho quan lại từ tam phẩm trở xuống đến tất cả các tầng lớpnhân dân, trong đó có cả trẻ em mồ côi, đàn bà goá, người tàn tật, Nguyêntắc ban cấp là ruộng xã nào chia cho dân xã ấy Thể lệ thuế khóa (thuế đinh,thuế ruộng, thuế đất) được nhà nước quy định theo hạng Nhà nước đặt Hà
đê quan và Khuyến nông quan để quản lí việc đê điều, đặt Đồn điền quan đểkhuyến khích việc khai hoang, mở rộng diện tích
Về quân sự và quốc phòng: Năm 1466, vua Lê Thánh Tông tiến hànhcải tổ hệ thống quân đội Quân đội được chia làm hai loại: Quân thườngtrực bảo vệ kinh thành gọi là cấm binh hay thân binh; Quân các đạo, gọi là
Trang 20ngoại binh đóng ở các địa phương Ở mỗi đạo chia binh làm 5 phủ do đôđốc phủ đứng đầu; mỗi phủ gồm 6 vệ; mỗi vệ có 5 hoặc 6 sở.
Nhà nước cũng rất chú ý đến rèn luyện quân đội như duyệt binh sĩ hằngnăm, quy định cứ 3 năm tổ chức một kì thi khảo võ nghệ của quân sĩ và định
lệ thưởng phạt,…Cho đặt quân lệnh để thường xuyên tập trận chọn tướng sĩphục vụ quân đội
Về pháp luật: Vua Lê Thánh Tông chú trọng hoàn thiện hệ thốngpháp luật để quản lí nhà nước Năm 1483, Nhà nước ban hành bộ Quốctriều hình luật (Luật Hồng Đức) gồm 722 điều với nhiều quy định mangtính dân tộc sâu sắc như các điều luật bảo vệ phụ nữ, người già, người tàntật, trẻ em, bảo vệ sản xuất nông nghiệp, Nhiều truyền thống, phong tục,tạp quán tốt đẹp của dân tộc đã được thể chế hóa thành các điều luật
Những điểm tiến bộ của bộ Luật Hồng Đức:
- Cải thiện địa vị của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Vai trò củangười phụ nữ đã được đề cao hơn rất nhiều so với các bộ luật đương thờitrong khu vực Người vợ có quyền quản lý tài sản của gia đình (khi chồngchết) và họ có quyền thừa kế như nam giới
- Hình phạt cho phạm nhân nữ bao giờ cũng thấp hơn so với phạm nhânnam
- Trừng phạt rất nặng các tội như phá hoại đê điều, chặt phá cây cối và lúa
má của người khác, tự tiện giết trâu ngựa,…
- Thể hiện tính chất nhân đạo, thể hộ vệ dân thường
- Vừa tiếp thu có chọn lọc tư tưởng của Nho giáo vừa phát huy nhữngphong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc
Về văn hóa- giáo dục: Vua Lê Thánh Tông coi trọng biên soạn quốc
sử Việc sử dụng lễ, nhạc, quy chế thi cử, cũng được luật hoá nghiêm túc.Vua Lê Thánh Tông đặc biệt chú trọng giáo dục và khoa cử để đào tạo,tuyển dụng nhân tài cho đất nước.Nho giáo được đặt làm hệ tư tưởng chínhthống Dựng lại Văn Miếu, mở rộng Thái Học viện và lập trường học ở
Trang 21nhiều địa phương Dựng bia đá ở Văn Miếu để tôn vinh những người đỗ đạikhoa.
Kết quả: Xây dựng được hệ thống hành chính thống nhất trên phạm
vi cả nước theo hướng tinh gọn, phân cấp, phân nhiệm minh bạch, có sựràng buộc và giám sát lẫn nhau, bảo đảm sự chỉ đạo và tập trung quyền lựccủa chính quyền trung ương và của nhà vua Các hoạt dộng kinh tế\, phápluật, quân sự, văn hóa, giáo dục đều đạt được tiến bộ hơn hẳn so với các thờitrước đó
Ý nghĩa: Thành công của cuộc cải cách đã góp phần tăng cường tínhhiệu lực và hiệu quả của bộ máy quan lại, đưa chính quyền quân chủ Lê Sơđạt đến đỉnh cao của mô hình quân chủ quan liêu chuyên chế Góp phầnquan trọng vào ổn định và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Đại Việt thế kỉ
XV Mô hình quân chủ thời Lê Sơ đã trở thành khuôn mẫu của các nhànước phong kiến ở Việt Nam từ thế kỉ XVI đến cuối thế kỉ XVII Làm cho
bộ máy nhà nước trở nên quy củ, chặt chẽ, tập trung cao độ Các chức danhđược quy định rõ ràng, hệ thống giám sát được tăng cường, hạn chế sự tậptrung quyền lực dẫn đến chuyên quyển và nguy cơ cát cứ Các chính sách
về ruộng đất góp phần khẳng định quyền sở hữu tối cao của Nhà nước tạonền tảng cho kinh tế nông nghiệp phát triển Chính sách giáo dục, khoa cử
đã đào tạo được hệ thống quan lại trí thức có tài, đủ năng lực quản lí đấtnước Làm chuyển biến toàn bộ các hoạt động của quốc gia, tạo cơ sở choVương triều Lê sơ phát triển vững mạnh, đất nước hưng thịnh
Bài học rút ra: Từ cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông có thể vậndụng, kế thừa trong công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay:Thực hiện nguyên tắc “trên dưới liên kết hiệp đồng, trong ngoài kiềm chếlẫn nhau” trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước;
Thực hiện nguyên tắc “chức vụ và trách nhiệm nghiêm minh, quyền lợi vànghĩa vụ tương xứng”; Quản lý nhà nước bằng pháp luật, đề cao pháp luật;Tuyển chọn cán bộ, công chức nhà nước một cách công khai, minh bạch;
Trang 22Tăng cường công tác giám sát, đánh giá năng lực của cán bộ, công chức nhànước Kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, làm trong sạch bộmáy nhà nước; Trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục: chú trọng phát triển giáodục và trọng dụng nhân tài Xây dựng bộ máy kiểm tra, giám sát, khenthưởng, kỷ luật khách quan, công bằng; đấu tranh không khoan nhượng với
tệ nạn bè phái, hối lộ, tham nhũng, Quản lý nhà nước bằng pháp luật, đềcao pháp luật
c/ Cuộc cải cách của vua Minh Mạng:
Vua Minh Mạng (1791 - 1841) tên huý là Nguyễn Phúc Đảm, làhoàng tử thứ tư của vua Gia Long, trị vì từ năm 1820 đến khi qua đời (năm1841) Minh Mạng được xem là vị vua năng động, quyết đoán của triềuNguyễn Trong thời gian trị vì, ông tiến hành nhiều chính sách cải cáchquan trọng về mặt hành chính, đưa đến những thay đổi lớn đối với hệ thốngchính quyền các cấp
Bối cảnh lịch sử: Năm 1802, triều Nguyễn được thành lập Trong bốicảnh đất nước vừa trải qua thời gian chiến tranh và bị chia cắt lâu dài, đặt rarất nhiều khó khăn Dưới thời vua Gia Long, nhà Nguyễn tập trung chủ yếuvào công cuộc ổn định tình hình đất nước và ưu tiên cho sự nghiệp thốngnhất về mặt lãnh thổ Bộ máy hành chính nhà nước thời kì này chưa hoànchỉnh: Ở trung ương, nhiều cơ quan chưa được hoàn thiện
Ở địa phương, tính phân quyền còn đậm nét với sự tồn tại của Bắc Thành
và Gia Định Thành Tổ chức hành chính giữa các khu vực thiếu thống nhất.Quan lại trong bộ máy nhà nước chủ yếu do các võ quan nắm giữ Để khắcphục tình trạng phân quyền, thiếu thống nhất, vua Minh Mạng đã tiến hànhcác biện pháp để tập trung quyền lực và hoàn thiện bộ máy Nhà nước
Về hành chính:
Ở trung ương: Vua Minh Mạng tiến hành cải tổ hệ thống Văn thư phòng vàthành lập Cơ mật viện làm hai cơ quan tham mưu và tư vấn tối cao củahoàng đế về hành chính, chính trị và an ninh, quân sự Năm 1820, đổi Thị
Trang 23thư viện thành Văn thư phòng Năm 1829, lập Nội các thay thế cho Văn thưphòng với chức năng như một cơ quan hành chính trung ương, chuyển vàtiếp nhận công văn từ triều đình đến các địa phương và ngược lại, khởi thảocác chế cáo, lưu giữ công văn Năm 1834, lập Cơ mật viện làm cơ quan tưvấn tối cao cho nhà vua về những vấn đề quân sự quan trọng, đứng đầu làquan văn, võ do đích thân nhà vua lựa chọn Hoàn thiện cơ cấu, chức năngcủa lục Bộ và cải tổ các cơ quan chuyên môn như Quốc tử giám(giảng dạykinh sách, đào tạo nhân tài), Hàn lâm viện(soạn thảo văn bản) Vua MinhMạng cũng thực hiện chế độ giám sát, thanh tra chéo giữa các cơ quan trungương thông qua hoạt động của Đô sát viện và lục Khoa.
Ở địa phương: Xóa bỏ Bắc Thành (năm 1831) và Gia Định Thành (năm1832), chia cả nước thành 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên Đứng đầu tỉnh làTổng đốc, Tuần phủ Tổng đốc thường là người phụ trách hai tỉnh, trực tiếpcai trị một tỉnh Tỉnh còn lại do Tuần phủ đứng đầu, đặt dưới sự kiêm quảncủa Tổng đốc
Đối với vùng dân tộc thiểu số: Vua Minh Mạng cho đổi các động, sáchthành xã như vùng đồng bằng, đồng thời bãi bỏ chế độ cai trị của các tùtrưởng địa phương, bổ dụng quan lại của triều đình đến cai trị trực tiếp
Về bộ máy quan lại: Vua Minh Mạng cũng cải tổ chế độ hồi tỵ bằng việc
mở rộng phạm vi, đối tượng áp dụng và bổ sung những quy định mới rấtnghiêm ngặt Hồi tỵ có nghĩa là tránh đi Chế độ hồi tỵ quy định:
Những người thân như anh, em, cha, con, thầy, trò,…không được làm quancùng một chỗ Những người làm quan không được nhậm chức ở quê quán,trù quán Đối với nhân viên hành chính, ai ở quê, phủ, huyện nào cũngkhông được làm việc tại cơ quan công quyền của phủ, huyện đó
Việc cải cách như vậy giúp cho hệ thống cơ quan trở nên chặt chẽ, gọn nhẹhơn Hệ thống đơn vị hành chính trong cả nước cũng áp dụng đến nay Nhìnchung, các chính cải cách hình chính giúp vua thuận lợi trong việc quản líđất nước
Trang 24Về chính trị: Đổi tên nước Việt Nam thành Đại nam, củng cố địa vịcủa Nho giáo.
Về kinh tế: Triển khai đo đạc lại ruộng đất, lập sổ địa bạ để quản lísửa đổi chế độ ruộng đất, nhằm khuyến khích nông dân sản xuất Đẩy mạnhkhai hoang, mở mang ruộng đất Quy định lại chính sách thuế cho thuyềnbuôn nước ngoài để kiểm soát hoạt động thương mại và an ninh
Về mặt văn hóa, giáo dục: Vốn là người sùng Nho 1821 Minh Mạng
mở Quốc tử giám ở kinh thành Huế đặt chức Tế tửu và Tư nghiệp, năm
1822 mở lại thi Hội, thi Đình Ông chú trọng phổ cập giáo dục thống nhấtphong tục văn hóa trên toàn quốc Năm 1836, ông cho thành lập "Tứ dịchquán" để dạy ngoại ngữ Vua Minh Mạng từng ban dụ cho bề tôi rằng: đạotrị nước chép ở sách vở, không xem rộng xét kỹ thì không thể biết hết được( Bản dập Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 13,mặt khắc 8)
Về quốc phòng, an ninh: Bộ máy quân đội được tổ chức theo phươngchâm “tinh nhuệ”học hỏi mô hình của phương Tây Đặc biệt coi trọng vàphát triển lực lượng thuỷ quân Minh Mạng rất quan tâm đến mặt quân sự.gồm bộ binh, thủy binh, tượng binh, kị binh và pháo thủ binh
Vua Minh Mạng rất quan tâm đến việc xây dựng thủy quân 1822 vua chomua một chiếc thuyền bằng đồng của Pháp đặt tên là Điện Dương Sau đósai thợ đóng lại 1838 Trong sách khâm định Đại Nam hội điển sự lệ chobiết Vua cho mua một chiếc tàu hơi nước cũ của Pháp, tháo ra nghiên cứu.Tháng 4 năm sau chiếc tàu máy hơi nước của ta đã chạy thử thành công.Ngoài hoạt động bảo vệ chủ quyền khai thác tài nguyên biển vua MinhMạng còn lệnh cho thủy quân làm nhiệm vụ cứu hộ giúp đỡ các tàu thuyềngặp nạn trên vùng biển nước ta
Cuộc cải cách của vua Minh Mạng là một cuộc cải cách khá toàndiện trên các lĩnh vực hành chính, kinh tế, văn hoá, giáo dục Thứ nhất, cáccuộc cải cách hành chính dưới triều vua Minh Mạng diễn ra trong bối cảnh
Trang 25đất nước sau một thời gian dài chiến tranh, khủng hoảng, bộ máy hànhchính nhà nước yếu kém về nhiều mặt Thứ hai, cải cách hành chính dướitriều vua Minh Mạng là tương đối toàn diện và kết quả mang lại là rất đáng
kể Cải cách hành chính đã mang lại sự hưng thịnh cho đất nước, tình hìnhchính trị – xã hội được ổn định, kinh tế đất nước phát triển, dân trí đượcnâng cao, năng lực quốc phòng được tăng cường, chế độ quân chủ trungương tập quyền được củng cố, bộ máy hành chính nhà nước hoạt động cóhiệu lực, hiệu quả hơn trước Thứ ba, cải cách hành chính dưới triều vuaMinh Mạng đã xây dựng được chế độ quân chủ trung ương tập quyền,quyền lực trong nước thuộc về nhà vua Thứ tư, vua Minh Mạng đã chútrọng xây dựng bộ máy hành chính nhà nước gọn nhẹ, được tổ chức chặtchẽ thành một guồng máy vận hành thống nhất từ trung ương đến địaphương Thứ năm, để bộ máy hành chính nhà nước hoạt động có hiệu quả,vua Minh Mạng rất quan tâm xây dựng đội ngũ quan lại hiền tài, trungthành với triều chính, coi đó là yếu tố quan trọng để cải cách hành chínhthành công
Kết quả cuộc cải cách: Xây dựng chế độ quân chủ trung ương tậpquyền cao độ Vua nắm trong tay quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và cảquyền thống lĩnh quân đội Thống nhất đơn vị hành chính địa phương trong
cả nước Cơ cấu bộ máy nhà nước gọn nhẹ, chặt chẽ, phân định cụ thể chứcnăng, nhiệm vụ của các cơ quan
Ý nghĩa của cuộc cải cách: Hoàn thành thống nhất đất nước về mặthành chính; làm cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả hơn trước.Cuộc cải cách Minh Mạng để lại nhiều bài học kinh nghiệm đối với tổ chứchoạt động của bộ máy nhà nước Trong đó, cách thức phân chia đơn vị hànhchính cấp tỉnh thời Minh Mạng là một trong những di sản lớn nhất của cuộccải cách, còn có giá trị đến ngày nay
Bài học kinh nghiệm: Cải cách bộ máy nhà nước của vua Minh Mạng
để lại những bài học kinh nghiệm bổ ích về các nguyên tắc hoạt động của bộ
Trang 26máy nhà nước, những giá trị cần lựa chọn trong chính sách quản lý, nhữngbài học về cải cách quan chế… Bộ máy nhà nước nên thực hiện theonguyên tắc “Trên dưới liên kết hiệp đồng, trong ngoài kiềm chế lẫn nhau”trong hoạt động của bộ máy nhà nước để đạt hiệu quả cao Việc áp dụngnguyên tắc này trong hoạt động của bộ máy nhà nước hiện nay sẽ góp phầnnâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, góp phần tích cực chốngquan liêu, phòng và chống tham nhũng lãng phí.
Bộ máy nhà nước nên thực hiện nguyên tắc “chức vụ và trách nhiệmnghiêm minh, quyền lợi và nghĩa vụ tương xứng” nhằm khuyến khích,động viên quan lại, quan lại nào làm tốt sẽ được nhà vua ban thưởng, làmkhông tốt sẽ phải chịu trách nhiệm về việc làm của mình Đề cao giá trị củapháp luật và tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật
Một số nội dung cải cách của vua Minh Mạng có thể kế thừa trong đời sống
xã hội hiện nay:
- Thực hiện nguyên tắc “trên dưới liên kết hiệp đồng, trong ngoài kiềm chếlẫn nhau” trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước
- Thực hiện nguyên tắc “chức vụ và trách nhiệm nghiêm minh, quyền lợi vànghĩa vụ tương xứng”
- Kết hợp “đức trị” và “pháp trị” trong quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước bằng pháp luật, đề cao pháp luật
- Tuyển chọn quan lại công khai, minh bạch
- Kiểm tra, giám sát quan lại
- Mở rộng diện và đối tượng áp dụng chế độ “hồi tỵ”
- Kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng
Phần 4: Các cuộc khởi nghĩa ( Kháng chiến chống Tống thời Tiền
Lê, thời Lý; 3 Lần kháng chiến chống Mông- Nguyên(thời trần);
Trang 27Khởi nghĩa Lam Sơn; Phong trào Tây Sơn và người anh hùng áo vải cờ đào Quang Trung- Nguyễn Huệ)
a/Kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê, thời Lý
Thời Tiền Lê:
Hoàn cảnh lịch sử:
Cuối năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con trai là Đinh Liễn bị ám sát ConThứ là Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi, triều đình nhà Đinh rối loạn Nhân cơhội đó, nhà Tống cũng đang trải qua sự suy yếu và xao lạc trong triều đạicủa họ Họ quyết định sử dụng cuộc xâm lược nước ta để củng cố đất nước
và chứng tỏ sức mạnh của mình Trước tình thế đó, triều thần nhà Đinhđồng lòng suy tôn Lê Hoàn lên làm vua
Lê Hoàn là người Xuân Lập, quê ở Thanh Liêm(Hà Nam), cha mẹ mất sớm,được một viên quan sát họ Lê nuôi Lớn lên, ông theo giúp Đinh Liễn, lậpnhiều công trạng, khi nhà Đinh thành lập, ông được phong chức Thập đạotướng quân Nhà Lê thành lập sau gọi là Tiền Lê Lê Hoàn tức Lê Đại Hànhgiữ nguyên tổ chức bộ máy nhà nước của thời Đinh với kinh đô Hoa Lư
Diễn biến:
- Đầu năm 981, quân Tống chia làm 2 đạo quân theo hai đường thủy, bộ tiếnđánh Đại Cồ Việt Đạo quân thứ nhất do Hầu Nhân Bảo chỉ huy từ UngChâu theo đường Lạng Sơn tiến vào Ngân Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn Đạothứ hai theo đường thủy do Lưu Trừng chỉ huy từ Quảng Đông vào sôngBạch Đằng Kế hoạch của quân Tống là theo 2 hướng cùng hợp quân phíaBắc thành Đại La để đánh chiếm Đại La và vùng Bắc bộ sau đó đánh vàokinh đô Hoa Lư, đồng thời vua Tống gửi thư đe dọa đòi phải thuần phục
- Trước nguy cơ bị xâm lược, Lê Hoàn cho xây dựng trận địa kiên cố ở Bình
Lỗ nhằm chặn cánh quân lớn do Hầu Nhân Bảo chỉ huy từ hướng CaoBằng, Thái Nguyên xuống, trên hướng Lạng Sơn, Bắc Ninh ông cũng cho
Trang 28quân chủ lực phối hợp với dân binh chuẩn bị chặn đánh địch Hướng ĐôngBắc, ông bố trí trận địa cọc ngầm ở cửa sông Bạch Đằng để chặn đánh đoànthủy quân Tống Mặc khác, ông cho sứ mang cống vật sang cống vua Tống
và giả chiếu thư của Đinh Toàn xin phong vương nhằm hoãn binh để cóthêm thời gian củng cố lực lượng
- Ngày 24/1/981 cánh quân thủy do Hầu Nhân Bảo chỉ huy ồ ạt tiến vào cửaBạch Đằng Trong trận Bạch Đằng đầu tiên này quân Đại Cồ Việt đã thấtbại không những không ngăn được quân Tống mà còn bị thương vongnhiều Quân Tống lấy được 200 thuyền, tiêu diệt hơn 1000 quân lính Đại
Cồ Việt Lê Đại Hành phải rút về vùng Xạ Sơn, An Lạc củng cố lại thế trận.Thủy quân Hầu Nhân Bảo thiệt hại 1 số nhưng vẫn vượt qua được trận địacọc chiếm được sông Bạch Đằng và các làng mạc xung quanh Chúng đặttrại quân tại đó để phối hợp quân thủy, bộ nhằm tiến sâu vào nội địa nước
ta Mặc dù bị tổn thất trong trận đầu nhưng quân ta vẫn quyết tâm chiến đấu
- Trên trục đường bộ từ Ung Châu kéo sang cách quân do Tôn Toàn Hưngchỉ huy bị quân chủ lực cùng với dân binh địa phương liên tục chặn đánhkhiến cho chúng phải chật vật mới đến Hoa bộ gần kề sông Bạch Đằng TạiHoa Bộ Lục quân Tống đã gặp và giao tranh với quân Đại Cồ Việt Tuynhiên Lục quân Tống đã không thể tiến tiếp, các đạo quân thủy bộ Tống đãkhông thể liên lạc được với nhau
- Tháng 3 năm 981 sau hơn 2 tháng chiếm Bạch Đằng và Hoa Bộ cả haicánh quân Tống vẫn dậm chân tại chỗ Quân Tống liên tục bị quân chủ lực
và dân binh các làng xã tập kích quấy rối làm cho lực lượng bị tiêu hao tinhthần binh lính suy giảm, chờ mãi không thấy viện binh của Lưu Trừng vàTrần Khâm Tộ, Hầu Nhân Bảo bèn kéo toàn bộ thủy quân tiến từ sông BạchĐằng đến sông Lục Đầu định phá thành Binh Lỗ rồi vào chiếm Hoa Lư.Phía Đại Cồ Việt trinh sát được sự di chuyển của quân Tống liền kéo một bộphận lớn về giữa sông Lục Đầu dưới sự chỉ huy của vua Lê Đại Hành Tạiđây quân và dân Đại Cồ Việt đã chiến đấu rất dũng cảm Đạo thủy quân
Trang 29Hồng Nhân Bảo bị dáng một đòn nặng nề, quân Tống thua to phải quaybinh thuyền rút về sông Bạch Đằng Ý đồ muốn lập công chiếm Hoa Lư khiviện binh chưa sang của Hồng Nhân Bảo bị đập tan
- Ngày 11/4/981 thủy quân tăng viện của Tống do Lưu Trừng chỉ huy mớitới sông Bạch Đằng và sát cánh với lực lượng của Hồng Nhân Bảo Tiếp đólục quân tăng viện của Tống do Trần Khâm Tộ chỉ huy cũng tới nơi TônToàn Hưng cử Trần Khâm Tộ tiến công và viên tướng này đã thành côngtrong việc phòng tuyến của quân Đại Cồ Việt tiến đến Tây kết Tuy nhiênHồng Nhân Bảo vẫn không sao thực hiện được kế hoạch hợp điểm để tiếnchiếm Hoa Lư
- Trong khi đó Lê Đại Hành một mặt viết thư xin hàng khiến cho bọn HầuNhân Bảo và Tôn Toàn Hưng tưởng thật mà lơ là việc phòng bị, trong khi
đó Lê Đại Hành bí mật tăng cường lực lượng chuẩn bị một trận quyết chiếndáng đồn quyết định Ông chọn 1 khúc sông hiểm yếu rồi bố trí quân maiphục chờ sẵn
- Ngày 28/4/981 trận quyết chiến Bạch Đằng diễn ra vua Lê Đại Hành đãcho 1 cánh quân ra khiêu chiến với quân Hầu Nhân Bảo, chiến sự đang diễn
ra quyết liệt thì quân Đại Cồ Việt vờ thua chạy, quân Tống thừa thắng đuổitheo, khi chiến thuyền của Hầu Nhân Bảo lọt vào trận địa mai phục Lê ĐạiHành tung quân ra đánh ráo riết Các chiến binh Đại Cồ Việt từ khắp trậnđịa mai phục và từ nẻo đường đổ về sông Bạch Đằng vây đánh quân Tốngquyết liệt Hầu Nhân Bảo bị giết chết trong đám loạn quân Lưu Trừng vội
vã dẫn đám tàn quân tháo lui ra biển Nghe tin Hầu Nhân Bảo bị giết trênsông Bạch Đằng, Tôn Toàn Hưng hoảng hốt dẫn quân bỏ chạy, đạo quânTrần Khâm Tộ ở Tây Kết lo sợ rút lui bị quân Đại Cồ Việt truy kích tiêu diệtquá nửa Tướng Tống là Triệu Phụng Huân bị bắt sống Cuộc kháng chiếnchống Tống lần thứ nhất năm 981 đã dành được thắng lợi hoàng toàn
Nguyên nhân thắng lợi:
Trang 30Tinh thần đoàn kết và sự anh dũng chiến đấu của nhân dân Đại Cồ Việt đãchơi một vai trò quan trọng trong chiến thắng này Nhân dân đã đoàn kết lạivới nhau để bảo vệ đất nước và chống lại xâm lược của quân Tống.
Tài chỉ huy và thao lược của Lê Hoàn, người sau này trở thành vua Lê ĐạiHành, cũng đóng một vai trò quan trọng trong chiến thắng Ông đã sử dụngchiến thuật thông minh để tận dụng yếu điểm của quân Tống và đánh bạihọ
Ý nghĩa lịch sử:
Bảo vệ độc lập và chủ quyền: Cuộc kháng chiến này đã giúp bảo vệ vàcủng cố độc lập và chủ quyền của Đại Cồ Việt Bằng cách đánh bại quânTống và đẩy họ ra khỏi lãnh thổ, Đại Cồ Việt thể hiện quyết tâm và khảnăng bảo vệ lãnh thổ và quyền tự quyết của mình
Thể hiện tinh thần đoàn kết dân tộc: Cuộc kháng chiến này thể hiện tinhthần đoàn kết và sự đoàn tụ của nhân dân Đại Cồ Việt trong việc bảo vệ quêhương khỏi sự xâm lược của nước ngoại Nhân dân Đại Cồ Việt đã đoàn kếtlại với nhau để đánh bại quân Tống
Tôn vinh tài năng và tinh thần lãnh đạo của Lê Hoàn: Cuộc kháng chiến này
đã tôn vinh tài năng quân sự và tinh thần lãnh đạo của Lê Hoàn, người đãlãnh đạo cuộc chiến và đạt được chiến thắng quyết định tại Trận BạchĐằng
Xây dựng nền tảng cho phát triển về sau: Cuộc kháng chiến chống quânTống lần thứ nhất đã giúp Đại Cồ Việt tạo ra một mô hình tự quyết định vàbảo vệ độc lập dân tộc, làm nền tảng cho sự phát triển và thăng tiến củaquốc gia trong tương lai
Thời Lý
Hoàn cảnh lịch sử:
Từ giữa thế kỉ thứ 11 nhà Tống gặp phải những khó khăn chồng chất, trongnước ngân khố cạn kiệt, nội bộ mâu thuẫn, nhân dân bị đối khổ nhiều, nhiều
Trang 31nơi nổi dậy đấu tranh, vùng biên cương phía Bắc thường xuyên bị 2 nướcLiêu, Hạ quấy nhiễu Trong hoàn cảnh đó Tống Thần Tông và tế tướngVương An Thạch chủ trương gây chiến với Đại Việt với hi vọng dùng chiếncông ngoài biên để trấn áp phe đối lập trong triều và dằn mặt Liêu, HạNăm 1005, Lê Hoàn mất, Lê Long Đĩnh lên ngôi vua Cuối năm 1009, LêLong Đĩnh qua đời Triều thần chán ghét nhà Tiền Lê, vì vậy các tăng sư vàđại thần, đứng đầu là sư Vạn Hạnh, Đào Cam Mộc, tôn Lý Công Uẩn lênngôi vua Nhà Lý thành lập Năm 1010, Lý Công Uẩn đặt niên hiệu làThuận Thiên và quyết định dời đô về Đại La (nay là Hà Nội), đổi tên thành
là Thăng Long (có nghĩa là rồng bay lên) Năm 1054, nhà Lý đổi tên nước
là Đại Việt Vua là người đứng đầu nhà nước, nắm giữ mọi quyền hành
Ở gần biên giới nhà Tống chuẩn bị những căn cứ xâm lược ở các thành trìlớn như Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu làm nơi xuất phát và dự trữ hậucần trong chiến tranh Nhận thức được ý đồ đó ngay từ các vua đầu tiên nhà
Lý đã chủ động một mặt hết sức mềm dẻo để có quan hệ ngoại giao bìnhthường, mặt khác tăng cường quốc phòng biên giới phía Bắc kiên quyếtchống trả xâm lấn của nhà Tống Năm 1072 vua Lý Thánh Tông chết, thái
tử Càng Đức mới 6 tuổi lên nối ngôi tức vua Lý Nhân Tông, nhà Tống cho
đó là cơ hội tốt, để dẩy mạnh việc chuẩn bị xâm lược Đại Việt
Trước tình hình đó triều đình nhà Lý đã giao binh quyền cho phụ quốc Thái
úy Lý Thường Kiệt làm tổng chi huy cuộc kháng chiến
Lý Thường Kiệt (1019-1105), tên thật là Ngô Tuấn, người p hường TháiHòa, thành Thăng Long (Thủ đô Hà Nội ngày nay) Năm 23 tuổi, LýThường Kiệt được bổ nhiệm làm quan theo hầu vua Lý Thái Tông, giữ chức
“Hoàng môn chi hậu” Trải qua ba triều vua Lý Thái Tông, vua Lý ThánhTông, vua Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt luôn là một trọng thần đượctriều đình tin tưởng, nể trọng
Diễn biến:
Trang 32Giai đoạn 1: Phá tan cứ điểm xâm lược Ung Châu bẻ gãy từ đầu thế chủđộng của Tống:
- Năm 1074, Lý Thường Kiệt đã mời Lý Đạo Thành vốn là quan thái sư đờiThánh Tông, từ Nghệ An trở lại triều đình giữ chức Thái phó bình chươngquân quốc trọng sự Hai ông đã hợp lực cùng lo toan việc nước trong lúcnguy nan
- Sau khi cùng cố lại lực lượng, ngăn ngừa bất trắc phía nam, Lý ThườngKiệt không bị động chờ đợi giặc mà đã quyết định tiến công địch trước đểđẩy giặc vào thế bị động, giành lấy thế chủ động cho cuộc kháng chiến Ôngnói: "Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọncủa giặc" Triều đình tán thành chủ trương đó Lý Thường Kiệt liên tổ chứcmột cuộc tập kích vào đất Tống nhằm phá tan các cứ điểm xâm lược Ung,Khâm, Liêm mà chủ yếu là thành Ung Châu rồi quay về phòng thủ đấtnước, chủ động đến đánh địch
- Trong cuộc tập kích này, Lý Thường Kiệt đã huy động hơn 10 vạn quânthủy bộ Về mặt bộ, lực lượng chủ yếu là quân lính các tộc thiểu số do các tùtrưởng của họ là Tôn Đân, Lưu Kỳ, Hoàng Kim Mãn, Thân Cảnh Phúc, VìThủ An chỉ huy Phụ trách chung là Tông Dân Bộ bình tập trung ngay ở cácchâu Quảng Nguyên, Môn (Đông Khê), Quang Lang, Tô Mậu Chủ lực củađợt tập kích đã theo đường thủy, do đích thân Lý Thường Kiệt chỉ huy,đóng ở châu Vĩnh An (Móng Cái, Quảng Ninh)
- Ngày 27-10-1075 chiến dịch tập kích quân địch của Lý Thường Kiệt bátđầu
- Ngày 30-12-1075 quân ta tiến đánh Khâm Châu Ngày 2-1-1076, quân tađánh chiếm Liêm Châu dễ dàng Quân Tống không cản nổi đường tiến củaquân ta Nhưng để làm sáng tỏ mục đích của cuộc tập kích vào đất Tống, đểtạo điều kiện thuận lợi hơn nữa, Lý Thường Kiệt đã cho niêm yết khắp nơi
tờ “Phạt Tông lộ bó vân”
Trang 33- Ngày 18-1-1076, Tân Dân kéo quân đến ngoại thành Ung Châu Ngay sau
đó, đại quân Lý Thường Kiệt cũng đến nơi.Cuộc vây thành Ung Châu đãkéo dài hơn một tháng Quân địch khốn quần vì cạn lương, thiếu nước Việnbình lại bị tiêu diệt không đến được Đến ngày 1-3-1976, quân ta mới hạđược Ung Châu Cuộc chiến đấu quyết liệt đã kết thúc sau 42 ngày
-Mục đích của cuộc tiến công Ung Châu là để tự vệ một cách tích cực.Đó làmột bộ phân khăng khít, là giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống quânxâm lược Tống Bằng cuộc tiến công táo bạo đó, Lý Thường Kiệt đã đấy kẻthù vào thế bị động và tạo ra nhiều điều kiện có lợi để đánh bại kẻ thù khichúng kéo sang xâm lược Những căn cứ quân sự và hậu cần mà nhà Tốngđốc bao công phu, bao thời gian xây dựng, phút chốc bị phá hủy tan tành.Cuộc hành bình xâm lược của chúng sắp tới sẽ phải chậm trẻ vì gặp nhiềukhó khăn
Giai đoạn 2: Dựng phòng tuyến phá giặc:
-Biết chắc quân Tống thế nào cũng sang xâm lược để thực hiện mục đích đãđeo đuổi từ lâu và để phục thù, nên Lý Thường Kiệt đã chủ động rút về rấtsớm để xúc tiến việc chuẩn bị kháng chiến
-Nhà Tống không nghĩ đến việc quân ta tiến sang đánh phá các căn cứ xâmlược Ung, Khâm, Liêm Và một tháng sau khi mất châu Khâm, châu Liêm,triều đình Tống mới biết tin Bị bất ngờ, vua tôi Tống rất hoảng sợ Ti bìnhlược Quảng Tây xin thêm viện bình, lương thực, khí giới Vua Tống ra lệnhphải cố thủ Quảng Tây Triều đình cách chức Trị Quế Châu của Lưu Dí,cho Quảng Tây 50.000 quân tiến để mộ thêm quân, mua thêm thóc Đồngthời triều đình Tổng quyết định đem ngay đại binh đánh thẳng vào nước tavừa thực hiện ý đồ xâm lược, vừa giải vây cho Ung Châu
-Ngày 2-2-1076 Triệu Tiết, người đã có nhiều chiến công đánh nước Hạ,được cử làm Ân nam đạo hành doanh mã bộ độ tống quân Nhiều tướng giỏikhác ở biên thùy phía bắc như Lý Hiến, Yên Đạt, Ôn Cáo v.v làm tủy tùngcho Triệu Tiết Vua Tống lại viết "Thảo Giao Chỉ chiếu" dụ dố ta: "Chiếu
Trang 34cho quân Giao Chỉ hay: khi thấy quan quân đến thì đừng chạy Dân chúng
đã chịu khổ sở lâu ngày, nếu đỗ được chúa các ngươi vào nội phụ, trẫm sẽthường tước lộc cho Cân Đức (vua Lý Nhân Tông - TG) còn trẻ, việc làmloạn không phải tự người gây ra Ngày nào người tới chấu, trắm sẽ tha thứcho”
-Đạo quân của Triệu Tiết chưa lên đường thì quân ta đã hạ được thành UngChâu và rút về nước Một lần nữa nhà Tống lại phải bị đồng thay đổi kếhoạch, dừng cuộc tiến quân, chuẩn bị kĩ càng hơn Trước hết là sắp xếp lạitướng tả Triêu Tiết và Lý Hiến mâu thuẫn với nhau, nên vua Tống phải cửthêm tướng Quách Quỳ
-Bấy giờ Quách Quỳ nhận chức chánh tướng, Triệu Tiết làm phó lo việcbình lương Quách Quỳ cũng là tướng miền Bắc, đã từng giúp Phạm TrọngYêm chống Hạ Các tùy tướng cũng đều lấy từ các doanh trại Tây Bắc Binh
sĩ được huy động là 10 vạn quân kị bộ, 1 vạn ngựa Trong số này 4,5 vạn làquân rút từ miền biên giới Liêu Hạ, do 9 tướng chỉ huy Số còn lại là trưngtập ở các lộ, đặc biệt là các lộ dọc đường từ kinh đô đến Ung Châu
-Lý Thường Kiệt thấy rằng Tống là một vương quốc lớn và đã điều độngmột đạo quân xâm lược khổng lồ (bình phu hơn 30 vạn); vì thế nếu ta đemtoàn bộ lực lượng ra quyết chiến với chủ lực địch ngay khi chúng mới vàobiên giới thì rất bất lợi Nhưng mặt khác ông lại thấy nhà Tống tiến hànhcuộc chiến tranh này trong thế bị động, trong lúc gặp nhiều khó khăn, đặcbiệt là sự uy hiếp của Liêu, Hạ Nhà Tống không thể kéo dài chiến tranh,không thể đốc nhiều lực lượng cho chiến tranh Vua Tống đạn Quách Quỳ
"phải lo việc An Nam cho chóng xong Còn về phía ta thì tiềm lực vật chấttuy ít hơn địch, nhưng vua tôi, quân dân đều đồng lòng quyết tâm bảo vệđộc lập dân tộc với tư thế chủ động của người vừa giành thắng lợi trong giaiđoạn đầu của cuộc kháng chiến và ta lại được chiến đấu trên đất nước mình,quê hương mình
Trang 35-Lý Thường Kiệt quyết định sẽ chọn dừng bước tiến của quân xâm lượctrước miền đất chủ yếu của Tổ quốc Đó là kinh đô Thăng Long, đầu vàocủa lực lượng kháng chiến, là phủ Thiên Đức (Từ Sơn, Bắc Ninh) quêhương của nhà Lý, là vùng đồng bàng phì nhiêu giàu có, đông dân Đó cũngchính là mục tiêu chủ yếu mà quân địch cần đánh chiếm Thủy bình dịch tậptrung ở Khâm Châu Từ Khâm Châu, theo Chu Khủ Phí, tác giả sách Lĩnhngoại đại đáp (đời Tống) thuyên đi một ngày đến châu Vĩnh An Ở Vĩnh Anthuyến theo sông Đông Kênh vào cửa Bạch Đàng, lên Vạn Xuân (Phả Lạitrên sông Lục Đầu) để vào Thăng Long hoặc tiếp ứng các ngả cho các cánhquân bộ
-Thủy bình địch không phải là lực lượng lớn, lại không tỉnh nhuệ nhưng cónhiệm vụ phối hợp với bộ binh "ghé vào bờ Bắc sông để chở đại quân quasống" Vẻ mặt biển, phía ta tương Lý Kế Nguyên phụ trách một đội thủybình đóng dọc sông Đông Kênh, Sông Đông Kênh là dài nước ven biểngiữa đất liên và các hải cảng từ Móng Cái vào đến cửa Bạch Dàng Lý KếNguyên sẽ phải chân bàng được thủy bình địch, làm thất bại kế hoạch phốihợp quân thủy bộ của Tống Lực lượng chủ yếu của địch trong cuộc xâmlược này là hộ bình và kị bình Quân kị, quân bộ tập kết ở Ung Châu và cáctrại xung quanh Từ đó quân địch sẽ theo nhiều đường qua vùng Đông Bắcnước ta để tiến vào Thăng Long
-Yếm trợ cho Thân Cảnh Phúc về phía tây là quân của Sắm Khánh Tân,Nùng Thuận Linh, Hoàng Kim Mân ở vùng Châu Môn, ngăn chặn đường
từ Bình Gia (Lạng Sơn) đến Thái Nguyên Phía đông Thân Cảnh Phúc làquân của Vị Thủ An đóng ở châu Tô Mậu ngăn chặn đường từ Từ Làng(thuộc Ung Châu) đến Lạng Châu Những đạo quân thiểu số trên đây rấtthông thạo địa hình, là nổi 6 ngại lớn cho kẻ địch Triệu Tiết nói rằng: "Lưu
Kỳ ở Quảng Nguyên, Thân Cành Phúc ở động Giáp đều cấm cường bình".-Nhưng lực lượng vũ trang của các dân tộc miền núi này rõ ràng là khôngthể chặn đứng được giặc Với sức mạnh to lớn ban đầu, các mũi tiến công
Trang 36của bộ binh Tổng có thể vượt qua những chiến tuyến phụ của quân ta Tuynhiên muốn đến được Thăng Long, dù bị đường nào, cũng phải qua sôngCầu Sông Cấu bắt nguồn từ Cao Bằng, đổ ra sông Lục Đầu ở Phả Lại, lúc
đó là Vạn Xuân Dòng sông chặn ngung tất cả các con đường bộ từ QuảngTây vào Thiên Đức, Thăng Long Đường thủy từ Bạch Đằng muốn vàoThiên Đức – Thăng Long cũng phải qua sông Cầu ở khu vực Vạn Xuân.Thương lưu sông Cầu rất hiểm trở, Khúc sông từ Thái Nguyên đến Đa Phúc
có thể qua lại được những sang sông rồi lại gặp phải dây núi Tam Đác khóvượt qua Chỉ có khúc sông từ Da Phúc đến Phả Lại dài khoảng gần 100km,nhất là đoạn từ Ngã Ba Xà (ngã ba sông Cà Lồ và sông Cầu) trở xuống, tứcsông Như Nguyệt là có thể qua lại dễ dàng, có bến đò, có đường bộ vềTháng Long
-Tại bờ Nam sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt cho đắp đất làm chiến lũydọc sông Phía ngoài lũy, mặt giáp sông, ông sai đắp cọc tre làm nhiều lớpgiậu Dưới bãi sông còn có những hố chông ngắm Sống rộng, chông ngắm,giậu dây, lũy cao kết hợp với nhau chặt chẽ tạo thành một chiến tuyền lợihại
-Nói chung chiến tuyến Như Nguyệt chạy dài từ Ngã Ba Xã đến Vạn Xuân(Phả Lại) Nhưng trên đoạn sông này, hai bên bờ có nhiều chỗ núi ăn sát bờsông (núi Nham Biển ở huyện Việt Yên, Bắc Giang), hoặc rừng cây umtâm Ở những chỗ đó không cần thiết phải đáp chiến lũy Lý Thường Kiệtchỉ cho tập trung đáp lũy làm rào ở những nơi dịch có khả năng vượt sông
và quan trọng nhất là khu vực bến Như Nguyệt, Thị Câu, Vạn Xuân.-Quân chủ lực được điều đến để chiến đấu bên chiến lũy Lý Thường Kiệttrực tiếp chỉ huy ở dây Một bộ phận quân đóng ngay bên phòng tuyến ởnhững vị trí xung yếu, những nơi địch có thể vượt qua Theo sách Việt điện
u lĩnh, Lý Thường Kiệt cho đóng thành những trại quân: Như Nguyệt, ThịCâu, Phần Dộng (xã Tam Đa, Yên Phong, Bắc Ninh) và Vạn Xuân Đây là
Trang 37những cứ điểm quan trọng có thể liên hoàn thủy bộ, ứng cứu cho nhaunhanh chóng kịp thời.
-Toàn bộ chủ lực quân, thủy bộ của ta trên chiến tuyến Như Nguyệt có thể
là trên 6 vạn, Lý Thường Kiệt đã kết hợp địa hình tự nhiên, bài chướng ngạivật với quân đội mà bố trí lực lượng có trọng điểm để vừa có thể kiểm soát,bảo vệ được toàn chiến tuyến vừa có thể nhanh chóng tập trung đánh lại cóhiệu quả những mũi đột phá của địch và tổ chức phân công khi có thời cơ.-Quân Tống bắt đầu cuộc xâm lược nước ta vào mùa thu năm 1076 Tháng 7
âm lịch (năm Bính Thìn) toàn bộ quân đội của Quách Quỳ đã có mặt ở ĐàmChâu (Hồ Nam) chuẩn bị xuống Ung Châu, Quách Quỳ cho những độiquân tiên phong đánh chiếm một vài nơi ở địa đầu nước ta để thăm dò tìnhhình
-Lý Kế Nguyên lập tức cho quân ra chặn đứng thủy quân Tống Lý KếNguyên đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đó là một thắng lợi có ý nghĩachiến lược trong toàn bộ kế hoạch kháng chiến của Lý Thường Kiệt, chậnđứng thủy quân do Hòa Mâu và Dương Tiến Tùng chỉ huy
-Trên đường bộ, Quách Quỳ cho một số tướng giỏi như Yên Đạt, Tu Kỳtiến đánh Quảng Nguyên vào tháng 12-1076
-Lưu Kì và quân sĩ chiến đấu rất hăng hái, giết và bắt được khá nhiều giặc.Theo sách Đại Nam nhất thống chí, nhân dân ở phía bắc châu QuảngNguyên cũng tham gia đánh giặc chống cướp phá Cho đến đầu năm 1077,khi kiểm soát được Quảng Nguyên thì địch đã bị thiệt hại khá nhiều.-Đại quân Quách Quỳ từ châu Tư Minh (Bàng Tường, Quảng Tây) theonhiều ngả tiến vào nước ta Ngày 8-1-1077 Quách Quỳ chỉ huy bộ phận chủyếu, vượt ải Nam Quan vào Lạng Sơn Dịch theo đường thiên lí xuốngThăng Long Quân ta rút khỏi Quyết Lí Theo lệnh trên, Thân Cảnh Phúccho quân trong rừng núi ven đường thiên lí, tiếp tục chiến đấu đánh tiêu haođịch Thân Cảnh Phúc vẫn ở vùng động Giáp ráo riết đôn đốc quân chuẩn bịđánh giặc ở ài Giáp Khẩu (Chi Lăng) Quách Quỳ bỏ ý định tiến thẳng qua
Trang 38ải Giáp Khẩu theo đường thiên lí mà đem quân sang phía tây Quân Tốngvượt dãy núi Bắc Sơn đến Yên Thế rồi tới ven sông Cấu vùng Thái Nguyên.Sách Tục tư trị thông giảm trường biên viết: "Giặc đặt phục binh ở cửa ảiGiáp Khẩu để đón quân ta Quỳ biết nên đi đường tất qua dãy núi Dâu Đỉnh
mà tiến rồi tới sông Phú Lương"
-Ngày 18-1-1077, đại quân Quách Quỳ đến bờ Bắc của đoạn đầu sông NhưNguyệt đối diện với bến đò Như Nguyệt, với đường cái lớn về Thăng Long.-Địch muốn hành quân tiếp, nhưng trước mặt là dòng Như Nguyệt và chiếntuyến của quân ta ở bờ Nam Quách Quỳ định tổ chức vượt sông, tấn côngquân ta, tiến thẳng về Thăng Long như kế hoạch dự định Nhưng thủy binhđịch bật hẳn tăm tích Quách Quỳ phải quyết định tạm đóng quân lại ở bờBắc sông Như Nguyệt Với ý đồ chuẩn bị vượt sông, tiếp tục cuộc tiến côngđánh chiểm kinh thành Thăng Long, nên địch không dàn đều lực lượng trêntrận tuyến dài mà chúng đóng thành từng khối ở những vị trí xung yếu nhất
là những bến đò, những con đường thuận lợi tiến về Thăng Long Một bộphận quan trọng quân Tống do phó tướng Triệu Tiết chỉ huy đóng ở bờ Bắcbến đò Như Nguyệt vùng thôn Mai Thượng, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa,
Hà Bác
-Như vậy là địch chia quân làm hai khối lớn do chánh tướng và phó tướngtrực tiếp chỉ huy, đóng cách nhau hơn 30km ở bắc sông Như Nguyệt trướcmặt hai bến đò lớn nằm trên hai trục đường quan trọng tiến về Thăng Long.-Khoảng giữa hai khối quân lớn, địch còn đóng giữ một số vị trí cần thiết để
có thể liên hệ, tiếp ứng cho nhau khi tổ chức vượt sông hoặc khi bị tiếncông Trong số các vị trí đó có địa điểm núi Tiên Lát ở thôn Hạ Lát xã TiênSơn (huyện Việt Yên) Khu núi Tiên Lát gồm có núi Voi, núi Chúc, núiLêu, núi Phượng Hoàng cao dưới 80 mét Đứng trên núi Phượng Hoàng
có thể nhìn rõ một vệt dài ở bờ Nam sông Như Nguyệt từ xã Dũng Liệt đến
xã Hòa Long (đều thuộc huyện Yên Phong) và đến cả vùng Thị Cẩu
Trang 39-Tiến xuống bờ Bắc sông Như Nguyệt, quân Tống chỉ còn cách ThăngLong khoảng 20km (tính theo đoạn Như Nguyệt - Thăng Long) QuáchQuỳ nóng lòng muốn chiếm Thăng Long để thực hiện kế hoạch đánh nhanhthắng nhanh như vua Tống đã căn dặn Việc Quách Quỳ phải tạm dừng lạiđợi thủy quân vào hợp đồng tác chiến là rất bất đắc dĩ.
-Tướng giặc Vương Tiến được lệnh bắc cầu phao qua bến Như Nguyệt đểcho đội quân xung kích của Miêu Lý sang sông Đội quân này khoảng hainghìn tên nhờ cấu phao qua sông dễ dàng và sau đấy chọc thủng được mộtchiến tuyến của quân ta
-Lợi dụng địa hình vùng Yên Phu (Yên Phong Bắc Ninh), Lý Thường Kiệt
bố trí một trận địa mai phục chờ giặc Quân ta được nhân dân hết sức giúp
đỡ đã đánh giặc rất dữ dội Giặc thua tan tác, số sống sót cùng Miêu Lýhoảng hốt chạy về bờ sông Như Nguyệt, nhưng đến nơi thì cầu phao đã bịcắt và quân ta lại tiến công mạnh mẽ Bên kia sông, Triệu Tiết cho bè sangcứu không được Sách Tục tự trị thông giảm trường biên chép: “Bình thếđứt đoạn, quân ít không địch nổi nhiều, bị giặc (chỉ quân ta TG) ngán chânrơi ngã xuống bờ sông Phần lớn đội quân xung kích của địch bị tiêu diệt.Miêu Lý và một số ít tân bình liều chết chạy về bờ Bắc Cuộc tiến công mởmàn của địch bên bờ Như nguyệt đã bị quân dân ta đập tan nhanh chóng-Sau đó Quách Quỳ lại huy động một lực lượng mạnh hơn và đóng bè lớnchở quân qua sông lần hai Mỗi lần bè đưa được 500 tên Bè không cónhiều, chở quân sang lại phải quay về đón số mới Hết lớp này đến lớp khác,quân Tống đổ sang bờ Nam Như Nguyệt rồi xông lên phá bài chướng ngạiven sông, chúng chặt đốt những hàng rào bằng tre Nhưng rào dây mâyTống rất khó phá Quân từ trận chiến lũy lại đánh xuống dữ dội Lớp trước
bị tiêu diệt, lớp sang cứu viện cũng bị đánh tan Học giả bộ trình nhà Tống
đã mô tả trận đánh như sau: "Dùng bè chở 500 quân vượt sông vừa chật vừađốt mấy lán trại rào bằng tre không được Đem bè không về chở cứu binh
Trang 40sang, nhưng lại bị giặc bắt giết Thế là quân ta không được cứu, kẻ trốn, kẻchết, không thành công được”.
-Hai lần vượt sông, hai lần thất bại thảm hại, vì thế nên tuy còn trong taygần nguyên vẹn số quân 10 vạn, số phụ 20 van mà Quách Quỳ không dámnghĩ đến tiến công nữa Quách Quỳ quyết định dứt khoát phải chờ thủy binh
và buồn rầu ra lệnh "Ai bàn đánh sẽ chém”
-Chủ lực của địch là bộ binh và kị binh đã không thể liên hệ được với thủybinh và bị chặn đứng lại trước chiến tuyến sông Như Nguyệt Quân địch tuychiếm được khu Đông Bắc và Bắc ngạn sông Cầu nhưng đã mất thế chủđộng tiến công và bị hầm trong một địa bàn rất bất lợi Đó là vùng thượng
du và trung du, dân cư thưa thớt, quân Tống không thể vớ vớt cướp bócđược Lương án của đạo quân xâm lược hoàn toàn trông chờ vào việc vậnchuyển tiếp tế bằng đường bộ của dân phu
-Quân dân ta vòng sau lưng địch lại phát triển các hoạt động du kích quấyrối liên tục Những đoàn phụ vận chuyển lương thực luôn bị chặn đánh.Những đội quân thượng du của ta cùng với dân chúng các tộc người thiểu
số len lỏi trong rừng sâu, núi cao thường bất ngờ tiến ra đánh tỉa Hoạt độngmạnh nhất là đạo quân của phò mã Thân Cảnh Phúc ở vùng động Giáp.Sách Đại Việt sử kí dẫn một đoạn trong sách Quế Hải chỉ như sau: "Viên tríchâu quan lang là phò mà bị thua, bên trốn vào trong bụi cây thấy quânTống đi lẻ loi thì giết chết hoặc hát về Người ta cho là một vị thiên thần,Quân Tống rất hoang mang lo sợ
-Hai tháng đã trôi qua quân Tống ngày càng bị tiêu hao về số lượng và đặcbiệt nghiêm trọng là quân Tống không thể vơ vét cướp bóc của cải được.Viên quan chuyên vân sử Lý Bình Nhất đã tính phải có 40 vạn phu, nhưngnhà Tống chỉ điệu được 20 vạn Do đó một số vũ khí và tên sát của quânlính đã phải bỏ lại, lương thực không mang được nhiều
-Quân Tống tuy thế suy lực giảm nhưng vẫn còn một số lượng khá đông.Chúng vẫn đóng trên một trận tuyển dài khoảng 30km ở bờ Bắc sông Như