Tình hình nguyên cứu để tài Tư tưởng Hỗ Chí Minh về đối ngoại là một nội dung quan trọng trong di sản tư tưởng mà Người để lại cho Đảng và dân tộc ta trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã vận d
Trang 1TRUONG DAI HOC SU PHAM TP HO CHi MINH
Khoa Giáo Duc Chính Tri
==ntn -ĐINH THỊ MONG KIỂU
KHOA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
+E EE
Em xin chân thành cảm on Quý thầy cô trong khoa Giáo dục chính trị
trường Đại Hoc Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua đã tận tinh
giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ em học tập, nghiên cứu kiến thức khoa học chuyên ngành để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy Lương Văn Tám —giäng viên Khoa
Giáo Dục Chính Trị, người đã trực tiếp hướng dẫn em trong qúa trình thực hiện
khúa luận.
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn đến những người thân và các bạn đã tạo điều
kiện và động viên em hoan thành khỏa luận.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng bal viết còn nhiều thiếu sót, mong được
sự đồng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài viết ngày càng hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cam on.
Tp HCM, ngày 20 thắng 4 năm 2005
SVTH : Định Thị Mộng Kiểu
Trang 3Tính cấp thiết của để tài ccnciece, 1
Tình hình nguyên cứu để tài \bisgtisttabiteiiGiEOSS
Mục đích và nhiệm vụ nguyên cứu - co cv si ssserria 3
Cơ sở lý luận và phương pháp nguyễn cứu 4 Giới hạn — _ mm 4 Đồng gop của khói THẾ: ssccscssicscasssveasevannesnsensiaevinerssseavevccenies cece 4 Ket cấu khôa liệÐ suis seas 4
Chương 1 : Tư tưởng Hồ Chi Minh về ngoại giao ð
Cơ sở hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chi Minh 5
Bối cảnh lịch sử khi Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu
Chủ nghĩa Mac-Lênin cơ sở thế giới quan và phương pháp
luận của tư tưởng Hỗ Chí Minh về ngoại giao Năt6bxä 8
Kế thừa truyền thống ngoại giao Việt Nam và kinh nghiệm
ngoại giao thế giới mm ma 11
Những quan điểm co bản trong tư tưởng ngoại giao Hồ
hit Minh scp cicc c0 sonia ue 14
Déc lập dân tộc gắn lién với chủ nghĩa xã hội 15
Kết hợp sức mạnh dan tộc với sức mạnh thời dai max se ssei 21
Độc lập tự chủ, tự lực tự cường gain liễn với đoàn kết và hop
CÁ GIIẾU TẾ sáng tcicthitggtlensiildil)1000025082 022802 41240:038040018-:6 0031346038 2ã
Phương pháp và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chi Minh 30
Phương pháp ngoại giao Hỗ Chi Minh 30
Nghệ thuật ngoại giao Hỗ Chí Minh -.- 33
Trang 4Chương 2 : Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong
chính sách ngoại giao rộng mở đa dạng hóa,
đa phương hóa hiện nay của Đảng
ø.1 Bối cảnh lịch sử hiện nay eeeeeễeeeeeieseieeeeeoee TỪ
3.3 Chính sách ngoại giao của Dang wisi hae ad 39
2.2.1 Qua trình phát triển, hoàn chỉnh đường lối đối ngoại va mở
rộng quan hệ quốc tỂ Son inneenrretrer — 40 2.3.2 Chủ động hội nhập quốc tế phù hợp với mục tiêu xây dựng và
đổi mới đất nước ki 92h LÔNG tưng risabisgseroqasasbesossasowoo MS
2.2.3 Cải thiện và tăng cường hợp tác với các nước có chế độ chính
— -2.2.4 Md rộng và nang cao hiệu quả hoạt động kinh tế đổi ngoại 50
Phan tiệt Kuận scaiacscannannananinaananamane 55
Tài Liệu Tham Khao
Trang 5NHDKH: Ts | ương Văn Tam Khod luận tat nghiệp
a =
PHAN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của để tài
Chủ tịch Hỗ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại kính yêu của dan Lộc, nhà tư tưởng,nhà chính trị, nhà quãn sự nhà văn hóa xuất sắc, nhà ngoại giao lỗi lạc trong lịch
sử cách mạng Việt Nam thế kỷ XX Người đã sáng lập nền ngoại giao Việt Nam
và góp phan to lớn vào hoạt động ngoại giao của Dang và Nhà nước ta.
Trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, lĩnh vực ngoại giao
lun góp phẩn xứng đáng giữ vững độc lập chủ quyển quốc gia Từ khi có Dang
Cộng Sản Việt Nam và Bác Hỗ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, đường lối đối ngoại
trở thành bộ phận hữu cơ của sự nghiệp cách mạng, ngoại giao đã trở thành mội
mặt trận, góp phan đắc lực vào những thành tựu vẻ vang của dan tộc
Nói đến ngoại giao là nói đến những hoạt động của một quốc gia về mặt quan
hệ quốc tế, về những vấn để có quan hệ đến các nước trên thế giới Hoạt động đó
gắn với mục tiêu chính trị của từng thời kỳ lịch sử, gắn với những đối tượng khác
nhau, từ đó mà chiến lược, sách lược, phương thức, phương pháp cũng luôn thay
đổi
Sau khi"chiến tranh lạnh” kết thúc, mặc dù tinh hình thể giới còn nhiêu diễn
biển phức tạp, các điểm nóng xung đột và các mẫu thuẫn tiểm tang còn de doa ồn định nhiễu nơi, nhưng hoà bình và hợp tác để phát triển vẫn là xu thể chủ đạo, là yêu câu và thách thức của các dẫn tộc vả các quốc gia.
Cuộc cách mạng khoa học - cng nghệ đang phát triển như vũ bão, thúc đẩy
xu thể quốc tế hóa đời sống kinh tế gần lién với cạnh tranh gay gắt, mở ra thời cơ
cho các nước có thể phát triển nhanh thực hiện con đường phát triển rút ngấn,
đẳng thời cũng tạo ra nguy cơ tụt hậu nhanh chóng, biến một số nước thành “bãi
rắc công nghệ ”.
SVTH:Dinh Thị Mộng Kiểu Trang I
Trang 6Hon nữa, trong điều kiện quốc tế ngay nay, một loạt vẫn dé mang tinh toàn cau
như: ö nhiễm mỗi trường dịch bệnh doi nghèo Ma việc giải quyết các van dé nay phải cỏ sự phối hợp giữa các nước thậm chi lả sự nỗ lực lớn của cả cộng đồng quốc tế
nói chung.
Trước bối cảnh đó để đứng vững và phát triển, trong khi nước ta đang tiếnhành đổi mới, Đảng ta phải vận dụng và kế thừa tốt tư tưởng ngoại giao Hỗ Chí
Minh, xử lý khéo léo, nhạy bén trước mỗi tình hình, trong từng mối quan hệ theo
tinh thắn “dĩ bat hiến, ứng vạn biến” kiên định về mục tiêu, linh hoạt, mềm dẻo về
sách lược, giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ, để chèo lái con thuyển cách mạng
Việt Nam vượt qua những khúc quanh hiểm trở, đưa nước ta cơ bản trở thành mộtnước công nghiệp, phát triển theo hướng hiện đại vào cuối những năm 20 của thế
kỷ mới.
Vi vậy để khẳng định tính cách mạng, khoa học và sự vận dụng của Đảng ta
về tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay Tôi
quyết định chọn để tài “ Tư tưởng Hỗ Chi Minh với chính sách ngoại giao rộng mở,
da dạng hóa, đa phương hóa của Đảng ta hiện nay” để làm khóa luận tốt nghiệp.
2 Tình hình nguyên cứu để tài
Tư tưởng Hỗ Chí Minh về đối ngoại là một nội dung quan trọng trong di sản
tư tưởng mà Người để lại cho Đảng và dân tộc ta trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã vận dụng sắng tạo tư tưởng đối ngoại Hỗ Chí Minh để để ra chủ trương, chính sách
và chỉ đạo hoạt động đối ngoại thích ứng với xu thế quốc tế, phù hợp với yêu cau,
nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam Với ý nghĩa quan trong do, tư tưởng ngoại giao
Hé Chi Minh va chủ trương, chính sách của Đảng về ngoại giao đã được nhiều tac giả quan tâm nguyên cứu, cụ thể như :
- “Tư tưởng ngoại giao Hồ Chi Minh” của Nguyễn Duy Niên NXB Chính
trị quốc gia, 2002
CC — CC CC TS — ——Ð ““====ẲÔÔÔ——ễễÏïŸ]| _agal
SVTH:Dinh Thị Mộng Kiểu Trang 2
Trang 7NHDKH: Ts Lương Văn Tam Khoá luận tất nghiệp
- “Chủ tịch Hỗ Chi Minh trí tuệ lớn của nén ngoại giao Việt Nam hiện
đại ” của Nguyễn Phúc Luân NXB Chính trị quốc gia, 1999
- “Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh” NXB Chính trị quốc
gia, 2000,
- “Ngoại giao Việt Nam” của Lưu Văn Lợi NXB công an nhân dân, 2004.
- “Ngoại giao Hé Chi Minh lấy chí nhân thay cường bạo "của Nguyễn
Phúc Luân NXB công an nhân dân.
- Bai “Tìm hiểu một số luận điểm chính của tư tưởng Hỗ Chi Minh vé
công tác ngoại giao” của Nguyễn Huy Hoan (tạp chí nguyên cứu lý luận số 10
-2000).
- Bài “Quán triệt tu tưởng Hồ Chí Minh vé quan hệ quốc tế” của T.S
Nguyễn Quốc Bảo ( tạp chí nguyên cứu lý luận số 8 — 2000 )
Qua các công trình nguyên cứu trên, các tác giả có nhiều đóng góp quan
trong trong việc làm sáng tỏ tư tưởng ngoại giao Hồ Chi Minh và chính sách ngoại
giao của Đảng ta hiện nay Nhưng bàn về sự vận dụng tư tưởng Hỗ Chí Minh với
chính sách ngoại giao hiện nay của Đảng thì các tác giả ít để cập đến Trên cơ sở
kế thừa và phát huy có chọn lọc, tôi chụn để tài trên với mong muốn góp phần nhỏvào việc học tập nguyên cứu tư tưởng Hỗ Chí Minh về ngoại giao và sự vận dụnghiện nay của Đảng ta về chính sách ngoại giao
3 Mục đích và nhiệm vu nguyên cứu
3.1 Mục dich
Tim hiểu tư tưởng ngoại giao Hỗ Chí Minh và sự vận dung của Đảng ta trong
thời kỳ đổi mới Từ đó làm cơ sở khẳng định việc thực hiện chủ trương, chính sách
ngoại giao hiện nay của Đảng ta là đúng đắn phù hợp với yêu cầu của đất nước và
xu thế phát triển của thời đại
_
SVTH:Đinh Thị Mộng Kiểu Trang 3
Trang 8NHDKH: Ts Lương Văn Tám Khoá luận tốt n
Luận văn còn là tài liệu tham khảo bổ sung kiến thức về lĩnh vực ngoại giao nổi chung cho các ban sinh viên có nhu cầu.
1.2 Nhiệm vụ nguyên cửu
Hệ thống lại những vấn để cơ ban của Hồ Chí Minh về ngoại giao, qua đó tìm
hiểu sự vận dụng tư tưởng ngoại giao của Đảng trong thời kỳ đổi mới
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nguyên cứu
4.1 Cư sử lý luận
- Chủ nghĩa Mac-Lénin
- Tư tưởng Hổ Chí Minh
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
4.2 Phương pháp nguyên ciêu
Luận văn sử dụng phương pháp luận Chủ nghĩa Mac-Lénin, phương pháp
phan tích tổng hợp, phương pháp đối chiếu, so sánh, phương pháp lịch sử logic gắn
lý luận với thực tiễn.
5 Giới hạn
Luận văn nêu khái quát tư tưởng ngoại giao Hỗ Chí Minh và những chính
sách ngoại giao hiện nay của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2000 )
6 Đóng góp của khóa luận
Trình bay một cách có hệ thống tư tưởng ngoại giao Hồ Chi Minh và sự vận
dụng của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới Trên cơ sở đó khẳng định chính sách ngoại
giao của Đảng ta hiện nay là phù hợp với yêu cầu khách quan của sự phát triển
7 Kết cấu khoá luận
Ngoài phần mở dau, kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục, luận văn đượckết cấu gồm 2 chương và 5 tiết
SVTH: Dinh Thị Mộng Kiểu Trang 4
Trang 9NHDKH: Ts Lương Văn Tam Khod luận tất nghiệp
=
PHAN NOI DUNG
CHUONG 1
TU TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NGOẠI GIAO
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
1.1.1 Bối cảnh lịch sử khí Nguyễn Ai Quốc ra đi tìm đường cứu nước
* Hối củnh thời dai
Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước trong bối cảnh thời đại có nhữngđặc điểm nổi bật, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang
giai đoạn dé quốc chủ nghĩa, thực hiện các cuộc xâm lược vũ trang để thiết lập hệ
thống thuộc địa tại hầu khắp các nước châu A, châu Phi và Mỹ La Tinh "toàn bộ lãnh thổ của các nước thuộc địa rộng gấp 5 lần lãnh thể chính quốc, còn số din của các chính quốc chưa bằng 3/5 số dân của các nước thuộc địa " [23-326], Sự thống trị
tàn bạo của chủ nghĩa thực din dé quốc làm cho đời sống của nhãn dẫn lao động ởcác nước thuộc địa trở nên bẩn cùng, mẫu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ
nghĩa đế quốc thực din ngày cảng gay gắt, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc
của các nước thuộc địa bùng lên mạnh mẽ nhưng không giành được thắng lợi vìthiếu đường lối lãnh đạo đúng dan
Do đó cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cuối thé kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
không còn là hành động riêng rẽ của từng nước chống lại sự xâm lược và thống trịcủa nước khác như trước đây mà đã trở thành cuộc đấu tranh chung của các dân tộc
thuộc địa chống chủ nghĩa để quốc “Sự nghiệp đấu tranh giải phóng của các dẫn
tộc thuộc địa muốn di tới thắng lợi không thể bằng hành động riêng rẽ của từng
nước mà phải thực hiện sự liên minh, đoàn kết giữa các nước trong một mặt trận
chung chống chủ nghĩa thực dẫn để quốc” [10-327|
SVTH:Dinh Thị Mộng Kiểu Trang 5
Trang 10NHDKH: Ts Lương Văn Tam Khoá luận tất nghiệp
Năm 1914 chiến tranh thế giới lan thử nhất bùng nổ Cuộc chiến tranh này đã
gầy ra những hau quả năng né cho nhân dân các nước Bên cạnh đó, nó cũng làmcho chủ nghĩa tư bản suy yếu và mâu thuẫn giữa các nước tư bản đế quốc ngàycàng tăng.Tình hình đó đã tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh ở các nước phat
triển mạnh mẽ.
Trước sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới, đặc biệt là tác động
của cuộc cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của Liên bang Xô Viết, vào cuối những năm 20 của thế kỷ XX, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bị phan
hoá sâu sắc vé đường lối cách mang, Quốc tế II bi phân liệt và Quốc tế HI - Quốc
tế cộng sản được thành lap (3-1919).
Các sự kiện trên đây hết sức quan trọng tạo tiến dé và diéu kiện thúc đẩy sự
phát triển của phong trào đấu tranh ở các nước thuộc địa, tăng cường sự đoàn kết,
liên minh giữa giai cấp công nhãn và nhân dân lao động ở các nước để quốc và các nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thực dân,
Bối cảnh quốc tế và các đặc điểm của thời đại đã tác động, ảnh hưởng tớiquan điểm, lập trường của các nhà lãnh đạo cách mạng các nước thuộc địa, trong
đó có Nguyễn Ái Quốc.
* Thực tiễn cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Năm 1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cho việc từng bước đánh
chiếm Việt Nam Với truyền thống yêu nước, nhãn dân Việt Nam đã liên tiếp đứng
lên cẩm vũ khí chống giặc ngoại xâm và bọn bán nước Từ năm 1885 - 1895 là
thời kỳ đấu tranh vũ trang của phong trào Cẩn Vương, Văn Thân do một số thế lực
trong giai cấp phong kiến Việt Nam lãnh đạo và tiếp đó nhiều cuộc khởi nghĩa đã
nổ ra mà đỉnh cao là phong trào Cẩn Vương
Từ năm 1905 đến chiến tranh thế gidi thứ nhất nổi lên các phong trào Đông
Du, Đông Kinh nghĩa thục Phan Bội Châu “Xuất dương cầu viện”, tim kiếm sự
nnn Eee
SVTH:Dinh Thị Mộng Kiều Trang 6
Trang 11NHDKH: Ts Lương Văn Tám Khoá luận tốt nghiệ
giúp đỡ từ thế lực hẻn ngoài để đánh đuổi thực dân Pháp Phan Chu Trinh, Tran
Quý Cap, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can thực hiện các cuộc vận động cải
cách Duy Tân và đồng thời lại chủ trương dựa vào Pháp để đánh để vua và quan lại
phong kiến Nam triểu Các phong trào đấu tranh yêu nước chống Pháp của nhãn
dân ta diễn ra sôi nổi dưới nhiều khuynh hướng Mục tiêu của các cuộc đấu tranh ở
thời kỳ này tuy đều hướng tới giành độc lập cho dân tộc nhưng trên lập trường giai
cấp khác nhau nhằm khôi phục chế độ phong kiến, thiết lập chế độ quân chủ lập hiến hoặc cao hơn là thiết lap chế độ cộng hoà tư san, với các phương thức, biện
pháp đấu tranh khác nhau, bạo động hoặc cải lương, Nhưng cuối cùng các cuộc đấu
tranh trong thời kỳ này đều không đi tới thành công.
Sự thất bại của phong trao yêu nước cuối thé kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã chứng
minh rằng con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và khuynh hướng chínhtrị tư sản déu bé tắc và hoàn toàn bất lực trước sự sống còn của vận mệnh dân tộc
Sự thất bại của các phong trào trên do nhiều nguyên nhân: "Đường lối và phương
pháp đấu tranh không thích hợp Những người lãnh đạo chưa xác định đúng mục
tiêu chiến lược và lực lượng cách mang, thiếu sự liên kết của mặt trận dẫn tộcthống nhất và hợp tác quốc tế để chống đế quốc "[23- 29]
Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong bối cảnh nước mất, nhà tan Người
chứng kiến cuộc sống lầm than khổ cực của nhân dan, bi kịch của cả một dân tộc bi
mất tự do Kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc, ý chí quật cường của qué
hương, tinh than cách mạng của gia đình, Nguyễn Tất Thanh đã sớm nảy nở tình
cảm yêu nước thương dan sâu sắc Đây chính là động lực thôi thúc Người tim
đường cứu nước mới, cứu din thoát khỏi cảnh nô lệ mất nước
Nguyễn Ai Quốc mặc dù rất kham phục tinh than yêu nước của các nhà cách
mạng tién bối, nhưng người đã nhận ra những hạn chế của họ về con đường cứu
nước mà các cụ đã chọn : xác định mục tiểu, đối tượng nhiệm vụ cách mạng Việt
Nam, nhướng thức và phương pháp đấu tranh, về nhận thức “ban - thù” của cách
_— —————————
SVTH:Dinh Thị Mộng Kiểu Trang 7
Trang 12MNHI.KH: Ts Lương Văn Tám
Trên cuộc hành trình của người, “Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua ba đại dương,
bốn châu lục, dat chân lên khoảng gan 30 nước "[30- 27] Trong những năm hoạtđộng ở nước ngoài, với tim hiểu biết rộng lớn và vốn thực tiễn sầu sắc, phong phú
đã hình thành ở Người nhận thức vé thế giới và thời đại theo một lập trường vàquan điểm mới so với các nhà yêu nước đương thời
Từ những năm 20 của thé ky XX, Người khẳng định"dù mau da có khác nhau,trên đời này chỉ có hai giếng người : giống người bóc lột và giống người bi bóc lột
Ma cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tinh hữu ái v6 sản”[1 1-266]
Như vậy từ thực tiễn đời sống lao động, đấu tranh của nhân dân các dân tộc đã giúp
Nguyễn Ái Quốc hình thành những quan điểm cơ bản dau tiên trong tư tưởng quốc
tế của người Đó là, nhận diện đúng đắn kẻ thù chung của cách mạng thế giới,
nhận thức đúng về những người lao động, dù mau da khác nhau, dù thuộc châu lục
nào, đất nước nào, cũng bị bóc lột, bị doa day.
Từ nhận thức trên đã cho Người thấy rõ “khả năng liên minh các lực lượng bị
áp bức trên phạm vi thế giới và khả năng đoàn kết quốc tế của nhân dân Việt Nam
trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mình "[ 10-331 ]
Như vậy bằng hoạt động thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua tắm nhìn hạn
chế, ảo tưởng mong chờ sự giúp đỡ của các chính phủ đế quốc đã từng tổn tại ở
một số nhà yêu nước khác cùng thời và trong tư tưởng Hỗ Chí Minh đã hình thành
quan điểm tự lực, tự cường trong cuộc đấu tranh giành lại độc lập cho tổ quốc.
1.1.2 Chủ nghĩa Mác-Lênin cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư
tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giaa
Nhiều nhà yêu nước Việt Nam trước và cùng thời với Nguyễn Ai Quốc đã tìm
kiếm con đường cứu nước giải phóng dân tộc xả thân cho sự nghiệp ấy, nhưng tất
SVTH:Dinh Thị Mộng Kiểu Trang 8
Trang 13NHŨKH: Ts Lương Văn Tam Khoá luận tat nghiệ
phương pháp đấu tranh của các vị đó không thay đổi kịp thời "[23-75], các cuộc đấu
tranh vũ trang thiếu đường lối chiến lược và đường lối tổ chức phù hợp Trải qua
mười năm tìm tồi, nguyên cứu vả hoạt động thực tiễn, Nguyễn Ai Quốc đã đến với
chủ nghĩa Mác-Lênin và tim thấy ở đó cẩm nang thin kỳ để giải phóng dan tộc.
Đây là bước ngoặt cơ bản, tạo nên sự phát triển vé chất trong tư tưởng Hỗ Chí
Minh.
Cùng với thé giới quan và nhân sinh quan cách mạng, chủ nghĩa Mác-Lênincòn cung cấp cho nhà yêu nước Việt Nam những kinh nghiệm, nguyên lý, đường lối
tổ chức cuộc cách mạng dân tộc đân chủ nhân dân sâu rộng để lật để bộ máy thống
trị tần bạo của một cường quốc thực dân, của từng bon tay sai của chúng là tang lớp
phong kiến phan động Nguyễn Ai Quốc quyết định lựa chọn con đường giải phóng
dân tộc Việt Nam theo quỹ đạo cách mạng vô sản Người khẳng định: "Muốn cứu
nước và giải phóng dan tộc, không có con đường nào khác con đường cách mang
vỗ sản”, Bên cạnh đó, Người còn chỉ rõ cách mạng Việt Nam phải học tập cách
mạng Nga “chi có cách mạng Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa
là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và
bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bén An Nam"[12-280].
Học thuyết Mac-Lénin đã chỉ ra các điểu kiện đảm bảo cho cuộc cách mang
ở các nước giành thắng lợi, trong các điều kiện đó có vấn để đoàn kết quốc tế củacác dân tộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc
Trong khi làm sáng tỏ vai trò lịch sử thể giới của giai cấp vô sản là xóa bỏchế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp
mình, đẳng thời giải phóng nhãn dan lao động và toàn thể nhãn loại khỏi mọi sự 4p
bức, bat công, xây dựng xã hồi công sản chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ rõ:
chủ nghĩa tư bản là một hệ thống thong tri thế giới, do đó cuộc đấu tranh của giai
cấn công nhân chống chủ nghĩa tư bản có ý nghĩa quốc tế sâu sắc, để giành được
SVTH:Dinh Thị Mộng Kiểu Trang 9
Trang 14NHDKH: Ts Lương Văn Tam Khoá luận tốt nghiệp
thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa tư ban, giai cấp
công nhân phải liên kết tập hợp lực lượng trên qui mô quốc tế: không phải trong nhạm vi giai cap mình mà còn phải đoàn kết với các dân tộc bi áp bức.
Đường lối quốc tế mà Nguyễn Ai Quốc chủ trương thực hiện trong cuộc cách
mạng ở Việt Nam xuất phát từ chủ nghĩa quốc tế Mác -Lénin cũng như thực tiễn
thời đại Trong bài phát biểu tại phiên họp thứ 25 Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng
sản, Nguyễn Ái Quốc có nêu: “su nổi dậy của nông dan bản sử đã chín mùi” nhưng
“vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực, thì nguyễn nhãn là vì họ còn thiếu tổ chức,
thiếu người lãnh đạo ”|[I1-298], Do đó, các lực lượng cách mạng thế giới phải thựchiện “tinh thần quốc tế chủ nghĩa chân chính”, liên kết chặt chẽ giữa các lực lượng
cách mạng ở các nước tư bản chủ nghĩa với phong trào giải phóng dân tộc, giữa
cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản toàn thế giới Phát biểu tại phiên họp thứ 22 Đại hội lẫn thứ V quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc nêu:" theo
Lénin cách mạng ở phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với
phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước
bị nô lệ "[21-277], và ngược lại các dân tộc thuộc địa muốn tiến hành thắng lợi
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, phải liên minh, đoàn kết với giai cấp công nhân
và nhân dân lao động ở các nước tư bản đế quốc theo khẩu hiệu “võ sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại” Mặt khác, sự liên minh quốc tế ấy là
tuyệt đối cẩn thiết để đối phó lại liên minh đế quốc chống lại các lực lượng tiến bộ
và cách mang.
Nguyễn Ái Quốc tiếp thu phương pháp luận, phương pháp tư tưởng Macxit,
trước hết là chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng của triết học mà Lénin xem là
“công cụ nhận thức vĩ đại "| I1- 246).
Nguyễn Ái Quốc nêu cao quan điểm Macxit về thực tiễn, cũng như nguyễn
tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn, Hỗ Chí Minh từng nhiều lần nhấn mạnh
thực hành là nên ting, lý luận là cốt để áp dụng vào thực tế Người nói: "thống
———ễằ_ằỀ-Ƒ— ESS
SVTH:Binh Thị Mộng Kiểu Trang I0
Trang 15NHHKH: Ts Lương Văn Tam Khoá luận tất nghiệp
nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn là thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ thực tiễn là lý luận sudng "[18-496]
1.1.3 Kế thừa truyền thống ngoại giao Việt Nam và kinh nghiệm ngoại giao
thé giới.
* Ngoại giao truyền thống Việt Nam
Ngoại giao truyền thống Việt Nam là nền ngoại giao có bản sắc Đó là những
đặc trưng ổn định va bén vững, có nguồn gốc xuất xứ từ bản sắc dan tộc và văn
hóa dân tộc Việt Nam, đồng thời là kết quả của hoạt động giao lưu quốc tế của ĐạiViệt với các nước láng giéng, của quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyển dân tộc và
phục vụ công cuộc xây dựng đất nước, phát triển quốc gia — dẫn tộc.
Đặc trưng ngoại giao truyền thống Việt Nam có thể nói gọn :"Hòa hiếu, nhu
viễn, trong dé ngoài vương "[23-58] Nhân dân Việt Nam luôn luỗn có ý thức bảo
vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia Nền ngoại giao Việt Nam xem
trọng việc giữ gìn hòa khí, khiêm nhường với nước lớn, hữu nghị với các nước lẫn
bang, phấn đấu cho sự hòa hiệp, yêu chuộng hòa bình Trong khi kiên trì lập trường
nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia chống ngoại giao xâm lược của đối phương Đại Việt kiên trì đường lối hòa bình trong quan hệ
ngoại giao với các nước lang giểng
Hòa hiếu là tư tưởng cốt lõi, là bản chất của ngoại giao Đại Việt Nhà sử học
Phan Huy Chú đúc kết lịch sử bang giao của đất nước đã nhấn mạnh: “Trong việc
trị nước, hòa hiểu với láng giểng là việc lớn” Tinh than ấy đã được Nguyễn Trãi
néu bat “phi núi Chí Linh” sau thắng lợi của cuộc kháng chiến quân Minh:
Nghĩ đến lâu dat của nite
Thủ chủ về mười vạn tù bình
— sas=a=a— Ti oJ.Jkos TS BS S7 VNNNNNNK==—EEễễễễễš”Ỳ`,ẼAẶag
SVTH:Binh Thị Mộng Kiểu Trang II
Trang 16NHDKH: Ts, Lương Văn Tám Khoá luận tất nghiệp
Nỗi hai nức tình hòa hiểu Tat mudn đời của chiến tranh
Đất nước vạn toàn là thượng sách
Cốt sae cho đân được an ninh,
Nguyễn Trãi trong "Bình Ngô đại cáo” đã đúc kết truyền thống ngoại giao
của dan tộc thành phương châm:
Đem đại nghĩa để thẳng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo
Cùng với các thắng lợi trên mặt trận quản sự, việc thực hiện nhất quán tư
tưởng hòa hiếu với các nước láng giểng đã góp phẩn quan trọng vào việc làm cho
Việt Nam vượt qua các cuộc xâm lãng thường xuyên từ phía Bắc và từ phía Nam,bảo tốn lãnh thổ quốc gia
“Ngoại giao Đại Việt cũng luôn thể hiện tinh thắn tự tôn dân tộc, phẩm chất
tiêu hiểu của sứ thần là trí dũng song toàn, giữ gìn quốc thé "[23-61] Người đi sứ
lun thấu triệt phương châm “di sứ bốn phương không làm nhục mệnh vua”, “Mạc Binh Chi thời Tran di sứ sang nhà Nguyên Khi sứ than nước Nam vào kiến, vua
Nguyên ra vế đối: “Nhật hỏa, van yên, bach đán thiêu tàn ngọc thd” (nghĩa là: mặt
trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy vừng trăng) Ra vế đối này, vua Nguyễn
tự xem mình là mặt trời, coi nước Nam như là mặt trăng Ý nói nước Nam sẽ bi nhàNguyên thôn tính Mạc Đĩnh Chỉ đối lại “Nguyệt cung, tỉnh đạn, hoàng hỗn xạ lạckim 6” (nghĩa là: trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn roi mặt trời) Như vậy,mặt trang có thể thắng mặt trời "{23-62] Ngoại giao Việt Nam thấm nhuần tinhthắn nhân đạo và chủ nghĩa nhân văn, tuy là nạn nhân của các cuộc chiến tranhxâm lược tan khốc người Việt Nam vẫn giàu lòng nhân ái, khoan dung với những
kẻ địch đã bị đánh bại, điểu đó có cội nguồn từ lý tưởng nhân nghĩa của dân tộc,biết đứng trên nghĩa lớn khi buộc phải đương đầu với những thế lực ngoại xắm
TT
-SVTH:Dinh Thị Mộng Kiểu Trang 12
Trang 17NHDKH: Ts Luong Văn Tắm Khoá luận tất nghiệp
hung bạo Trần Hưng Đạo nêu trong lời di chúc “hoa mục là một đạo rất hay cho
việc trị nước, hành hinh không bao giờ đổi được, hòa ở trong nước thì ít phải dùng
hình, hòa ở ngoài biên thì không sợ bạo động”, đó là sự nhún nhường để giữ độc
lập Khi bị xâm lược thì kiên quyết kháng chiến với tinh than quyết chiến, quyết
thắng, nhưng hết sức chú ý vấn để thể diện nước lớn và giữ gìn hòa hiếu.
* Kinh nghiệm ngoại giao thể gidi.
Trong cuộc đời hoạt động của mình, Nguyễn Ái Quốc không ngừng tìm hiểu,
nghiên cứu các tư tưởng học thuyết chính trị - xã hội và văn hóa thế giới Hỗ Chi
Minh nghiên cứu kĩ phép dùng binh của Tôn Tử, một nhà quan sự danh tiếng nhất
của Trung Quốc thời Xuân Thu, cũng như những mưu lược gia khác của Trung
Quốc cổ đại Trong bài “Đánh bằng mưu”, Hỗ Chi Minh nêu lên bài học dùngngoại giao để thắng địch "dùng binh giỏi nhất là đánh bằng mưu, thứ hai là đánh
bằng ngoại giao, thứ ba là đánh bằng bình, vây thành mà đánh là kém nhất" Hd
Chí Minh hiểu biết sâu sắc tư tưởng Tôn Dat Tiên với chủ nghĩa Tam Dân -“Dân
tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc ”.
M.Gandhi thủ tướng An Độ chủ trương chính sách “không bạo lực ”, thực hiện
cuộc đấu tranh tinh than và chính trị để chống lại sự cai trị của thực dân Anh Hỗ
Chi Minh hiểu rõ giá trị đạo lý và tinh than to lớn của đường lối giải phóng dân tộc
mà M.Gandhi theo đuổi, khi trả lời báo Times của An Độ năm 1955 "Hổ Chi Minh
đã suy tôn vị lãnh tụ tinh thần vĩ đại này của nhân dân Ấn Độ là thay, một bac tiên
phong trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa để quốc ở châu Á "{15-67]
Trong quá trình quan sát, phân tích các diễn biến của chính trị quốc tế và
ngoại giao thế giới trong khoảng thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thé giới nửa
đầu thế kỹ XX, Nguyễn Ái Quốc tích lũy nhiều kinh nghiệm ngoai giao quý báu
Từ cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, Hỗ Chi Minh rút ra những bai học kinh nghiệm bố ích cho đẳng bào mình, Người nói: "Chúng ta phải
SVTH:Đinh Thị Mộng Kiểu Trang 13
Trang 18NHHKH: Ts Lương Văn Tam Khod luận tốt nghiệp
học gương anh dũng Trung Hoa trong hồi kháng chiến, mất Thượng Hải, giữ gin
Nam Kinh mất Nam Kinh, gìn giữ Hán Khẩu giữ gìn Trùng Khánh, đến Trùng
Khánh vẫn chuẩn bi để nếu cẩn thì giữ nơi khác, quyết kháng chiến Con mội tac
dat, còn một người dân thì còn tranh đấu, lúc nào cũng sẩn sảng và không bao giữ
do dự hoang mang Kinh nghiệm của Trung Quốc bày cách thực hành trường kì
kháng chiến và toàn dân kháng chiến, bằng quan sự, bằng chính trị, bằng ngoại
giao ".[I4- 188]
Ngoại giao Xổ Viết cũng mang lại nhiều bài học thực tiễn quan trọng cho
Nguyễn Ái Quốc Giữa tháng 2-1918, quan đội Đức và Áo tấn công trên tất cả các
mặt trận, uy hiếp thành phố Pêtrôgrat và Matxdcdva, chủ trương tiêu điệt các đơn
vi Hồng quan vừa mới thành lập Sau khi bị chặn lại trước Petrôgrat, chính nhủ Đức
đồng ý nối lại đàm phán và hòa ước được ký kết tại Bretlitốp ngày 3 tháng Ba 1918
với những diéu kiện hết sức nặng né đối với nước Nga-XôViết Nhưng chính quyển
XôViết được giữ vững và có điều kiện cũng cố Hồng quân công nông Tháng Mười
một 1918, khi cách mạng bùng nổ ở Đức, chính phủ XôViết tuyên bố xóa bỏ hòaước Bretlitốp, hòa ước Bretlitốp mà nhà nước Xô Viết kí với chính phủ Đức là một
mẫu mực của nghệ thuật nhãn nhượng có nguyên tắc của Lénin.
Với Nguyễn Ai Quốc, chủ nghĩa Mác-Lênin, truyền thống ngoại giao của dân
tộc cùng với tiếp thu kinh nghiệm ngoại giao thế giới và hoạt động thực tiễn vô
cùng phong phú của Người, đã hoà quyện trong mối liên hệ biện chứng, tạo nền
tảng hình thành tư tưởng Hỗ Chí Minh về ngoại giao
1.2 Những quan điểm cơ bản trong tư tưởng ngoại giao Hỗ Chí Minh
“Tư tưởng ngoai giao HG Chí Minh là hệ thống những nguyễn lý, quan điểm,
quan niệm vẻ các vấn dé thể giới và thời đại, về đường lối quốc tế, chiến lược,
sách lược, chỉnh sách đổi ngoại và ngoại giao Việt Nam thời kỳ hiện đại "23-89]
Tư tưởng nay của Người thể hiện sự nhận thức sâu sắc về nhân tổ quốc tế trong sự
SVTH:Dinh Thị Mộng Kiểu Trang 14
Trang 19NHDKH: Ts Lutong Văn Tám Khuá luận tất nghiệ lũ
nghiệp giải phóng dân tộc, nhân tố dân tộc luôn gấn lién với nhân tố quốc tế, kết
hợp sức mạnh dẫn tộc với sức mạnh thời dai, Người luôn đặt cách mạng Việt Nam
trong mối quan hệ khang khít với cách mạng thế giới Nhờ những chủ trương đường
lối quốc tế đúng đắn, linh hoạt của Người đã góp phần quan trọng trong công cuộc
giành thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
1.2.1 Độc lập dan tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Độc lập dân tộc gắn lién với chủ nghĩa xã hội là vấn để mang tinh thời dai,
một luận điểm trung tâm của tư tưởng Hỗ Chi Minh về đường lối cách mạng Việt Nam Nó là nội dung cốt lõi trong các tư tưởng Hỗ Chi Minh “Độc lập dân tộc gắn
lién với chủ nghĩa xã hội là con đường giải phóng đúng đắn phù hợp với tiến trình
phát triển của xã hội Việt Nam và xu thế thời đại "| I5- 108]
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hỗ Chí Minh là người Việt Nam đầu
tiên đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Người đã nhận thức được chân lý “muốn cứu
nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mang vỗsản”"(9, 314], Người viết: "Thời đại của chủ nghĩa tư bản lũng đoạn cũng là thời đại
một nhóm nước lớn do bon tư bản tài chính cẩm đầu thống trị các nước phụ thuộc
và nửa phy thuộc, bởi vậy công cuộc giải phóng các nước và các dẫn tộc bị dp bức
là một bộ nhận khang khít của cách mạng võ sản”|21-567|
Trong các giai đoạn của cách mạng Việt Nam, gắn với tình hình cụ thể ở mỗi
giai đoạn, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chi Minh đã cụ thể hóa các nội dung của cuộc
cách mạng xã hội chủ nghĩa.Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lan thứ IV của Dang
Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hỗ Chí Minh xác định: “Nhiệm vụ hiện nay của cách
mang Việt Nam là: đưa miễn Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện
hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhãn dẫn
trong cả nước "JI9-198], Sau khi miễn Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, một nội dung mới của kết hợp lòng yêu nước với tỉnh than quốc tế là phải
———————_-SVTH:Đinh Thị Mộng Kiểu Trang 15
Trang 20NHDKH: Ts Lương Văn Tắm Khoá luận tất nghỉ
nghĩa, kết hợp lòng yêu nước với lòng yêu chủ nghĩa xã hội “vi có tiến lên chủ
nghĩa xã hội thì nhãn dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, tổ quốc mỗi ngày một
giau mạnh thêm [19-173].
Từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Hỗ Chi Minh nêu lên một số luậnđiểm sáng tạo lớn về vai trò chủ động của cách mạng thuộc địa đối với cách mạng
võ sản ở chính quốc, cách mạng ở thuộc địa có thể giành thắng lợi trước cách mạng
vỗ sản ở chính quốc Đẳng thời Người cũng chỉ rõ:"Để đảm hảo cho cách mạnggiải phóng đân tộc thắng lợi triệt để thì cuộc cách mạng ấy phải phát triển thành
cách mạng xã hội chủ nghĩa "[I-I 101 Nguyễn Ai Quốc khẳng định cách mạng giải
phóng dẫn tộc muốn thắng lợi phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp
công nhân, Đảng đó phải được xây dựng theo các nguyên tắc Dang kiểu mới của
Lénin, được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác-Lênin, Người nêu rõ “trước hết phải có
Đảng cách mạng, để trong thì vận động tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc vớidân tộc bị dp bức và vô sản giai cấp mọi ndi"[12- 268]
Hỗ Chi Minh nêu rõ sự liên minh giữa các dân tộc thuộc địa và giữa giai cấp
vỗ sản tại các nước đi xam lược thuộc địa với các dân tộc bị dp bức của các nước
thuộc địa trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp" Nguyễn Ái Quốc viết:
“Làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết
nhau hơn và đoàn kết lai để đặt cơ sở cho một liên minh phương Đông trong tươnglai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mang v6 sản”|[ L2-120) Người kêu gọi những người quốc tế cộng sản chú ý tới luận điểm “cực kỳquan trọng có tính chiến lược” của Lênin là vận mệnh của giai cấp vô sản ở trongnước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở cácnước thuộc địa nếu muốn đi đến giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh thì phải có sựliên minh giữa giai cấp võ sản ở chính quốc và thuộc địa “Chủ nghĩa tư bản là một.con dia có hai cái voi một vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái voi
SVTH:Đinh Thị Mộng Kiều Trang l6
Trang 21NHHKH: Ts Lương Văn Tám Khoá luận tất nghiệp
khác bám vào giải cấp vô sản ở thuộc địa Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải
đẳng thời cắt hai vòi ”[12-120]
Tư tưởng độc lập dân tộc gắn lién với chủ nghĩa xã hội chỉ dao sự nhận thức
và hành động của Người trong triển khai đường lối quốc tế và hoạt động ngoại giao
qua các giai đoạn lịch sử của cách mạng Việt Nam hon nửa thé kỷ qua như sau;
- Neay sau khi giành đặc lập, giai doan( 1945-1946)
Người cùng Ban Thường vụ Trung ương đã định hướng đường lối và chính sách đối ngoại của cách mạng Việt Nam, trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945,
Chủ tịch Hỗ Chi Minh đã thay mặt nhân dân ta nêu rõ: “Một dân tộc đã gan góc
đứng về phía đẳng minh chống phát xit mấy năm nay, din tộc đó phải được tự do,
dân tộc đó phải được độc lập” Đó cũng chính là lời khẳng định tính hợp pháp, hợp
thời đại của công cuộc cách mạng thắng Tám Bản thân Tuyển ngén còn khẳng định: "Tất cả các đản tộc trên thế giới déu sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có
quyền sống, quyển sung sướng và quyển tự do”, Tuyên ngôn trở thành tiền để pháp
lý và trí tuệ cho việc hình thành chính sách đối ngoại của Nhà nước Việt Nam độc
lận Đảng và Chủ tịch Hỗ Chí Minh còn để ra nhiệm vụ: “Thuật ngoại giao là làm
cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn déng minh hơn hết” nổi bật là sách lược biết lợi dụng sự khác nhau về lợi ích giữa các thế lực thù địch để phân hóa và
làm suy yếu chúng, tập trung được sức mạnh vào việc cô lập và chống kẻ thù
chính.
Trong thời kỳ nầy, Chủ tịch Hỗ Chí Minh còn nêu lên chiến lược"“hòa để
tiến”, vì lúc này các thé lực thù địch trên đất nước ta, chúng bất đầu có sự thỏa thuận về lợi ích và câu kết với nhau Hỗ Chí Minh chủ trương chiến lược hòa để
tiến là nhằm tạo ra một thời gian hòa hoãn để củng cố lực lượng cách mạng đồng
thời lợi dụng sự khác nhau về lợi ích giữa Anh, Mỹ, Pháp và Trung Hoa Quốc Dân
và trong nội bộ từng thế lực đó để đấy lùi từng bước lực lượng quan sự nước ngoài
>————EET———————-SVTH:Dinh Thị Mộng Kiểu Trang 17
Trang 22NHDKH: Ts Luong Văn Tam Khod luận tor nghiệp
ra khỏi đất nước ta, "tránh cái trường hợp một mình phải đối phó với nhiều lực
lượng déng minh”, theo tinh thần đó, Hiệp định sơ bộ Việt-Pháp được kí kết với sự
hiện diện của tất cả đại diện lực lượng đồng minh có mặt tại Việt Nam và Tạm ước14/9/1946, wanh được cam bay của thé lực hiếu chiến muốn đẩy quan hệ Việt -Pháp nhanh chóng vào thé đối dau trực tiếp về chính trị quân sự, hong phá tình
trạng hòa hoãn đang có lợi cho ta.
Nhờ những chủ trương sách lược linh hoạt, nhạy bén khéo léo của Đảng và
Chủ tịch Hỗ Chí Minh mà đất nước tránh được tình trạng đối đầu với nhiều kẻ thù
cùng một lúc, có thời gian củng cố lực lượng cách mạng và giữ vững chính quyểncách mạng và nhanh chóng đuổi được quân Tưởng về nước
- Giai đoạn từ 12/1946 đến 7/1954
Trong thời gian này nhân dân ta phải tiến hành chống thực dân Pháp xâm
lược, để thắng được kẻ thù có sức mạnh quân sự lớn hơn mình nhiều lan và thích
nghỉ với tình hình quốc tế lúc bây gid, Chủ tịch Hỗ Chí Minh và Đảng ta một mặt
lãnh đạo nhân dan kiên quyết kháng chiến, mặt khác vẫn cố gắng kiên tri tim khả
năng cứu văn hoà bình, thể hiện điểu đó trong thực tiễn, ngay sau khi kháng chiến
bùng nổ Người đã tố cáo hành động chiến tranh phi nghĩa của thực dân Pháp, đòi
ngừng bắn chấm dứt chiến tranh trên cơ sở những thỏa thuận Việt-Pháp đã được kí
kết.
Từ ngày 19-12-1946 đến đấu tháng 3-1947, Chủ tịch Hỗ Chi Minh đã 8 lẳn
gửi thư cho Chính Phủ, Quốc Hội và nhân dân Pháp, vạch rõ tội ác của thực dan
hiếu chiến Pháp ở Đông Dương, tủ ý mong muốn chiến tranh sớm chấm dứt vì lợi
ích của nhân dân hai nước" nếu không chúng tôi bất buộc phải chiến đấu đến cùng
để giải phóng hoàn toàn đất nước "[I4-243], trước sự đấu tranh mạnh mẽ của ta và
dư luận nước Pháp bat dau gây sức ép với chính phủ Pháp
_————————————-Đ —
SVTH:Dinh Thị Mộng Kiểu Trang 18
Trang 23NHDKH: Ts Lương Văn Tám in tốt nghỉ
đáng, song nó đã góp phan thúc đẩy xu hướng chống chiến tranh, đưa đến các cuộcbiểu tình đòi hoà bình cho Đông Dương ở Pháp Tháng 9-1941 Chủ tịch Hé Chi
Minh với tư cách là người đứng dau của Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhân dip trả
lời phỏng vấn của báo chí nước ngoài đã khái quát nhiệm vụ và phương hướng đối
ngoại chủ yếu của Việt Nam là “ làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không
gây thù oán với ai” [15-220] Phương hướng này của Người góp phan tranh thủđược những lực lượng trung gian chưa đứng hẳn về phía Pháp, đồng thời sẵn sàng
mở rộng quan hệ với các lực lượng khác nhau bên ngoài, góp phan cô lập thực din
hiếu chiến Pháp và cải thiện vị trí quốc tế của Việt Nam
Trong thời gian này, Người cũng chú ý đến việc sớm để ra và thực hiện sách
lược kiểm chế sự cấu kết giữa Mỹ và Tưởng liên kết với thực dân Pháp, đẳng thờilợi dụng mâu thuẫn Pháp- Mỹ trong vấn để Đông Dương, tìm cách phá thế bao vây
cô lập gan cuộc kháng chiến của của ta với trào lưu cách mạng bên ngoài, kiên trìchính sách đoàn kết với nhân dân Pháp, chống thực dân xâm lược Pháp, Người còngúp phan quan trọng trong việc hình thành liên minh chiến đấu Việt Nam —Lao —Campuchia tạo nên sức mạnh dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp
Khi điểu kiện trong và ngoài nước chuyển biến theo chiểu hướng có lợi cho
cuộc kháng chiến của nhân dần ta, đón trước thời cơ thực dân Pháp sắp thất bại lđntrên chiến trường trong cuộc chiến Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến
dịch Điện Biên Phủ Tại Pháp, phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp diễn ra
mạnh mẽ đòi nhà cẩm quyển Pháp rút quân đội vé nước và không được lệ thuộc
vào Mỹ để tiếp tục cuộc đấu tranh làm tình hình chỉnh trị nước Pháp mất ổn định,
các nước lđn cũng muốn đi vào hoa hoãn Trước tình hình như vậy, Chủ tịch Hỗ Chi Minh đã kịp thời bay tỏ mong muốn hoà bình của Việt Nam, thúc đẩy nhà cẩm
quyển Pháp đàm phan kết thúc chiến tranh bằng giải pháp chính trị, trên cơ sởthắng lớn trên mặt trận quân sự chúng ta đã gây sức ép với thực dân Pháp mở ra
Trường Đại-Học Su- Trang 19
SVTH:Binh Thị Mộng Kiểu
Trang 24NHDEH: Ts Lương Văn Tám Khoá luận tất nghiệp
cục diện vừa đánh vừa dam có lợi cho ta Tại Hội nghị Gidnevd về Đông Dương năm 1954, Việt Nam dân chủ cộng hoà đã có những nhân nhượng cần thiết để Hội nghi đạt đến những thoả thuận cuốt cùng.
- Trang giai đoạn [954 — 1969
Trong giai đoạn này, ngoại giao Việt Nam thực hiện hai nhiệm vụ độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội: "phát triển ngoại giao trung lập của Mặt trận Dan tộc
giải phóng miễn Nam Việt Nam, ngoại giao xã hội chủ nghĩa miễn Bắc, hình thành
hai nền ngoại giao cùng phối hợp thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược dưới sự lãnh
đạo thống nhất của Đảng "23-112] Ngoại giao trong thời kỳ này tranh thủ sự viện trợ vật chất kỉ thuật cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện hợp tác kinh tế, tranh thủ đào tạo cán bộ phục vụ xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa ở miễn Bắc
đẳng thời mở rộng mặt trận nhân dân ủng hộ Việt Nam chống chiến tranh xâm
lược Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước với cương vị là Chủ tịch Đảng, người
đứng đầu nhà nước, Người có vai trò nổi bat trong trong xây dựng đường lối quốc tếcủa cuộc kháng chiến và chính sách ngoại giao nhà nước tạo nên cầu nổi gắn cuộcđấu tranh của nhân dan ta với lực lượng đẳng minh các nước trong phe xã hội chủnghĩa và các quốc gia lắng giểng trong thời kì chống Mỹ cứu nước, nhờ vậy đã
tranh thủ được sự ủng hộ và giúp đỡ các nước xã hội chủ nghĩa mà trước hết là
Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, thất chặt thêm tình đoàn kết chiến đấu của liên minh Việt Nam -Lao —Campuchia,
Hỗ Chi Minh đã giương cao ngọn cờ chính nghĩa tranh thủ sự đoàn kết, ủng
hộ giúp đỡ của nhân dân yêu chuộng hoà hình và công lý trên toàn thế giới kể cảnhân dan tién bộ Mỹ, được sự ủng hộ của nhân dẫn thế giới kể cả nhãn dẫn tiến bộ
Mỹ chống lại cuộc chiến tranh xâm lược Mỹ, gây sự bị động lúng túng cho chínhquyển Mỹ tạo nên thế mạnh trên mặt trận đối ngoại của ta trong suốt cuộc chiến
tranh, g6p phan quan trọng đưa nhà cẩm quyển Mỹ vào thế phải đối phó cùng một
lúc với chiến trường Việt Nam, trên thế giới và ở nước Mỹ, góp phần đưa Mỹ vào
SVTH:Binh Thị Méng Kiểu Trang 20)
Trang 25thế hị động chiến lược buộc Mỹ xuống thang chiến tranh chấp nhận đàm phán hoà
bình.
1.2.2 Kết hop sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Đây là nội dung quan trọng của tư tưởng Hỗ Chí Minh, xuất phát từ quan
điểm Macxit về giải quyết mâu thuẫn dựa trên vai trò quyết định của yếu tố bên
trong và tác động, ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài, cũng như từ tỉnh chất cách
mạng Việt Nam và xu thế thời đại, "Ra đi tim đường cứu nước, Hồ Chí Minh mang
theo nhận thức và niém tin bất diệt vào sức mạnh dan tộc "[26-3| Đó là sức mạnh
của chủ nghĩa yêu nước, tinh thắn cố kết cộng đẳng, ý chi đấu tranh anh dũng, bất
khuất cho độc lập, tự do,ý thức tự chủ tự lực tự cường.
Hỗ Chí Minh luôn chú trọng để cao sức mạnh của truyền thống dẫn tộc, đặc
biệt là sức mạnh của lồng yêu nước: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước "[I I-466], Chủ nghĩa dân tộc ở đây là chủ nghĩa yêu nước và tinh than dẫn tộc
chân chính của nhản dân Việt Nam đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử,
vốn là một động lực tinh than mạnh mẽ trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xầm,
bảo vệ độc lập dan tộc và xây dựng đất nước
Sức mạnh dân tộc theo Hồ Chí Minh còn được biểu hiện ở truyền thống văn hóa - đạo đức của dân tộc Việt Nam, một nền văn hóa lấy nhân nghĩa làm gốc, coi
trọng đạo lý làm người, để cao trách nhiệm, bổn phận của cá nhãn đối với gia đình,
làng nước, Tổ quốc "có thể nói, Hỗ Chí Minh đã sớm thấy sức mạnh của văn hóa,
một yếu tố nội sinh cấu thành sức mạnh của dẫn tộc "[26-3].
Mặc dù đánh giá rất cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và truyền thống
văn hóa của dan tộc mot câu hỏi lớn vẫn đặt ra trong tư duy chính trị Hỗ Chí Minh;
"tại sao các cuộc vận động cứu nước, giải phóng dân tộc từ thế kỷ XIX sang đầu
thế kỷ XX vẫn cứ lan lượt thất bai "{26-3] Từ đó Người quyết định phải ra nước
ẦẦẦẦ-ỒŠ5xắắễryNậộẹTtìưax
SVTH:Dinh Thị Mộng Kiểu Trang 21
Trang 26ngoài tim hiểu thé giới, khảo sát thời đại dé tìm ra con đường đúng đắn cho sự
nghiệp cứu nước, giải phóng dẫn tộc.
Nhân thức của Hỗ Chi Minh về sức mạnh của thời đại và mdi quan hệ giữa dan tộc và thời đại cũng được hình thành từng hước thông qua hoạt động thực tiễn
ma tổng kết thành lý luận Được chứng kiến cuộc sống khổ cực của nhân dan cácnước thuộc địa, Người nhận thấy mối tương đẳng giữa các dân tộc bị áp bức, từ đóNgười đi đến nhận thức: muốn giải phóng được dân tộc phải đoàn kết với các dân
tộc khác cùng chung cảnh ngộ.
Sau khi nắm được chan lý thời đại, Hỗ Chi Minh đã làm tất cả để gắn cách
mạng Việt Nam với cách mạng thế giới Trong tác phẩm "Đường cách mệnh”Người viết "cách mệnh An Nam cũng là một hộ phận trong cách mệnh thế giới Ailàm cách mệnh trong thế giới cũng là đồng chi của dân An Nam cả "12-301 |, trong
"Lời kêu gọi gửi nhân dân thé giới” năm 1947 Người nêu rõ "Việt Nam là một bộphận trong đại trong gia đình chau A Đấu tranh cho tự do, độc lập của Việt Nam
tức là đấu tranh cho tự do, độc lập gia đình châu Á Trước kia, anh em đã đẳng tình
với chúng tôi Từ đây mong anh em càng ủng hộ Với sự đẳng tình và ủng hộ củaanh em, cuộc kháng chiến cứu quốc của Việt Nam nhất định thắng lợi"(14-381]
Vẻ chính trị đối ngoại, điểm then chốt của tư tưởng Hồ Chí Minh là mở rộng quan
hệ quốc tế với phương châm “làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn
đẳng minh hơn” Người nhắc nhở các cán bộ làm công tac đối ngoại tại Hội nghị ngoại giao năm 1966; “ngoại giao của ta là cốt tranh thủ nhiễu người ủng hộ cuộc
đấu tranh cứu nước của ta Phải làm sao vui long được mọi người, Tuy không
được lòng họ một tram phần trăm nhưng không được mất lòng ai một tram phan
trăm "23-125|.
Việc kiên trì thực hiện các tư tưởng néu trên trong bối cảnh các phong trào
cách mạng thé giđi không ngừng lớn mạnh làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi
_ TT
SVTH:Binh Thị Mộng Kiểu Trang 22
Trang 27NHDKH: Ts Luong Văn Tam Khod luận tất nghiệp
cho cách mạng là một trong những yếu tổ đảm bảo thành công của cách mạng Việt
Nam
Chủ tịch Hỗ Chí Minh luôn để cao sự đoàn kết giữa các lực lượng tiến hộ trênthế giới: "đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi” Người nhấn mạnh các lựclượng ấy "đoàn kết chat chẽ với nhau thành một mặt trận thống nhất mạnh mẽ ” tạothành sức mạnh để thực hiện các mục tiêu cách mạng của thời đại
Sức mạnh thời đại luôn mang nội dung mới, phản ảnh sự phát triển của lịch sử
và quá trình vận động của chính trị quốc tế
Kết hợp hài hòa sự nghiệp của nhẫn dân Việt Nam với sự nghiệp của nhândin thé giới, tranh thủ mở rộng đoàn kết và hợp tác quốc tế trong tình hình các
phong trào cách mang thế giới phat triển mạnh mẽ, sức mạnh của Việt Nam đã
tăng lên gấp đôi "cùng với sức mạnh nội tại và quyết tâm phi thường của nhãn dan
ta, ta phải tập hợp được lực lượng phải tranh thủ mọi tổ chức, mọi lực lượng dù là
nhỏ cũng phải tranh thủ "[23- I 26|
Cũng như các hoạt động chính trị, kinh tế, quân sự, Hỗ Chí Minh nhấn mạnh
làm ngoại giao phải dựa vào sức mạnh của mình, phải có thực lực Năng lực nộisinh càng manh thì càng khai thác được nhiều khả năng bên ngoài và như vậy sẽ
mang lại sức mạnh chính mình Từ năm 1944, Hồ Chí Minh đã nói “nếu tự mình
không có thực lực làm cơ sở thì không thể nói gì đến ngoại giao "(13-459] Người ví
“thực lực như cái chiéng, chiéng có to tiếng mới lớn” Thắng lợi ngoại giao lớn hay
nhỏ, hoạt động ngoại giao thuận lợi hay khó khăn tùy thuộc ở nhiều nhân tố, trong
đó quyết định chủ yếu là ở thực lực Nhờ chiến thắng to lớn của quân dan ta trong 9
năm khíng chiến chống thực dân Pháp, mới có thắng lợi của ta ở Hội nghị Gidnevd (1954), Người tổng kết “Ngoại giao ở Hội nghị Gidnevơ thắng lợi là vì Điện Biển
Phủ thắng lớn Bảy giờ cũng thế đánh thắng lớn thì ngoại giao thắng nhiều không
cứ gì ở ta và nước nào cũng vậy "|I-29|
—ŠŠ——
SVTH:Binh Thị Mộng Kiểu Trang 23
Trang 28NHDKH: Ts Lương Văn Tám Khoá tra n tốt nghiệp
Chính vì đánh giá cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dẫn tộc
mà Hỗ Chi Minh đã đi tới luân điểm: cách mang thuộc địa không những không phụ
thuộc vào thắng lợi của cách mạng vé sản ở chính quốc mà trong những điều kiện lịch sử nhất định, với tinh thần “dem sức ta mà giải phóng cho ta” có thể và cần
thiết phải chủ động tiến hành trước và bằng thắng lợi của cách mạng thuộc địa mà
cúp phan "giúp đỡ những anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng
hoàn toàn”[ 11-36]
Sức mạnh của thời đại còn là những tiến bộ của cách mạng khoa học kỹ
thuật sự phát triển của lực lượng sản xuất và cùng với nó là sự tăng cường mở rộngcủa quan hệ kinh tế thương mại thế giới Trong phiên họp chính phủ ngày 23 tháng
11 năm 1945, khi bàn về chương trình kinh tế, Chủ tịch Hỗ Chí Minh đã nêu ý
tưởng về hợp tác kinh tế đối ngoại, lấy kinh tế phục vụ chính trị, dựa trên cơ sở hai
bên cùng có lợi: "Ngoại giao và kinh tế có ảnh hưởng lẫn nhau Nếu mình có một
chương trình về kinh tế có lợi cho người ngoại quốc, họ có thể giúp mình "{13-72]
Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, Hỗ Chí Minh
đã tính tới việc tranh thủ hợp tác kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, kể cả Pháp, để
xây dựng đất nước và từ đó tranh thủ sự ủng hộ bên ngoài đối với nên độc lập của
Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chi Minh đã nhiều lần tuyên bố: “Chính sách ngoại giao
của chính phủ thì chỉ có một diéu tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trênthế giới để giữ gìn hòa bình ”[15-30], “thái độ nước Việt Nam đối với những nước
A chau là thái độ anh em, đối với ngũ cường là một thái độ bạn bè ”{15-136] Ngay
với nước Pháp, nước đang tiến hành cuộc chiến tranh thù địch chống Việt Nam,
Người cũng nhã ý xem như bạn bè tất cả những ai muốn cộng tác với Việt Nam
"Có thé xem những tuyển hố trên day là tư tưởng đặt nền móng cho phương
châm đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Đăng và nhà nước ta hiện
nay ”(36-7|
——nn==m=—h5Yộh-s.-wwxn
SVTH:Đinh Thị Mộng Kiểu Trang 24
Trang 29Tóm lại, từ khi bất gặp chân lý của chủ nghĩa Mác-Lẽnin, tim thấy con
đường giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng võ sản, nhận thức
của Hỗ Chi Minh vẻ mỗi quan hệ giữa nội lực và ngoại lực, về kết hợp sức mạnh dẫn tộc với sức mạnh thời đại ngày căng hoàn chỉnh và sâu sắc, nắng nó lên thành
một hài học thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
1.2.3 Dée lập tự chủ, tự lực tự cường gắn liên với đoàn kết và hợp tác
quốc tế
Độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh là tư duy nổi bật, nhất quần trong toàn bộ
hoạt động chính trị của Nguyễn Ái Quốc Nguyên lý chủ yếu của tư tưởng đó là:
“Muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã"(13-393],
Người còn nói: "Muốn làm gì cũng cần vi lợi ích của dân tộc mà làm "(23-1 12]
Độc lập tự chủ thể hiện trước hết ở tư duy nhận thức và hành động tự chủ,
sáng tạo, không giáo điều và rip khuôn Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh:
"Đã nhiều lan đẳng chi Lénin nhắc đi nhắc lại rằng lý luận cách mạng không phải
là giáo diéu, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng, và lý luận không phải là
một cái gì cứng nhắc, nó đẩy tính sáng tạo ”[18-496] Ngoài ra Bác cũng luôn nhắc
nhở cán bộ đảng viên làm cách mạng phải phat huy độc lap suy nghĩ và tự do tư tưởng.
Độc lập tự chủ là đặc trưng của bản sắc dan tộc Việt Nam, bản chất của chủ
nghĩa Mác-Lênin là khoa học, cách mạng và sáng tạo Hồ Chi Minh đã vận dụng
các giá trị ấy vạch ra đường lối đối nội và đối ngoại phù hợp với các điều kiện lịch
sử cụ thể của Việt Nam và bối cảnh quốc tế
Trong quan hệ quốc tế và đối ngoại của Việt Nam, Hồ Chi Minh khẳng định:
"Độc lập nghĩa là chúng ta diéu khiển lấy moi công việc của chúng tôi, không có
sự can thiệp ở ngoài vào ”[I5-I36| Trong quan hệ giữa các đảng trong phong trào
cộng sản và công nhãn quốc tế, Người xác định: "Các đảng dù lớn nhỏ đều độc lập
SVTH:Dinh Thị Mộng Kiểu Trang 25
Trang 30NHDKH: Ts Lương Văn Tám Khoá luận tốt nghié p
và hình đẳng, đồng thời đoàn kết nhất tri giúp đỡ lẫn nhau”, trong mối quan hệ,
Người luôn để cao vai trò độc lập tự chủ của mỗi nước, mỗi tổ chức đảng tuỳ thuộc
vào diéu kiện cụ thể của nước mình
Trong bai thơ, "Cảnh binh khiéng lợn cùng đi” của Nhật ký trong tù, một
nghịch cảnh đã được Nguyễn Ái Quốc khái quát thành một triết lý sâu xa về việc
mất quyền tự do và tự chủ:
Trên đời nghìn vạn đều cay đẳng,
Cay đẳng chỉ bằng mất tự do?
Mai việc mỗi lời không tự do,
Để cho người ddt tựa trâu bà!
Do hoàn cảnh cuộc đấu tranh cách mạng của nước ta, sau khi nhãn dân ta
giành được chính quyển tháng Tám 1945, Chủ tịch Hỗ Chi Minh nhấn mạnh: “Về
chính trị quân sự, kinh tế, nội chính và ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh” Từ
năm 1950 các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Trung Quốc viện trợ cho ta thì Hỗ
Chí Minh luôn nhắc nhở rằng: “Có sự chỉ viện của Liên Xô và Trung Quốc về vật
chất, vũ khí, trang bị, ta sẽ đỡ khó khăn hơn, nhưng giành được thắng lợi phải do nỗ lực của chính bản thân ta quyết định” Khi nước ta thực hiện hai nhiệm vụ chiến
lược, Chủ tịch H6 Chi Minh nêu rõ tự lực cánh sinh vẫn là "cái gốc, điểm mau
chốt" của mọi vấn để Người xác định tự lực cánh sinh là một truyền thống, và mối
liên hệ giữa tranh thủ viện trợ quốc tế và tự lực cánh sinh, tranh thủ sự giúp do từ
bên ngoài là để nắng cao sức mạnh trong nước mình, tranh thủ nội lực để phát huy
ngoại lực: "Các nước bạn ta, trước hết là Liên Xô và Trung Quốc ra sức giúp đỡ ta
một cách vô tư, khẳng khái, để chúng ta có thêm điều kiện tự lực cánh 270).
sinh"[20-Theo Người, hiệp định Genevd 1954 về Đông Dương đem lại bài học về độc
lập tự chủ và hợp tác quốc tế, từ kinh nghiệm của Hội nghị này, ngoại giao Việt
——ễ _-_ —_———ễễ
SVTH:Binh Thị Mộng Kiểu Trang 26
Trang 31NHDŨDKH: Ts Lương Văn Tam Khoá luận tốt nghỉ
Nam đã có bước trưởng thành Trong thời kỳ tiếp theo, ta đàm phán trực tiếp với
Mỹ chủ động trong việc lựa chọn thời điểm, phương thức và nội dung Đường lối
độc lặp tự chủ và đoàn kết quốc tế được phát huy ở mức cao, góp phan vào thắng
lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Trong toàn hộ cuộc đời hoạt đông cách mạng của mình, Hỗ Chi Minh kiên trì
đấu tranh để giành các quyển dân tộc cơ bản cho đất nước Việt Nam Ngày
2/9/1945 ngay sau khi nước nhà vừa giải phóng, Hỗ Chí Minh đã công bố trước
trước quốc dân đẳng bào và toàn thế giới bản Tuyên Ngôn độc lập, mở đầu bằng
những giá trị pháp lý và đạo lý mang tính phổ biến
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyển bình đẳng Tạo hoá cho họ nhữngquyển không ai có thể xâm phạm được, trong những quyển ấy, có quyén được
sống, quyền tự do và quyển mưu cầu hạnh phúc ”[14- I].
Bản Tuyên ngôn độc lập khẳng định quyền tự do, độc lập của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật
đã thành một nước tự do độc lập "[14-4] Thông qua bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ
tịch Hỗ Chí Minh và Đảng ta đã khẳng định định hướng đối ngoại độc lập, tự chủcủa dân tộc Việt Nam trong quan hệ chính trị quốc tế Bởi vì chỉ những quốc giađộc lập, tự do mới có quyền quyết định đường lối đối ngoại của dân tộc mình,
Trong tư tưởng Hỗ Chi Minh, mục tiêu đối ngoại bao giờ cũng được xác định
một cách rõ rang nhất quán, đó là bảo đảm lợi ích quốc gia din tộc, dim bảo các
quyển dan tộc cơ bản như: độc lập dân tộc, chủ quyển quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ,
thống nhất đất nước.
Trong khi ra sức phấn đấu thực hiện tốt mục tiêu đối ngoại của dân tộc mình,
Hỗ Chí Minh rất tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia dân tộc khác theo
quan điểm “Minh chớ làm cho người những điểu không muốn người làm cho
minh "[I4-353|
SVTH:Binh Thị Mộng Kiểu Trang 27