CHỦ ĐỀ: KỂ TÊN VÀ PHÂN TÍCH BIỂU TƯỢNG VĂN HÓAỞ VÙNG ĐỊA VĂN HÓA DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG ĐỀ TÀI: BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA PHI VẬT THỂ NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH Ở THỪA THIÊN HUẾ Thành phố Hồ Chí Minh, ng
Trang 1CHỦ ĐỀ: KỂ TÊN VÀ PHÂN TÍCH BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA
Ở VÙNG ĐỊA VĂN HÓA DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG
ĐỀ TÀI: BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA PHI VẬT THỂ NHÃ
NHẠC CUNG ĐÌNH Ở THỪA THIÊN HUẾ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 4 tháng 10 năm 2024
Trang 2I Tổng quan về vùng địa văn hóa Duyên hải miền Trung 1.1 Vị trí địa lý
Vùng Duyên hải miền Trung là đồng bằng ven biển nằm ở miềnTrung nước ta Khu vực này chạy dọc theo đường bờ biển và kéodài từ Thanh Hóa đến Bình Thuận Vùng này có vai trò đặc biệtquan trọng, bởi đây chính là cầu nối giao thông quan trọng củahai miền Nam Bắc nước ta Không những thế nơi đây còn đượcmệnh danh là hành lang kinh tế Đông Tây, có vai trò đặc biệtquan trọng trong việc phát triển kinh tế, Duyên hải miền Trungcòn là cửa ngõ thông ra biển của Lào và các tỉnh Tây Nguyên
Vị trí tiếp giáp của Vùng Duyên hải miền Trung
Phía Bắc giáp với vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Trung
du và miền núi Bắc Bộ
Phía Đông giáp Biển Đông
Phía Tây giáp với vùng Tây Nguyên và Lào
Phía Nam giáp vùng Đông Nam Bộ
Với tổng diện tích lên đến 49.409,7 km2 kéo dài từ Bắc vào Nam,hiện đồng bằng Duyên hải miền Trung chia làm hai khu vực nhỏ:Duyên hải Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ
Duyên hải Bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, HàTĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế
Duyên hải Nam Trung Bộ gồm 8 tỉnh: Đà Nẵng, Quảng Nam,Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, BìnhThuận Trong đó có một thành phố trực thuộc trung ương là ĐàNẵng.
1.2 Điều kiện tự nhiên
Là vùng đồng bằng dài nhất nước ta có điều kiện tự nhiên đadạng nhưng khá phức tạp Về đặc điểm, khu vực này có bờ biểndài khoảng 1.800 km, chiếm hơn một nửa chiều dài bờ biển cảnước, đồng thời bao gồm nhiều cảng nước sâu và hệ thống đảoquan trọng, tạo lợi thế về kinh tế biển và giao thương Tuy nhiên,khu vực này cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các hiện tượngthời tiết cực đoan như bão, áp thấp nhiệt đới và biến đổi khí hậu,gây thiệt hại lớn về kinh tế và đời sống
Trang 3Địa hình đồng bằng nhỏ hẹp bị cắt xẻ bởi các nhánh núi đâm rabiển như: dãy núi Hoành Sơn-đèo Ngang, dãy Bạch Mã- đèo HảiVân.
Khí hậu: là vùng có khí hậu nhiệt đới, hằng năm bị ảnh hưởng bởikhí hậu ven biển ẩm và gió Lào khô nóng
Tài nguyên biển và đất đai: vùng biển miền Trung có nhiều ngưtrường lớn, nguồn hải sản phong phú và đa dạng Vùng Duyênhải miền Trung nằm trong khu vực có tiềm năng về khoáng sảnnước ta, đáng chú ý là sa khoáng nặng, cát trắng, nước khoáng
và vàng Đất đai chủ yếu là đất cát và đất pha cát ven biển chủyếu được bồi đắp bởi các con sông và biển, thích hợp trồng cáccây công nghiệp ngắn ngày như dưa hấu, khoai lang và một sốloại cây ăn quả khác
II Biểu tượng văn hóa của vùng địa văn văn hóa duyên hải miền trung
2.1 Định nghĩa của biểu tượng văn hóa:
Khái niệm: Biểu tượng văn hóa là “dấu vân tay văn hóa của mỗiquốc gia” bao gồm những hình ảnh, vật phẩm, hoặc khái niệmmang ý nghĩa đặc trưng và đại diện cho một nền văn hóa, nhómngười, hay cộng đồng nhất định Những biểu tượng này thườngchứa đựng giá trị lịch sử, tâm linh, hoặc truyền thống, giúp thểhiện bản sắc và đặc trưng riêng của văn hóa đó
a.Biểu tượng văn hóa ẩm thực:
Văn hóa ẩm thực miền Trung mang tính phong phú, đa dạng,ngoài những món ăn mặn, còn có các loại bánh, chè và thườngđược chế biến từ mạch nha, đường phèn,
Với nét đặc trưng trong ẩm thực của miền Trung, ta khôngthể không nhắc đến các món ăn mặn và ăn ngọt như là:
Bánh ép giòn Huế
Tương Nam Đàn Nghệ An
Bánh ít lá gai Bình Định
Mì Quảng (Đà Nẵng, Quảng Nam)
Nem chua Thanh Hóa
Trang 4 Bánh tráng Hòa Đa Phú Yên.
Bánh đập Quảng Ngãi
Nước mắm Tĩn Bình Thuận
b.Biểu tượng văn hóa tâm linh và tín ngưỡng:
Phần lớn người dân nơi đây thực hành tín ngưỡng bằng hìnhthức thờ cúng một cách thành kính, thể hiện khát vọngnhận được sự che chở từ các đấng thần linh, đồng thời cầumong cho vạn sự bình an, mưa thuận gió hòa trong mưusinh thông qua các lễ hội truyền thống hằng năm
Về hình thức, các lễ hội tín ngưỡng tâm linh của vùngduyên hải miền Trung rất đa dạng như: Lễ hội Ka-tê củangười Chăm ở Bình Thuận, Lễ hội Tháp Bà Ponagar ở NhaTrang,
Vùng duyên hải miền Trung sở hữu nhiều biểu tượng vănhóa tín ngưỡng và tâm linh đặc sắc, phản ánh bản sắc vănhóa và lịch sử của vùng đất này Dưới đây là một số lễ hộinổi bật:
Lễ hội cầu Ngư ở Khánh Hòa
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa ở Quảng Ngãi
Lễ dựng cây Nêu và bộ Gu của tộc người Co ở Quảng Nam
Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ ở Thanh Hóa, Nghệ An, HàTĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế
Các loại hình nghệ thuật dân gian: Như bài chòi, hát tuồng,
và các điệu múa dân gian thường được biểu diễn trong các
lễ hội, góp phần thể hiện tín ngưỡng và tinh thần cộngđồng
c.Biểu tượng văn hóa vật thể:
Miền Trung được ví von là con đường di sản của Việt Nam, nơiđây sở hữu nhiều di sản văn hóa thế giới đã được tổ chứcUNESCO công nhận
Quần thể di tích cố đô Huế: đã được UNESCO công nhận là
Di sản văn hóa thế giới vào năm 1993 Bao gồm các cung
Trang 5điện, đền đài, thể hiện kiến trúc cung đình của triềuNguyễn.
Thành nhà Hồ: đã được UNESCO công nhận là Di sản vănhóa thế giới vào năm 2011 Thành nhà Hồ là di tích lịch sửđược xây dưới triều Trần, đây là một trong những tòa thànhlũy bằng đá hiếm hoi còn sót lại trên thế giới
Phố cổ Hội An: Với kiến trúc đặc trưng của các thế kỷ
17-19, phố cổ Hội An là nơi lưu giữ nhiều dấu ấn lịch sử và vănhóa
Khu di tích Thánh địa Mỹ Sơn: đã được UNESCO công nhận
là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1999 Với các đền tháp
cổ, thể hiện nền văn minh Chăm Pa hưng thịnh xưa kia
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng: đã được UNESCOcông nhận là Di sản thiên nhiên thế giới vào năm 2003 và
2015.
d.Biểu tượng văn hóa phi vật thể:
Miền Trung - vùng đất của những văn hóa phi vật thể, là mộtvùng đất có bề dày lịch sử và văn hóa lâu đời Nơi đây lưu giữnhiều di sản văn hóa phi vật thể quý giá:
Lễ hội cầu Ngư
Võ cổ truyền Bình Định
Nghệ thuật làm gốm của người Chăm
Dân ca Ví, Giặm ở Nghệ An, Hà Tĩnh
2.2 Ý nghĩa của biểu tượng văn hóa:
Biểu tượng văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc địnhhình bản sắc văn hóa của một dân tộc Chúng là cầu nốigiữa quá khứ, hiện tại và tương lai, là những điểm đặc trưng
về văn hóa chỉ có ở một quốc gia, dân tộc hoặc cộng đồngngười nhất định, đây còn là niềm tự hào của mỗi đất nước,
là tín hiệu nhận diện giữa các nền văn hóa với nhau
III Phân tích biểu tượng văn hóa phi vật thể
3.1 Giới thiệu về Nhã nhạc cung đình Huế:
Trang 6Nhã nhạc cung đình là thể loại nhạc có từ thời phong kiến đượcbiểu diễn phục vụ trong cung đình vào những dịp lễ như: Đạitriều, Thường triều, Tế giao, Tế miếu… Nhạc có lời hát tao nhãcùng điệu thức cao sang, quý phái góp phần tạo sự trang trọngcho các buổi lễ Đây còn là biểu tượng của vương quyền và sựtrường tồn, hưng thịnh của triều đại Chính vì thế Nhã nhạc cungđình Huế rất được các triều đại phong kiến Việt Nam coitrọng.
a.Nguồn gốc ra đời
- Trong Khâm định Đại Thanh Hội điển sử lệ (quyển 538, tờ 3b)xuất bản năm 1908 (thư viện Hội châu Á: Société Asiatique) cóghi rành rẽ chi tiết của dàn nhạc cung đình, có mặt cùng một lúcvới phái đoàn hữu nghị do vua Quang Trung phái sang TrungQuốc, dưới thời vua Càn Long (1789), sử gia nhà Thanh đã gọi là
Thời nhà Đinh (TK X): Nhã nhạc đã xuất hiện nhưng do
hoàn cảnh lịch sử và tình hình lúc bấy giờ nên không có tưliệu nào được ghi chép lại; đến thời Tiền Lê cũng vậy.
Thời nhà Lý (1010 - 1225): Lễ nhạc được du nhập vào Việt
Nam từ Trung Quốc dưới thời vua Lý Anh Tông và bắt đầuhoạt động có quy củ về sau Vào thời kỳ này, Nhã nhạc có lờihát tao nhã, điệu thức cao sang đã trở thành biểu tượng cho
sự bền vững, thịnh vượng và quyền lực của quân chủ trongchế độ phong kiến
Thời nhà Trần (1225 - 1400): Giai đoạn này, xuất hiện Đại
nhạc và Tiểu nhạc và quy định rõ Đại nhạc chỉ dành riêngcho vua, hoàng gia và quan chức khi nào có tế lễ mới được
sử dụng Còn Tiểu nhạc thì ai cũng đều dùng được
Trang 7 Dưới thời đại nhà Hồ (1400 – 1407): Bước sang thế kỷ XV,
âm nhạc cung đình có những bước chuyển biến đáng kể.Thời đại nhà Hồ dù tồn tại trong thời gian rất ngắn nhưngcũng đã tiến hành nhiều cuộc cải cách về văn hóa, kinh tế,
xã hội Đối với âm nhạc cung đình, nhà Hồ đã chính thứccho du nhập Nhã nhạc cùng một số nguyên tắc của nó từTrung Hoa Nhã nhạc thời kỳ này có sử dụng múa văn vàmúa võ Đây được coi là một trong những nguyên tắc củaNhã nhạc
Thời nhà Lê (1427 - 1788): Nhã nhạc được dành riêng cho
giới quý tộc, bác học với kết cấu phức tạp, chặt chẽ với quy
mô tổ chức rõ ràng, chi tiết Trong giai đoạn này, Nhã nhạcđược phát triển thành loại nhạc chính thống, thuộc tài sảnriêng của triều đình còn Tục nhạc đại diện cho dòng âmnhạc dân gian Thời kì này, âm nhạc cung đình Việt Nam đãhình thành âm nhạc chính thống gọi là quốc nhạc, cùng với
âm nhạc dân gian tồn tại và phát triển Triều Lê đã định racác loại nhạc như sau: Giao nhạc; Miếu nhạc; Ngũ tự nhạc;Cứu nhật nguyệt lai trùng nhạc; Đại triều nhạc; Thườngtriều nhạc; Đại yến nhạc; Cung trung nhạc Tuy nhiên, vàocuối thời nhà Lê, Nhã nhạc bắt đầu suy thoái và biên chếcác dàn nhạc bị thu hẹp, Nhã nhạc và Tục nhạc không cònphân biệt rõ rệt như trước nữa, thậm chí một số dàn nhạcdân gian còn được đưa vào chơi trong cung đình
Thời nhà Nguyễn (1802-1945): Khi triều đại nhà Nguyễn
lên kế vị, tình hình trên được cải thiện Vào nửa đầu thế kỷXIX, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ổn định đã tạo điềukiện tạo tiền đề cho Nhã nhạc bắt đầu phát triển trở lại.Triều đình Nguyễn quy định 7 thể loại âm nhạc (gần giốngvới các thể loại của triều Lê) bao gồm: Giao nhạc; Miếunhạc; Ngũ tự nhạc; Đại triều nhạc; Thường triều nhạc; Yếnnhạc; Cung trung nhạc Từ đây, Nhã nhạc đã gắn liền vớicung đình Huế và phát triển theo mô thức quy phạm đúngchuẩn, có hệ thống, có bài bản với hàng trăm nhạc chương(lời ca chữ Hán) Các nhạc chương đều do bộ Lễ biên soạnphù hợp với từng cuộc lễ của triều đình Tế Giao có 10 nhạcchương mang chữ Thành (thành công), Tế Xã Tắc có 7 nhạcchương mang chữ Phong (được mùa), Tế Miếu có 9 nhạc
Trang 8chương mang chữ Hòa (hòa hợp), Tế Lịch Đại Đế Vương có
6 nhạc chương mang chữ Huy (tốt lành), Tế Văn Miếu có 6nhạc chương mang chữ Văn (trí tuệ), Lễ Đại triều dùng 5chữ mang chữ Bình (hòa bình), Lễ Vạn Thọ dùng 7 bài mangchữ Thọ (trường tồn), lễ Đại yến dùng 5 bài mang chữ Phúc(phúc lành) Từ kế thừa các triều đại trước, triều Nguyễn
đã bổ sung thêm nhiều loại thể nhạc như: Huyền nhạc, Tytrúc Tế nhạc, Ty Chung, Ty Khánh, Ty Cổ
Vào cuối thế kỷ XIX, đất nước lâm vào nạn ngoại xâm, vaitrò triều đình mờ dần thì âm nhạc cung đình cũng giảmdần Cuối thời Nguyễn, chỉ còn duy trì 2 loại dàn nhạc làĐại nhạc và Tiểu nhạc
Hình 1: Hình ảnh nhạc công và đội Nhã nhạc cung đình Huế thời nhà Nguyễn.
3.2 Nội dung và cách thức trình diễn Nhã nhạc cung đình Huế
Các thể loại Nhã nhạc cung đình Huế bao gồm: nhạc lễnghi thờ cúng và nhạc lễ nghi triều chính, múa cung đình,
ca nhạc thính phòng và kịch hát
Thuở trước, nhạc cung đình Huế còn có các thể loại: Giaonhạc dùng trong lễ Tế Giao; Miếu nhạc dùng trong các lễ tếmiếu; Ngũ tự nhạc dùng trong các cuộc tế lễ Thần Nông,Thành Hoàng, Xã Tắc; Đại triều nhạc dùng trong các dịp lễlớn hoặc tiếp đón sứ thần các nước; Thường triều nhạcdùng trong các lễ thường triều
Trang 9 Trong thời gian các vua nhà Nguyễn trị vì đất nước, âmnhạc cung đình được dùng trong các dịp lễ tế: Đại triều (2tháng/lần), Thường triều (4 tháng/ lần), lễ tế Nam Giao,Tịch Điền, sinh nhật vua và hoàng hậu Tế bất thường:Đăng quang, lễ tang của vua và hoàng hậu, đón tiếp sứthần Tùy theo từng cuộc tế lễ mà có các thể loại khác nhaunhư: đại triều nhạc dùng trong lễ Nguyên đán, Ban sóc Đạiyến cửu tấy nhạc dùng trong mừng thọ, chúc thọ, tiếp đãi
sứ thần Cung trung nhạc biểu diễn trong các cung hoàngthái hậu và thái hoàng hậu Miếu nhạc sử dụng tại các nơithờ vua, chúa Ngũ tự nhạc dùng trong tế Xã tắc, Tiên nông
Múa cung đình trước kia có nhiều điệu sử dụng trong nhiềudịp khác nhau Hiện nay, còn tồn tại 11 điệu múa là Bát dật,Lục cúng, Tam tinh, Tứ linh, Bát tiên, Đấu chiến thắngPhật, Tam quốc tây du, Trình tường tập khánh - Ngũ tườngđại khánh, Nữ tướng xuất quân, Vũ phiến, Lục triệt hoa mãđăng
Hệ thống bài bản Nhã nhạc cung đình dùng cho các điệumúa trên có rất nhiều bài Tuy nhiên ở giai đoạn suy thoái,
đã bị thất truyền nhiều bài bản, chỉ còn sót lại lời ca Nhữngbản nhạc hiện nay còn được Nhà hát truyền thống Cungđình Huế bảo tồn được một số bản nhạc như: Mười bản Ngự(Phẩm tuyết, Nguyên tiêu, Hồ quảng, Liên hoàn, Bình bán,Tây mai, Kim tiền, Xuân phong, Long hổ, Tẩu mã), Longđăng, Long ngâm, Phú lục, Tiểu khúc…, Các bản nhạcthường dùng trong dàn Đại nhạc (Tam luân Cửu chuyển,Thái bình Cổ nhạc, Đăng đàn cung, Đăng đàn đơn, Đăngđàn kép, Phú lục, Tẩu mã, Bông, Mã vũ, Man) cùng một sốbài bản khác
Không thể không nhắc đến, linh hồn của Nhã nhạc là các nhạccông có tài năng uyên bác, kỹ thuật điêu luyện, sáng tác dồi dào
và biểu diễn độc đáo Họ mang tài năng và niềm đam mê nghệthuật cống hiến hết mình cho Nhã nhạc cung đình Tiếp đến là
về nhạc khí, các nhạc khí được chế tác tinh xảo, công phu, đóngráp kỹ càng, chạm khắc khéo léo, cẩn thận đến từng chi tiết.Chúng vượt trội hơn hẳn các nhạc cụ trong dân gian, không dưới
30 chủng loại với số lượng lên đến hàng trăm nhạc khí Nhữngnhạc khí sử dụng trong cung đình có đầy đủ các âm sắc đa dạng
Trang 10như: âm thanh vang của kim khí, âm trầm ấm của thổ, âm thanhtrong trẻo, hay âm đục mạnh mẽ, cùng với âm sắc da, khánh, vàđồng Độ cao có tiếng trầm của tỳ bà, tiếng cao của tiếng sáo.Các âm sắc này được kết hợp hài hòa, tạo nên một khúc nhạchoàn chỉnh.
Các dàn nhạc cũng đa dạng và quy mô hơn các dàn nhạckhác Dàn nhạc cung đình được kết cấu thành hai dàn gồmĐại nhạc và Tiểu nhạc Đại nhạc là dàn nhạc rất quan trọngtrong hệ thống Nhã nhạc cung đình Huế, diễn tấu vớinhững hình thức quan trọng nhất trong những buổi lễ, có
âm lượng lớn, nhạc cụ chủ yếu là dàn trống và kèn Dàn Đạinhạc thường được dùng trong lễ tế như tế Nam Giao, tếMiếu Cấu trúc nhạc cụ dàn Đại nhạc gồm: Bộ gõ (trốngđại, trống chiến, trống bồng, não bạt, mõ sừng trâu, trốngcơm), Bộ hơi (kèn) và Bộ dây (đàn Nhị) Kèn có nhiều loại cónhiều loại như đại, trung, tiểu; trống có các loại từ đại cổ,tiểu trung cổ và trống vỗ Bộ gõ bằng gỗ có mõ, có pháchtiền, bằng kim khí có chuông to, chuông nhỏ, đại la, tiểu la
So với dàn Đại nhạc, các bản âm nhạc của dàn Tiểu nhạctương đối ổn định Âm nhạc mang màu sắc trang nhã, vuitươi, thường sử dụng trong các buổi yến tiệc của triều đình,
lễ đại khánh, tết Nguyên Đán Chất liệu dễ đi vào lòngngười, không quá trang nghiêm hoặc sầu bi như các bài củaĐại nhạc, âm lượng không quá lớn Tiểu nhạc dùng nhạckhí là dây tơ và sáo trúc Dây tơ có loại dây khảy đàn nguyệthai dây, đàn tam ba dây, đàn tỳ bà bốn dây, có đàn dùngcung để kéo như đàn nhị Cấu trúc dàn Tiểu nhạc gồm: Bộ
gõ (trống bản, sinh tiền, tâm âm la, phách); Bộ hơi (sáo); BộDây (đàn Nguyệt, đàn Tỳ bà, đàn Tam huyền, đàn Nhị). Các dàn nhạc không chỉ đa dạng về quy mô mà còn đặc sắc trongviệc phối hợp màu âm Quan trọng không phải là số lượng nhạc
cụ mà là chất lượng âm thanh, luôn phải được đặt lên hàng đầu.Trong dàn Nhã nhạc, mỗi nhạc cụ đều được nghe rõ ràng, khôngcái nào át cái nào Chúng ta có thể cảm nhận âm thanh trangnghiêm của đàn nguyệt, những âm thanh mềm mại từ tỳ bà,tiếng trong trẻo của đàn nhị, kết hợp với âm thanh mạnh mẽ củađàn tam và những giai điệu vi vút từ hai ống sáo, tất cả cùng hòa
Trang 11theo nhịp điệu do trống bảng dẫn dắt, tạo nên một bản hòa tấuhoàn hảo.
Một số màn trình diễn đặc trưng:
Tứ linh (Lân mẫu xuất Lân nhi):
Theo quan niệm của người phương Đông, trong đó có Việt Nam:Long - Lân - Quy - Phụng là bốn con vật linh thiêng và rất đượccoi trọng (Tứ linh) Vùng đồng bằng Bắc Bộ từng tồn tại điệumúa “Tứ linh” Về sau, triều đình nhà Nguyễn đã cho dàn dựngtrở thành một điệu múa cung đình phục vụ cho các dịp khánh hỷtrong cung “Lân mẫu xuất lân nhi” là vũ khúc được xây dựngtrên cơ sở điệu múa “Tứ linh”, có nội dung ca ngợi niềm hạnhphúc gia đình và sự hưng thịnh của nhân loại
Hình 2 Vũ khúc “Lân mẫu xuất lân nhi”