Dù cũng đã có một số nhà nghiên cứu đẻ cập đến tính chất phức điệu của câu văn Nguyễn Tuân, tuyệt nhiên không có bai viết nao dé cập đến đặc trưng ngữ pháp của Nguyễn Tuân, xem ngữ pháp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG DAI HỌC SU PHAM THÀNH PHO HO CHÍ MINH
HA TUAN KIEN
KHOÁ LUẬN TÓT NGHIỆP
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
TP Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHAM THÀNH PHO HO CHÍ MINH
HÀ TUAN KIỆN
TUY BUT CUA NGUYEN TUẦN
- TỪ NHUNG CÁCH TAN VE NGỮ PHAP
DEN NGUYEN TAC DAY HOC DOC HIEU
KHOA LUAN TOT NGHIEP
Chuyên ngành: Ngôn ngữ hoc
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TĂNG THỊ TUYẾT MAI
TP Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2021
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Đề hoàn thành khoá luận với đề tài Tuy but của Nguyên Tuân — Từ những cáchtân về ngữ pháp đến nguyên tắc dạy học đọc hiểu, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của
nhiều tập thé và cá nhân
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Tăng Thị Tuyết Mai
-người thầy đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khoá luận này.
Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đền các giáo viên va sinh viên đã
tham gia thực hiện khảo sát và cung cấp cho tôi những ý kiến quý báu
Sinh viên thực hiện đề tài
Hà Tuan Kiện
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MÔ ĐẦU bung n00000000202606203200004664606464644202222220220600005 3
0:1: Lí: đo chọn để LÍ ccccccccccooeeeeciioeeoGGG01811005536130053331303598968033938180383383823388638838338385858838559583E 3
0.3 Mục đích và nhiệm vụ nghiÊn CỨU ng gen 12
0.4 Đối tượng và phạm Vi nghiên cứu s cvvvesseeeervvvssseeerrrrvssssree 12
0.5 Phương pháp nghiên CỨU nọ ng g0 13 0.6 Đóng góp của khoá luận e«cscsenseetsrsrtterrtrrkrnararearasranaasrsrasrsre 13
1.1.2 Những vấn đề Thi pháp học hữu quan trong nghiên cứu ngôn ngữ
tay bút Nguyễn “THÊ an 20
1.1.3 Quan niệm cách tân ngữ pháp trong đề tài cccesscccccescee 231.2 Cữ sở ChỰC tHỄẾT:; ~ <CGCGG+GGGGG442042231323152135036503330364222361246233238333838838223223338655683358 31
1.2.1 Ngwoi lái đò sông Da nói riêng và tuỳ bút nói chung trong chương
trình Ng ữ văn 20 18 HH HH HH H00800080808080080008008 00080016 31
1.2.2 Thực tế day học tuỳ bút Nguyễn Tuân o5-.esscccccosssocecee 33
CHUONG 2: NHỮNG CÁCH TAN VE NGỮ PHÁP CUA NGUYEN TUAN
BRR ONG TW WB UN ago 35
2); OO bình điện từ DhÁP sssssscsscssscnsscnanscnsssnssscnasscnasscnasscnassccasssiasscbassabasssvasssvasavesseies 35
2.1.1.Hiện taựng chuyên hoá từ 109 ccscceocossveeessveoessoveesscosssscossascouvsrsnovarscosssscdia 35
2.1.2 Hiện tượng biến đỗi khả năng kết hợp của từ - e-ccc- 39
mn
2.1.3 Hiện tượng chêm xen / phân tach ti eeeeeeeeerrrrse 4
Trang 53:2 0binh điện | ee 46
2.1.1 Hiện tượng sáng tạo ngữ đối xứng lặp s sssccccccesseccceessee 47
2.2.2 Hiện tượng sáng tạo siêu định ngữ -e«e«eseeeeerreesesrsrrrrrsre 51
2.2.3 Hiện tượng phức hoá thành phan ngoài nòng cốt câu 642.2.2 Hiện tượng lược giản hoặc bồ sung các phương tiện liên kết (hoặc
ngắn gØÏÁH) ch Họ TH TH To Từ TH TH TT TH Họ TH Họ TH Họ 1000 69
CHƯƠNG 3 ĐÈ XUẤT NGUYÊN TÁC DẠY HỌC ĐỌC HIẾU TUỲ BUT
CỬANGUYEN TUẤNGagỹÿỹÿỹớờớgaqggaggotgaoibii8001000200008686183886000188046ã5 76
3.1 Day hoc tac phẩm gắn với quan niệm nghệ thuật của tác gia 77
3.2 Dạy học tác phẩm gắn với kĩ thuật viết của tác 2 ee $1
3.3 Day học tác phẩm trong thé gián cách với người học - ‹.- 87
OO ee 95
TAIEIEUTHAM AO ssssssssssscssssssssssssessssscescsssscsscsssssssssssssssssssistsanaisitenasitesanettcines 97
WO a 100
Trang 6PHAN MỞ DAU
0.1 Lí do chọn đề tài
0.1.1 Nguyễn Tuân là một nhà văn độc đáo và tài năng Là một trong số không
nhiều nhả văn đã tạo được cho mình một phong cách nghệ thuật độc đáo, Nguyễn
Tuân đã có rất nhiều công hiến cho văn chương Việt Nam thé ki XX Số lượng công
trình nghiên cứu vẻ ông vô củng đồ sé, đa dang về dé tài, phạm vi, đối tượng nghiêncứu, từ thé loại, đến phong cách, tư tưởng, đặc trưng ngôn ngữ Mặc dù vậy, bìnhdiện ngữ pháp của tác gia vẫn là một manh đất trông chưa có nhiều người khai thác.đặc biệt ở thé tài tuỳ bút Vi vậy, chúng tôi chọn đề tai này như một cách dé dao sâu
thêm hướng nghiên cứu còn bỏ ngỏ này.
0.1.2 Bản về ngôn ngữ tuy bút Nguyễn Tuân, các nhà phê bình đều nhất trí về
sự hiện diện của một đặc trưng phức điệu để nhận thấy Trên cơ sở đó, nhiều côngtrình đã được thực hiện nhằm xác định nguyên nhân của tính chất phức tạp ay — một
lực can đáng kề đối với tiếp nhận Bên cạnh những nguyên nhân như lịch sử phát triển
của thé loại, phong cách của nhà văn, ham lượng thông tin trong tuy bút van dé về
ngữ pháp của Nguyễn Tuân có thé được xem như một nguyên nhân tiêu biểu Chúng
tôi chọn đề tài này nhằm mục đích nghiên cứu ngữ pháp tuỳ bút của Nguyễn Tuân
trên cơ sở so sánh với các chuẩn ngữ pháp thông dụng, từ đó khăng định những nỗ
lực cach tân, làm mới tiếng Việt của nha văn.
0.1.3 Từ khi chương trình Ngữ văn 2018 ra đời, day học đọc hiểu theo đặc
trưng loại thê trở thành một yêu cầu quan trọng Trong chương trình Ngữ Văn 2018,
tuỳ bút Người lái đỏ sông Đà của Nguyễn Tuân vẫn là tác phẩm được chọn nằm trong
danh mục các tác phẩm gợi ý Nguyên tắc dạy học đọc hiểu tuỳ bút nay vì thé cũng
không nằm ngoải những nguyên tắc chung trong lí luận day học đọc hiểu Tuy nhiên,
Nguyễn Tuân là một hiện tượng văn học đặc biệt, nhất là ở thể loại tuỳ bút Sự tiếp
nhận các tác phâm thuộc thê tải này ít nhiều bị quy định bởi những cách tân mới mẻ
của nhà văn, dẫn đến việc xuất hiện các yêu cầu phát sinh ma lí luận chung chưa de
cập Vi thé, cùng với nhiệm vụ tìm hiéu những cách tân ngữ pháp, chúng tôi chon dé
Trang 7tai nảy với mong muốn đề xuất các nguyên tắc day học đọc hiệu, hỗ trợ qua trình tiếp
nhận của học sinh điển ra thuận lợi hơn.
0.1.4 Thực tế dạy học tác phâm tuỳ bút của Nguyễn Tuân trong chương trình
Ngữ văn phố thông hiện nay cũng là một trong những lí do của việc lựa chọn đẻ tài Xuất phát từ kinh nghiệm học tập của cá nhân việc khảo sát kinh nghiệm đó ở các sinh viên, giáo viên (xem phụ lục 2.2) và kết quả của các công trình nghiên cứu trước
đó về van đề dạy học tác phẩm của Nguyễn Tuân, chúng tôi nhận thay rằng việc dạy học tuỳ bút của Nguyễn Tuân còn có nhiều bat cập Vì sự khác biệt quá lớn của thé
tuỳ bút và phong cách nghệ thuật của nhà văn với những hiện tượng van học trước
đó người học sẽ cảm thay lạ lẫm bối rồi từ đó hình thành tâm lí chán nản, đôi phó
và bỏ qua những nỗ lực sáng tao của nhà van Tinh trạng này nếu kéo dai, sẽ tạo ra
một khoảng cách không thé cứu van giữa người học va tác phẩm Do đó, cần có mộtbiện pháp can thiệp nhằm cải thiện tình hình này
Với những lí do ké trên, chúng tôi mong muốn rằng kết quả nghiên cứu của đề
tài nảy có thê góp một phần trong việc phát hiện thêm những sáng tạo ngôn ngữ của
Nguyễn Tuân trên bình diện ngữ pháp đồng thời dé xuất các nguyên tắc dạy đọc décải thiện những van đề day học tuy bút của tác giả này
0.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nguyễn Tuân là một nhà văn tài hoa, có nhiều đóng góp quan trọng trong việc
sáng tạo và phát triển tiếng Việt Ông viết nhiều thẻ loại như tuỳ bút, bút kí, truyện
ngắn với mỗi thê loại đều đạt được những thành công nhất định Vì thế, văn
chương của ông là một đối tượng thu hút các nhà nghiên cứu từ trước đến nay Tuy
nhiên trong lịch sử nghiên cứu van dé của khóa luận, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu
những nghiên cứu về ngôn ngữ tuỳ bút và những vẫn dé dạy học tuỳ bút Nguyễn Tuân
0.2.1 Về vấn đề ngôn ngữ trong tuỳ bút Nguyễn Tuân
Vẻ van dé ngôn ngữ trong tuỳ bút Nguyễn Tuân, theo trình tự thời gian, có thé
ké đến những công trình và các tác giả tiêu biêu sau:
Trang 8Nguyễn Quang Trung trong bài viết Nha luyện dan ngôn từ — ông lái đò chữ
nghĩa (Tiếng nói tri âm, tập 2, 1996) đã thông kê trong Sông Da có tới “ngdt 300
động từ” và “tan số động từ đậm đặc nhất ở trường đoạn hỗn chiến giữa người vàsông nước”, Kết qua thông kê cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa van đề từ loại và
nội dung thê hiện trong từng phân đoạn tuỳ bút
Hai tuyển tập Nguyễn Tuân — Về tác gia và tác phẩm (1998) (có đến hon 90 bai viết) và Nguyễn Tuân — Tác phẩm và dư luận (2002) (gồm 14 bài viết) đều do Tôn Thao Miễn biên tập và giới thiệu có những công trình giá trị gắn với tên tudi của
nhiều nhà nghiên cứu như Nguyễn Đăng Mạnh Vũ Ngọc Phan, Phong Lê Vương
Trí Nhan , những nhà van củng thời và hậu bối như Nguyễn Minh Chau, Thạch
Lam , đều đưa ra những hướng tiếp cận, đánh giá phong phú vẻ tác phẩm của
Nguyễn Tuân Các góc nhìn ay xuất phát từ van dé quan điềm nghệ thuật hành trình
phát triển thé loại tuỳ bút, phong cách tác giả đến những hồi ức và ki niệm với nhà
văn Trong bài viết của các tác giả có thâm niên nghiên cứu về Nguyễn Tuân như Con đường Nguyễn Tuân đi đến tuỳ bit chống Mỹ, Lời giới thiệu cuỗn Tuyển tập Nguyên Tuân, tập 1 (Nguyễn Đăng Mạnh), Nguyên Tuân trong tứ) bát (Phong Lê), Tuy bút Nguyễn Tuân sau Cách mạng thang tám (Một số đặc điểm thể loại) (Hà Văn
Đức) Người lái đò Sông Đà (Phan Huy Dũng) các tác giả chủ yếu khái lược về hệthong tuỳ bút của Nguyễn Tuân qua từng thời kì, chí ra những đặc sắc trong tư tưởng
và phong cách của Nguyễn Tuân, chuyên chú vào phương điện nội dung, những vấn
dé về tương giao thé loại Ngôn ngữ của nhà văn, nếu có, cũng chỉ dừng lại ở bình
điện ngữ nghĩa và ngữ âm, những đặc sắc trong việc dùng từ, âm điệu, nhịp điệu của
câu văn, một vải nhận xét khái quát về sự linh hoạt của câu van Dù cũng đã có một
số nhà nghiên cứu đẻ cập đến tính chất phức điệu của câu văn Nguyễn Tuân, tuyệt
nhiên không có bai viết nao dé cập đến đặc trưng ngữ pháp của Nguyễn Tuân, xem
ngữ pháp như một đối tượng trung tâm cần nghiên cứu, đặc biệt 1a trong tuỳ bút
Bùi Thanh Thao (2005) trong luận văn Cái đẹp trong văn xuôi nghệ thuật của
Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám đã đưa ra con số thong kế về việc sử dụng
từ Hán Việt trong hai tuỳ bút Phu nhân họ Bo, Cửa Đại lần lượt là 271 từ / 16 trang
Trang 9và 122 lượt từ / 15 trang Tuy bút Phu nhân họ Bỏ được tác giả luận văn đánh giá “lamột hiện tượng đặc biệt” bởi nhà văn đã ding rất nhiều từ Hán Việt nhưng sử dụng
“có ý thức, có can nhac” Bên cạnh đó, luận văn này cũng đề cập tới việc lựa chọn sử
dung từ láy (mặc dù ít hơn việc sử dụng từ Hán ViệU trong các tác phẩm tuỳ bút của
Nguyễn Tuân và lí giải về việc lựa chọn ấy là “tha hé bày tỏ cảm xúc tâm tinh” củanhà văn Thứ nhất, chúng tôi cho rằng việc tác giả dùng đơn vị thống kê là số trang
dé tiến hành nghiên cứu và kết luận chưa đem lại tính chính xác cao và sự thuyết phục
cần thiết Bên cạnh đó, luận văn này nghiên cứu cái đẹp trong văn xuôi Nguyễn Tuân
nói chung không tách bạch và đi sâu nghiên cứu từng thé loại cụ thé mà chỉ đưa ra
những ví dụ điền hình về cái đẹp hình thức mà nha van họ Nguyễn đã sử dụng trong
văn xuôi trước Cách mạng tháng Tám.
Trong chương 3 luận văn Phong cách Nguyễn Tuân qua tuy bút kháng chiến
(1946 — 1954), Bùi Thị Anh Chung (2007) cũng đã đưa ra những đánh giá về ngôn
từ nghệ thuật được Nguyễn Tuân sáng tạo Tác giả luận văn đã gọi tài sử dụng từ ngữcủa Nguyễn Tuân lả “la hoa”: “Nguyễn Tuân có một cá tính thích lạ hóa, thích biến
đổi khác người Từ cách cảm nhận thé giới, cuộc đời đến cách dùng từ ngữ, hình ảnh ông đều luôn có sự lạ hóa Ông không thích những chữ đã cũ mà người ta đã dùng nhiều ông gọi day là những “chit mòn non lép”, được đặt xuống trang giấy một cách
dé dàng” Song song với đó, trong phạm vi luận văn trên, tác giá cũng đã chỉ ra và
phân tích được một số kiểu câu văn được Nguyễn Tuân dùng trong việc sáng tác cáctuỳ bút thời kháng chiến Đó là việc Nguyễn Tuân thường xuyên sử dụng các câu văn
trùng điệp, câu văn linh hoạt, uyên chuyển, câu văn giàu hình ảnh và chất thơ — một
trong những điêu tạo nên an tượng mạnh cho độc giả khi đọc van của ông Van đề
của luận văn 1a chỉ đừng lại ở tuỳ bút kháng chiến — một phạm vi nghiên cứu khó nằm
trong vùng lựa chọn của nhiều giáo viên khi lựa dạy học tuỳ bút
Một trong những công trình có sự tìm hiểu sâu rộng nhất các phương điện tuỳbút của Nguyễn Tuân xem tuy bút như một trọng tâm của toàn bộ mục đích và nhiệm
vụ nghiên cứu, đó là Đặc trưng tuỳ bút Nguyễn Tuân của tác gia Nguyễn Thị Hồng
Hà (2010) Vì lẽ đó, công trình này cũng mang ý nghĩa nền tảng cho tat cả những
Trang 10công trình đi sau lay tuỳ bút của Nguyễn Tuân làm đối tượng nghiên cứu, bat luận có
thuộc địa hạt ngôn ngữ học hay không Đóng góp ý nghĩa nhất của công trình nay đối
với lịch sử nghiên cứu vấn đẻ là đã chỉ ra một cách thuyết phục phân tích một cáchsâu sắc những hiện tượng ngôn ngữ nghệ thuật được sử dung trong tuỳ bút NguyễnTuân Một số luận điểm mà tác giả đã chứng minh và có sự gặp gỡ với dé tai có thé
kế đến như Kết ghép mới, Chuyển hoá từ loại, Điệp dân cộng hướng, Định ngữ day
đặc ki thú, Giải ngữ thành vai trò quan trong, chúng tôi đã chọn trích dẫn ra một vài
lập luận của tác giả trên tinh than phan biện Ưu điềm và cũng là hạn chế lớn nhất
của công trình này, xét trong lịch sử nghiên cứu van dé của dé tai, là đã tìm hiểu đốitượng tuỳ bút một cách toàn diện nên các luận điểm kề trên cũng chỉ được tác giả dẫn
ra và phân tích ngắn gọn trong vài đoạn
Trong bài báo Cách sử dụng ngôn từ của Nguyễn Tuân trong Vang bóng mộtthời đăng trên Tạp chí Đại học Sài Gòn, Trịnh Viết Toàn và Nguyễn Đình Đương
(201 1) đã đề cập đến tải năng sử dụng ngôn từ của Nguyễn Tuân trong tuỳ bút Vang
bóng một thời Bài báo đã phân tích rat chỉ tiết việc sử dụng hệ thong từ cố, từ Hán
Việt, tiếng long, thành ngữ nghệ thuật vẽ mây nảy trăng, từ ngữ chỉ thời gian mang
tính hoài cô vả hiệu quá nghệ thuật của nó trong việc tạo tiếng vang cho tập tuỳ bút này Vấn đề của công trình này là đã chọn một phạm vi nghiên cứu mà ở đó tính
tương tác của thé loại quá cao, vì thé những kết luận đã có của người viết không thẻ
xem là đặc trưng của tuy but.
Trong bai viết Ngưyễn Tuân và phép “la hóa” trang văn, Đỗ Ngọc Thông
(2011) đã dan ra một số "phép lạ hoá” trong một tập hợp các văn phẩm của Nguyễn
Tuân Nhà nghiên cứu đã đưa ra 9 luận điểm trong quá trình khảo sát của minh: 1.Nguyễn Tuân và những từ dùng độc đáo; 2 Nguyễn Tuân dùng từ đồng nghĩa; 3
Nguyễn Tuân động từ hóa danh tính từ: 4 Nguyễn Tuân đảo trật tự từ: 5 Nguyễn Tuân và câu văn mang dang dap cỗ; 6 Nguyễn Tuân với những so sánh độc đáo; 7.
Nguyễn Tuân và lối diễn đạt mới lạ: 8 Nguyễn Tuân đưa khâu ngữ vào van; 9
Nguyễn Tuân kết cau câu văn linh hoạt Mỗi luận điểm đều được triển khai bằng một
đến hai đoạn văn, mang tính chất liệt kê, khảo lược Trong những luận điểm thê hiện
Trang 11rõ tính chất phát hiện đó luận điểm về kha năng chuyên hoá từ loại có liên đới một
cách trực tiếp với đề tải, cung cấp cho chúng tôi thêm những nhận xét, đánh giá có
giá trị Mặc dù vậy cũng như các công trình đi trước, sự đề cập về các hiện tượng kếtrên của người viết còn mang tính chất tản mạn, chưa thể đúc kết thành các kết luận
khoa học có giá trị thông qua một phạm vi nghiên cứu đủ rộng.
Công trình có đối tượng nghiên cứu gần nhất với đề tài của khoá luận có lẽ là
Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học của tác giả Lê Thị Thanh Uyên (2011) Tim hiểu đặc
trưng ngôn ngữ trong truyện ki của Nguyễn Tuân Điều tác giá đã làm được lả hệ
thông lại một cách khá toàn diện các đặc trưng ngôn ngữ trong các tác phẩm của
Nguyễn Tuan, từ bình diện từ ngữ ca pháp tu từ đến bình diện tô chức văn bản Tuy
có chú trọng đến các phương tiện ngôn ngữ như một đối tượng nghiên cứu, xác lập
thành hệ thông gọi tên, phân loại, tác giả vẫn chưa nhìn đối tượng đó như một hành
vi cách tân của nhà văn và liên hệ đến vẫn dé đạy học tác phẩm tử cơ sở các đặc trưng
về ngôn ngữ đã khảo sát Công trình này là một trong những công trình có giá trịtrong nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ Nguyễn Tuân vì đã có sự khái quát thành quy
tắc một số phương thức tô chức cú pháp của nhà van Vì thế, đối với dé tai, công trình
này có ý nghĩa nên tảng vô cùng sâu sắc.
Các tác giả Nguyễn Ngọc Chỉnh, Bùi Vũ Ngoc Dung, Nguyễn Ngọc Nhật
Minh (2014: 157) trong bài báo khoa học Thưởng thức vẻ đẹp tiếng Việt qua thể giới
nghệ thuật ngôn từ Nguyễn Tuân có đề cập ngắn gọn đến “những cụm từ bốn âm tiết
kết cấu bên chặt: vía quặng mỏ kim, mỏ quặng mỏ kim, tìm vàng tìm quặng ở rừng
đi núi, hết ghénh hết thác, hết cả đậm da ” Đây là 1 kiểu biểu thức ngôn ngữ mà de
tai sẽ đảo sâu thêm dé khái quát những đặc điểm của chúng Du chỉ mang tính phát
hiện, liệt kê, dong góp của công trình nay là đã chỉ ra trên điện rộng những biểu hiện
cụ thê trong nghệ thuật dụng ngôn của Nguyễn Tuân nhằm làm cho tiếng Việt sinh
động hơn.
Van đề về giải ngữ được đề cập trong bài báo Khám phá về sự “chệch chuẩn”
trong câu văn trợ bút Nguyễn Tuân đăng trên báo Van nghệ Tiền Giang số 76 Tuynhiên, vẫn đề đó lại được tác giả Nguyễn Thị Mĩ Lài (2016) xem như một biện pháp
Trang 12nghệ thuật Trong các lập luận của minh, người viết đã phân tích tác dụng của các
biện pháp nghệ thuật như sóng đôi cú pháp, chiết cú, giải ngữ được nhà văn sử dụng
trong tuỳ bút Người lái đò Sông Đà Trong bài viết, tác giả đã nhắn mạnh đến sự sángtạo và nỗ lực tìm tòi ma nhiều người vẫn gọi là “chéch chuẩn” của Nguyễn Tuân
trong việc làm mới câu văn, qua đó, giúp người đọc hình dung ra sự hùng vĩ của thiên
nhiên Tây Bắc Bài viết phần nào khăng định được cá tính riêng của một nhà văn
“suốt đời đi tìm cái đẹp”, góp phan làm giàu đẹp tiếng Việt bởi những biện pháp nghệthuật có giá trị Tuy chưa xem ngữ pháp tuỳ bút như một đối tượng nghiên cứu trung
tam, tác giả đã bước đầu khang định vai trò của hình thức câu văn trong sự tương hỗ
với nội dung — van đề mà luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu sâu hơn và có những kếtluận cụ thẻ
Tương tự như bài báo của Nguyễn Thị Mỹ Lai, Trần Thị Kim Chi trong bàibáo khoa học Đặc sắc ngôn ngữ nghệ thuật Nguyễn Tuân qua tuỳ bút Người lái đò
Sông Đà đăng trên Trường Đại học Thủ đô Hà Nội (2019) đã phát hiện những cách
ding từ độc đáo của Nguyễn Tuân trong tuỳ bút Người lái đò Sông Đà Tác giả bài
báo đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể và phân tích xác đáng cho thấy biệt tài sử dụng
ngôn ngữ của Nguyễn Tuân, lam cho người đọc có thé hình dung được thiên nhiên
Tây Bắc hùng vĩ con người Tây Bắc đáng quý Bên cạnh đó, bài báo cũng đã chi ra
được sự liên thông tri thức qua ngôn từ mà nhà văn đã sử dụng trong tuỳ bút đặc sắc
này Đó là sự tông hợp nhiều kiến thức lịch sử, địa lí, điện ảnh và đôi khi tạo chongười ta “có cảm giác dé bị “bội thực” thông tin” Cuối bài báo, tác giả còn để xuất
cách đạy học tuỳ bút này bằng cách tích hợp liên môn giúp học sinh tiếp cận tác phẩm
ở nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung, dù dé tai đã nỗ lực tìm kiếm những nguyên
nhân làm cho ngôn ngữ tuỳ bút Nguyễn Tuân trở nên đặc sắc, van dé ngừ pháp van
chưa được phát hiện ở chiều sâu của hành vi cách tân
Trong bài viết Định ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm tuy bút được đăng
trong Ki yếu hội thảo khoahoc Ngôn ngữ Việt Nam trong bối cảnh giao lưu, hội nhập
và phát triển năm 2019, tác gid Trần Thị Mỹ Hạnh đã có sự tìm hiểu kĩ càng về định
ngữ nghệ thuật trong tuỳ bút thông qua sự khảo sát tác phẩm của một số nha văn.
Trang 13trong đó có Nguyễn Tuân Tác giả kết luận rằng các tác phẩm tuỳ bút đều sử dụng
định ngữ nghệ thuật với số lượng phong phú và tan số lớn, phân bố ở hau hết các
thành phần câu, thực hiện tốt chức năng biêu cảm, miêu tả và làm đẹp câu văn Đề tàinày nghiên cứu vẻ định ngữ như một kĩ thuật sáng tác thay vì một thành phần cúpháp vì thé chưa chỉ ra được sự lệch pha giữa định ngữ nghệ thuật và định ngữ thôngthường Tuy nhiên, bai viết đã cung cấp một hệ thông lí thuyết nghiên cứu có giá trị
về định ngữ, sự khảo sát, thông kê khá chu đáo các ngữ liệu tuỳ bút và những kết luận
có ý nghĩa cơ sở cho việc thực hiện những đề tài có nội dung cụ thể hơn quan tâm
đến đối tượng nghiên cứu là các cách tân về ngôn ngữ trong tuỳ bút
Trong các công trình có đôi tượng trung tâm là ngôn ngữ tuỳ bút Nguyễn Tuân
chúng tôi dảnh sự quan tâm va ưu tiên trên hết cho các công trình có đề cập đến các
vẫn đề về ngữ pháp xem rằng đó mới là các công trình thực sự có ý nghĩa với lịch sử
nghiên cứu vấn dé Khao sát các công trình khoa học ấy trên điện rộng, chúng tôirằng ở mỗi công trình, bình điện ngữ pháp tuỳ bút của Nguyễn Tuân thường chỉ đượclam rõ ở những góc rất nhỏ, chi được phác thao bằng những nét co bản nhất Dù
Nguyễn Tuân và câu van của ông là những đối tượng nghiên cứu khá nôi trội có khảnăng thu hút đáng kế sự chú ý các nhà nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy chưa có một
công trình nào, ngay từ vạch xuất phát lấy ngữ pháp tuỳ bút Nguyễn Tuân làm đỗi
tượng trung tâm nghiên cứu Đối tượng đó, đến lượt mình, mang tiềm năng mở ranhững khía cạnh và hướng đi khác nhau trong bình điện ngữ pháp mà ta hoản toàn có
thé ban đến một cách sâu rộng hơn, toàn diện hon, trên cơ sở khảo sat điện rộng hệ
thông tuỳ bút của Nguyễn Tuân Điều còn bỏ ngỏ ấy trong các công trình kẻ trên
chính là hướng nghiên cứu chủ đạo của khoá luận nay.
0.2.2 Về vấn dé day học tuỳ bút của Nguyễn Tuân
So với van dé ngôn ngữ trong tuỳ bút Nguyễn Tuân số lượng công trình đặt
ra vẫn dé về dạy học tuỳ bút của tác giả nảy cảng tỏ ra khan hiểm, nhất là những côngtrình đứng từ góc độ ngữ pháp dé bàn về việc day học:
Trong bài báo Dạy tác phẩm tuỳ bit trong trường THPT - Nhìn từ đặc trưngthể loại của tác giả Trần Văn Minh (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 6/2009) tác giả
Trang 14đã làm công việc phân tích những hạn chế của sách giáo khoa hiện hành khi phân loạituỳ bút va dé xuất cách phân loại cho thé loại này Nhìn chung, bai viết chưa đi sâu
vào van dé dạy học tuỳ bút, chưa gắn đặc trưng loại thé với yêu cầu dạy học như tiêu
đề bài báo đã dẫn ra
Hoàn thành vào năm 2010, luận văn Giảng day tác phẩm ký trong trường
THPT qua "Người lái đò Sông Da” của Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng
song?” của Hoàng Phú Ngọc Tưởng của tac gia Dinh Thị Phuong Thảo (Đại học
Quốc gia Hà Nội) đã góp phan xác định đặc trưng cúa thé tài kí và đề xuấtcác phương
pháp dạy học các tác phâm của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường theo đặc
trưng thé loại Nhìn chung, cách đặt van dé và triển khai của tác giả là hợp lí va thiết
thực đối với việc day kí trong nha trường phê thông Tuy nhiên, đối với Nguyễn Tuân
— một hiện tượng văn học đặc biệt phức tạp — việc tiếp cận từ góc độ thể loại chưa thékhái quát hết những đặc sắc và cá biệt của tác giả để ứng dụng vào việc dạy học
Trong luận văn Vận dựng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương
vào day học ty bút Người lái đò sông Da của Nguyễn Tuân (Đại học Quốc gia Hà
Nội 2014), tác giả Nguyễn Quang Binh đã dé xuất năm nguyên tắc trong day đọchiểu tuỳ bút Người lái đỏ sông Da từ quan điểm đồng bộ như “pha hợp với trình độtiếp nhận và tâm lí lứa tuôi học sinh THPT", “phat huy tính tích cực chủ động của
người học”, “nắm vững đặc trưng thể loại tuỳ bút của nguyễn tuân”, “vận đụng thích
hợp tri thức ngoài văn ban” Nhìn chung, các nguyên tắc dé ra mang tính công thức
rõ nét, có thé áp dụng cho việc dạy học mọi tác phẩm chưa xuất phát từ đặc trưng
ngôn ngữ tuỳ bút của Nguyễn Tuân với những nét cá biệt
Tác giả Vũ Thị Đài Trang (2017) trong luận văn thạc sĩ Phát triển năng lực
tưởng tượng cho học sinh trong day học tuy bút Người lai đò sông Da (Ngữ văn lớp
12) (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã tiếp cận van dé dạy học tuỳ bút trên phương diện
năng lực, tư duy tưởng tượng của người học, chưa đi từ những đặc trưng ngữ pháp
tuỳ bút Nguyễn Tuân đề dé xuất nguyên tắc day học đọc hiéu
Nhìn chung, các công trình kể trên đều chưa đặt ra vẫn đề về tính chat phức
tạp của thê loại nhìn từ bình diện ngữ pháp của tác giả, từ đó hướng đến nhiệm vụ
Trang 15tim cách khắc phục van dé này Khoá luận trên cơ sở đó, kết hợp với những kết quảđạt được trong các công trình đi trước, tiếp tục phát triển đẻ tai theo hướng đi này, hivọng đẻ xuất được những giải pháp nhằm khắc phục những van dé còn tôn đọng trong
việc day học tuỳ bút Nguyễn Tuân.
0.3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
0.3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tai này được thực hiện nhằm mục đích phát hiện, lí giải về những cách tân ngữ pháp trong tuỳ bút của Nguyễn Tuân, từ đó dé xuất một số nguyên tắc trong day
học tuỳ bút của tác giả này.
0.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đẻ hoàn thành mục đích nghiên cứu đã đề ra, khoá luận cần thực hiện các
nhiệm vụ cụ thê sau: 1 Tìm và phân loại tất cả những diễn đạt có vẫn đề về ngữ pháptrong phạm vi nghiên cứu; 2 Tiến hành đối chiếu các dién đạt đó với quy tắc ngữ
pháp tiếng Việt thông dụng; 3 Phân tích, đánh giá hiệu quả tu từ của các diễn đạt
được cho là đã cách tân về ngữ pháp, từ đó kết luận về động cơ vả ý nghĩa của hành
vi cách tân ngữ pháp ở tác giả: 4 Đề xuất các nguyên tắc day học đọc hiéu tuỳ bút
của Nguyễn Tuân từ các phân tích về ngữ pháp kẻ trên
0.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu0.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trọng tâm của đề tài này là những cách tân ngữ pháp
trong tuỳ bút Nguyễn Tuân và nguyên tắc dạy học đọc hiệu tuỳ bút của Nguyễn Tuân
0.4.2 Pham vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tai là các tác phâm đã được xác nhận là tuỳ bút,
trải đải từ đầu đến cuối quá trình sáng tác của Nguyễn Tuân, được Nguyễn Đăng
Mạnh tông hợp trong Mguyên Tuân toàn tập— năm tuyên tập các tác phẩm trong sự
nghiệp văn chương của Nguyễn Tuân
Trang 160.5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã chủ yếu sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
0.5.1 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ được dùng khi can chi ra những thé
nghiệm ngữ pháp của Nguyễn Tuân trong tương quan với chuân ngữ pháp thông
dung, từ đó xác định vai trỏ của cách tân ngữ pháp trong việc thé hiện các hiệu quả
tu từ; phương pháp này còn được sử dụng nhằm đưa ra các so sánh đối chiều đặcđiểm ngữ pháp trong điễn đạt của Nguyễn Tuân và các nha văn khác dé xác định
những cách tân của riêng ông;
0.5.2 Phương pháp thong kê ngôn ngữ học được sử dụng trong việc thu thập
các ngữ liệu cần thiết trong phạm vị nghiên cứu phục vụ cho nhiêm cụ nghiên cứu
Ngoài ra, các phân tích định lượng cũng được tiễn thành nhằm xử lí các số liệu và kết
quá khảo sát thực tế dạy học tuỳ bút Nguyễn Tuân;
0.5.3 Phương pháp điều tra — khảo sát được dùng đê lây ý kiên của các giáo
viên và sinh viên về thực tế day học tuỳ bút, thông qua việc thiết kế, phd biến và
hướng dẫn thực hiện phiêu khảo sát; ngoài ra, phương pháp nay còn được sử dụng dé
xử lí các kết quả khảo sát nhằm phục vụ các nội dung nghiên cứu
0.6 Đóng góp của khoá luận
Đề tải có những đóng góp có thé được kế đến như:
0.6.1 Bồ sung một bình điện tạo nên sức hap dan và tính chất phức tạp của
tuỳ bút Nguyễn Tuân: ngữ pháp: từ đó mở rộng nội hàm của “chit” trong quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân: “chữ” không chỉ la những sáng tạo ở phương điện tử
ngữ mà ở cả phương diện ngữ pháp — phương diện cũng mang tiềm năng tạo ra những
hiệu quả tu từ đáng kẻ;
0.6.2 Phát hiện, phân loại và gọi tên một số cách tân về ngữ pháp trong tuỳ
bút Nguyễn Tuân, xác định được hiệu quả tu từ và động cơ của hành vi cách tân; chi
ra được đâu thực sự là những cách tân của riêng Nguyễn Tuân từ những hiện tượng
ngữ pháp mới mẻ ấy;
Trang 170.6.3 Để xuất được một hệ thông những nguyên tắc dạy học đọc hiểu tuỳ bút
Nguyễn Tuân từ các phân tích về ngữ pháp; xác định được những bắt cập của thực tếđạy học từ bình diện ngữ pháp thê loại - những nguyên nhân làm cho những nguyên
tắc nói trên trở nên cấp thiết
0.7 Cầu trúc khoá luậnNgoài phan Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham kháo, chính văn của
khoá luận được chia thành ba chương:
Chương 1 Những vấn dé chung
Trong chương này chúng tôi chủ yêu làm rõ một số van đề có ý nghĩa cơ sở
cho dé tài như các khái niệm, quan điểm, kết luận về các chuẩn ngữ pháp trong các
tải liệu, công trình Ngừ pháp học và các khái niệm Thi pháp học hữu quan Bên cạnh
đó, chúng tôi còn xác định rõ quan niệm “cach tân ngữ pháp” trong đề tài nhìn từphong cách tác gia và phong cách thé loại; trình bay va phân tích các cơ sở thực tế
như kết quả khảo sát thực trạng day học tuỳ bút Nguyễn Tuân (của riêng dé tài và ở
các công trình trước), vai trỏ, vị trí của tuỳ bút nói chung và Newoi lái do sông Da
nói riêng trong Chương trình Ngữ văn 2018 và lịch sử đọc hiéu — tiếp nhận văn học
của học sinh.
Chương 2 Những cách tân vềngữ pháp của Nguyễn Tuân trong tuỳ bút
Trong chương 2, chúng tôi sẽ trình bày một số biểu hiện vẻ cách tân ngữ pháp
trong tuỳ bút Nguyễn Tuần, lần lượt ở bình diện từ pháp và bình điện cú pháp Trong
quá trình dẫn ra những biêu hiện đó chúng tôi cũng đông thời phân tích, đối sánh
chúng với chuẩn ngữ pháp thông dung va chỉ ra hiệu quả tu từ của diễn đạt
Chương 3 Đề xuất nguyên tắc dạy học đọc hiểu tuỳ bút của Nguyễn Tuân
Trong chương cuối cùng, chúng tôi sẽ dé xuất ba nguyên tắc trong day học đọc
hiểu tuỳ bút của Nguyễn Tuân nhìn từ những cách tân ngữ pháp đã phân tích trong
chương trước.
Trang 18Theo Diệp Quang Ban (2016a: 5), mỗi ngôn ngữ được hình dung gồm hai bộ
phân lớn: bộ các yếu tố ngôn ngữ và bộ các quy tắc hoạt động của các yeu tố ay Bo
các quy tắc hoạt động của các yếu tổ một ngôn ngữ được gọi là ngữ pháp của ngônngữ ay Ngữ pháp của một ngôn ngữ tôn tại một cách khách quan, có thé được cácnhà nghiên cứu phát hiện ra Một phân môn của Ngôn ngữ học chuyên lay ngữ pháp
là déi tượng nghiên cứu được gọi là Ngữ pháp học Theo các tác giả Hoàng Dũng,
Bui Mạnh Hùng (2007: 62), Nei pháp học hiệu ngắn gọn là một phân môn của Ngôn
ngữ học nghiên cứu hình thái của tử và quy tắc cau tạo ngữ va câu Trong nghiên cứu
tiếng Việt, Ngữ pháp học bao gồm hai phân ngành nhỏ hơn là Từ pháp học? và Cú
pháp học.
1.1.1.1 Những van đề Từ pháp học
Một trong những đỗi tượng nghiên cứu trung tâm của Từ pháp học tiếng Việt
là vẫn đề từ loại, theo đó, bộ tiêu chí định loại từ tiếng Việt bao gồm: ý nghĩa khái
quát và hình thức ngữ pháp (bao gồm khả năng kết hợp và chức năng cú pháp) trong
đó hình thức ngữ pháp mới là tiêu chí quyết định Bằng các tiêu chí đó, về đại thé hệthông từ loại của các ngôn ngữ thường có các từ loại phô biến như danh từ, động từ,
tinh từ, trạng từ, đại tử, lượng từ, giới từ, liên từ, than từ
Với nhiệm vụ nghiên cứu ngôn ngữ tuỳ bút của Nguyễn Tuân, chúng tôi quan
tâm đến ba loại từ cơ bản: danh từ, vị từ và kết từ, trên cơ sở tham khảo các nghiên
' Trong phần nay, nếu không nói gi thêm, các khái niềm trình bảy được mặc định dẫn theo Giáo trùnh
Dan luận Ngôn ngữ học (Hoàng Dũng = Bui Mạnh Hing) va chỉ bao gom các khải niệm can thiết cho nhiện
vụ nghiền cứu ngữ pháp tuỷ but của Nguyễn Tuân.
2 Tử pháp học vốn là Hình thái học, một phân ngành Ngôn ngừ học nghiên cửu ngừ pháp của từ, gôm
cầu tạo từ, hình thá:từ và từ loại Trong các ngôn ngữ biên hình,nhiệm vụ nghiên cứu hình tháicủa từ là kha thi và quan đọng Trong các ngôn ngữ không biển hình, nhiệm vụ nghiên cứu hình thái của từ không có hiệu lực Vì vậy chỉ nên gọt là Từ pháp học.
Trang 19cứu về các lớp từ cơ bản kê trên, cách định danh và phân chia tit loại của một số quan
điểm ngữ pháp và thực tế sử dụng ngôn ngữ trong tuỳ bút của Nguyễn Tuân
Danh từ là lớp từ có ý nghĩa từ vựng khái quát là ý nghĩa thực thê Trên cơ sở
là tính [+ đơn vị] có thé chia đanh từ thành 2 loại là danh từ đơn vị và danh từ khối,
được đánh dấu bằng khả năng kết hợp với phân lượng từ “nửa” và khả nang chỉ phốiđịnh ngữ miéu tả.
Trong tiếng Việt, nhóm từ thường được coi là động từ và tính từ không có khácbiệt về hình thức ngữ pháp, từ đó hình thành một từ loại mới gọi là vj te Vì vậy, có
thê nói, vị từ chính là kết quả của việc bỗ sung tiêu chí định loại (khả năng kết hợp
và chức năng cú pháp) trong nghiên cứu Việt ngữ Nhu vay, trong tiếng Việt, có thexác định vị từ là lớp từ biểu hiện sự tình (hành động, quá trình, trạng thái, đặc trưng,
tư thé), có kha năng kết hợp với dang, sẽ, vừa, từng và thường làm vị ngữ trong
câu Vẻ van đề vị từ trong nghiên cứu ngữ pháp tuỷ bút Nguyễn Tuần, có những quan
diém cơ sở sau:
1/ Theo Cao Xuân Hạo (2005: 49), có nhiều cách đề phân loại vị từ, trong số
đó có cách phân loại vị từ theo diễn trị (số lượng diễn tố) của vị từ đó Theo đó, vị từ
được chia thành 4 loại: vị từ có điển tổ zero (sớm, khuya, muộn, nắng ), Vị từ cô
một diễn t6 (chay, bay, bò ) vị từ có hai diễn tố (cắn, nhổ, xây ) , vị từ có ba diễn
tô (ban, biểu, nhan ) Việc xác định vị từ theo tiêu chí diễn trị cho thay đâu là loại
vị từ không can bỗ ngữ, dau là loại cần có thể đi kèm một bỗ ngữ, đâu là loại có thể
đi kèm hai hay ba bô ngữ
2/ Cũng theo Cao Xuân Hạo (2005: 57) bỗ ngữ của vị từ trong ngữ vị từ có
thể chia làm hai loại: bê ngữ trực tiếp (loại bô ngữ có thê đi trực tiếp với vị từ) và bo
ngữ gián tiếp (loại bô ngừ không thé đi trực tiếp với vị từ mà bị ngăn cách với trung
tâm bởi một chuyên to) Ví dụ, trong “(Nam) doc một quyền tiêu thuyết” thi "mộtquyền tiêu thuyết” là một bỗ ngữ trực tiếp, còn *(Tôi) mua cho Nam cuốn sách” thì
“Nam” là bô ngữ gián tiếp
* Hoàng Dũng, Nguyễn Thị Ly Kha (2008: 288-267)
Trang 203/ Những ngữ vị từ tinh thái bao ham nghĩa mức độ rất, hoi, khí, qua, không
thé có bỏ ngữ là một ngữ vị từ chỉ hành động, quá trình, tư thé và một số ngữ vị từchi quan hệ như bang, hơn, kém, như, thua Chang hạn: *rat làm, *guá nói, *hơiđứng Srát bang anh, *rát như anh, *qua kém anh
4/ Trong số các diễn tố có thể có của một ngữ vị từ trong câu, theo Cao Xuân Hạo (2005: 62) trừ tham tố được đưa lên dau câu làm phan Dé, tắt cả các tham tố còn
lại đều trở thành bổ ngữ của ngữ vị từ làm phần Thuyết của câu Trật tự của các bô
ngữ này tuân theo quy tắc sau: (1) Các bé ngữ là các điễn tổ đứng liền ngay với trung
tam, các bỗ ngữ là các chu tô đứng sau; (2) Nếu ngữ vị từ có một hay nhiều ngữ vị từ
khác làm bô ngữ thì các bô ngữ chi hành động liên đới chỉ phương thức, chỉ hướngđứng liền ngay sau trung tâm rồi mới đến các bô ngữ là diễn tố, chu tổ; (3) Nếu ngữ
vị từ có bé ngữ là một ngữ vị từ chỉ kết quả thì ngữ vị từ đó có thê đứng liền sau trung
tâm hoặc có thé đứng sau bé ngữ chỉ diễn to
Kết từ là lớp từ có ý nghĩa khái quát biêu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái
niệm và đôi tượng được phản ánh Kết từ đánh dau quan hệ cú pháp giữa các thực từ
(và hư từ) một cách tường minh' Dựa vào ý nghĩa ngữ pháp kết từ được chia làmnhiều loại như kết từ chỉ quan hệ sở hữu, kết từ chỉ quan hệ nguyên nhân, kết từ chỉquan hệ mục dich*
1.1.1.2 Những vấn đề Cứ pháp học
Cú pháp học là một phan ngành của Ngữ pháp học, chuyên nghiên cứu ngữ
pháp câu gồm quy tắc cau tạo ngữ đoạn và quy tắc cầu tạo câu (hay nói như Diệp
Quang Ban (2016a: 32), "những cách kết hợp các yếu tổ ngôn ngữ và thường quy ước
tính từ từ trở lên”) Từ các kết luận trên, có thé phân chia thành 2 bậc bên trong cú
pháp học: cứ pháp ngữ đoạn và cú pháp câu.
© Cú pháp ngữ đoạn nghiên cứu sự kết hợp giữa các từ thành những tô hợp
có ý nghĩa, được gọi là ngữ đoạn Ngữ (ngữ đoạn) là đơn vị dam nhiệm một chức
# (Điệp Quang Ban 2016a: 152)
* Trong đó, dé tai quan tâm đến các kết từ chi quan hệ vi trí - không gian “trong”, “ngoái”, “ước”,
“sau” với kha năng kết hợp với danh từ để cấu thành giới ngữ (inh Thanh Huệ 2002: 9).
Trang 21nang cú pháp nhất định trong câu Xét về cau tao, ngữ có thê gồm một tir hoặc nhiều
từ Sự khác nhau giữa từ và ngữ không phải là kích thước, mà là chức năng của chúng:
trong khi từ là đơn vị của ngôn ngữ, thì ngữ là đơn vị lời nói, mang một chức năng
của pháp nhất định trong một câu nói cụ thẻ
Theo Diệp Quang Ban (2016a: 33), ca pháp ngữ doan® quan tâm đến hai van
đề lớn: số lượng quan hệ ngữ pháp (xem ngữ đoạn là các tổ hợp từ có kiểu quan hệ
chính phy, hay kể cả các tô hợp từ có kiều quan hệ bình dang và kiểu quan hệ vị) và phẩm chất các thành tổ (xem thành t6 của ngữ đoạn chỉ gồm riêng các thực từhay là kê cả các hư từ) Ở bình diện sé lượng quan hệ ngữ pháp, xuất hiện khái niệm
chủ-thành phan phụ của từ Thành phan phụ của từ là từ ngữ phụ thêm vào một từ hay
một cụm từ đang giữ một chức vụ ngữ pháp nào đó trong câu Các thành phần phụ
của từ như bô ngữ, định ngữ, trạng ngữ (của từ), phụ ngữ (của từ), giải ngữ (của từ).trong đó, dé tài quan tâm đến định ngữ va giải ngữ khi tìm hiểu ngôn ngữ tuy bút của
Nguyễn Tuân.
Định ngữ là thành phan phụ sau của danh từ, nêu lên những đặc trưng của vật
do danh từ ấy biéu thi, cùng với danh từ ấy thiết lập nên một danh ngữ Đặc biệt, đểphục vụ quá trình nghiên cứu vẻ định ngữ trong tuỳ bút Nguyễn Tuân, cần phải sửdụng kết luận phân loại định ngữ của các tác giả Hoàng Dũng Nguyễn Thị Ly Kha
(2007: 1) trong bài viết Về các thành tổ phụ sau trung tâm trong danh ngữ tiếng Việt,
cho rằng định ngữ được chia thành hai loại: “dinh ngữ hạn định (restrictive adjunct)
có tác dụng thu hẹp ngoại dién của khái niệm do danh từ trung tâm biểu thị và định
ngữ trang trí (epitheton ornantium) chỉ sự thông báo thêm một phẩm chat bộ sung của
đôi tượng biểu thị" Trong bài viết Danh từ và các tiểu loại danh từ tiếng Việt một
năm sau đó, hai tác giả Hoàng Dũng, Nguyễn Thị Ly Kha (2008: 265) đã kết luận về
mô hình cấu trúc danh ngữ tiếng Việt đầy đủ nhất như sau:
® Diệp Quang Ban gọi B “cú pháp cụm từ”.
Trang 22Bang 1 Mô hình cấu trúc danh ngữ tiếng Việt
Gail Thanh phan phụ trước Thanh phan phy sau
chức năng và tính võ đoán trong cách định danh của tiếng Việt cho rằng trong các
ngữ đoạn có danh từ đơn vị đứng ở dau, trung tâm ngữ 1a danh từ đơn vị, có chức
năng danh hoá các yếu tô sau nếu chúng là các vị từ và “dua vào ngữ đoạn cái vật
tính mà yếu tố sau con thiểu đề trở thành những danh ngữ đếm được"
Bên cạnh định ngữ, giải ngữ của từ cũng là một thành phan quan trọng khi
nghiên cứu những cách tân ngữ pháp của Nguyễn Tuân Giải ngữ của từ là thành
phần ngữ pháp đùng đề thuyết minh thêm nội dung hay giải thích, b6 sung thêm khíacạnh nào đó cho từ Giải ngữ về mặt cau tạo là những thực từ, những ngữ, nhữngcâu Trên chữ viết, giải ngữ thường được tách biệt bằng dấu hai chấm, dấu gạchngang dau phây, dau ngoặc đơn
© Ct pháp câu nghiên cứu việc xác định câu và cấu tạo ngữ pháp bên trong
của câu, bao gồm cả việc phân loại câu Trong đó, câu là đơn vị lời nói nhỏ nhất được
ding dé giao tiếp, là đối tượng nghiên cứu cơ bản của Ngữ pháp học và là khái niệm
trung tâm của mọi lí thuyết ngữ pháp Các thành phần của câu bao gồm thành phần
chính (hay thành phần nòng cốt) và các thành phan phụ (hay thành phần ngoài nòngcốt) Các thành phan phụ của câu mà đề tài quan tâm, bao gồm trạng ngữ và giải ngữ
Theo đó:
Trạng ngữ là bộ phận ngoài nòng cốt câu, có cầu tạo là một danh ngữ, có thẻ
đứng trước, sau hoặc xen ngang các thành phan nỏng cốt; dùng dé bồ sung thông tin
Trang 23cho câu Theo Nguyễn Minh Thuyết (2004: 355), trạng ngữ thường nhằm lẫn với vị
ngữ đồng chức vì sự thé hiện của chúng trong câu thường giống hết nhau: về vị trí
và khả năng giản lược.
Giải ngữ của câu, theo Diệp Quang Ban (2016b: 173), thường đứng giữa hoặc
đứng sau nòng cốt câu cũng có kiêu thường đứng trước nòng cốt câu (đó là kiểu mang ý nghĩa liệt kê) Giải ngữ của câu được ding dé làm sáng tó thêm về một phương diện nao đó liên quan gián tiếp đến câu làm cho người ta hiểu câu nói đúng
hơn, rõ hơn Thông thường nó có tác dụng bé sung các chỉ tiết, bình phẩm việc nói
trong câu làm rõ xuất xứ, làm rõ thái độ, cách thức thứ tự khi câu được diễn đạt
1.1.2 Những vấn đề Thi pháp học hữu quan trong nghiên cứu ngôn ngữ
tuỳ bút Nguyễn Tuân
Khi nghiên cứu về những cách tân ngữ pháp của Nguyễn Tuân trong tuỳ bút,
nêu những vấn để ngữ pháp học có ý nghĩa chỉ ra chính xác một điễn đạt trong đó
mang một cau trúc cú pháp được cách tân thì những van dé thi pháp hoc sẽ cỏ vai trỏ
lí giải tính chất khuynh hướng của hành vi cách tân đó, nghĩa là chỉ ra vì sao lại phải
cach tân, va vì sao những cách tân ngữ pháp của một tác giả lại có xu hướng di theo
lỗi biến tau nay chứ không phải lối biến tấu khác, trên cơ sở là đặc trưng của ngôn
ngữ văn học và hiện tượng tác giả trong trường hợp đang xét Với nhiệm vụ như thế.
trong những van dé Thi pháp học hữu quan khi nghiên cứu tuỳ bút Nguyễn Tuan, van
đề định ngữ nghệ thuật (hay hình dung từ) và các thủ pháp “lạ hoa” là hai vấn dé thi
pháp tac gia có một sự liên đới dang lưu tâm với khía cạnh ngữ pháp trong nội dung
nghiên cứu của đề tài
1.1.2.1 Khái niệm định ngữ nghệ thuật
Trước hết, cần phải khăng định răng, các định ngữ trong các tác phẩm văn học
là định ngữ nghệ thuật, một khái niệm cần có dé phân biệt với định ngữ thông thưởng.
Theo Tir điển thuật ngữ văn học, “dinh ngữ nghệ thuật (hay hình dung ngữ, tính ngữ nghệ thuật) là một phương thức chuyền nghĩa, trong đó, một từ (hoặc một cụm từ)
đóng vai trỏ phụ nghĩa cho một từ (hoặc cụm từ) khác nhăm làm nôi bật một đặc điểm
Trang 24nao đó của đối tượng dé tạo nên an tượng thâm mi”’ Định ngữ nghệ thuật trong quan
niệm này phan nao có sự gặp gỡ với khái niệm định ngữ trang trí dùng đề “chi sự
thông báo thêm một phẩm chất bô sung của đối tượng biểu thị” mà tác giả HoàngDũng và Nguyễn Thị Ly Kha (2007: 1) đã dé xuất trong một công trình nghiên cứu
về thành phần phụ sau của danh ngữ
Xét về mặt ngữ pháp, định ngữ nghệ thuật và định ngữ thường không có quá nhiều khác biệt, nhưng xét ở bình diện tu từ, trong khi “dinh ngữ thường chỉ có ý
nghĩa xác định đặc điểm vốn có của sự vật, hiện tượng, không đem lại hiệu quả thẳm
mĩ; định ngữ nghệ thuật mang lại một ý nghĩa mới cho sự vật, hiện tượng, không chỉ
ý nghĩa vốn có mà còn ý nghĩa có thê có tạo cảm xúc cho người doc, người nghe”,
Ví dụ, trong “Đầu xanh đã tội tinh gì” hoặc “Rừng phong thu đã nhuom màu quan
san” (Truyện Kiều), “xanh” và “quan san” là các định ngữ nghệ thuật Khi đó, thành
phan ngừ nghĩa được xác lập trong từ điển của “xanh” vả “quan san” đã có phan gia
giảm.
1.1.2.2 Khái niệm hinh dung từ
Hình dung từ là một loại từ ngữ xuất hiện một cách thường xuyên trong văn
xuôi Nguyễn Tuân, được Lã Nguyên khởi xướng đề cập trong một tiểu luận của mình Bàn đến hình dung từ trong các sáng tác của Nguyễn Tuân, La Nguyên (2018: 138)
cho rằng “Chất liệu chủ yeu cần được sử dụng đẻ mô tả hình tượng chỉ có thé là hình
dung từ Nhà văn càng sáng tạo nhiều hình dung từ dé mô tả con người và sự vật,
hinh tượng nghệ thuật cangin đậm dầu ấn phong cách cá nhân, và vi thé, nó càng trở
thành sức mạnh cưỡng bức, áp đặt đối với sự tiếp nhận thâm mĩ của độc gia” Trongquan niệm của tác giả dưới bình diện thi pháp, hình dung từ được xem là một kiêu từ
ngữ mang chức năng gợi ta, chứ không phải là một tử loại với các đặc trưng ngữ pháp khu biệt như bình diện ngữ pháp học.
Như vậy, nếu đặt đưới lăng kính ngôn ngữ học, hình dung từ lập tức hiện lên
như một đối tượng thuộc về địa hạt ngữ nghĩa Tuy nhiên, một điều đáng lưu ý là
? Trần Dinh Sử (2018: 119-120)
% Trắn Đình Sử (2018: 119-120)
Trang 25trong bài viết của mình nhà nghiên cứu La Nguyên (2018: 138) đồng thời khang
định: “Nó (hình dung từ) có nhiệm vụ gọi tên sự vật, mô tả đặc điểm, trạng thái củachủ thé, chứa không thông tin sự kiện Vì thế, đây bộ phận cơ bản làm nên nội dung
của hình tượng văn bản, hình tượng tác phẩm"
Như vậy, các hình dung từ trong ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Tuân có xu
hướng đi kèm với đối tượng trung tâm được miều tá, theo một phương thức kết hợp
đặc biệt, có tác dụng làm cho hình dung về doi tượng sự vật trở nên rõ nét hơn, hoàntoản không bị rảng buộc bởi các quy tắc ngữ pháp đặc biệt như một đơn vị của ngôn
ngữ.
1.1.2.3 Khái niệm /a hod
Sklovski (2007: 82) trong bai viết Vghệ thuật như là thủ pháp khi đề xuất khái
niệm /a hod trong sang tạo nghệ thuật mà khi soi chiều vao từng trang tuỳ bút của
Nguyễn Tuân, có một sự trùng khớp đáng kế: “Mục đích của nghệ thuật là đem lại
cảm nhận về sự vật như đã nhìn thay mà không phải đã nhận biết nó: thủ pháp của
nghệ thuật là thủ pháp lạ hóa các sự vật và tạo ra một hình thức khó hơn, lam cho sự
cảm thụ trở nên khó hơn và dài hơn, vì quá trình cam thụ trong nghệ thuật mang tính
mục đích tự than và phải kéo đài ra; nghệ thuật là sự cảm nhận cách làm ra sự vật,
còn cái được làm ra trong nghệ thuật thì không quan trọng”.
Trong qua sang tác của nha văn, theo Sklovski, người viết phải có gắng tạo ra
những dién đạt mới mẻ, thú vị, hap dan làm người đọc bắt ngờ Ý nghĩa của văn học
nam ở việc “tao ra một hình thức khó hơn, làm cho sự cảm thụ trở nên khó hơn va
đài hơn” Nhìn đưới góc độ này, Nguyễn Tuân và tuỳ bút của ông chính là một minh
chứng tiêu biéu
Sklovski (2007: 80) cho rằng đặc điểm nỗi bật của tư duy nghệ thuật hiện đại
là hành vi “la hoá” thông qua các thủ pháp nghệ thuật Sự phân biệt các thủ pháp la
hóa thường đi theo hai hướng: kiểu Plato và kiểu Aristotle Theo kiểu Plato, lạ hóa
tập trung vào những nhận thức mang tính tư tưởng bên dưới bề mặt của các hiệntượng, được nghệ sĩ khai thác và triển khai vảo hình tượng nghệ thuật (kiểu lạ hoá
Trang 26Bên cạnh đó, là những nhà nghiên cứu đầu tiên dùng khái niệm la hod dé
nghiên cứu Nguyễn Tuân có thé kể đến là Bùi Thị Anh Chung (2007) với luận văn Phong cách Nguyễn Tuân qua tuy bút kháng chiến (1946 - 1954) và Đỗ Ngọc Thông (2011) cũng là một nhân tố có những đóng góp đáng ghi nhận?.
1.1.3 Quan niệm cách tan ngữ pháp trong đề tài
Trước khi đi vào phân tích những van dé ngữ pháp, thiết nghĩ cần vạch ra một
phạm vi nghiên cứu với những đặc điểm cụ thể hơn đối với đối tượng trung tâm là
“những cách tân ngữ pháp” Chúng tôi nghĩ rang đây là một thao tác can thiết vi
nó góp phan xác định những tiêu chí lựa chọn cho quá trình khảo sát và phân tích đối
tượng, giúp quá trình ấy diễn ra hiệu quả hơn qua đó có thê xác định được chính xác
đâu là lối diễn đạt đã có, đâu là cách tân thực sự của Nguyễn Tuần
Quan niệm vẻ “cach tân ngữ pháp" trong đề tai được hiểu đồng thời theo haicách Thứ nhất, cách tân được chúng tôi hiểu là sự “chống lại” những nguyên tắc ngữ
pháp cơ bản của người Việt đã được xác định và ghi nhận trong các sách, giáo trình
ngữ pháp học!° Ở cấp độ nay, “cach tân ngữ pháp” được xem là một sự sáng tạo củaNguyễn Tuân, ghi dấu công lao của nhà văn trong hành trình làm mới chữ nghĩa
Thứ hai, những hiện tượng trong đó nha văn cô ý làm “sai lệch” đi các cấu trúc
ngữ pháp thông dung, tạo ra một diễn đạt mới lạ, bat ngờ, nhưng đã có tiền lệ (sự khai
thác từ các nha văn khác) vẫn được xem là “cach tân ngữ pháp” nếu trước đó chúng
chỉ xuất hiện một cách tản mạn, rời rac, có thé hiện nỗ lực làm mới ngôn ngữ của
người viết nhưng chưa xuất phát từ một định hướng hoặc một quan niệm rõ ràng.
Trong khi đó, với sự biến tau ngôn ngữ của Nguyễn Tuân, những “cach tân ngữ pháp”
Ð{x Neu yen Tuân và phép “la hóa ” trang van)
t8 Trong dé tải, chúng tôi gọi chung đây là kiểu “net pháp thông dụng” “ngữ pháp thông thường”.
"chuẩn ngữ pháp”.
Trang 27đạt có cách tân, Điều này có nghĩa, nếu dién đạt quả thực được cấu trúc theo một lối
ngữ pháp “bat thường” nhưng hoàn toàn không gây ra được hiệu quả tu từ ít nhất là
so với cách diễn đạt thông dụng có củng nội dung, thì vẫn không thê xem đó là một
“cách tân ngữ pháp” Đến lượt mình, những dién đạt được cách tân phải lấy giá trị tu
từ làm cứu cánh, bằng không, chúng chỉ được xem 1a những cách nói rườm ra, thiểu
tự nhiên, hoàn toàn xa lạ với đời sống lẫn văn học
Bùi Thị Anh Chung (2007: 73) trong luận văn Phong cách Nguyễn Tuân quatuÈ bút kháng chiến (1946-1954) đã khang định rằng những câu văn tuỳ bút của
Nguyễn Tuân thé hiện sự phức điệu như là một tất yêu của “cá tính của nhà văn và
sự chi phối của thé loại tuỳ bút” Hai nguyên cớ sâu xa nhưng mạnh mẽ ấy có thẻ
nói là một nguồn cơn cho bat kì những cách tân nào của Nguyễn Tuân trong ngôn
ngữ.
1.3.1.1 Cách tân ngữ pháp nhìn từ phong cách tác giả
Có một tiền de rat cơ bản mà bat ki ai nghiên cứu Nguyễn Tuân cũng phải thừa
nhận: Nguyễn Tuân viết văn với một phong cách tài hoa, uyên bác và được xem là
bậc thầy trong việc sáng tạo và sử dụng tiếng Việt, Một đời làm van, Nguyễn Tuân
đã cho thay sự am tường rat sâu vẻ "tiếng ta”, đã đối xử với chất liệu đó theo ý thích
chủ quan của minh, phá tung mọi khuôn khổ tạo nên những ang văn xuôi đặc sắc Đọc những trang văn của ông, ta luôn thay sự biến hóa ngôn ngữ linh hoạt, trong cách
sử dụng câu táo bạo, độc đáo.
Trang 28Pau tiên, khi nói về phong cách tác giả — động cơ chủ đạo của hành vi cách
tân, không thé không nhắc đến hai đặc trưng tác giả có vai trò như nguyên nhân dan
đến việc Nguyễn Tuân không bao giờ dé yên cho câu chữ: thứ nhất, Nguyễn Tuân —nha văn duy mĩ ngông cuông, thứ hai, Nguyễn Tuân — “nha thơ bị đóng định trên cây
thập giá của văn xuôt"!,
© Nguyễn Tuân - nhà văn duy mĩ ngông cuồng
Nguyễn Đăng Mạnh (1981: 106), người đã có công lao tìm hiểu sâu sắc về
cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Tuân, cho rằng tác giả là “nhà văn của chủ nghĩa duy
mi, chỉ trọng cái đẹp hình thức không can nội dung chủ trương viết văn không khuynhhướng ” Xuất phát từ nhận định đó, có thé kết luận rằng những cách tân về ngôn
ngữ trong sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Tuân, trước hết là dé thỏa man nuông chiều
cái tôi dj biệt của minh Ông không mong cau sự thông cảm Nguyễn Tuân chơi đùavới chữ nghĩa là dé cho cái tài lỗi lạc của bản thân được thỏa sức vay vùng, bất chấp
cái hình thai sau cùng đạt được của chữ nghĩa, bat chap con mắt xét nét của những
nhà phê bình.
Có thê cho rằng, như một cách tự giải phóng khỏi môi trường chật hẹp xung
quanh, lôi tư duy cá biệt ay trong quá trình sáng tạo đã “xui” Nguyễn Tuân tìm đến
một hành vi cách tân liên tục Điều may mắn là, hành vi ấy đã vô tình gặp gỡ một tài
năng ve tiếng Việt, một bộ lọc nhạy cảm với ngôn từ, nên đã tạo ra vô vàn những
cách biêu đạt giàu kha năng gợi hình gợi cảm Lại Nguyên Ân (1998: 624) có lần
khen cầu văn Nguyễn Tuân trong sự liên hệ với cá tính có độc đáo của tác gia: “Con
người ông, phong cách ông cũng đẹp một cách độc đáo như câu văn ông, loại câu văn
có một không hai trong nghệ thuật ngôn từ tiếng Việt,
Mặt khác, Nguyễn Tuân, trong nghệ thuật, von là người không thích những gi
quá êm a, nhạt nhẽo, quen thuộc, ông coi dé là điều cam kj, cho nên trong những
trang viết của mình, nhà văn bao giờ cũng đặt ra yêu cầu về một “lôi chơi độc tấu",
LÍ (Mai Quốc Liên 1998: 203)
Trang 29trong đó thê hiện một nhu cầu cấp thiết về một sự cách tân tối đa, khiến người khác
không thê bắt chước được
Nghệ thuật của Nguyễn Tuân là thứ nghệ thuật mang mặc cảm trùng lặp Điều
đó thúc đầy Nguyễn Tuân phái vận động hết tắt cả nội lực để nghĩ và viết, bằng cách
đó, yên tâm rằng sẽ không có một ai có thê lặp lại mình Dường như trong những câu
từ mà nhà văn viết ra, bao giờ ông cũng gọi đúng tên sự vật, miêu ta đúng người,
đúng cảnh một cách tỉ mỉ và sâu sắc, nhưng nhất là không bao giờ đề cảnh sắc ấy lặp lại bat kì một lần nào trong khuôn miệng kẻ khác Tư tướng đó, Nguyễn Tuân đã hơn
một lần dé các nhân vật của mình giãi bày: "Là người lỗi lac, sống một cách rất đặcbiệt, không gidng ai và không cho ai bat chước được minh, chết là mang cả cái bản
chính đi chứ không đề lại một bản sao nguyên cao nào”1?,
Cũng cần phải nói thêm rằng, do mặc cảm trùng lặp may mắn gặp gỡ tải năng
ngôn ngữ trong cùng một Nguyễn Tuân, những cách tân của ông không bị thói ngông
cuông vô độ của minh tạo ra những “quai thai chữ nghĩa" Câu từ của Nguyễn Tuân
trước sau vẫn là cách nói của người Việt và mang đậm đấu ấn của đân tộc trong hồn
cốt Đọc một biéu thức ngôn ngữ của Nguyễn Tuân người ta rõ ràng nhìn thấy nó lạ
lam, chắc chắn rang mình chưa nói qua hoặc nghe qua đọc qua bao giờ, nhưng vẫn
mơ hỗ cảm thấy có một sự tự nhiên gần gũi Nói như Đỗ Ngọc Thống (201 1).Nguyễn
Tuân “không rơi vào bệnh “loạn ngôn”, “ngộ chữ”, “cudng thư” Ông viết như một
hành vi sáng tạo văn hóa sang trọng” hay như Vũ Đức Phúc: Câu văn Nguyễn Tuân
“có nhiều từ lạ tai, những kiêu ghép từ mới, những từ được dùng với nghĩa mới
nhưng rat Việt Nam và rất chính xác”1?
¢ Nguyễn Tuân — “nhà thơ bị đóng đỉnh trên cây thập giá của văn xuôi”
Trong cái nhìn của Mai Quốc Liên về cách Nguyễn Tuân lao động chữ nghĩa,
nhả nghiên cứu đã gọi nhà văn bằng một cái tên nhiều hình tượng: “nhà thơ bị đóng
đỉnh trên cây thập giá của văn xuôi” Trong cách gọi tên đó, Nguyễn Tuân được xem
là “nhà thơ”, nghĩa la người phải mang trách nhiệm nặng nề về chữ nghĩa, phải uốn
'2 Nguyễn Tuân (1969)
!Š Vũ Đức Phúc (1980)
Trang 30nắn từng con chữ một, một cách tỉ mân và thận trọng — một công việc vốn không phảicủa một tác giả văn xuôi Thế mới thay rang trong tuỳ bút Nguyễn Tuân, mỗi con chữđều mang giá trị của sự trau chuốt và gạn lọc, vất vả như cách một nha thơ đang viết
một bài thơ Nguyễn Tuân bước vào văn đàn khí ngôn ngữ văn học dân tộc đang trên
đà phát trién mạnh mẽ Tuy nhiên phải thừa nhận rằng Nguyễn Tuân là một trong số
ít những nhà van ma ngôn ngữ văn xuôi tiếng Việt hiện đại phải nợ ông một lời cảm
on, phong cách độc đáo cũng như tài nang sáng tạo ngôn ngữ của ông đã được nhiều
nhà nghiên cứu công nhận !Ý,
Nói thé dé thay được rằng cuộc đời Nguyễn Tuân vì tiếng Việt mà phan đấu
rat nhiêu Ông không phải là người đi tiên phong nhưng lại có vai trò không thé thiểu
trong việc kế thừa, khang định và phát triển ngôn ngữ dan tộc lên một tam cao mới
Nguyễn Tuân là người say mê tiếng Việt Đó là động cơ thứ hai trong việc cách tân
ngôn ngữ ở Nguyễn Tuân Nguyễn Tuân không chỉ là người yêu tiếng Việt, có ý thức
giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt mà hơn hết là ông có ý thức cao độ trong việc
sáng tạo ra cách sử đụng tiếng Việt sao cho đạt được hiệu quả nghệ thuật cao nhất.
Ong đã tim tòi tích luỹ, khai phá ra vô van những khả năng mới của từ, của tiếng, tạo
ra trường nghĩa bất ngờ, những câu văn tự nhiên
Dưới góc độ này, tiếng Việt với Nguyễn Tuân, có thể suy rộng ra, bao hàm cả
van dé vé ngtr pháp Tất ca những nhận định về sự cách tân ở phương điện từ vựng
được cách nhà nghiên cứu đúc kết, déu có thé áp dụng gần như tuyệt đối cho nhữngcách tân vẻ ngữ pháp của Nguyễn Tuân Điều đó giải thích vì sao đọc van Nguyễn
Tuân, nhiều khi người ta thấy ngôn từ thì rất lạ, nhưng ở một phương điện khác, câu
văn thì cũng trúc trắc, khúc khuyu, ghập ghénh như sóng thác sông Đà
Sự lao động bên bi ấy xuất phát từ mong muốn khám phá đến tận cùng khảnăng biêu đạt của tiếng Việt, hành vi cách tân vì thé ma cũng diễn ra xuyên suốt trong
'® Không phải ngẫu nhiên ma dong loạt các nhủ nghiên cứu đẻu gọi chung ông là “thay chữ", Hoài Anh cho ông là “nha nghệ si ngắn từ đã đưa cáiđẹp thăng hoa” ,MaiQuốc Liên cho ông lä * "Bậc thắy của nghé
thuật ngôn tử Việt Nam” Ngay đến chỉnh Ong cing tự nhận lay cho minh một vải danh hiệu: Nguyễn Dinh Thi
tửng kẻ lại rằng “ Trong một bản tựkhai sơ yêu lý lịch để giữ trong phòng tổ chức của cơ quan ở mục trình độ
chuyên môn, Nguyễn Tuân đã ehi: "Chuyên viên tiếng Việt Nam’ Ở mục trình độ văn hóa ôngehi: “Sáng tạo
văn học”” (Tên Tháo Mn 2002)
Trang 31sự nghiệp sáng tác của nhà van Cho đến khi nào còn tin vào khả năng biểu hiện ay,
Nguyễn Tuân còn tiếp tục cách tân dé làm mới ngôn ngữ, 1am giảu thêm cho ngôn
ngữ của nước mình.
Nguyễn Tuân đã đặt ra những van dé cho những người cầm bút phải suy nghĩ:
*Tôi nghĩ trong sang không khi nao lại có nghĩa là dam bạc là nghèo com trong từ
vựng đem ra dùng, trong cách cảm, trong cách nghĩ và nhất là trong cách nói ra những
suy nghĩ đó Trong sáng không có nghĩa là đơn điệu Trên cơ sở cộng đồng của ngôn ngữ Việt Nam càng ngày càng phái giàu có phan chan lên nữa, mỗi người viết văn
chuyên nghiệp phải có lẫy cái phong cách cái vẻ riêng của mình về sự trong sáng"!*,
1.1.3.2 Cách tân ngữ pháp nhìn từ phong cách thé loại
Vẻ thé loại tuỳ bút, Tir điển thuật ngữ văn học định nghĩa đây “1a một thẻ văn
thuộc loại hình ki, rat gần với bút ki, kí sự Nét nôi bật ở tuỳ bút là qua việc ghi chép
những con người và sự kiện cụ thé có thực, tác giả đặc biệt chú trọng đến việc bộc lộ
cảm xúc, suy tư và nhận thức đánh giá của mình về con người và cuộc sống Câu trúc
của tuỳ bút nói chung, không bị ràng buộc, câu thúc bởi một cốt truyện cụ thẻ Song
nội dung của nó vẫn được triên khai theo một cảm hứng chủ đạo, một tư tưởng chủ
đề nhất định Ngôn ngữ tuỳ bút giàu hình ảnh và chat tho”,
Điều đáng lưu tâm là từ điển cũng đồng thời khang định: “GO Việt Nam,
Nguyễn Tuân là nhà văn viết tuỳ bút nỗi tiếng” Bởi lẽ, hiếm có nhà văn nào mang
tên tuôi của mình gắn liền với cả lịch sử một thể loại, được như Nguyễn Tuân
Trong lịch sử văn chương dân tộc, “tuỳ bút” xuất hiện khi Phạm Đình Hồ viết
Vũ Trung tre} bit Van đề là chữ “tuỳ bút! ở đây không mang ý nghĩa định tính cho
một thé loại Ở tác pham nay, trước sau đều không có cái chat “chủ quan độc tau”,
*đặc biệt chú trọng đến việc bộc lộ cảm xúc, Suy tư và nhận thức” mà người viết đemlại Vì thể, nhiều nhà nghiên cứu đã đồng thời phủ định tính chất của một thê loại
'S Nguyễn Tuân (1996c: 152)
6 Tran Dinh Sử (1999: 323-324)
Trang 32trong Vũ Trung tuy bút và cho rằng không nên chỉ xác định thê loại dựa vào nhan đề
tác phẩm
Trong khi đó, công lao khai phá của Nguyễn Tuân càng được tô đậm khi
Trương Chính (1998: 53), một trong những nhà nghiên cứu đi đầu đã quả quyết
*Trong văn học hiện đại, có lẽ Nguyễn Tuân là người dau tiên dùng đến chữ £„} bút".
Trong bài viết Nguyễn Tuân và thể tay bút, nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn(1998: 147) thông qua sự dé cập đến mối tương liên của Nguyễn Tuân và Tản Da, vềcái chat lãng tử của cả hai người cam bút, sự lịch đuyệt và am hiểu văn hoá phương
Đông: đồng thời đã dẫn ra sự kiện Tan Đà đã tự thể nghiệm trên nhiều lĩnh vực văn
xuôi với mong muốn tim ra được một thê tai trong đó phát huy được cái “ngông” của
người viết, đã tạm gọi thé loại ma Tan Da đã đặt được một chân lên đó là tan van và
khang định rằng: “Nhimg mong mỏi của Tan Đà sẽ được Nguyễn Tuân tìm cách thê
hiện trong những điều kiện thời đại cho phép Tuy bút Nguyễn Tuân ở phương điệnnày, chính là sự kéo dai của tản văn Tan Đà đến một trình độ ma Tan Đà chưa thê
nóng bỏng của xã hội Tuy nhiên, nhà nghiên cứu cũng nói thêm, trong tình hình văn
học lúc bay giờ, nỗi lên một thứ nhu cầu của cả người viết lẫn người đọc về một thê
tài mà ở đó, “cái phần chủ quan của người viết hin rõ, khiến cho sự phản ánh khách
quan trở nên quanh co hon, qua một sự khúc xa rắc rồi hơn, song lại mang tới một
niễm vui la kì cho bạn đọc” Dù các tác phẩm đầu tiên được đón nhận của Nguyễn
Tuân bị ông cô gắng gò thành tiêu thuyết - thé tải thé hiện rõ nhất bản lĩnh của nhà
văn theo quan niệm lúc bấy giờ — chúng vẫn mang trong mình cái biểu hiện trùng
khớp nhất với những nhu cau kê trên của thời đại Đó cũng chính là hoàn cảnh ra đờicủa một thẻ loại mà về sau giới nghiên cứu đã nhiều lần nhìn lại và khăng định VươngTrí Nhàn (1998: 147) cũng đã tri ân đến Nguyễn Tuân bằng những lời phê bình nhiều
Trang 33giá trị: “Nếu chúng tôi không nhằm thì đây là lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân
tộc, một nhà văn đã bắt tay vào làm công việc “khai sơn phá thạch” cho một thể tài
mà trước minh không có, nhưng khi thê tài đã định hình rồi thì ai cũng cảm thay làtrong “đội hình” của các thé tai văn xuôi nói chung không thé thiểu nó, và phải có nó,
thì một loại nhà văn đặc biệt nào đó mới có dịp phô diễn tài nang”.
Không chỉ dé cao Nguyễn Tuân như một người đã có công bê khuyết cho bức tranh thể loại của văn chương Việt Nam hiện đại thêm phần hoàn chỉnh, Vương Trí Nhàn (1998: 147) cũng đồng thời khăng định tài năng của Nguyễn Tuân trong việc
hoàn thiện thé loại, đây đặc trưng thé loại ay đến mức toàn bích làm cho thé loại đó
có được một chỗ đứng nhất định trên sơ đò loại thé, có thể ngang mặt tự hào với
những thé loại khác vốn đã được ưu ái lâu đời - một công việc phải cần đến một tập
thê các nhà văn củng thực hiện, trong một quá trình lịch sử lâu dài: *Ông là nhà tuỳbút số một của văn học Việt Nam hiện đại; sau ông người ta mới gượng gạo nhắc tới
vài tên tuổi khác cũng có đôi ba phen thử sức trong nghé — ấy là sau khi họ đã phải
vượt qua con đường khôn khó, hai bên là hai cái vực: hoặc là viết giống Nguyễn
Tuân; hoặc không phải tuỳ bút”.
Từ những định nghĩa vẻ thé loại tuỳ bút và những khang định về mỗi tương
thích giữa Nguyễn Tuân và thé loại nay, Nguyễn Đăng Mạnh (1981: 72) cho rằng “cA
tính và phong cách Nguyễn Tuân tự tìm đến thé tài tuỳ bút như là một tat yêu” Đặc
trưng thé loại tuỳ bút chính là môi trường xúc tác day thuận lợi cho quá trình cách tân
ngữ pháp của nhà văn Bằng tính chất rộng mở phóng khoáng gần như tuyệt đối của
mình, tuỳ bút cho phép người viết có khi trò chuyện với bạn đọc một cách thoải mái
chân tình, có khi điềm đạm thang thắn nghiêm trang nhưng nhiều khi lại vui nhộn
linh hoạt theo kiểu tâm sự của lỗi văn nói hằng ngày, vì thé nó cho phép dung nap
vào những sáng tạo độc đáo để đem lại sự thú vị cho người đọc Đây cũng chính là
tính chấthết sức tự do của tuỳ bút: không chịu bat cứ sự rang buộc nao vẻ phong cáchngôn ngữ hay phương thức biéu đạt, mạch văn trôi theo dòng suy nghĩ của tác giả,
chuyện nọ đíu vào chuyện kia, gợi lại theo trí nhớ, những liên tưởng bat chấp trình tự
thông thường của thời gian, không gian Vì thế, phải thừa nhận rằng tuỳ bút với lối
Trang 34hành văn, dẫn truyện như vậy chiếm một ưu thé dang kề trong việc chấp nhận những
cách tân du là mới mẻ nhất của tác giá, có khá năng biến hoá linh hoạt về ngôn ngữ,
với lượng thông tin phong phú, hình tượng đa dạng Đặt mình vào dòng liên tưởng
của tác giả mà bắt lấy mạch văn, người đọc khi đến với thé loại này sẽ có địp đượctrải nghiệm những lối dụng ngôn độc đáo, phải đọc đi đọc lại nhiều lần, cùng một lúcđược nhìn ở gần và lùi xa ra mà ghi nhận lay ấn tượng toàn cánh, khí mạo toàn bài,
+: Ấ a + soe L
cái an tượng độc đáo ma tác giả muốn mang lại.
Có người nói Nguyễn Tuân đã tự dan thân vào một con đường cheo leo, nguy
hiểm như một thử thách nặng né mà suốt cả cuộc đời cầm bút của mình nhà văn phảivượt qua, nhưng thiết nghĩ, đây lại là một điều đáng mừng cho văn học nói chung vàNguyễn Tuân nói riêng, vì nhà văn đã tìm ra được một môi trường dung chứa nỗi cái
tôi kì vĩ của minh, một vùng dat chap nhận được tat cả sự khác biệt của một “tay lái
ngôn ngữ” Vì thé, đọc tuỳ bút Nguyễn Tuân, có khi thấy ông lướt rất nhanh trên cánh
dong chữ, khi thì dừng lại rất lâu ở một cảnh tượng uy hoàng rồi xoay ngang xoay
đọc, tia tót chạm tré tỉ mỉ công phu một cảm nghĩ như một nghệ nhân tài ba Có những
lúc tác giả như huy động hết tất cả mọi giác quan của minh dé miêu tả kết hợp giữa mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, trí óc liên tưởng
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Người lái đò sông Đà nói riêng và tuỳ bút nói chung trong chương
trình Ngữ văn 2018
Dù sinh sau đẻ muộn trên văn đàn, tuỳ bút có vai trò không thẻ phú nhận trong
việc làm nên điện mạo hình hài lịch sử văn học Việt, trong đó, nồi lên những đại điện
xuất sắc cho nền van học hiện đại như Nguyễn Tuân Vũ Bang, Thép Mới Hoàng
Phủ Ngọc Tường Sẽ là một thiểu sót vô củng to lớn nêu học sinh không được hướng
dẫn tiếp cận, bỏ lỡ việc tìm hiều, trải nghiệm việc đọc tác phâm của một trong các tác
giả kế trên.
Về lí thuyết, đọc hiểu tuỳ bút đem đến cho người đọc những tri thức phongphú của cuộc sống, không bị giới bạn ở bắt kì lĩnh vực nào Nó dung chứa trong đặc
Trang 35trưng của minh vô khối tri thức nằm trong các môn học khác, nhưng lại hiện ra thông
qua một hình thức sinh động, hap dẫn, vừa bồi đường năng lực thầm mĩ, đồng thời
rèn luyện nang lực nhận thức Tuy bút, với những đặc trưng tích cực trong bản chatcủa nó, có thê mang đặc tính của báo chí (tinh thời sự, tính cập nhật, khả năng phản
ánh nhanh, tức thì, nhạy cảm với những vẫn đề trong cuộc sống, hiện thực xã hội) lại
vừa mang những cảm xúc, suy tư sâu sắc, thăng trầm, lãng mạn Nó có được gợi cảmriêng độc đáo vì sự cho phép (nếu không nói là yêu cầu) đặt ở trung tâm thê loại mộtcái tôi tự thuật Vì thế, tuỳ bút tỏ ra võ cùng phù hop đối với đặc điểm lứa tuôi của
học sinh trung học.
Chương trình ngữ văn 2018" đã dẫn ra các tuỳ bút sau trong danh mục các tác phẩm gợi ¥:
— Người ngồi đợi trước hiên nhà (Huỳnh Như Phương):
— Thăm sâu Hồng Ngài (Tống Lam Linh);
— Lòng yêu nước (I Ehrenburg);
— Một lít nước mắt (Kito Aya);
— Trưa tha hương (Tran Cư):
— Thương nhớ mudi hai (Vũ Bằng);
Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân).
Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn, Bùi Mạnh Hùng (2014:28) trong bài báo Phác tháo chương trình Ngữ văn theo định hướng phát triển năng
lực đã khăng định trong chương trình Ngữ văn mới “không có bài học riêng về tiếng
Việt Những khái niệm công cụ của Việt ngữ học được giới thiệu, giải thích xung
quanh văn bản đọc hiểu có liên quan và ở cuối bài học” Vì thé, với trường hợp Ngưởi
lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, nội dung day học của tuỳ bút nảy hoàn toan có thé
áp dụng trong đạy học tích hợp xuyên môn (các môn học Lịch sử, Địa lý, Sinh học )
và day học tích hợp nội môn (kiến thức — kĩ năng trong làm văn miéu tá, tự sự, biểu
!? Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018: 100, 109)
Trang 36cam , kiến thức tiếng Việt như các thành phan câu mở rộng thành phan câu, cácbiện pháp tu từ so sánh, nhân hoá, ân dy )
Vì vậy, việc giảng dạy tuỳ bút phải đảm bảo cung cấp day đủ những kiến thức
về thé loại, các kĩ năng giúp học sinh không chí cảm thụ được vẻ đẹp tuỳ bút mà conthông qua đó trau đồi mĩ cảm và năng lực văn học và năng lực ngôn ngữ
1.2.2 Thực tế đạy học tuỳ bút Nguyễn Tuân
Trương Chính (1998: 53), ngay từ năm 1957, khi nhận xét về tuỳ bút Nguyễn
Tuân, đã cho rằng “Cái lối văn tuỳ bút đó hình như không thật thích hợp với thời đại
mới nữa, cho nên mặc di người ta vẫn quý mến ông những thiên tuỳ bút ông vừa
xuất bản không còn lôi cuồn người đọc như trước” Nhu vậy, ngay khi cách chúng ta
hơn nửa thé ki, Trương Chính đã nhận ra những bat cập trong việc tiếp nhận thé loại
này Nhận định nảy cảng được củng cố khi chúng tôi tiền hành khảo sát nhóm sinh
viên khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và một số giáo
viên ở các trường trung học (xem phụ lục 2), đáp án học sinh “Chan nan, ué oải, đối
phó” là đáp án được lựa chọn nhiều nhất khi các tư liệu viên được đặt câu hỏi: “Tir
kinh nghiệm và quan sát của bản thân theo ban, phần lớn học sinh hiện nay tiếp nhận
tuỳ bút của Nguyễn Tuân với tâm thé như thé nào?”, chiếm 72.7% tông số cầu trả lời
Bàn về thực tế dạy học tuỳ bút Nguyễn Tuân, Trần Văn Minh (2009) đã chỉ ramột lí do khiến tuỳ bút trở thành một đối tượng khó nắm bắt đối với học sinh: trong
suốt một quá trình đải trước đó, học sinh chủ yếu được học các tác phẩm tự sự, các
em đã quen cốt truyện nhân vật, tình tiết Đến khi cần cảm thụ một tác phâm văn
xuôi giàu chat trữ tình, các em gặp lúng túng và mắt phương hướng Bộ công cụ mới
được trang bị đề phân tích tác phẩm trữ tình khó có thê được sử dụng một cách thành
thạo ngay được Hậu quả là, cả người dạy và người học đều ngán những tác gia, tác
phâm tuỳ bút
Trong các nguyên nhân dan đến tinh trạng thiểu tích cực ở học sinh trong day
học tuỳ bút trong phiếu khảo sát của dé tai, nguyên nhân được chon nhiều nhất là
“Thé loại tuỷ bút còn khả mới mẻ với học sinh” (19/33 sự lựa chọn, chiếm 57.6%) và
Trang 37“Cau văn tuỳ bút trúc trắc, khó đọc” (19/33 sự lựa chọn, chiếm 57.6%) Điều này có
nghĩa, trước khi tìm hiểu về các vẫn dé văn hoá, vẻ tư tưởng trong tuỳ bút của nhà
văn, người dạy nhất thiết phải hướng dẫn học sinh quán triệt được đặc trưng của thê
tuỳ bút và cách đọc những câu văn xuôi giảu tính phức điệu của Nguyễn Tuân Hai
yêu cầu nay, trong trường hop day học tuỳ bút theo đặc trưng thé loại là không táchrời nhau, vì như đã trình bày, Nguyễn Tuân chính là cha đẻ của thể tuỳ bút trong vănhọc hiện đại Việt Nam câu văn Nguyễn Tuân chính là câu văn tuỳ bút Sự liên đớichặt chẽ giữa hai yêu cầu nảy cảng làm cho vẫn đề day học tuỳ bút của Nguyễn Tuân
trong sự gắn bó với ngữ pháp học là một hướng đi đúng đắn
TIỂU KET CHƯƠNG 1
Trong Chương 1 Những vấn đề chung, chúng tôi đã hoàn thành một số
nhiệm vụ nghiên cứu có ý nghĩa cơ sở lí luận cho dé tài như giới thuyết các van đè
Ngữ pháp học (bao gồm các khái niệm *ngữ pháp”, “Ngữ pháp học”, “Ti pháp học”,
“Ca pháp hoc”, các loại từ cơ bản, các loại ngữ cơ bản có vai trò như các thành phan
phụ của từ vả câu ) và Thi pháp học hữu quan (khái niệm “định ngữ nghệ thuật
(hay “hình dung từ") và “la hoa”) trong nghiên cứu ngôn ngữ tuỳ bút Nguyễn Tuân.
Bên cạnh đó, chúng tôi xác định rõ quan niệm “cách tân ngữ pháp” trong đề tải nhìn
từ phong cách của Nguyễn Tuân và phong cách thê loại tuỳ bút.
Trong phan cơ sở thực tiễn, chúng tôi đã trình bày kết quả khảo sát thực dạyhọc đọc hiểu tuỳ bút Nguyễn Tuân; chỉ ra sự tương thích giữa thé loại va người học,
vị trí, vai trò của thé loại tuỳ bút và việc giảng dạy thé loại này trong chương trình
Ngữ văn 2018.
Trang 38CHƯƠNG 2: NHỮNG CÁCH TÂN VE NGỮ PHÁP
CUA NGUYEN TUẦN TRONG TUY BUT
Từ những kết luận ban đầu về con người và văn chương Nguyễn Tuân trong
chương trước, có thê khăng định rằng Nguyễn Tuân là một nguyên mẫu đặc trưng
không để bị lặp lại Trong văn chương của ông, từ hình thức đến nội dung, đều có sự can thiệp thường xuyên và ráo riết của một hành vi sang tạo cực độ diễn ra ở cùng
khắp các bình điện của tác phẩm Ở nội dung, Nguyễn Tuân tạo ra những hình tượng
nhân vật ki dij đậm chat yêu ngôn, những tư tưởng cá biệt, những lỗi thực hành văn
hoá duy mi tách khỏi luân lí Ở hình thức, Nguyễn Tuân đã dé lại dau ấn của minh
qua việc khai thác khả năng biéu đạt của từ vựng và cú pháp tiếng Việt Cả hai phương
điện trên tương hỗ nhau trong quá trình sáng tạo của tác giả.
Hoàng Dũng, Bùi Mạnh Hùng (2007: 110) cho rằng: '*Ngừ pháp và ngữ nghĩa
là hai bình diện ngôn ngữ riêng biệt nhưng có quan hệ chặt chế với nhau Khi phân
tích một câu nói, xét trên bình điện ngữ pháp ta có các thành phần cú pháp Còn trên
bình diện ngữ nghĩa có thé hình dung câu nói dùng dé biêu hiện một sự tinh, trong đó
có các hành động” Sự chặt chẽ đó giữa ngữ pháp và ngữ nghĩa được cúng cô bằng
một nỗ lực sáng tạo nghệ thuật đáng ghi nhận trong hành trình cách tân của Nguyễn
Tuân, thê hiện ở cả bình điện từ pháp và bình diện cú pháp trong ngôn ngữ tuỳ bút
2.1 Ở bình điện từ pháp2.1.1 Hiện tượng chuyên hoá từ loại
Trong các dé tài về ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Tuân, hiện tượng chuyển
hoá tir loại là một trong những hiện tượng đã dành được sự quan tâm của nhiều công
trình khoa học lớn nhỏ Lần lượt đi qua các đẻ tài thuộc địa hạt văn học đến giao dục
học, ngôn ngữ học tuỳ bút của Nguyễn Tuân đã chứng tỏ được sức sống của mìnhthông qua một hệ thông từ ngữ cá biệt và độc đáo mà nhà van ding để gọi tên thểgiới Trước khi “dung cham” đến các nguyên tắc lập ngôn đã được hình thành trongquá trình trí nhận ngôn ngữ của người đọc, tuỳ bút Nguyễn Tuân đã kịp khuấy động
Trang 39trong anh ta một khối mĩ cảm đáng kẻ, dé thay vì cảm thay bối rỗi hoặc khỏ chịu vimột cách nói “lệch chuẩn”, người ta lại bị nó hap dan vả gọi mời
Có ba nguyên nhân dé việc nghiên cứu hiện tượng chuyên hoá từ loại trở nên
pho biến Thứ nhất, nhìn một cách tổng quan, đây là một hiện tượng / kĩ thuật phô
biến và cơ bản mà người cầm bút nào cũng có thê sáng tạo Thứ hai trong trường hợp
Nguyễn Tuân, hiện tượng này có sự đặc sắc đáng kẻ, ghi dấu rõ nét phong cách của
Nguyễn Tuân và nỗ lực cách tân của tác giả Thứ ba hiện tượng này không cần mộtquá trình tư đuy va các phan tích phức tạp, nó có thé được dé đàng khảo sát bằng một
công cụ đơn giản là bộ lọc cảm ngữ của nhà nghiên cứu Chính vì những điều đó
hiện tượng chuyên hoá từ loại mời gọi gần như tất cả những người đã có trải nghiệm
với việc đọc Nguyễn Tuân Trải nghiệm này trước tiên mời gọi sự phân tích, đánh giá
của những nha phê bình văn học, thi pháp học, tu từ hoc dé tìm ra cái hay, cái đẹp
của từ ngữ; sau nữa là sự thầm định lí tính của các nha ngôn ngữ học Câu hỏi đặt racho người nghiên cứu ngôn ngữ lúc này là: điều gì đã làm cho sự lệch chuẩn có thé
nảy sinh cùng một lúc với giá trị mĩ cảm, trong cùng một phát ngôn?
Hiện tượng chuyên hoá từ loại, trước tiên, dé lại ấn tượng bat ngờ cho ngườiđọc bởi sự xuất hiện của một đơn vị ngôn ngữ (mà người đọc không thê lường trước)von không mang hành chức đó đặt ở vị trí đó nhưng lại được nhà văn cỗ tình gan cho
tất cá những mối quan hệ đó Trong hoản cảnh này, nếu cho rằng nhà văn tải năng là
người vô cùng am hiểu Việt ngữ, có thé nhìn ra tiềm năng mở rộng của một từ tới các
mỗi quan hệ ân tang, khả nang anh xạ các đặc điểm của nó vào một ngữ cảnh xa lạ,
trao cho từ một tư cách ngôn ngữ mới, một cuộc đời rất khác khi những cuồn từ điển
đã xếp vào, thì có thé nói Nguyễn Tuân chính là một tài nang văn học
Trong bài viết Nguyễn Tuân và phép “lạ hóa ” trang văn, Đỗ Ngọc Thông đã
dẫn ra một số “phép lạ hoá” trong tập hợp các van pham của Nguyễn Tuân — hướng
nghiên cứu chúng tôi cho rằng có sự tiệm cận tượng tương đối với dé tài!Ê, Trong đó,
!# Đỗ Ngọc Thống đã đưa ra 9 luận điểm trong quá trình khảo sắt của mình: 1 Nguyễn Tuân và những
từ ding độc đáo; 2 Nguyễn Tuân dùng tir đồng nghĩa: 3 Nguyễn Tuân động | từ hóa danh tính từ, 4 Nguyễn Tuân dao trật tự từ; 5 Nguyễn Tuần và cầu văn mang dang dap cổ; 6 Nguyễn Tuân với những so sánh độc
Trang 40có thê dẫn ra luận điểm Nguyen Tuân động từ hóa danh tính từ với các dan chứng đã
được nhà nghiên cứu chỉ ra: “Thông thường người ta vẫn nói: ném bom, thả bom, trút
bom, quảng bom, bỏ bom, rải bom Có nghĩa bom là danh từ, bỗ nghĩa trực tiếp chocác động từ như ném, tha, trút, qudng, bỏ, rai Nguyễn Tuân không dùng thé Ôngviết: “Kẻ cướp NíchXơn đã bom vào tiếng hát 4 đào dân tộc ay” hoặc “NichXonvừa B52 vào tiếng hát cô truyền Hà Nội”, “Sông Đà xanh ve mãi lên”
Đó chính là những biểu hiện cụ thé nhất cho hiện tượng chuyên hoá từ loại
trong tuỳ bút Nguyễn Tuân Theo kháo sát của chúng tôi, trong hiện tượng chuyển
hoá từ loại, Nguyễn Tuân chủ yếu vị từ hoá danh từ, và ngược lại.
Trong một ví dy, khi nhà văn viết một câu tuỳ bút dành cho một em bé ngoạiquốc đang được sinh ra ngay khi tiếng súng chiến tranh vừa nd, làm trong khoảnhkhắc tinh thần quốc tế cộng sản dâng tràn lên mãnh liệt, Nguyễn Tuân bôi hỏi nhớ lại
giây phút ay, cùng niềm hi vọng vào tương lai đại đoàn của quan chúng trên khắp cả
địa cầu: “Va tuổi của em là tuổi thế hệ cộng sản chủ nghĩa vững bên đã thành tựu ”?°
“Thanh tựu” vốn là một danh từ, nay lại có khả năng kết hợp với phó từ “đã”, vì thé,
thể hiện được cả quá trình kết tỉnh mật ngọt sau những tháng ngảy đắng cay của bom
lửa.
Nguyễn Thị Hồng Hà (2010: 250) trong công trình Đặc trưng uy bút Nguyên Tuân đã cho rằng ở tuỳ bút Nguyễn Tuân có xuất hiện hiện tượng chuyên hoá từ loại,
đồng thời dẫn ra một số ngữ liệu đi kèm những lời bình như sau: “Thai độ miệt thị
đến mức ghê tởm của những kẻ sùng bái, nô lệ đồng tiền của nhả văn đã đọng lại
trong một tính từ tôn lên thành danh từ: Cái thối inh của xã hội tiên”; “Cam giác bao
quát về một cái chợ nhéch nhac ban thiu ở ngoại ô cũng được nhà văn tả bằng hai tính
từ gộp lại được danh từ hóa như vậy: “mdr cô đỗ tế đôi met thịt góp với edi nhâynhờn cia buổi chợ sớm tại cửa 6”, "Nguyễn Tuân còn gây an tượng mới lạ mạnh
mẽ cho chữ bằng cách danh từ hóa tính từ: Đánh đấm cái dằng đặc cái rười rượi của
đáo: 7 Nguyễn Tuân và lỗi điển đạt mới lạ; 8 Nguyễn Tuần đưa khẩu ngữ vào văn; 9 Nguyễn Tuân kết cấu
câu văn linh hoạt.
!# Nguyễn Tuân (2000c: 843)